1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tên đề tài: “nghiên cứu chọn giống và nhân giống loài câu giổi xanh (michelia mediocris dandy) nhằm xây dựng rừng giống và vườn giống”

110 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Trên thế giới (12)
      • 1.1.1. Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ (12)
      • 1.1.2. Phân loại Lâm sản ngoài gỗ (12)
      • 1.1.3. Các nghiên cứu về vai trò và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ (13)
      • 1.1.4. Về giá trị kinh tế, xã hội của Lâm sản ngoài gỗ (15)
      • 1.1.5. Các nghiên cứu về sử dụng bền vững, giải pháp nâng cao vai trò của LSNG (18)
    • 1.2. Ở trong nước (19)
      • 1.2.1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (19)
      • 1.2.2. Về phân loại Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam (20)
      • 1.2.3. Các nghiên cứu về vai trò, tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ (21)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về LSNG tại tỉnh Quảng Ninh (23)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. Mục tiêu (26)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (26)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (26)
    • 2.2. Nội dung (26)
      • 2.2.1. Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài và tình trạng sử dụng các loài cây LSNG 18 2.2.2. Nghiên cứu hiện trạng phân bố các loài cây LSNG (26)
      • 2.2.3. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển LSNG tại địa phương (27)
    • 2.3. Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu (0)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.4.1. Giới thiệu chung về phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (28)
      • 2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (32)
  • CHƯƠNG 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KTXH KHU VỰC NGHIÊN CỨU (34)
    • 3.1. Vị trí địa lý (34)
    • 3.2. Các dạng địa hình, địa mạo Vịnh Hạ Long (35)
      • 3.2.1. Địa hình dương (35)
      • 3.2.2. Địa hình âm (35)
      • 3.2.3. Các hang động (35)
      • 3.2.4. Thung lũng và đồng bằng karst bị ngập chìm (36)
    • 3.3. Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội (36)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (38)
    • 4.1. Hiện trạng các loài cây LSNG (38)
      • 4.1.1. Thành phần các loài LSNG phân bố tự nhiên tại vịnh Hạ Long (38)
      • 4.1.2. Phân loại các loài cây LSNG theo bộ phận sử dụng (39)
      • 4.1.3. Phân loại các loài cây LSNG theo nhóm mục đích sử dụng chính (40)
    • 4.2. Các loài cây LSNG quý hiếm tại vịnh Hạ Long (49)
      • 4.2.1. Các loài thực vật LSNG thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (49)
      • 4.2.2. Các loài thực vật LSNG đặc hữu ở Vịnh Hạ Long (51)
    • 4.3. Đặc điểm và phân bố một số loài cây LSNG tại vịnh Hạ Long có tính đặc hữu cao (53)
    • 4.4. Phân bố các loài cây LSNG theo các hệ sinh thái rừng (62)
      • 4.4.1. Rừng ngập mặn (62)
      • 4.4.2. Rừng trên các sườn và vách núi đá ở các đảo (62)
      • 4.4.3. Rừng ở trong các thung lũng núi đá (63)
    • 4.5. Thực trạng khai thác LSNG (63)
    • 4.6. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cho các loài cây LSNG (65)
      • 4.6.1. Giải pháp về chính sách (65)
      • 4.6.2. Giải pháp về kỹ thuật (66)
      • 4.6.3. Giải pháp về thông tin tuyên truyền (68)

Nội dung

Để góp phần bảo tồn và phát triển bền vững các loài LSNG ở các hòn đảo trên vịnh Hạ Long, đồng thời nâng cao nhận thức cũng như đời sống cho cộng đồng người dân địa phương, việc thực hiệ

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ

Trước đây những loài cây trong rừng không phải là gỗ thường được gọi là lâm sản phụ, một số loài có giá trị đặc biệt gọi là đặc sản Ngày nay thống nhất gọi các sản phẩm không phải là gỗ có ở trong rừng là lâm sản ngoài gỗ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ là một khái niệm tương đối mới so với gỗ

Các khái niệm chủ yếu do FAO đưa ra ở trên đều chưa hoàn thiện, năm

1999, hội nghị của FAO lại đưa ra một khái niệm ngắn gọn về Lâm sản ngoài gỗ:

“Lâm sản ngoài gỗ (non timber forest product - NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, và từ cây gỗ ở ngoài rừng” (dẫn theo Triệu Văn

1.1.2 Phân loại Lâm sản ngoài gỗ

Lâm sản ngoài gỗ rất đa dạng, phong phú và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Do vậy, việc phân loại có nhiều quan điểm khác nhau Theo quan điểm hiện nay, Lâm sản ngoài gỗ được phân làm hai dạng chủ yếu sau:

- Phương pháp phân loại theo hệ thống sinh:

Theo phương pháp phân loại này thì các loại LSNG được phân theo hệ thống tiến hóa của sinh giới bao gồm hai nhóm chính: động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới/Ngành/Lớp/Bộ/Họ/Chi/Loài Có thể thấy phân loại theo phương pháp này đòi hỏi phải chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài và người sử dụng phải có hiểu biết nhất định về phân loại động thực vật

- Phương pháp phân loại Lâm sản ngoài gỗ theo nhóm giá trị sử dụng: Hội nghị Quốc tế tháng 11/1991 tại Bangkok đã chia LSNG làm 6 nhóm (dẫn theo Triệu Văn Hùng, 2007) [11]:

+ Nhóm 1 Các sản phẩm có sợi: bao gồm tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ;

+ Nhóm 2 Sản phẩm làm thực phẩm: gồm các sản phẩm có nguồn gốc thực vật như thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa… Các sản phẩm có nguồn gốc động vật như mật ong, thịt động vật rừng, trứng và côn trùng…;

+ Nhóm 3 Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật;

+ Nhóm 4 Các sản phẩm chiết xuất: nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, ta nanh, dầu béo, tinh dầu;

+ Nhóm 5 Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ;

+ Nhóm 6 Các sản phẩm khác

1.1.3 Các nghiên cứu về vai trò và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ

- Về công dụng và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ:

Số lượng các sản phẩm từ Lâm sản ngoài gỗ được coi là rất lớn Theo báo cáo của tổ chức Liên Hiệp Quốc và FAO (1995) cho thấy ít nhất 150 sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ được tìm thấy trong các thị trường quốc tế Chẳng hạn chỉ riêng về năng lượng được biết tới 138 sản phẩm từ 80 loài trong rừng trên bán đảo Michigan [20]

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã thu hút sự chú ý hơn tới Lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là nguồn thực phẩm thay thế Một nghiên cứu gần đây tiến hành tại ba cộng đồng ở miền Nam Cameroon tiết lộ rằng nông nghiệp cung cấp 80% lượng carbohydrate, nông thôn ở Cameroon nhận được 90% protein từ rừng Trái cây rừng và thảo dược là nguồn cung cấp vitamin và chất dinh dưỡng cho cư dân nông thôn Hàng triệu người dân Châu Á phụ thuộc phần lớn vào sự cung cấp cá từ rừng ngập mặn

Ngoài ra, lâm sản ngoài gỗ cũng ngày càng được thừa nhận về vai trò của nó trong phát triển bền vững và bảo tồn các hệ sinh thái Có đến 80% dân số ở các nước đang phát triển sống phụ thuộc vào Lâm sản ngoài gỗ cho sinh hoạt, cả về kinh tế và dinh dưỡng Lâm sản ngoài gỗ đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ ở các nước đang phát triển từ châu Mỹ Latinh đến châu Á và châu Phi (FAO,

Nguồn tài nguyên dược liệu được biết đến là rất phong phú và đa dạng

Số liệu của IUCN/TRAFFIC/WWF về cây thuốc và cây có chất thơm trên toàn thế giới lên tới 40.000 - 50.000 loài, gần 2.500 loài được mua bán rộng rãi trên toàn thế giới; ở Châu Âu có khoảng 2.000 loài cây thuốc được sử dụng vào mục đích thương mại Thống kê của IUCN (2005) cũng cho thấy khoảng 4.000 loài cây thuốc và cây có chất thơm trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng và chỉ có một vài trăm loài đang được gây trồng (Châu Âu 130 -

140 loài, trong khi đó đã có khoảng 2.000 loài được sử dụng với mục đích thương mại); khoảng 70% số loài có nguồn gốc từ các loài hoang dã (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn, 2011) [13]

Theo báo cáo của FAO (1996) [21], tại Bhutan và Thái Lan có hơn 300 loài cây thuốc, hệ thống y học cổ truyền ở đây được hành nghề rộng khắp Ở phía nam, với kiến thức gia truyền được truyền lại từ đời cha sang con trai Viện y học cổ truyền đã kết hợp giữa châm cứu và sử dụng cây dược liệu để chữa nhiều loại bệnh nhanh chóng trở nên phổ biến mặc dù bệnh viện hiện đại có cung cấp nhiều dịch vụ miễn phí

Theo báo cáo của FAO (1995) [20] về nguồn tài nguyên Mây, thế giới có khoảng 600 loài thuộc 13 chi trong các rừng nhiệt đới vùng đất thấp ở đông bán cầu Hầu hết các loài có phạm vi phân bố rất hạn chế trong tự nhiên, từ sát mực nước biển tới độ cao 3.000 m Trong số 13 chi được biết đến có 10 chi với khoảng 574 loài được tìm thấy ở Đông Nam Á và các vùng lân cận, từ

Fiji tới tiểu lục địa Ấn Độ, và từ miền Nam Trung Quốc đến Queensland ở Úc Đông Nam Á được coi là trung tâm đa dạng sinh học của song mây Thương mại của loài mây chỉ khoảng 10% của tổng số loài được biết đến trên toàn thế giới

Theo Joost Foppes và cộng sự (2004) [22] tại Philippines, có khoảng 600 loài thuộc họ cau dừa, 90 loài mây, trong đó một 1/3 số loài mây là đặc hữu, chiếm 5% các loài mây trên toàn thế giới Trong đầu thập kỷ 1900, tại Philippines rừng bao phủ 70%, 21 triệu ha có các hệ sinh thái rừng đa dạng và phong phú, đến năm 2000 chỉ còn 5,39 triệu ha rừng Đánh giá cho thấy mất sinh cảnh rừng là mối đe dọa lớn cho sự tồn tại của các loài mây trong tự nhiên

1.1.4 Về giá trị kinh tế, xã hội của Lâm sản ngoài gỗ

Ở trong nước

1.2.1 Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ

Trước năm 1991, sản phẩm chính của rừng được khai thác sử dụng chủ yếu là gỗ, các lâm sản khác như: song, mây, tre, nứa, dầu nhựa, cây thuốc còn ít được quan tâm và quản lý nên gọi là lâm sản phụ (Minor forest products) Sau năm 1961, một số loài lâm sản phụ có giá trị đặc biệt trong sử dụng và thương mại như: hồi, quế, thảo quả, nấm hương thì gọi là đặc sản rừng (Special forest products) Vài thập kỷ gần đây, vai trò và chức năng cung cấp gỗ của rừng, nhất là rừng tự nhiên nhiệt đới ngày càng hạn chế, vai trò và chức năng phòng hộ môi trường của rừng ngày càng được thể hiện rõ và được quan tâm nhiều hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay Muốn phát triển rừng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái kết hợp với phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người dân làm nghề rừng thì lâm sản phụ hay đặc sản rừng lại có vai trò hết sức quan trọng Chính vì lẽ đó, một thuật ngữ mới được đề xuất và sử dụng là Lâm sản ngoài gỗ (Nontimber Forest Products) Ở Việt Nam chưa có thấy một khái niệm nào về LSNG, mà chỉ nói đến giá trị của một số loại LSNG ảnh hưởng tới từng mặt của xã hội như: Đỗ Tất Lợi (1991) cho rằng xuất xứ của dược liệu hầu hết là các sản phẩm của rừng; Lê Mộng Chân (1992) cho rằng nhiều loài cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ, đó là cây đặc sản; Trần Hợp

(2000) thì đưa ra 6 nhóm cây làm cảnh phục vụ cho đời sống tinh thần của con người

1.2.2 Về phân loại Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam

Năm 1991, báo cáo của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) về "Tình trạng và triển vọng phát triển các loại lâm đặc sản của Việt Nam (Ministry of Forestry - Current Status of Perspective for Non -Wood/ (Special) Forest Products Development in S R Vietnam) thì lâm đặc sản (hay Lâm sản ngoài gỗ) của Việt Nam được chia thành 9 loại sau:

1 Sản phẩm tinh dầu chiết xuất: Hoàng đàn, Pơ mu, Trầm hương, Quế, Hồi, Bạc hà ;

2 Cây sử dụng làm thuốc: Thảo quả, Sa nhân, Thảo quyết minh, Hoa hoè, Mã tiền, Trân châu, Ba kích, Củ mài, Bình vôi, Sâm ngọc linh ;

3 Cây thực phẩm: Nghệ, Gừng, Hạt điều, Hạt dẻ và các đồ gia vị;

4 Sản phẩm dầu béo: Sở, Trẩu, các loại dầu ăn thực vật;

5 Sản phẩm dầu nhựa và keo gôm: Trám, Dầu rái chai cục, dầu Thông ;

6 Chất tannin và thuốc nhuộm: Đước, Chàm nhuộm ;

7 Sản phẩm cho sợi: Thùa, Bông, Gạo, Gòn ;

8 Sản phẩm thủ công: Tre, Nứa, Song, Mây ;

9 Các sản phẩm khác: Nấm ăn được, tơ lụa, lá cọ, lá nón , động vật và sản phẩm từ động vật (dẫn theo Triệu Văn Hùng, 2007) [11]

Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999) [7] về phân loại nhóm cây có ích đã phác thảo một hệ thống phân chia dựa trên các sản phẩm chính của cây cỏ để phân ra 11 nhóm theo công dụng như sau:

- Nhóm nhựa mủ, gôm, nhựa dầu;

- Nhóm cây cho dầu béo, sáp mỡ;

- Nhóm cây cho dầu thơm (hương liệu);

- Nhóm cây cây cho Tanin, chất nhuộm;

- Nhóm cây làm dược phẩm;

- Nhóm cây làm lương thực, cây cho bột, cho đường;

- Nhóm cây làm thực phẩm;

- Nhóm cây làm thức ăn gia súc;

- Nhóm cây cho gia vị, nước uống Đến nay, hầu hết các cơ quan nghiên cứu, thống kê lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam đã thống nhất sử dụng thang phân loại của FAO (1991) như Viện Điều tra, Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp hay Trường Đại học Lâm nghiệp

Tóm lại, Lâm sản ngoài gỗ nếu hiểu theo các khái niệm và cách phân loại trên thì chúng có thành phần đa dạng, bao gồm toàn bộ các loại lâm sản trừ gỗ Để nghiên cứu toàn diện về Lâm sản ngoài gỗ, cần phải có một chương trình lớn, huy động nhiều nguồn lực mới đánh giá đúng mức vai trò của Lâm sản ngoài gỗ

1.2.3 Các nghiên cứu về vai trò, tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ

- Nghiên cứu về vai trò và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ:

Theo Trần Văn Kỳ với tác phẩm "Dược học cổ truyền" đã giới thiệu một loạt thực vật có giá trị làm thuốc, tác giả tập trung mô tả về công dụng và nơi mọc của các loài thực vật này Theo Viện Dược liệu (2004) [17] đã phát hiện được 1863 loài cây làm thuốc ở Việt Nam thuộc 1033 chi, 236 họ và 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật Theo Võ Văn Chi (1997) [6] con số này lên tới hơn 3.000 loài Chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe con người từ xưa đến nay, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số

Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam trong số 12.000 loài cây được thống kê có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho dầu,

600 loài cho tanin, 260 loài cho tinh dầu, 93 loài cho chất màu, 1.498 loài cho các dược phẩm Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật bậc cao có thể lên tới 20.000 loài; hệ động vật cũng đã thống kê được 225 loài thú,

828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái (Triệu Văn Hùng và các cộng sự, 2007) [11]

Theo Nguyễn Hữu Dũng (2005) [9] ở Việt Nam hiện nay đã xác định được 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ Về động vật có xương sống có khoảng 310 loài thú, 840 loài chim, 286 loài bò sát và 162 loài lưỡng cư (Đặng Huy Huỳnh, 2005) và nhiều loài động vật không xương sống khác Trong đó có rất nhiều loài là LSNG có giá trị

Trong công trình nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật sinh thái núi cao ở SaPa, Đỗ Huy Bích và các tác giả (2004) [3] đã phân hạng LSNG theo hệ thống sinh và thống kê được tập đoàn đông đảo thực vật có giá trị làm thuốc ở địa phương

Tiếp theo công trình của Đỗ Tất Lợi (2004) [12] đã giới thiệu chi tiết danh mục phần lớn nhiều loài cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam về tên gọi, đặc điểm sinh thái, hình thái, thành phần hóa học, công dụng và các bài thuốc liên quan nhiều loại bệnh Có thể nói đây là công trình chuyên sâu nhất về các vị thuốc cổ truyền Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ thực vật

Nghiên cứu của Lê Thị Diên và Hồ Đăng Nguyên (2009) [8] về sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam tại Vườn Quốc gia Bạch Mã đã thống kê được tại khu vực có 120 loài thực vật thuộc 110 chi và 67 họ được sử dụng làm thuốc có 8 nhóm thuộc các dạng sống khác nhau: cây phụ sinh, cây gỗ lớn, cây gỗ trung bình, cây gỗ nhỏ, cây bụi, cây dây leo thân gỗ, cây dây leo thân cỏ, cây cỏ đứng Trong đó, cây cỏ đứng chiếm 40% tổng số loài cây được người dân sử dụng làm thuốc Tác giả đã phân loại cây thuốc nam theo hệ thống sinh học, kết quả cho thấy có 114 loài (95% tổng số loài) được làm thuốc thuộc ngành Ngọc lan chữa nhiều loại bệnh như: Bao tử, viêm gan, sỏi thận, trị rắn độc

Nghiên cứu đánh giá về thị trường LSNG Việt Nam cho thấy còn ít và chưa đầy đủ Ngoài giá trị trên trường quốc tế về xuất nhập khẩu đóng góp cho kinh tế quốc dân, phải kể đến giá trị tiềm ẩn mà LSNG chưa thể hiện Thiếu đánh giá vai trò to lớn của LSNG đối với vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng miền núi vùng sâu, vùng xa mà đa số cuộc sống của họ phụ thuộc vào rừng Một số nghiên cứu vai trò của giới trong thị trường LSNG cũng chưa được đánh giá đầy đủ.

Một số nghiên cứu về LSNG tại tỉnh Quảng Ninh

Nguyễn Văn Tập (2006) [17] Khi tiến hành điều tra và phân loại cây thuốc cổ truyền dân tộc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Kết quả điều tra khảo sát, cùng với sự tham gia cung cấp thông tin của 22 người dân địa phương, kết quả đã ghi nhận được ở xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh có tổng số 288 loài cây thuốc, thuộc 233 chi, 107 họ của 6 ngành thực vật và nấm khác nhau Trong số 288 loài cây thuốc mọc tự nhiên đã ghi nhận được, có 49 loài nằm trong Danh sách “Những cây thuốc và vị thuốc thiết yếu của Bộ Y tế” và danh sách “Những cây thuốc có giá trị sử dụng phổ biến ở Việt Nam”, có thể khai thác trong tự nhiên (do Viện Dược liệu tập hợp năm 2003) Báo cũng đã đưa ra đề xuất cần bảo tồn một số cây thuốc quý có giá trị như: Ba kích (Morinda officinalis F.C How), Cát sâm (Milletia specinora Champ), Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia Craib), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L Voss), Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb), Hoàng đằng (Fibraureca tinctoria Lour), Khôi tía (Ardisia gigantifolia Stapf), Bình vôi (Stephania rotumda Lour)

Lê Đình Anh (2012) [1] khi nghiên cứu Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây Lâm sản ngoài gỗ ở xã Đồng Lâm - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh đã xác định được 58 loài cây cho lâm sản ngoài gỗ có tiềm năng kinh tế thuộc 4 nhóm: Nhóm sản phẩm cây cho sợi, nhóm cho thực phẩm, nhóm cho những sản phẩm chiết xuất và nhóm cây làm dược liệu Các loài đều ít nhiều đóng góp vào kinh tế hộ gia đình, một số loài như: Tre, Quế, Trám trắng, Tai chua, Ba kích, Sa nhân là những loài cho thu nhập tương đối khá đối với hộ gia đình

Lê Văn Thắng (2012) [14] khi Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh Kết quả đã thống kê được 142 loài trong đó, nhóm thực vật cho LSNG làm thuốc chiếm tới 99 loài (69,7%) và nhóm thực vật cho lương thực thực phẩm 43 loài chiếm 30,3% Mặc dù con số trên chưa chắc chắn đã đầy đủ song nó cũng phản ánh thành phần loài thực vật dùng làm thuốc, thực phẩm ở đây hết sức phong phú Điều này cho thấy tiềm năng để phát triển thực vật cho LSNG tại địa bàn là rất lớn Người dân địa phương chưa có những phương thức, kỹ thuật khai thác các loài LSNG một cách hợp lý mà khai thác một cách rất tuỳ tiện do đó làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm và khả năng tái sinh của các loài thực vật rừng do đó nhiều loài đang đứng trước nguy cơ biến mất tại địa phương Đa số các loài làm thuốc, thực phẩm đều được chế biến tươi ngay sau khi khai thác về hoặc được phơi khô sau đó mới chế biến hay sắc uống Dùng tươi hay khô điều này phụ thuộc vào mục đích sử dụng, món ăn, bài thuốc Người dân nơi đây sử dụng các loài LSNG một cách rất đơn giản để phục vụ mục đích hàng ngày

Ngoài ra, dự án LSNG pha II triển khai hiện trường tại huyện Hoành

Bồ, tỉnh Quảng Ninh Trong khuôn khổ hoạt động của dự án có các hoạt động tập huấn nâng cao nhận thức về LSNG, tập huấn kỹ thuật nhân giống, gây trồng và khai thác bền vững các loài cây LSNG có giá trị tại địa phương Dự án đã triển khai xây dựng nhiều mô hình trình diễn cây LSNG như: Mô hình trồng cây Ba kích, Lá khôi, Tai chua, Tre mai… Tuy nhiên, do dự án kết thúc nên chưa có những hoạt động điều tra đánh giá tình hình sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của các mô hình đó

Tóm lại: Thông qua các thông tin cả ở trong và ngoài nước cho thấy rõ quan niệm nhận thức về vai trò của LSNG đối với kinh tế, xã hội và môi trường Việc đánh giá tiềm năng LSNG cũng đã được thực hiện ở một số địa phương và một số Quốc gia Tuy nhiên, mỗi địa phương, mỗi vùng sinh thái có một số nhóm, loài có tiềm năng cũng như thích hợp với một số điều kiện sinh thái nhất định, không thể áp đặt kết quả nghiên cứu ở vùng này cho vùng khác Vịnh Hạ Long có số loài LSNG rất đa dạng và phong phú, nhưng không tập trung nên không thể phát triển thành hàng hoá nếu không có điều tra đánh giá cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các loài LSNG tại địa phương là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu

2.1.1 Mục tiêu chung Đánh giá được hiện trạng các loài cây LSNG làm cơ sở đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững trên các đảo tại vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá được thành phần các loài cây LSNG trên các hòn đảo tại vịnh Hạ Long

- Đánh giá tình trạng sử dụng các loài cây LSNG trên các hòn đảo tại vịnh Hạ Long

- Đánh giá được phân bố các loài cây LSNG trên các hòn đảo tại vịnh

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển LSNG.

