Bài viết sẽ đi tìm hiểu và làm rõ các nội dung nói trên và đi sâu vào việc phân tích thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp ma
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC VIