Untitled HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần Triết học Mac Lênin ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2020 1 A MỞ ĐẦU 2 1 Tính cấp thiết của đề tài 2 2 Mục đính và nhiệm vụ nghiên cứu 2 3 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu 3 4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3 5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3 B NỘI DUNG 3 Phần 1 Lý luận của chủ nghĩa Má.
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Triết học Mac-Lênin
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG TRONG ĐỜI SỐNG
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2020
Trang 2A MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục đính và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3
B NỘI DUNG 3
Phần 1 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề tôn giáo 3
1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo 4
1.1 Định nghĩa tôn giáo 4
1.2 Bản chất của tôn giáo 4
1.3 Nguồn gốc của tôn giáo 4
1.4 Tính chất của tôn giáo 5
1.5 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 6
2 Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 7
Phần 2: Thực trạng tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay 8
1 Thực trạng tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay 8
1.1 Tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay 8
1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo tại Việt Nam 10
1.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 13
1.4 Những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của tôn giáo và tín ngưỡng và thách thức trong việc quản lý tôn giáo và tín ngưỡng trong thời đại ngày nay 17
2 Nhận thức của bản thân về vấn đề tôn giáo 18
2.1 Vai trò của tôn giáo trong thời kì hội nhập 18
2.2 Phát triển của tôn giáo trong tương lai 19
2.3 Tránh nhiệm của cá nhân và tổ chức về vấn đề tôn giáo 19
C KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống tinh thần của con người tôn giáo luôn đóng vai trò quan trọngnhất định Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử loài người, tôn giáo ra đời vàtrở thành một hiện tượng xã hội Có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới nhưngnhìn chung mọi tôn giáo đều hướng con người đến cái chân – thiện – mỹ vớinhững giá trị tốt đẹp Chủ nghĩa cộng sản không phủ nhận tuyệt đối tôn giáo màdung hóa tôn giáo trong đời sống, chính trị, xã hội để phát triển Ở Việt Nam, tôngiáo cũng đóng một vai trò nhất định trong đời sống tinh thần Nhìn chung mọi đạo
lý của tôn giáo đều chứa đựng tính nhân văn sâu sắc Những chiết lý ấy giúp chocon người sống với nhau gần giũ hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân, cộng đồng,với sự phát triển ching của toàn xã hội Tôn giáo là sự tự do tin ngưỡng của mỗicông dân Vì vậy trong định hướng trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa,Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của các tôn giáo Bên cạnh đó, cũng cònmột số cá nhân, nhóm tín đồ tôn giáo chưa nhận thức đúng và thực hiện đúng chínhsách tôn giáo Một số vấn đề nổi lên là: tình trạng khiếu kiện, khiếu nại về đất đai,
cơ sở thờ tự các tôn giáo; hoạt động tôn giáo trái quy định; lợi dụng tự do tínngưỡng, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống đối chính quyền, gây mất an ninhtrật tự Chính vì thế mà mỗi người dân cần xác định rõ tư tưởng tự do tín ngưỡngphải đi đôi với chấp hành pháp luật của Đảng và nhà nước Đó cũng là lý do emquyết định chọn đề tài “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin về vấn đề tôn giáo.Ảnh hưởng của tôn giáo và tín ngưỡng trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay”
là đề tài nghiên cứu, để xác định rõ cách nhìn nhân, lựa chọn tín ngưỡng góp phầnvào sự phát triển chung của xã hội
2 Mục đính và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đính: Trên cơ cở lý luận về tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Lê nin và
những chính sách về tôn giáo của Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
Trang 4hội, tiểu luận nêu lên những ảnh hưởng của tôn giáo và tín ngưỡng đến đời sốngcủa người dân Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách của Đảng và nước về vấn đề tôn giáo.
Nhận thức của nhân dân về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng
- Phạm vi nghiên cứu:
o Không gian: trong đất nước Việt Nam
o Thời gian: Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Tiểu luận được thể hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo nói chung và chínhsách tôn giáo nói riêng
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện tiểu luận này, em sử dụng mối quan
hệ biện chứng giữa khách quan – chủ quan, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng, giữa lý luận và thực tiễn Đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp logic– lịch sử, phân tích – tổng hợp, điều tra xã hội học nhằm mục đích và hoàn thànhnhiện vụ mà đề tài đặt ra
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: làm sâu sắc hơn về những vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng
trong những chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề này Từ đó có nhữngnhìn nhận đúng đắn về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng
- Ý nghĩa thực tiễn: Hiểu được bản chất, nguồn gốc và các vấn đề của tôn
giáo Biết được nguyên nhân tồn tại và nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong
Trang 5quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Nắm vững và biết vận dụng nhiều quan điếm,chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta trong quá trình học tập, công tác.
B NỘI DUNG
Phần 1 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và chính sách của Đảng
và Nhà nước Việt Nam về vấn đề tôn giáo.
1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo
1.1 Định nghĩa tôn giáo.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại vàtồn tại phổ biến hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng ngàn năm qua.Nhìn chung bất cứ một tôn giáo nào, với hình thái phát triển của nó đều bao gồm: ýthức tôn giáo và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng với những hoạt động mang tínhchất tín ngưỡng nghi thức của nó
1.2 Bản chất của tôn giáo
Chủ nghĩa Mác – Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xãhội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Qua hình thứcphản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trởthành thần bí
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội – văn hóa do con người sáng tạo ra Conngười sáng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ,nguyện vọng, suy nghĩ của họ Nhưng, sáng tạo tôn giáo, con người lại bị lệ thuộcvào tôn giáo, tuyệt đối hóa và phục tùng tôn giáo vô điều kiện Về phương diện thếgiới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự khác biệt với thế giớiquan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin Mặc dù có sự khácbiệt về thế giới quan, nhưng những người công sạn với lập trường mác xít khôngbao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáocủa nhân dân; ngược lại, luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc khôngtheo tôn giáo của nhân dân
Tôn giáo và tín ngưỡng không đồng chất, nhưng có giao thoa nhất định Tínngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách thể hiện niềm
Trang 6tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng có tính thần thánh, linhthiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ Có nhiều loại tín ngưỡng khác nhau như:tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng Thờ anh hung dân tộc; tín ngưỡng Thờmẫu…
1.3 Nguồn gốc của tôn giáo
Thứ nhất, nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém,con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy
họ đã gán cho tự nhiên những sức mạnh quyền lực to lớn, thần thánh hóa nhữngsức mạnh đó Đó là hình thức tồn tại đầu tiên của tôn giáo
Khi xã hội xuất hiện các giai cấp đối kháng, có áp bức bất công, do khônggiải thích được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội
ác, … và những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi, họ hướng niềm tin ảo tưởng và thếgiới bên kia dưới hình thức tôn giáo
Như vậy sự yếu kém của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bầncùng về kinh tế, áp bức chính trị, thất vọng bất lực trước những bất công xã hội lànguồn gốc sâu xa của tôn giáo
Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Ở những giao đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên xãhội có giới hạn Do trình độ nhận thức yếu kém, con người không giải thích đượcbản chất của các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và xã hội, từ đó họ thần bí hóa vàgán cho tự nhiên xã hội những lực lượng thần bí hình thành nên các biểu tượng tôngiáo
Do nhận thức của con người ngày càng phát triển, sự khái quát hóa, trừutượng hóa tự nhiên và xã hội ngày càng cao nên càng có khả năng xa vời hiện thực,phản ánh sai lệch hiện thực để rơi vào ảo tưởng, thần thánh hóa đối tượng nhậnthức
Thứ ba, nguồn gốc tâm lý
Trang 7Tâm lý sợ hãi trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội, những tình cảm về lòngkính trọng, sự biết ơn … đã làm hình thành những ý thức tình cảm của tôn giáođưa đến sự ra đời của tín ngưỡng tôn giáo.
Tín ngưỡng, tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,góp phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, nỗi trống vắng trong tâm hồn,
an ủi, vỗ về xoa dịu cho các số phận lúc sa cơ lỡ vận Vì thế dù là hạnh phúc hư ảo,nhưng nhiều người vẫn tin, vẫn bíu vào Đó cũng là một giá trị tích cực của tôngiáo
1.4 Tính chất của tôn giáo
Thứ nhất, tính lịch sử của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, nghĩa là nó có sự hìnhthành, tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch sửnhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào
đó, khi khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thứcđược bản chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần mất đi vị trí của
nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người
Thứ hai, tính quần chúng của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến ở tất cả các dân tộc, quốc gia,châu lục Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ rấtđông đảo (gần 3/4 dân số thế giới); mà còn thể hiện ở chỗ, các tôn giáo là nơi sinhhoạt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân
Thứ ba, tính chính trị của tôn giáo
Tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích,nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranhdân tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thốngtrị sử dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp của mình, chống lại các giaicấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phải tiến bộ
Trang 81.5 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thứ nhất, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Phát huy những giá trị tích cựccủa tôn giáo, đặc biệt là những giá trị đạo đức truyền thống, chủ nghĩa nhân đạo vàtinh thần yêu nước, phấn đấu sống tốt đời đẹp đạo, phù hợp với lợi ích của tôngiáo Mọi công dân có quyền lợi nghĩa vụ, không có phân biệt đối xử vì lí do tôngiáo, không xâm phạm đến tình cảm tôn giáo của công dân
Thứ hai, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, điều cơ bản để giải phóng quầnchúng lao động khỏi ảnh hưởng của tôn giáo là đấu tranh xóa bỏ nguồn gốc kinh tế
- xã hội của tôn giáo, phải làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin thật sự trở thành thếgiới quan, nhân sinh quan và con đường mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động
là nhu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng CNXH
Thứ ba, phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng; tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo.
Mặt tư tưởng là biểu hiện mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân thuần túy về tưtưởng Mặt tư tưởng của tôn giáo được giải quyết lâu dài thông qua quá trình cảitạo và xây dựng CNXH
Mặt chính trị phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữacác giai cấp và những thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng vàlợi ích của nhân dân Giải quyết mặt chính trị đòi hỏi dựa và pháp luật, kiên quyết
và kịp thời trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo, nhưng cũng tránh nôn nóng vộivàng
Thứ tư, phải có quan điểm lịch sử khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Ở những thời điểm khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo là khácnhau, quan điểm thái độ của các giáo hội, giáo sĩ không giống nhau Vì vậy cần có
Trang 9quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét đánh giá và ứng xử với tôn giáo và nhữngvấn đề liên quan đến tôn giáo
2 Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thứ nhất, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theođúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trướcpháp luật
Thứ hai, đảng, nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôngiáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cựccủa truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc vànhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôngiáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dịđoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhândân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
Thứ ba, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm động viên đồng bào nêucao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước; thông quaviệc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảoquyền lợi vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôngiáo
Thứ tư, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Công tác tôn giáo không chỉ liên quan đến quần chúng tín đồ, chức sắc cáctôn giáo, mà còn gắn liền với công tác đấu tranh với âm mưu, hoạt động lợi dụngtôn giáo gây phương hại đến lợi ích Tổ quốc, dân tộc Làm tốt công tác là trách
Trang 10nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, bao gồm hệ thống tổ chức đảng, chínhquyền, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị do Đảng lãnh đạo.
Thứ năm, vấn đề theo đạo và truyền đạo.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháptheo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận đượchoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ Việc theo đạo, truyền đạo cũngnhư mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
Phần 2: Thực trạng tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay.
1 Thực trạng tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay.
1.1 Tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay
Về mặt dân cư, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em.Mỗi dân tộc, kể cả người Kinh (Việt) đều lưu giữ những hình thức tín ngưỡng, tôngiáo riêng của mình Người Việt có các hình thức tín ngưỡng dân gian như thờcúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng,dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước.Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thuỷ (còn gọi là tínngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo
Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử liên tục bị xâm lược từ bên ngoài nên việcLão giáo, Nho giáo - những tôn giáo có nguồn gốc ở phía Bắc thâm nhập; Cônggiáo - một tôn giáo gắn với văn minh Châu Âu vào truyền đạo và sau này đạo Tinlành đã khai thác điều kiện chiến tranh ở miền Nam để truyền giáo thu hút ngườitheo đạo là điều dễ hiểu
Việt Nam là một quốc gia bao gồm những tôn giáo có nguồn gốc từ phươngĐông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có nguồn gốc từ phương Tây như Thiênchúa giáo, Tin lành; có tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáoHoà Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chứcgiáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai Bên cạnh đó có những tôn giáo đãphát triển và hoạt động ổn định xong cũng có những tôn giáo chưa ổn định, đangtrong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp
Trang 11Về mặt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số ở ba khuvực nói trên có những nét riêng, độc đáo tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng.Hầu hết các dân tộc thiểu số vẫn giữ tín ngưỡng nguyên thủy thờ đa thần với quanniệm vạn vật hữu linh và thờ cúng theo phong tục tập quán truyền thống Sau này,theo thời gian các tôn giáo dần dần thâm nhập vào những vùng đồng bào các dântộc thiểu số hình thành các cộng đồng tôn giáo, cụ thể:
Cộng đồng dân tộc Khơme theo Phật giáo Nam tông Hiện nay có 1.043.678người Khơme, 8.112 nhà sư và 433 ngôi chùa trong đồng bào Khơme
Cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo Có khoảng gần 100 nghìn ngườiChăm, trong đó số người theo Hồi giáo chính thống (gọi là Chăm Ixlam) là 25.703tín đồ, Hồi giáo không chính thống (Chăm Bàni) là 39.228 tín đồ Ngoài ra còn cóhơn 30 nghìn người theo đạo Bàlamôn (Bà Chăm) Hồi giáo chính thức truyền vàodân tộc Chăm từ thế kỷ XVI Cùng với thời gian, Hồi giáo đã góp phần quan trọngtrong việc hình thành tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, văn hóa củangười Chăm
Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Công giáo, Tin lành Hiện nay
ở khu vực Tây Nguyên có gần 300 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo vàgần 400 nghìn người theo đạo Tin lành
Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc một số theo Công giáo, Tin lành Hiệnnay ở Tây Bắc có 38 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo; đặc biệt,khoảng 20 năm trở lại đây có đến trên 100 nghìn người Mông theo đạo Tin lànhdưới tên gọi Vàng Chứ và hơn 10 nghìn Dao theo đạo Tin lành dưới tên gọi ThìnHùng
Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân.Ước tính, số tín đồ là nông dân của Phật giáo, Thiên chúa giáo chiếm đến 80-85%,của Cao Đài, Phật giáo, Hòa Hảo: 95% và của đạo Tin lành là 65% Là người laođộng, người nông dân, tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam rất cần cù trong lao động sảnxuất và có tinh thần yêu nước Trong các giai đoạn lịch sử, tín đồ các tôn giáo cùngvới các tầng lớp nhân dân làm nên những chiến thắng to lớn của dân tộc
Trang 12Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất
là những sinh hoạt tôn giáo cộng đồng mang tính chất lễ hội Một bộ phận tín đồcủa một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm chí cuồng tín dễ bị các phần tửthù địch lôi kéo, lợi dụng
1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo tại Việt Nam
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ VI, đến đời Lý (thế kỷ thứXI) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống.Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đờisống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc Nhiều chùa, thápđược xây dựng trong thời kỳ này Nhà nho Lê Quát học trò Chu Văn An đã lấy làmkhó chịu khi toàn dân theo Phật: “Phật chỉ lấy điều họa phúc mà động lòng người,sao mà sâu xa và bền chắc đến như vậy? Trên từ vương công, dưới đến thứ dân, hễlàm cái gì thuộc về Phật, thì hết cả gia tài cũng không tiếc…’’
Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với việc đời Vốn là một tôngiáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở lên rất nhập thế: các cao tăngđược nhà nước mời tham chính trong những việc hệ trọng Phật tử Việt Nam hănghái tham gia vào các hoạt động xã hội, các phong trào đấu tranh đòi hòa bình vàđộc lâp dân tộc, đỉnh cao là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào mùa
hè năm 1963 Với tín điều giáo lý đạo Phật luôn răn dạy người ta sống làm việcthiện, tránh xa cái ác
1.2.1 Những ảnh hưởng tích tực đến đời sống của người Việt Nam
Một là, ảnh hưởng của Phật Giáo về tư tưởng
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tư Diệu,
Đế và Bát Chánh Đạo Ba đạo lý này là nền tảng các tông phái Phát Giáo, nguyên