Nội dung

2.2.1 Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài và tình trạng sử dụng các loài cây LSNG

- Nghiên cứu thành phần loài, xây dựng danh lục các loài LSNG phân bố tự nhiên tại địa bàn nghiên cứu

- Nghiên cứu hiện trạng sử dụng, xây dựng phân loại các loài cây LSNG theo mục đích sử dụng

- Xác định được những loài LSNG quý hiếm, đặc hữu, có giá trị kinh tế cao, có tiềm năng phát triển tại địa bàn

2.2.2 Nghiên cứu hiện trạng phân bố các loài cây LSNG

- Hiện trạng phân bố các loài cây LSNG trên các hòn đảo chính tại vịnh

- Đặc điểm, hiện trạng một số loài LSNG quý hiếm, có giá trị cao

2.2.3 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển LSNG tại địa phương

- Giải pháp về chính sách

- Giải pháp về kỹ thuật

- Giải pháp thông tin tuyên truyền

2.3 Đối tƣợng, thời gian và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: LSNG gồm rất nhiều chủng loại khác nhau như rừng, đối tượng của đề tài nghiên cứu này chỉ tập trung vào các loài cây LSNG có nguồn gốc thực vật hiện có ở các đảo trên vịnh Hạ Long

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài triển khai thực hiện tại vịnh Hạ Long, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Điều tra hiện trường tại một số đảo thuộc Vịnh

Hạ Long, trong đó tập trung trên một số đảo lớn, có sự đánh giá đa dạng sinh học cao như: Vạn Giò, Vạn Bội, Cống Dầm, Cống Đỏ, Hòn Cạp La, Đầu Gỗ, Hang Luồn, Hòn Vều, Dầm Nam, Bồ Hòn, Lờm Bò, Bù Xám, Cổ Ngựa, Đầu Bê, Hòn Cạp La, Mây Đèn, Tam Cung, Hang Trai, Bờ Nậu, Cát Lán, Chân Voi

- Thời gian nghiên cứu: Công tác điều tra được bắt đầu thực hiện vào tháng 8/2017 và tiếp tục được bổ sung và xử lý số liệu cho đến nay

2.4.1 Giới thiệu chung về phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài là sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học để xác định vấn đề sau đó sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện trường thông qua các tuyến điều tra, kết hợp với nghiên cứu trên ô tiêu chuẩn để kiểm tra thông tin và đi sâu nghiên cứu các nội dung chính của đề tài Tổng quan về các bước nghiên cứu của đề tài được trình bày tại sơ đồ 2.1

Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu

- Kế thừa các văn bản, chính sách hiện hành có liên quan đến LSNG của nhà nước và Tp Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội từ các cơ quan liên quan trong Tp Hạ Long

Lựa chọn địa điểm Đề xuất giải pháp Điều tra khảo sát thực tế, thu thập số liệu

Tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu

Thu thập thông tin và phân tích tài liệu

Cấp thành phố Cấp xã, phường Cấp thôn Điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin về thành phần loài hiện trạng, phân bố các loài LSNG

Lập tuyến, lập OTC, thống kê loài, đo đếm sinh trưởng, lấy mẫu…

- Kế thừa số liệu về diện tích, năng suất trồng các loài cây LSNG từ Chi Cục Thống kê và Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh, phòng NN&PTNT

Tp Hạ Long, UBND và các thôn trong xã

- Kế thừa những kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học trong những công trình nghiên cứu trước đây về vịnh Hạ Long Đặc biệt là những kết quả điều tra của Ban Quản lý vịnh Hạ Long

2.4.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

Sử dụng bộ công cụ đánh giá nhanh (RRA-Rapid Rural Appraisal) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA-Participatỏy Rural Appraisal) để thu thập thông tin về thành phần các loài cây LSNG, cách sử dụng, mức độ phổ biến Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn bán định hướng để thu thập các thông tin về các loài LSNG Thông tin được thu thập qua phiếu điều tra phỏng vấn theo mẫu phiếu (xem phụ biểu 02)

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn 10 hộ dân có gây trồng, khai thác và sử dụng các sản phẩm LSNG thường xuyên trên các đảo thuộc vịnh Hạ Long Qua các phiếu phỏng vấn thu thập bổ sung thông tin về thành phần cây LSNG mà trong khi điều tra tại hiện trường chưa xác định được Ngoài ra còn điều tra xác định một số thông tin như: Mức độ phong phú, giá cả, tình hình gây trồng… của các sản phẩm LSNG tại địa phương

- Phương pháp thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm các hộ có khai thác sử dụng và buôn bán các sản phẩm LSNG tại địa phương Lựa chọn 10 hộ nông dân/xã và thương lái tổ chức thảo luận xác định các phương pháp chế biến, bảo quản, kênh tiêu thụ, giá cả… của các sản phẩm cây LSNG tại địa phương

2.4.2.3 Phương pháp điều tra theo tuyến

Phương pháp truyền thống được đề tài sử dụng là điều tra theo các tuyến nghiên cứu Các loài thực vật được giám định bằng phương pháp hình thái so sánh Mức độ bị đe doạ của các loài thực vật quý hiếm được xác định căn cứ vào “Sách đỏ Việt Nam, 2007 - Phần Thực vât” Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình trước đây về đa dạng sinh học tại Vịnh Hạ Long

+ Xác định được tọa độ (độ kinh, độ vĩ) của điểm đầu và điểm cuối của tuyến;

+ Xác định được độ cao tương đối so với mặt nước biển nơi lập tuyến; + Tuyến điều tra được lập rộng 10 m, bao gồm tuyến một đường ở giữa và rộng sang 2 bên mỗi bên 5 m;

+ Tuyến điều tra có thể chạy theo đường thẳng hoặc theo đường đồng mức tại khu vực nghiên cứu

- Thu thập số liệu trên tuyến điều tra:

+ Xác định vị trí tại điểm đầu tuyến: tọa độ địa lý, độ cao so với mặt biển, độ dốc, hướng dốc…;

+ Tiến hành điều tra dọc theo tuyến, tại nơi bắt gặp có cây LSNG cần phải thực hiện những công việc sau:

* Lấy mẫu, xác định tên địa phương, tên phổ thông, chụp ảnh làm cơ sở báo cáo;

* Loài cây: Thông tin về loài cây LSNG được thống kê vào biểu điều tra (mẫu biểu điều tra tại phụ lục 02)

2.4.2.4 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn

- Với những loài cây LSNG có giá trị và có tiềm năng chỉ có trong tự nhiên chưa được gây trồng tiến hành điều tra theo tuyến điển hình:

Lập OTC: Trên tuyến khi bắt gặp các loài cây LSNG phân bố nhiều tiến hành lập OTC tạm thời, điển hình có diện tích 500 m 2 để nghiên cứu điều kiện nơi mọc, thành phần loài, trữ lượng và tình hình sinh trưởng của các loài bắt gặp

- Với những loài cây LSNG có giá trị và có tiềm năng đã được gây trồng, đề tài sử dụng phương pháp lập OTC điển hình tạm thời, lặp lại 3 lần diện tích mỗi OTC 500 m 2 Trên OTC tiến hành điều tra thu thập một số đặc điểm sinh thái, các chỉ tiêu sinh trưởng và xác định năng suất

- Đối với cây thân gỗ và tre nứa:

+ Đường kính ngang ngực (D 1,3 ) được đo bằng thước kẹp kính có chia vạch đến mm tại độ cao 1,3 m Đối với tre trúc, đường kính lóng và chiều dài lóng được đo ở vị trí lóng thứ 5;

+ Chiều cao vút ngọn (H vn ) và chiều cao dưới cành (H dc ), được đo bằng thước đo cao có độ chính xác đến 10 cm;

+ Đường kính tán các cây trong ô (D t ) được đo bằng thước dây có độ chính xác tới 10 cm, đo theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc, kết quả được lấy trị số trung bình của 2 hướng:

+ DtĐT + DtNB là đường kính tán theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc; + Chiều cao dưới cành (Hdc) được đo bằng thước có độ chính xác tới 10 cm

- Đối với cây thân thảo:

+ Đường kính gốc (D00) được đo bằng thước kẹp kính có khắc vạch đến mm; + Chiều cao cây (Hvn) được đo bằng thước dây có khắc vạch đến mm; + Đo đường kính bụi (nếu có) bằng thước dây theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc;

+ Đếm số nhánh trong bụi (nếu có)

- Đối với cây dây leo:

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Giới thiệu chung về phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài là sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học để xác định vấn đề sau đó sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện trường thông qua các tuyến điều tra, kết hợp với nghiên cứu trên ô tiêu chuẩn để kiểm tra thông tin và đi sâu nghiên cứu các nội dung chính của đề tài Tổng quan về các bước nghiên cứu của đề tài được trình bày tại sơ đồ 2.1

Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu

- Kế thừa các văn bản, chính sách hiện hành có liên quan đến LSNG của nhà nước và Tp Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội từ các cơ quan liên quan trong Tp Hạ Long

Lựa chọn địa điểm Đề xuất giải pháp Điều tra khảo sát thực tế, thu thập số liệu

Tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu

Thu thập thông tin và phân tích tài liệu

Cấp thành phố Cấp xã, phường Cấp thôn Điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin về thành phần loài hiện trạng, phân bố các loài LSNG

Lập tuyến, lập OTC, thống kê loài, đo đếm sinh trưởng, lấy mẫu…

- Kế thừa số liệu về diện tích, năng suất trồng các loài cây LSNG từ Chi Cục Thống kê và Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh, phòng NN&PTNT

Tp Hạ Long, UBND và các thôn trong xã

- Kế thừa những kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học trong những công trình nghiên cứu trước đây về vịnh Hạ Long Đặc biệt là những kết quả điều tra của Ban Quản lý vịnh Hạ Long

2.4.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

Sử dụng bộ công cụ đánh giá nhanh (RRA-Rapid Rural Appraisal) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA-Participatỏy Rural Appraisal) để thu thập thông tin về thành phần các loài cây LSNG, cách sử dụng, mức độ phổ biến Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn bán định hướng để thu thập các thông tin về các loài LSNG Thông tin được thu thập qua phiếu điều tra phỏng vấn theo mẫu phiếu (xem phụ biểu 02)

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn 10 hộ dân có gây trồng, khai thác và sử dụng các sản phẩm LSNG thường xuyên trên các đảo thuộc vịnh Hạ Long Qua các phiếu phỏng vấn thu thập bổ sung thông tin về thành phần cây LSNG mà trong khi điều tra tại hiện trường chưa xác định được Ngoài ra còn điều tra xác định một số thông tin như: Mức độ phong phú, giá cả, tình hình gây trồng… của các sản phẩm LSNG tại địa phương

- Phương pháp thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm các hộ có khai thác sử dụng và buôn bán các sản phẩm LSNG tại địa phương Lựa chọn 10 hộ nông dân/xã và thương lái tổ chức thảo luận xác định các phương pháp chế biến, bảo quản, kênh tiêu thụ, giá cả… của các sản phẩm cây LSNG tại địa phương

2.4.2.3 Phương pháp điều tra theo tuyến

Phương pháp truyền thống được đề tài sử dụng là điều tra theo các tuyến nghiên cứu Các loài thực vật được giám định bằng phương pháp hình thái so sánh Mức độ bị đe doạ của các loài thực vật quý hiếm được xác định căn cứ vào “Sách đỏ Việt Nam, 2007 - Phần Thực vât” Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình trước đây về đa dạng sinh học tại Vịnh Hạ Long

+ Xác định được tọa độ (độ kinh, độ vĩ) của điểm đầu và điểm cuối của tuyến;

+ Xác định được độ cao tương đối so với mặt nước biển nơi lập tuyến; + Tuyến điều tra được lập rộng 10 m, bao gồm tuyến một đường ở giữa và rộng sang 2 bên mỗi bên 5 m;

+ Tuyến điều tra có thể chạy theo đường thẳng hoặc theo đường đồng mức tại khu vực nghiên cứu

- Thu thập số liệu trên tuyến điều tra:

+ Xác định vị trí tại điểm đầu tuyến: tọa độ địa lý, độ cao so với mặt biển, độ dốc, hướng dốc…;

+ Tiến hành điều tra dọc theo tuyến, tại nơi bắt gặp có cây LSNG cần phải thực hiện những công việc sau:

* Lấy mẫu, xác định tên địa phương, tên phổ thông, chụp ảnh làm cơ sở báo cáo;

* Loài cây: Thông tin về loài cây LSNG được thống kê vào biểu điều tra (mẫu biểu điều tra tại phụ lục 02)

2.4.2.4 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn

- Với những loài cây LSNG có giá trị và có tiềm năng chỉ có trong tự nhiên chưa được gây trồng tiến hành điều tra theo tuyến điển hình:

Lập OTC: Trên tuyến khi bắt gặp các loài cây LSNG phân bố nhiều tiến hành lập OTC tạm thời, điển hình có diện tích 500 m 2 để nghiên cứu điều kiện nơi mọc, thành phần loài, trữ lượng và tình hình sinh trưởng của các loài bắt gặp

- Với những loài cây LSNG có giá trị và có tiềm năng đã được gây trồng, đề tài sử dụng phương pháp lập OTC điển hình tạm thời, lặp lại 3 lần diện tích mỗi OTC 500 m 2 Trên OTC tiến hành điều tra thu thập một số đặc điểm sinh thái, các chỉ tiêu sinh trưởng và xác định năng suất

- Đối với cây thân gỗ và tre nứa:

+ Đường kính ngang ngực (D 1,3 ) được đo bằng thước kẹp kính có chia vạch đến mm tại độ cao 1,3 m Đối với tre trúc, đường kính lóng và chiều dài lóng được đo ở vị trí lóng thứ 5;

+ Chiều cao vút ngọn (H vn ) và chiều cao dưới cành (H dc ), được đo bằng thước đo cao có độ chính xác đến 10 cm;

+ Đường kính tán các cây trong ô (D t ) được đo bằng thước dây có độ chính xác tới 10 cm, đo theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc, kết quả được lấy trị số trung bình của 2 hướng:

+ DtĐT + DtNB là đường kính tán theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc; + Chiều cao dưới cành (Hdc) được đo bằng thước có độ chính xác tới 10 cm

- Đối với cây thân thảo:

+ Đường kính gốc (D00) được đo bằng thước kẹp kính có khắc vạch đến mm; + Chiều cao cây (Hvn) được đo bằng thước dây có khắc vạch đến mm; + Đo đường kính bụi (nếu có) bằng thước dây theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc;

+ Đếm số nhánh trong bụi (nếu có)

- Đối với cây dây leo:

+ Đường kính gốc (D00) được đo bằng thước kẹp kính có khắc vạch đến mm; + Chiều cao hay chiều dài dây (Hvn) được đo bằng thước dây có khắc vạch đến mm;

+ Đếm số nhánh trong bụi (nếu có)

- Đối với các loài cây thuốc:

+ Điều tra cây thuốc và thu thập kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng được áp dụng theo “Quy trình điều tra dược liệu” của Bộ Y tế,

1973 và theo “Phương pháp điều tra cây thuốc” của Nguyễn Tập, 2005 (trong bộ “Nghiên cứu thuốc từ thảo dược”) Trong đó, việc điều tra thực địa được tiến hành theo tuyến định sẵn, với sự tham gia của cộng đồng (những ông lang/bà mế) Trên tuyến điều tra, tiến hành thống kê, thu thập tiêu bản những cây thuốc đã gặp; thông qua phỏng vấn bằng phiếu để thu thập các cây thuốc cùng kinh nghiệm sử dụng chúng theo cách truyền thống của người dân Xác định tên khoa học cây thuốc theo phương pháp so sánh hình thái, dựa trên các khoá phân loại trong các bộ Thực vật chí hiện có;

+ Xác định cây thuốc thuộc diện quý hiếm cần bảo vệ, dựa theo tiêu chí của “Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam”, 2007; “Sách Đỏ Việt Nam” - Phần thực vật, 2007 Trong đó, từng loài có kèm theo ghi chú về mức độ bị đe dọa ở Việt Nam theo tiêu chuẩn phân hạng của IUCN

- Các chỉ tiêu đo đếm khác:

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KTXH KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí địa lý

Thành phố Hạ Long là trung tâm kinh tế văn hóa chính trị của tỉnh Quảng Ninh, được thành lập năm 1994 trên cơ sở thị xã Hồng Gai

- Phía Đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả

- Phía Tây giáp thị xã Yên Hưng

- Phía Bắc giáp huyện Hoành Bồ

- Phía Nam là Vịnh Hạ Long

Hiện nay thành phố bao gồm 20 phường, xã: Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Yết Kiêu, Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Hồng Gai, Bãi Cháy, Hồng Hà, Hà Khẩu, Giếng Đáy, Hùng Thắng, Tuần Châu, Việt Hưng, Đại Yên

Hình 3.1 Vùng khảo sát, điều tra nghiên cứu trên vịnh Hạ Long

Các dạng địa hình, địa mạo Vịnh Hạ Long

Địa hình trong khu vực được chia ra làm loại địa hình cơ bản gồm địa hình dương, địa hình âm, hang động, ngấn biển, thung lũng và đồng bằng karst bị ngập chìm

3.2.1 Địa hình dương Địa hình dương phát triển trên các núi đá ven bờ, các đảo nằm trong vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, riêng chỉ vịnh Hạ Long có khoảng 1969 hòn đảo lớn nhỏ với các độ cao khác nhau từ 50 - 200 m Trên các núi đá vôi phát triển địa hình karst

Trong Vịnh Hạ Long, bên cạnh đó nó còn phát triển loại địa hình trên các đá không phải là cácbonát, trên các đá đó có thảm thực vật phong phú gồm các cây rừng nhiệt đới và rừng trồng, địa hình phát triển không phải trên đá vôi có độ cao trung bình từ 30 - 50 m

3.2.2 Địa hình âm Địa hình âm phát triển ở phần dưới nước trong các tùng, các áng và các vịnh nhỏ, chúng có độ sâu khác nhau, từ vài mét đến 20 m (Cửa Lục)

Bên cạnh đó chúng còn phát triển các loại hố sụt karst, có thể nằm ở phần lục địa, có thể trong các núi ở trong vịnh có thể kín, hoặc ăn thông với biển Độ sâu trong các hố sụt này không lớn lắm (từ 1 - 3 m), đôi chỗ có sự khác biệt về quần xã sinh vật ở trong các hố sụt này với bên ngoài hố sụt (đôi khi người ta gặp hệ sinh thái độc lập trong những hố sụt có những đặc điểm khác biệt với các hệ sinh thái khác) Các tùng ở vịnh Hạ Long có khoảng 57 tùng, một vài tùng có diện tích lớn (khoảng 220 ha - tùng Gấu), một vài tùng có diện tích nhỏ (khoảng 1,5 ha - tùng Mây Đen)

Các hang động phát triển trên các đá carbonat (chủ yếu trên các đá vôi có tuổi C1- P), các hang này có độ cao khác nhau được chia ra làm 3 nhóm, các hang nhóm 1 cách 3 - 4 m so với mực biển hiện tại, nhóm 2 cao từ 5 -15 m, nhóm 3 cao từ 20 - 25 m so với mực biển hiện tại, trong các hang động phát triển các nhũ đá, các nền karst với diện tích tương đối rộng Hoạt động của biển qua các thời kỳ được ghi lại qua các ngấn biển trên các đá carbonat

3.2.4 Thung lũng và đồng bằng karst bị ngập chìm

Trong khu vực Hạ Long, các luồng lạch lớn có phương Tây Bắc - Đông

Nam có độ sâu từ 10 - 20 m, trong đó bề mặt dưới của những hố sụt theo phương Tây Bắc - Đông Nam gồ ghề tạo nhiều bậc địa hình 1 - 4 m, 6 - 11 m,

12 - 20 m Những bậc địa hình đó bị phủ bởi các trầm tích Đệ Tứ.

Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội

Thành phố Hạ Long được chia làm 2 phần Khu vực phía tây thành phố

Hạ Long (Bãi Cháy) là khu du lịch hoạt động sôi động với nhiều khách sạn lớn nhỏ, có các điểm vui chơi giải trí ven bờ biển Khu bờ Bắc Bãi Cháy là cụm công nghiệp, cảng biển đang trong quá trình xây dựng và phát triển mạnh mẽ Khu vực Hồng Gai là trung tâm thương mại nhộn nhịp, nơi tập trung dân cư, các cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh

Theo thống kê của Uỷ Ban dân số và Kế hoạch hóa gia đình, năm 1996 dân số thành phố Hạ Long là 148.601 người, 2005 là 195.821 người, năm

2007 là 211.135 người Mật độ dân số trung bình đạt 207.600 người/km 2

Về tài nguyên đất đai của thành phố Hạ Long gồm 2 nhóm chính: Nhóm đất bằng ven biển chủ yếu là đất nhiễm mặn, trong đó đất cát biển chiếm 222 ha, đất mặn là 2061 ha, đất ngập mặn là 1.300 ha, đất ít mặn là 1.500 ha, đất mặn chua là 341 ha, đất chua mặn 230 ha, ngoài ra còn đất ngọt phù sa dọc theo các sông, suối 142 ha

Về tài nguyên khoáng sản: Chủ yếu là than đá và vật liệu xây dựng Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được là 529 triệu tấn, nằm ở phía Bắc và Đông Bắc Thành phố, trên địa bàn các phường: Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, chủ yếu là than Antraxit và bán Antraxit

Tài nguyên du lịch: Thành phố Hạ Long là một trong những điểm có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, gắn liền với vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới Nơi đây có nhiều hang động huyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh

Nữ, Sửng Sốt, Đầu Gỗ, Thiên Cung, Tam Cung, Mê Cung và hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ Một số hòn đảo có dáng hình kỳ vĩ, đẹp nổi tiếng như hòn Gà Chọi, hòn Lư Hương, hòn Đầu Người Bên cạnh đó còn có một số di tích lịch sử văn hóa khác như: Núi Bài Thơ, Chùa Long Tiên

Với 50 km bờ biển có diện tích bãi triều lớn như vùng Cửa Lục, Yên

Cư, Đại Đán, xung quanh đảo Tuần Châu, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, nhất là tôm, cá, ngọc trai, sò huyết… Đây cũng là vùng công nghiệp đóng tàu và cảng biển nổi tiếng, với cảng nước sâu Cái Lân và nhà máy đóng tàu Hạ Long đã hạ thuỷ những con tàu viễn dương có trọng tải lớn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Hiện trạng các loài cây LSNG

4.1.1 Thành phần các loài LSNG phân bố tự nhiên tại vịnh Hạ Long

Kết quả điều tra đã xác định được thành phần loài LSNG ở các đảo chính tại vịnh Hạ Long có tới 92 họ thực vật, 235 chi và 315 loài, cụ thể ở bảng sau:

Bảng 4.1 Thống kê số lƣợng các loài cây LSNG theo hệ thống sinh học tại vịnh Hạ Long

Số họ % Số chi % Số loài %

(Magnoliopsida) 69 75,00 187 79,57 250 79,37 Lớp một lá mầm

(Chi tiết danh lục loài LSNG ở phụ lục 01)

Kết quả tổng hợp ở bảng 4.1 cho thấy thực vật LSNG tại các đảo trên vịnh Hạ Long rất phong phú và đa dạng, gồm 6 ngành thực vật, trong đó có 1 ngành thực vật bậc thấp chưa có mạch là Nấm và 5 ngành còn lại là thực vật bậc cao có mạch

Ngành thực vật hạt kín đóng vai trò quyết định về sự phong phú đa dạng của thực vật LSNG trong khu vực: Lớp hai lá mầm có tới 250 loài trong tổng số 315 loài chiếm 79,37% tổng số loài, tiếp đó là lớp một lá mầm có 42 loài chiếm 13,33% tổng số loài Ít nhất là ngành Nấm, Lá thông, Thông đất mỗi ngành chỉ có 01 loài đại diện chiếm 0,63% tổng số loài

Sự đa dạng và phong phú về loài thực vật LSNG trong khu vực cho ta thấy tiềm năng về loài là rất lớn, tài nguyên LSNG phong phú, nhưng cũng cho thấy sự khó khăn và phức tạp trong quản lý, bảo tồn và phát triển cây LSNG để phục vụ lợi ích con người

4.1.2 Phân loại các loài cây LSNG theo bộ phận sử dụng

Bảng 4.2 Các loài cây theo bộ phận sử dụng

STT Bộ phận sử dụng Số loài %

Từ kết quả phân tích bảng 4.2 cho thấy đa phần các loài cây LSNG trên các đảo trên vịnh Hạ Long được sử dụng cả cây hoặc thân, lá và rễ vào các mục đích sử dụng khác nhau Những loài cây LSNG lấy củ, hoa chiếm thành phần thấp nhưng có vai trò quan trọng trong giá trị sử dụng khi được sử dụng làm dược liệu hay thực phẩm như: Thiên nam tinh, Nưa bắc bộ, Ráy leo trung quốc… Đáng chú ý là các loài LSNG được sử dụng cả cây chiếm một tỷ lệ lớn (53,33%) Những loài này nếu bị khai thác sẽ mất luôn cả cây ở trong rừng nên sẽ bị đe dọa tuyệt chủng Ngoài ra, các loài LSNG cho củ cũng có nguy có bị khai thác đào lấy củ làm chết cây Trong công tác bảo tồn và phát triển LSNG gỗ cần chú ý các loài này để có giải pháp khai thác hợp lý, bền vững, đồng thời có những giải pháp gây trồng và phát triển

4.1.3 Phân loại các loài cây LSNG theo nhóm mục đích sử dụng chính

LSNG gỗ có nhiều công dụng khác nhau rất đa dạng, có những loài có cùng công dụng, trong khi có những loài có các công dụng riêng Để thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng bền vững LSNG trong khu vực được phân loại theo các nhóm mục đích sử dụng Tổng hợp kết quả điều tra các xã đảo và phỏng vấn 10 hộ gia đình người dân địa phương thuộc Tp Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, kết hợp điều tra theo tuyến và OTC tại các thôn, bản về các loài cây cho LSNG theo nhóm công dụng được kết quả ở bảng sau:

Bảng 4.3 Thống kê các loài cây LSNG theo mục đích sử dụng chính

TT Mục đích sử dụng

Số họ % Số chi % Số loài %

1 Nhóm cho sản phẩm sợi 6 3.8 7 2,08 6 1,90

2 Nhóm cho sản phẩm chiết xuất 14 8,86 16 5,56 9 2,86

3 Nhóm cho lương thực, thực phẩm 42 26,58 59 20,49 12 3,81

4 Nhóm các loài làm dược liệu 79 50 188 65,28 175 55,56

5 Nhóm cây làm cảnh, bóng mát 12 7,6 14 4,86 109 34,6

6 Nhóm cây làm đồ gia dụng 5 3,16 5 1,73 4 1,27

Kết quả điều tra trên địa bàn toàn xã cho thấy nguồn cây lâm sản ngoài gỗ rất phong phú với nhiều loài, trong đó có tới 315 loài phân theo 6 nhóm điển hình: Nhóm làm cây cảnh có 109 loài, nhóm cây cho sản phẩm làm đồ gia dụng có 4 loài, nhóm cây cho giấy sợi có 6 loài, nhóm làm lương thực thực phẩm có 12 loài, nhóm cây cho tinh dầu có 9 loài, nhóm cây làm dược liệu có 175 loài Trong các nhóm công dụng thì nhóm cây dược liệu có số lượng lớn nhất với 175 loài (chiếm 55,56%), sau đó đến nhóm cây làm cảnh với 109 loài (chiếm 34,6%) Nhóm các loài cây làm đồ gia dụng và có số lượng loài không đáng kể

4.1.3.1 Nhóm cây cho sản phẩm sợi

Nhóm cây cho sản phẩm sợi gồm 6 loài 6 chi thuộc 6 họ thực vật, cụ thể như sau:

Bảng 4.4 Các loài cây cho sản phẩm giấy sợi

TT Tên Phổ thông Tên Khoa học Dạng sống

(Dranke) Gilg Bụi Thân, lá

2 Mây đắng Calamus walkeri Hance Dây leo Thân

(Griff.) Mart Dây leo Thân

4 Mây nếp Calamus tetradactylus Dây leo Thân

Mc Clure Khí sinh Thân

6 Tre dóc Indosasa aff hispida

Kết quả bảng 4.4 cho thấy có 6 loài cây LSNG được sử dụng trong gia đình Người dân thường khai thác từ tự nhiên về sử dụng chủ yếu đan lát đồ gia dụng, làm dây hoặc lạt buộc trong gia đình Tuy nhiên, các loài chủ yếu là phân bố trong tự nhiên, số lượng ít, chưa trở thành hàng hóa, chưa có nghiên cứu gây trồng nên giá trị kinh tế chưa được đánh giá cụ thể

4.1.3.2 Nhóm cây cho sản phẩm chiết xuất

Nhóm cây cho sản phẩm chiết xuất gồm 9 loài, 16 chi thuộc 14 họ thực vật, cụ thể ở bảng sau:

Bảng 4.5 Các loài cây cho sản phẩm chiết xuất

TT Tên Phổ thông Tên Khoa học Dạng sống

(L.) Nold Gỗ nhỡ Cả cây

2 Sơn dịch Aristolochia indica L Leo Thân

3 Hoa tiên Asarum glabrum Merr Thảo Thân

4 Song ly trung quốc Dischidia chinensis Champ ex Benth Bụi Thân, lá

5 Song ly nhọn Dischidia acuminata Cost Bụi Thân, lá

6 Bán trắng Hemidesmus indicus (Willd.)

7 Hồ hoa Balansa Hoya balansae Cost Leo Thân, lá

(Lamk.) Muell.-Arg Gỗ nhỡ Thân, cành

9 Song bế hạ long Paraboea halongensis Kiew

Kết quả điều tra bảng 4.5 cho thấy có 9 loài cho sản phẩn chiết xuất tại vịnh Hạ Long Trong đó có một số loài có giá trị kinh tế như Sơn ta, Hoa tiên Tuy nhiên, hầu hết các loài còn lại ít có giá trị kinh tế và không có thị trường nên chưa được chú ý gây trồng mà chủ yếu khai thác từ rừng tự nhiên khi có nhu cầu sử dụng

4.1.3.3 Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm

Kết quả điều tra đã xác định được 12 loài, 59 chi thuộc 42 họ thực vật có thể sử dụng làm lương thực, thực phẩm cụ thể ở bảng sau:

Bảng 4.6 Các loài cây cho lương thực, thực phẩm

TT Tên Phổ thông Tên Khoa học Dạng sống

1 Mọc nhĩ Auricularia polytricha Saco Ký sinh Cả nấm

2 Lá men Uvaria calamistrata Hance Gỗ nhỡ cả cây

3 Giom bắc bộ Melodinus tonkinensis Pitard Leo Quả

(Lour.) Kuntze Thảo Thân, lá

5 Thị Potinh Diospyros potingensis Merr Gỗ nhỡ Quả

6 Rau sắng Melientha suavis Pierre Gỗ nhỡ Lá

7 Nhãn Dinocarpus longan Lour Gỗ nhỡ Quả

9 Diếp cá Houttuynia cordata Thunb Thảo Thân, lá

10 Nhân trần Adenosma caeruleum R Br Thảo Cả cây

11 Măng cụt Garcinia mangostana Gagnep Gỗ nhỡ Quả

12 Củ mài Dioscorea persimilis Prain Dây leo Củ

Bảng trên cho thấy có một số loài có giá trị kinh tế và thường xuyên được sử dụng như: Mộc nhĩ, Rau sắng, Nhân trần, Củ mài Ngoài loài Nhãn, hầu hết các loài này được khai thác từ tự nhiên, chưa được gây trồng trên các đảo của Vịnh Hạ Long Nhiều loài có khả năng gây trồng như Mộc nhĩ, Diếp ca, Rau sắng, Nhân trần Đây là những loài có thể thu thập giống gây trồng trong hộ gia đình hoặc trồng làm hàng hóa

4.1.3.4 Nhóm cây làm dược liệu

Kết quả điều tra đã xác định được 175 loài, 188 chi thuộc 79 Họ có công dụng làm dược liệu Dưới đây là một số loài cây thuốc trong khu vực:

Bảng 4.7 Các loài cây làm dƣợc liệu

TT Tên Phổ thông Tên Khoa học Dạng sống

1 Chè đắng Ilex kaushue S Y Hu Gỗ nhỡ Thân lá, rễ

2 Ngũ gia bì hạ long Schefflera alongensis Bụi trườn Thân, lá

3 Chân chim leo Schefflera leucantha Viq Bụi trườn Thân, lá

4 Chặc chìu Tetracera scandens (L.) Merr Dây leo Thân, lá

5 Chòi mòi Morse Antidesma morsei Chun Sec

6 Bồ cu vẽ Breynia fruticosa (L.) Hook f Bụi Thân, lá

7 Khổ sâm Croton tonkinensis Gagnep Bụi Thân, lá

9 Thóc lép Desmodium heterocarpon (L.) DC Bụi Thân, lá

10 Xuyên tâm thảo Canscora lucidissima (Levl &

Vamot) Hand.-Mazz Thảo Cả cây

TT Tên Phổ thông Tên Khoa học Dạng sống

11 Mã tiền hoa tán Strychnos umbellata (Lour.) Merr Dây leo Quả

12 Mua thấp Melastoma dodecandrum Lour Thảo Cả cây

13 Sâm lá mốc Cyclea hypoglauca (Schauer) Diels Thảo Củ

14 Bình vôi hoa đầu Stephania cepharantha Hayata Dây leo Củ

15 Củ bình vôi Stephania rotunda Lour Dây leo Củ

16 Củ dòm Stephania tetrandra S Moore Dây leo Củ

17 Dây đau xương Tinospora sinensis (Lour.) Merr Dây leo Dây, lá

18 Lá khôi Ardisia silvestris Pitard Bụi Thân, lá

19 Dây vàng đắng Clematis granulata (Fin &

Gagnep.) Ohwi Dây leo Thân, củ

20 Kim sương Micromelum minutum (Forst.f.)

W.& Arn Dây leo Thân, lá

21 Mật nhân Eurycoma longifolia Jacq Gỗ nhỡ Củ

22 Vọng cách Premna corymbosa (Burm f.)

23 Thiên môn đông Asparagus cochichinensis

(Lour.) Merr Thảo Cả cây

24 Cao cẳng Hayata Ophiopogon platyphyllus var hayatae N Tanaka Thảo Cả cây

25 Huyết giác Dracaena cambodiana Pierre ex

26 Bách bộ Stemona tuberosa Lour Thảo Cả cây

Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài cây có thể sử dụng làm dược liệu trên các đảo thuộc vịnh Hạ Long rất phong phú và đa dạng Trên vịnh Hạ Long có phân bố một số loài cây dược liệu quý hiếm như: Bình vôi hoa đầu, Thiên môn đông, Lá khôi Hầu hết các loài được người dân sử dụng thông qua thu hái trong tự nhiên, chỉ có một số ít loài như Ngũ da bì Hạ Long,

Lá khôi, Địa liền có được gây trồng nhưng diện tích nhỏ hẹp nằm rải rác trong các hộ gia đình Một số loài hiện nay đang trong giai đoạn nghiên cứu gây trồng thử nghiệm, chưa đưa vào sản xuất

Về thị trường cây thuốc, qua khảo sát cho thấy hầu hết các loài cây làm dược liệu hiện nay ngoài việc sử dụng trong gia đình trong những bài thuốc cổ truyền thì một số loài như Lá khôi, Khổ sâm, Mã tiền hoa tán đã được khai thác buôn bán trở thành hàng hoá đem lại nguồn thu nhập thêm cho hộ gia đình tại địa phương Mặc dù hiện nay, cây thuốc chưa đem lại nguồn thu nhập cao nhưng các loài này đều có giá trị và tiềm năng rất lớn Nếu như có giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững các loài cây thuốc thì đây là những loài hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho kinh tế hộ gia đình của người dân trong khu vực

4.1.3.5 Nhóm cây làm cây cảnh, bóng mát

Kết quả điều tra cho thấy có 110 loài cây LSNG có thể sử dụng làm cảnh và cây bóng mát Dưới đây là một số loài tiêu biểu trong nhóm này:

Bảng 4.8 Các loài cây làm cảnh, bóng mát

TT Tên Phổ thông Tên Khoa học Dạng sống

1 Tóc vệ nữ Adiantum capillus-veneris L Thảo Cả cây

2 Tóc thần Adiantum caudatum L Thảo Cả cây

3 Tổ điểu thật Asplenium nidus L Thảo Cả cây

4 Tổ điểu đá Asplenium saxicola Rosenst Thảo Cả cây

5 Tổ điểu Thunber Asplenium thunbergii Kuntze Thảo Cả cây

6 Thiên tuế Hạ Long Cycas tropophylla K D Hill Thảo Cả cây

7 Đỗ quyên Chevalie Rhododendron chevalieri Dop Bụi Cả cây

8 Óng ánh hồng Vaccinium bracteatum Thunb Thảo Cả cây

9 Tai tượng đá vôi Acalypha kerrii Craib Thảo Cả cây

10 Xương rồng Euphorbia antiquorum L Thảo Cả cây

11 Mộc hương lá dài Xylosma longifolium Clos Bụi Cả cây

13 Nhài hạ long Jasminum alongense Gagnep Bụi Cả cây

14 Nhài lang Jasminum lang Gagnep Bụi Cả cây

15 Râu ông lão Clematis cadmia Buch.-Ham ex Wall Dây leo Cả cây

16 Cọ Hạ Long Livistonia halongensis N T Hiep Khí sinh Cả cây

17 Cau chuốt ngược Pinanga paradoxa Scheff Khí sinh Cả cây

18 Giáng hương quạt Aerides flabellata Rolf ex Dow Thảo Cả cây

19 Lan kiếm Cymbidium aloifolium (L.) Sw Thảo Cả cây

20 Lan san hô Luisia morsei Rolfe Thảo Cả cây

21 Lan hai đốm Paphiopedilum concolor

(Lindl.) Pfitz Thảo Cả cây

22 Trúc kinh cạnh Tropidia angulosa (Lindl.) Blume Thảo Cả cây

24 87 loài khác (xem phần phụ lục)

Kết quả điều tra cho thấy, thành phần loài cây có tiềm năng làm cảnh và bóng mát khá đa dạng và phong phú từ các loài cây gỗ lớn, gỗ nhỡ, gỗ nhỏ, cây bụi, cây thảo đến phụ sinh Trong đó, phong phú nhất là các loài Lan (Orchidaceae), cũng chính là các loài được khai thác sử dụng nhiều nhất tại hộ gia đình và bán cho khách du lịch Ngoài ra, một số loài khác đang bị khai thác để bán cho khách du lịch là Thiên tuế hạ long, Tổ điểu, Tóc thần vệ nữ,

Các loài cây LSNG quý hiếm tại vịnh Hạ Long

4.2.1 Các loài thực vật LSNG thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

Kết quả của chuyến khảo sát, đồng thời qua phỏng vấn người dân địa phương và kế thừa các tại liệu nghiên cứu trước đây Cho đến nay hệ thực vật một số đảo Vịnh Hạ Long được biết 315 loài, 235 chi thuộc 92 họ thực vật bậc cao có mạch Trong số này có 21 loài được ghi nhận là quý hiếm, với 17 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và và 6 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Kết quả điều tra phân loại các loài cây LSNG quý hiếm hiện có được tổng hợp trong bảng 4.10

Bảng 4.10 Danh sách các loài thực vật LSNG quý hiếm vịnh Hạ Long

TT Tên khoa học Tên Việt Nam

1 Alangium tonkinense Thôi chanh bắc VU Cảnh quan Trung bình

2 Ardisia siylvestris Lá khôi VU Dược liệu Ít

3 Aristolochia indica Sơn địch VU Cảnh quan Ít

4 Asarum glabrum Hoa tiên VU IIA

5 Cycas tropophylla Tuế hạ long IIA Cảnh quan Ít

TT Tên khoa học Tên Việt Nam

6 Dioscorea collettii Nần nghệ EN Dược liệu Trung bình

7 Drynaria bonii Ráng đuôi phụng VU

8 Melieantha suavis Rau sắng VU Thực phẩm Ít

9 Murraya glabra Vương tùng VU Cảnh quan Trung bình

10 Paphiopedilum concolor Lan hài đốm IA Cảnh Ít

11 Paris polyphylla Trọng lâu nhiều lá EN

12 Sarcostemma acidum Tiết căn EN Dược liệu Trung bình

Quyển bá trường sinh VU Cảnh, dược liệu Ít

14 Sophora tonkinensise Hoè bắc bộ VU

15 Stemona saxorum Bách bộ VU Dược liệu Trung bình

16 Stephania cepharantha Bình vôi đầu EN IIA Dược liệu Rất hiếm

17 Stephania rotunda Củ bình vôi IIA Dược liệu Trung bình

18 Stephania tetrandra Củ dòm IIA Dược liệu Trung bình

19 Strychnos cathayensis Mã tiền cà thây VU Dược liệu Trung bình

20 Strychnos ignatii Mã tiền lông VU Dược liệu Trung bình

21 Strychnos umbellata Mã tiền hoa tán VU Dược liệu Ít

Trong số 17 loài bị đe dọa ghi trong sách đỏ thì có 3 loài ở mức Nguy cấp (EN - Endangerous) là Bình vôi đầu, Trọng lâu nhiều lá và Nần nghệ Chúng là những loài dược liệu quý đã và đang bị khai thác sử dụng nhiều và đang trở nên rất hiếm ngoài tự nhiên Còn lại 14 loài khác ở mức sẽ nguy cấp (VU - Vulnerable) cũng chủ yếu là các loài được sử dụng làm thuốc hoặc làm cảnh

Ngoài ra, trong khu vực có 6 loài bị đe dọa có nguy cơ tuyệt chủng trong Nghị định 32 của Chính phủ Trong số đó có loài Lan hài đốm nằm trong nhóm

IA (nhóm thực vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) Các loài khác như Hoa tiên, Tuế hạ long, Bình vôi đầu… nằm trong nhóm IIA (Nhóm thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại)

Các loài nguy cấp, quý, hiếm là đối tượng cần phải được tiếp tục nghiên cứu về quần thể và phân bố của chúng để xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững

4.2.2 Các loài thực vật LSNG đặc hữu ở Vịnh Hạ Long

Trong hệ thực vật, đề tài cũng đã thống kê được 16 loài đặc hữu Danh sách các loài thực vật đặc hữu được tổng hợp trong bảng 4.11

Bảng 4.11 Các loài đặc hữu của Vịnh Hạ Long

STT Tên khoa học Tên Việt Nam Giá trị sử dụng

1 Allophylus leviscens Ngoại mộc tai Cảnh quan Ít

2 Alpinia calcicola Riềng núi đá Thực phẩm Ít

3 Chirita gemella Cầy ri một cặp Cảnh quan Ít

4 Chirita halongensis Cầy ri hạ long Cảnh quan Ít

5 Chirita hiepii Cầy ri hiệp Cảnh quan Hiếm

6 Chirita modesta Cầy ri ôn hoà Cảnh quan Ít

STT Tên khoa học Tên Việt Nam Giá trị sử dụng

7 Cycas tropophylla Tuế hạ long Cảnh quan Hiếm

8 Ficus superba var halongensis Sung hạ long Cảnh quan Trung bình

9 Hedyotis lecomtei An điền hạ long Cảnh quan Ít

10 Impatiens halongensis Bóng nước hạ long Cảnh quan Trung bình

11 Jasminum halongensis Nhài hạ long Cảnh quan Ít

12 Livistona halongensis Cọ hạ long Cảnh quan Trung bình

13 Neolitsea halonngensis Nô hạ long Cảnh quan Ít

14 Paraboea halongensis Song bế hạ long Cảnh quan Ít

15 Pilea halongensis Nan ông hạ long Cảnh quan Hiếm

16 Schefflera halongensis Ngũ gia bì hạ long Dược liệu Ít

Kết quả khảo sát cho thấy vịnh Hạ Long có tính đặc hữu cao, đặc biệt là các loài đặc hữu hẹp của vịnh Hạ Long Các loài thực vật được thống kê ở bảng trên là các loài đặc hữu hẹp của vịnh Hạ Long (chưa tìm thấy ở nơi khác)

Những loài đặc hữu này có giá trị sử dụng chủ yếu để làm cảnh, dược liệu và thực phẩm một số loài có nguy cơ cao bị tuyệt chủng như Tuế hạ long, Nan ông hạ long đã bị khai thác và đang trở nên rất hiếm Các loài khác cũng ít gặp trong quá trình khảo sát ở rừng tự nhiên Những loài đặc hữu là đối tượng cần quan tâm đặc biệt trong công tác bảo tồn nguồn gen, bảo tồn nguyên vị ngoài tự nhiên bởi chúng có quần thể ít và nhạy cảm với những tác động, đặc biệt là các hoạt động khai thác hoặc làm mất môi trường sống.

Đặc điểm và phân bố một số loài cây LSNG tại vịnh Hạ Long có tính đặc hữu cao

Vì điều kiện các nguồn lực có hạn, nên đề tài chỉ nghiên cứu phân bố của một số loài cây LSNG trong khu vực

- Cọ Hạ Long - Livistona halongensis:

Cọ Hạ Long hiện chỉ phân bố rải rác trên một số đảo của Vịnh Hạ Long, tập trung nhiều nhất ở các đảo Chân Voi, Tùng Lâm, khu vực Hòn Mây Đèn - Tam Cung với mỗi nơi chừng 30 - 50 cá thể Trong quá trình điều tra cho thấy tại đảo Chân voi và Cát Lán là có số lượng cá thể phân bố nhiều nhất, có 21 cá thể phân bố rải rác trong khu vực này Trong đó, có 7 cá thể trưởng thành phân bố tại những đỉnh núi rộng có địa hình hiểm trở, những cá thể chưa trưởng thành thường mọc dưới tán rừng nơi có độ tàn che và độ ẩm lớn

Hình 4.1 Cây Cọ hạ long - Livistona halongensis

Cọ Hạ Long là loài ưa sáng, có chiều cao vượt trội so với các loài cây khác, thường mọc trên các đỉnh đảo đá Rễ của Cọ Hạ Long rất khoẻ và cứng, có khả năng bám trên đá hay luồn lách vào các khe nứt của núi đá vôi Thân

Cọ Hạ Long là dạng thân cột, không phân nhánh, chiều cao của cây trưởng thành từ 7 - 12 m, đường kính thân từ 25 - 30 cm, toàn thân cây có các lớp viền bao phủ Lá của Cọ Hạ Long xếp theo hình hoa thị tại đỉnh thân, phiến lá xẻ chân vịt, đường kính trung bình 45 - 60 cm, cuống lá dài 0,8 - 1,2 m, có hai hàng gai dọc hai bên cuống Cọ Hạ Long ra hoa vào thời gian từ tháng 4 - 6, hoa có màu trắng vàng, mọc thành từng cụm như đuôi sóc Quả Cọ Hạ Long có hình cầu, đường kính từ 1,6 - 1,8 cm Đặc trưng nổi bật để phân biệt Cọ Hạ Long với loài Cọ xẻ (phổ biến ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên ) là thuỳ lá của Cọ Hạ Long chẻ sâu vào gân chính, gai cuống lá ngắn và to, cụm hoa vươn cao hẳn lên phía trên cuống lá, quả có hình cầu (còn quả Cọ xẻ hình bầu dục), rễ cứng và có khả năng tạo cảnh quan đẹp

- Tuế Hạ Long - Cycas tropophylla :

Các cá thể của Tuế Hạ Long mới chỉ được tìm thấy phân bố ngoài tự nhiên trên các đảo từ Vịnh Hạ Long đến Vườn Quốc gia Cát Bà Tại Hạ Long, các cá thể loài Tuế Hạ Long thường sống độc lập từng cây hoặc mọc theo đám Chúng thường mọc cheo leo trên các vách đá rất chắc chắn và chịu được điều kiện khô hạn Trên vịnh Hạ Long, Tuế thường mọc rải rác và phân bố rất rộng Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đề tài nhận thấy tại đảo Bồ Hòn có số lượng cá thể và mật độ lớn hơn

Hình 4.2 Tuế Hạ Long - Cycas tropophylla

Tuế hạ long có một số đặc điểm như sau : Có thân hình trụ, hoá gỗ, có chứa tinh bột, không phân nhánh Lá vảy hình tam giác hẹp, nhẵn hoặc có lông Lá nhiều mọc thành vòng tập trung ở đỉnh thân, xẻ thuỳ lông chim mang nhiều lá chét giả số lượng khác nhau tuỳ loài Cuống lá dài là phần không mang lá chét giả, có gai nhọn hoặc không có gai phân bố ở phần trên phần tiếp giáp với lá chét giả Nón xuất hiện tháng 4 - 5, hạt chín tháng 10 - 12 và kéo dài đến đầu năm sau Khả năng tái sinh từ hạt và chồi tốt

Tuế hạ long có hình thái đẹp, màu lá xanh đậm và xanh quanh năm, chịu được điều kiện khô hạn, nên cần có những nghiên cứu tiếp theo để nhân giống đại trà trồng làm cảnh vừa bảo tồn nguồn gen vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao

- Riềng núi đá - Alpinia calcicola: Đây là loài có dạng sống thuộc cây thân thảo, sinh trưởng và phát triển chủ yếu vào mùa xuân và mùa hè Là cây thân thảo đa niên, cao đến 1,5 m Mặt ngoài bẹ lá, cuống lá, lưỡi lá và mặt dưới của phiến lá có nhiều lông xám Phiến lá hình elíp hẹp, dạng như da, xanh xám mặt trên, xanh mặt dưới Cụm hoa ở ngọn mang 9 - 21 hoa, 3 - 7 hoa nở cùng lúc Cụm hoa không lá bắc, lá bắc con hình elíp rộng, màu trắng Đài hoa dạng hình chuông, màu trắng, đầu có 3 răng nhọn; tràng hoa tròn dài, màu trắng Cánh môi dạng hình trứng - tam giác rộng, hơi uốn vào ở đáy (gốc) và phẳng ở phần đầu, cỡ 42 - 46 × 30 -

36 mm, màu vàng tươi với bệt đỏ đậm lớn ở đáy và các sọc đỏ đậm kéo dài về phía mép cánh môi, mép rách và uốn xuống, đầu xẻ 2 thùy Nhụy lép hình dùi dài cỡ 4 - 8 mm, cong, màu đỏ đậm Bầu noãn hình cầu, nhiều lông vàng Quả nang hình cầu, màu đỏ tươi khi chín, nhiều lông

Hình 4.3 Riềng núi đá - Alpinia calcicola

Riềng núi đá thường mọc trên các vách đá hay bên dưới tán rừng tự nhiên nơi có độ ẩm và độ tàn che lớn ở hầu hết các đảo của vịnh Hạ Long Đây là loài đặc hữu hẹp, hiện chỉ phát hiện các cá thể phân bố tự nhiên ở các đảo thuộc vịnh Hạ Long và Bái Tử Long Hoa của loài khá lớn và đẹp, cần nghiên cứu bảo tồn và nhân giống để làm cảnh

- Các loài thuộc chi Chirita - Chirita spp:

Những loài thuộc chi Chirita trên vịnh Hạ Long rất phong phú trong đó có nhiều loài là thực vật đặc hữu như: Cầy ri Hạ Long - Chirita halongensis, Cầy ri hiệp - Chirita hiepii, Cầy ri ôn hoà - Chirita modesta và Cầy ri một cặp

- Chirita gemella… Các loài cây này có phân bố hầu hết trên các đảo thuộc vịnh Hạ Long đặc biệt là những vách đá gần mặt nước Trong quá trình điều tra đề tài đã bắt gặp những loài này phân bố nhiều ở một số đảo như: Hòn Móng Tay, Hòn Con Vịt, Cát Lán, Bồ Hòn… Các loài thuộc chi Chirita phân bố trên vịnh Hạ Long là các loài cây thân thảo, mọc bám trên mặt đá hoặc các khe đá

Các loài Cầy ri có khả năng chịu hạn tốt và thường có hoa rất đẹp có giá trị làm cảnh Chúng cũng là những đối tượng cần tiếp tục nghiên cứu bảo tồn và nhân giống để làm phong phú thêm nguồn tài nguyên cây cảnh đặc trưng của Vịnh Hạ Long

Hình 4.4 Các loài chi Chirita spp

- Ngũ gia bì Hạ Long - Schefflera alongensis : Đây là loài thực vật đặc hữu của Hạ Long Ngũ da bì Hạ Long là loại cây gỗ nhỏ, thân cây mọc thành bụi trườn dài từ 5 - 10 m Lá mọc so le, kép chân vịt, thường có 8 lá chét, phiến lá hình bầu dục, mép lá nguyên Hoa nhỏ, mọc thành chùy, màu trắng ở đầu cành Quả mọng hình cầu, khi chín có màu tím sẫm, trong chứa 6 - 8 hạt Trong quá trình điều tra hiện trường đề tài nhận thấy loài này có phân bố rộng trên các đảo thuộc vịnh đặc biệt là trên các vách đá gần mép nước

Ngũ gia bì hạ long là cây đa tác dụng có thể được sử dụng làm dược liệu hoặc trồng làm cảnh Cây cũng có khả năng chịu hạn tốt, cần nghiên cứu thêm về nhân giống để bảo tồn và phát triển

Hình 4.5 Ngũ gia bì Hạ Long - Schefflera halongensis

- Lan Hài vệ nữ đốm - Paphiopedilum concolor : Đây là loài có hoa rất đẹp, chúng phân bố rải rác trên các đảo núi đá thuộc vịnh Hạ Long Hiện nay do có giá trị kinh tế cao nên loài cây này đang bị khai thác cạn kiệt cho mục đích thương mại Trong quá trình điều tra đề tài chỉ có thể bắt gặp rất ít những cá thể còn phân bố rải rác trên các khe đá, vách đá dựng đứng Theo kết quả điều tra của đề tài, tại Vịnh Hạ Long, các cá thể của loài này có phân bố tại hòn Cống La Đông, Hòn Đình Gâm, Hòn Mắc Hen, Mây Đèn và một vài điểm tại đảo Hang Trai Do là loài đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng nên Lan hài vệ nữ hoa vàng đã được đưa vào trong "Danh mục thực vật rừng (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ, nghiêm cấm việc khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại"

Phân bố các loài cây LSNG theo các hệ sinh thái rừng

Trong quá trình điều tra trên các hòn đảo tại vịnh Hạ Long, đề tài đã thống kế và phân loại được các kiểu rừng chủ yếu sau đây:

Khi điều tra tại trạng thái rừng ngập mặn đề tài nhận thấy phân bố của các loài cây lâm sản ngoài gỗ rất ít Tổ thành chủ yếu là các loài cây ngập mặn như: Sú

- Aegiceras corniculatum (L.) Blanco (Myrsinaceae), Vẹt dù - Bruguiera gymnorrhiza (L.) Sav, Vẹt đĩa - Kandelia candel (L.) Druce, Đước vòi -

Rhizophora stylosa Griff (Rhizophoraceae), Mắm - Avicennia marina (Forsk.) Vierh (Verbenaceae), Bần chua - Sonneratia caseolaris (L.) Engl (Sonneratiaceae), Cọc trắng - Lumnitzera racemosa Willd (Combretaceae) Khu vực vùng triều, nơi bị ngập lúc triều lên ta gặp một số loài như Ô rô - Acanthus ilicifolius L (Acanthaceae), Su ổi - Xylocarpus granatum Koening (Meliaceae), Cui

- Heritiera littoralis Dryans (Sterculiaceae), Tra bồ đề - Thespesia popuerea (L.)

Soland ex Corr, Có một số loài được khai thác sử dụng nhưng rất ít dùng như: Tra làm chiếu - Hibiscus tiliaceus L (Malvaceae) Hếp - Scaeveola taccada Roxb (Goodeniaceae)…

4.4.2 Rừng trên các sườn và vách núi đá ở các đảo

Rừng trên các sườn và vách núi đá ở các đảo trên vịnh là kiểu rừng phổ biến nhất Tổ thành trong loại rừng này rất phong phú chủ yếu là những loài cây bụi, dây leo và thân thảo chiều cao trung bình 1 - 2 m Tại đây gặp phổ biến các loài cây bụi như: Sảng nhung - Sterculia lanceolata, Huyết giác - Dracaena cambodiana, Mật nhân - Eurycoma longifolia, Ngũ gia bì Hạ Long - Schefflera alongensis (Araliaceae), Tuế Hạ Long - Cycas tropophylla (Cycadaceae), Đơn đỏ - Ixora stricta, Nhài Hạ long - Jasminum alongense Một số loài cây dây leo và thân thảo như: Dây lạc tiên - Passiflora foetida, Củ bình vôi - Stephania rotunda, Nhân trần - denosma caeruleum Thường ở mỗi đảo và từng cụm đảo, thành phần hệ thực vật có những nét đặc trưng Ví dụ: Cọ Hạ Long - Livistona halongensis gặp ở các dông cao hoặc các đỉnh dọc các đảo giáp với Cát Bà (Bồ

Hòn, Lờm Bò, Tùng Lâm, Chân Voi, Cát Lán, Mây Đèn) Lan hài đốm -

Paphiopedilum concolor (Orchidaceae), theo kết quả điều tra trước đây gặp ở Hòn Cống La Đông, Hòn Đình Gâm, Hòn Mắc Hen

4.4.3 Rừng ở trong các thung lũng núi đá

Trong những thung lũng núi đá nơi đây ít chịu ảnh hưởng của sóng biển, thủy triều dâng, gió lớn nên tầng đất dày có nhiều mùn do đó hiện trạng ở đây chủ yếu là rừng thường xanh Các thung lũng còn có rừng tốt gặp ở các đảo: Bồ Hòn, Lởm Bò, Tùng Lâm, Chân Voi, Cát Lán… Tổ thành ở những kiểu rừng này rất phong phú và nhiều tầng lớp bao gồm cả những loài cây gỗ lớn chiều cao

15 - 20 m, đường kính 30 - 50 cm như: Nhãn - Dinocarpus longan, Vải guốc -

Xerospermum noronhianum, Chè đắng - Ilex kaushue… Một số loài cây bụi chiều cao trung bình 1 - 2 m như: Lá khôi - Ardisia sylvestris, Khổ sâm - Croton tonkinensis, Chòi mòi - Antidesma morsei… Ngoài ra còn nhiều lài cây bụi, dây leo, cây thân thảo khác.

Thực trạng khai thác LSNG

Theo phản ánh của người dân trước đây khi rừng nguyên sinh chưa bị khai thác nhiều, họ thu hái chủ yếu các sản phẩm LSNG trong rừng tự nhiên mà không cần quan tâm đến sự tái sinh cũng như việc bảo vệ và phát triển chúng Hiện nay khi diện tích rừng tự nhiên đang dần bị thu hẹp thì số lượng, chủng loại các sản phẩm LSNG từ rừng tự nhiên ngày càng ít đi Do vậy, người dân trong khu vực đã bước đầu tìm kiếm chúng trong những khu rừng thứ sinh phục hồi, rừng trồng nhưng số lượng khai thác không được nhiều

Như cuộc sống của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số khác sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng, LSNG đóng vai trò quan trọng trong sinh kế cho người dân nghèo ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa như người dân ở Đó là nguồn lương thực - thực phẩm, dược liệu, vật liệu xây dựng và mang lại thu nhập cho họ Thu nhập từ các sản phẩm từ rừng được dùng để mua hạt giống, thuê lao động canh tác hoặc tạo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh của một số hộ gia đình Đối với những hộ nghèo hơn, LSNG đóng vai trò quan trọng trong cả việc cung cấp lương thực và là sinh kế chủ yếu

Bên cạnh đó, qua điều tra cũng cho thấy để tiết kiệm thời gian và dễ dàng cho việc thu hái người dân đã trồng trong vườn nhà một số loài cây làm thuốc, rau ăn, gia vị như: Ba kích, rau Ngót rừng, Bồ khai, Tai chua kỹ thuật trồng đơn giản chủ yếu là đem cây con từ trên rừng về trồng hoặc giâm cành, gieo hạt Các loài này dễ sinh trưởng, phát triển trong vườn nhà, chất lượng không có gì khác so với cây ở trong rừng Những loài cây rừng đã được trồng trong vườn nhà không nhiều, chỉ là những loài điển hình hay được người dân sử dụng phổ biến nhất

Kết quả phỏng vấn 10 hộ gia đình cho thấy nguồn gốc của những loài LSNG được khai thác sử dụng tại khu vực nghiên cứu là rất lớn Việc khai thác này dựa trên nhu cầu hiện tại của hộ gia đình, cộng đồng và thị trường Kết quả điều tra thực trạng khai thác các sản phẩm LSNG tại được tổng hợp tại bảng 4.12

Bảng 4.12 Bảng thực trạng khai thác một số sản phẩm LSNG tại Vịnh Hạ Long

1 Tuế Hạ Long Cả cây Cảnh quan Ít 1.000.000 đ/cụm

2 Dây gân Dây Thuốc Ít 120.000 đ/kg khô

3 Xuyên tâm thảo Dây Dược liệu Rất hiếm 10.000.000 đ/kg tươi

4 Bình Vôi Củ Dược liệu Ít 1.000.000 đ/kg tươi

5 Huyết giác Thân Dược liệu TB 90.000 đ/kg khô

6 Tắc kè đá Củ Dược liệu TB 120.000 đ/kh tươi

7 Các loại Phong lan Cả cây Cảnh quan TB 1.500.00 đ/kg

8 Mật nhân Củ Dược liệu Ít 150.000 đ/kg khô

Thị trường tiêu thụ các sản phẩm LSNG chủ yếu là các lái buôn đi thu mua của những người dân đi khai thác, sau đó các lái buôn có thể sơ chế các sản phẩm và bán cho các đại lý thu mua LSNG Từ các đại lý thu mua này các sản phẩm LSNG có thể được bán lẻ, bán buôn hoặc xuất khẩu

Trên các đảo ở Vịnh Hạ Long gần như không có các cơ sở chế biến LSNG Các loài LSNG được người dân thu hái thường chỉ sơ chế bằng phương pháp đơn giản là phơi nắng (hoặc đôi khi được sấy) cho khô để sử dụng dần hoặc bán cho thương lái Một phần lớn các thương lái mua các loại LSNG tươi trực tiếp từ người dân đi khai thác, sau đó mới sơ chế và bảo quản để bán trên thị trường.

Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cho các loài cây LSNG

Trên cơ sở những kết quả điều tra đánh giá hiện trạng gây trồng LSNG cũng như thu nhập của người dân và các biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng của các mô hình, có thể đề xuất một số giải pháp phát triển LSNG phù hợp với Tp Hạ Long như sau:

4.6.1 Giải pháp về chính sách

- Rà soát, hoàn thiện, bổ sung các chính sách đã có như chính sách giao đất giao rừng, hỗ trợ vốn, đầu tư tín dụng, thuế… cần ưu tiên cho các dự án gây trồng LSNG

- Địa phương nhanh chóng xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển LSNG ở địa phương dựa trên chiến lược, đề án và kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 - 2020 của Bộ NN&PTNT đã phê duyệt

- Cần quyết định lựa chọn một số loài cây LSNG giá trị cao có thế mạnh ở các địa phương vào danh mục các loài cây trồng rừng chính đặc biệt là các chương trình dự án lâm nghiệp sắp tới

- Quy hoạch vùng nguyên liệu, xây dựng cơ chế lưu thông tiêu thụ LSNG cho các cơ sở chế biến trong vùng

- Hình thành các nhóm, các tổ chức kinh tế hợp tác giữa người sản xuất, người chế biến lưu thông và người tiêu dùng

- Nhà nước nên thành lập một tổ chức quản lý thu mua và xuất khẩu các sản phẩm LSNG theo con đường chính ngạch

- Dành một phần vốn ngân sách từ các chương trình như chương trình bảo vệ và phát triển rừng, chương trình nông thôn mới, chương trình bảo tồn, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư… để đầu tư trồng bổ sung, tái tạo LSNG từ rừng tự nhiên hoặc trồng mới rừng phòng hộ có xen cây LSNG Dành một phần kinh phí từ Khuyến lâm hàng năm cho xây dựng mô hình đào tạo, chuyển giao kiến thức gây trồng và chế biến tới hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng Một phần kinh phí hàng năm dành cho chọn giống, chuyển giao kỹ thuật gây trồng và chế biến LSNG

- Thu hút nguồn vốn từ nhiều nguồn cho phát triển LSNG như vốn tự có của dân, các doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

- Hình thành bộ phận quản lý nhà nước về LSNG ở cấp tỉnh (Sở NN&PTNT), cấp huyện (Phòng Nông nghiệp huyện)

- Củng cố và mở rộng các làng nghề truyền thống sử dụng nguyên liệu, các cơ sở sản xuất kinh doanh, xuất khẩu LSNG

- Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển LSNG theo từng giai đoạn của tỉnh, hình thành bộ phận hoặc phân công cán bộ theo dõi về LSNG để thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện kế hoạch hành động về LSNG; lồng ghép kế hoạch hành động về LSNG vào lập kế hoạch lâm nghiệp, làm đầu mối phối hợp với các cơ quan chức năng thuộc bộ, ngành liên quan ở tỉnh trong tổ chức thực thi kế hoạch

4.6.2 Giải pháp về kỹ thuật

Hiện nay một số loài LSNG đã có hướng dẫn, quy trình kỹ thuật, cần khuyến khích áp dụng vào thực tế và kết hợp với kiến thức bản địa để phát triển diện tích các loài cây LSNG đạt năng suất chất lượng cao như: Hướng dẫn kỹ thuật trồng Xuyên tâm thảo, Dây gân, Thiên môn đông Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần bổ sung một số nội dung cho phù hợp bao gồm:

- Kỹ thuật về chọn tạo giống:

+ Ở địa phương có các loài LSNG thế mạnh riêng, vì vậy các cấp chính quyền cần có định hướng rõ ràng và thiết thực trong việc chọn giống cây trồng sao cho phù hợp với đặc trưng và thế mạnh của địa phương mình, nhằm nhân rộng và phát triển trên quy mô lớn hơn, ưu tiên bổ sung từ 3 - 5 loài LSNG có giá trị kinh tế cho Tp Hạ Long;

+ Hầu hết các giống hiện nay chủ yếu là do dân mua ở các cơ sở sản xuất cây giống tại địa phương hoặc nhổ từ rừng tự nhiên về trồng nên nguồn gốc giống chưa rõ ràng Vì vậy, trong thời gian tới cần xây dựng các vườn giống, nguồn giống chất lượng cao và nhân rộng phục vụ cho sản xuất, đặc biệt là giống Dây hương, Rau sắng, các loài phong lan… Những loài cây đã có tiến bộ kỹ thuật về giống cần nhanh chóng tập huấn chuyển giao, những loài cây chưa có các nghiên cứu về cải thiện giống cần khẩn trương tiến hành nghiên cứu để phục vụ sản xuất

- Xác định được tập đoàn cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa và đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thị trường tiêu dùng

- Kỹ thuật về gây trồng:

+ Tổng kết kinh nghiệm và những tiến bộ kỹ thuật trong gây trồng LSNG thành công làm bài học, phổ biến rộng rãi tới mọi người dân có liên quan;

+ Tiếp tục nghiên cứu biện pháp gây trồng thâm canh LSNG cho năng suất cao dưới tán rừng và xây dựng các làng nghề ở mỗi vùng nguyên liệu;

+ Cần tiếp tục nghiên cứu tác động của LSNG dưới rừng tự nhiên, đề ra các giải pháp hợp lý, tránh tác động đến đất và mất sinh cảnh của động thực vật rừng

- Về kỹ thuật khai thác, chế biến, bảo quản:

+ Cần xây dựng phương án khai thác và sử dụng bền vững sản phẩm từ các mô hình gây trồng LSNG;

+ Xây dựng các mô hình sơ chế, bảo quản và chế biến LSNG đảm bảo các sản phẩm sau khi chế biến đạt yêu cầu chất lượng của thị trưởng trong khu vực và thế giới;

+ Tổ chức thu mua và chế biến các loài LSNG tại chỗ, tạo thêm thu nhập và việc làm cho người dân;

+ Cần xây dựng các cơ sở chế biến gắn với vùng nguyên liệu và người sản xuất để nâng cao hiệu quả của các mô hình

Tóm lại, chiến lược phát triển bền vững các loài cây LSNG có giá trị ở Vịnh Hạ Long còn nhiều vấn đề cần sớm được giải quyết Để làm được điều này không chỉ với sự tham gia của chính quyền xã và người dân trong vùng mà cần có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đơn vị trong tỉnh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tuyên truyền, quảng bá Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong cải thiện giống và hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng các loài cây LSNG có giá trị Ngoài ra, trong thời gian tới, Quảng Ninh cần có các đề án mở rộng và phát triển trồng các loài cây LSNG có giá trị trên quy mô toàn tỉnh, đồng thời khai thác và tìm kiếm đầu ra, mở rộng thị trường cho sản phẩm khi một số loài đã có “Thương hiệu”

4.6.3 Giải pháp về thông tin tuyên truyền

Ngày đăng: 12/04/2022, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đình Anh (2012), Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây Lâm sản ngoài gỗ ở xã Đồng Lâm - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây Lâm sản ngoài gỗ ở xã Đồng Lâm - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Lê Đình Anh
Năm: 2012
2. Anita pedersen và Nguyen Huy Thang (1996), Bảo tồn các vùng đất ngập nước ven biển chủ yếu vùng châu thổ sông Hồng, 104 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn các vùng đất ngập nước ven biển chủ yếu vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Anita pedersen và Nguyen Huy Thang
Năm: 1996
3. Đỗ Huy Bích và các tác giả (2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam - tập I, II, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam - tập I, II
Tác giả: Đỗ Huy Bích và các tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2004
4. Bộ Khoa học và công nghệ môi trường (1996), Sách đỏ Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, phần thực vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và công nghệ môi trường
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1996
5. Bộ NN&PTNT (2007), Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2007
6. Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
7. Võ Văn Chi, Trần Hợp (1999), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1
Tác giả: Võ Văn Chi, Trần Hợp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Lê thị Diên, Hồ Đăng Nguyên (2009), “Sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam tại vườn Quốc gia Bạch Mã”, Tạp chí NN&PTNT, Tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam tại vườn Quốc gia Bạch Mã”, "Tạp chí NN&PTNT
Tác giả: Lê thị Diên, Hồ Đăng Nguyên
Năm: 2009
9. Nguyễn Hữu Dũng (2005), Hiện trạng bảo tồn Lâm sản ngoài gỗ và các chính sách liên quan, Hội thảo Quốc gia về thị trường Lâm sản ngoài gỗ bền vững tại Việt Nam 29/6/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng bảo tồn Lâm sản ngoài gỗ và các chính sách liên quan
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2005
10. Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao (1997), Giáo trình Điều tra rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Điều tra rừng
Tác giả: Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
11. Triệu Văn Hùng (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam - Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam pha II, Nxb Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam - Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam pha II
Tác giả: Triệu Văn Hùng
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 2007
12. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2004
13. Nguyễn Huy Sơn (2011), Lâm sản ngoài gỗ, sách chuyên khảo dùng cho giảng dạy sau Đại học của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ, sách chuyên khảo dùng cho giảng dạy sau Đại học của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Huy Sơn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011
14. Lê Văn Thắng (2012), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh. Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Tác giả: Lê Văn Thắng
Năm: 2012
15. Phạm Xuân Thu (2014), Nghiên cứu hiện trạng khai thác và bảo tồn các loài cây Lâm sản ngoài gỗ tại xã Đồn Đạc, huyện vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng khai thác và bảo tồn các loài cây Lâm sản ngoài gỗ tại xã Đồn Đạc, huyện vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Xuân Thu
Năm: 2014
16. Nguyễn Hải Tuất và cộng sự (2006), Phân tích thống kê trong lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thống kê trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất và cộng sự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Viện dược liệu (2006), Báo cáo kết quả điều tra cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, Dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ pha II tại Việt Nam, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Viện dược liệu
Năm: 2006
18. Viện Tài nguyên và môi trường biển (2007), Điều tra nghiên cứu đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long nhằm phát huy giá trị đa dang của di sản.Báo cáo khoa học, Quảng Ninh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nghiên cứu đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long nhằm phát huy giá trị đa dang của di sản
Tác giả: Viện Tài nguyên và môi trường biển
Năm: 2007
19. Chung II Choi ang Mai Dinh Yen. (1997), Ecosystem and Biodiversity of Cat Ba National park and Halong Bay, Vietnam. Annals of Nature Conservation, KNCCN, Vol.12: Servey of the natural Environment in Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annals of Nature Conservation, KNCCN
Tác giả: Chung II Choi ang Mai Dinh Yen
Năm: 1997
20. FAO (1995), Appendix 4.1.2: Non wood forest products and nutrition, Food and Nutrition Division. FAO, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Appendix 4.1.2: Non wood forest products and nutrition
Tác giả: FAO
Năm: 1995

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w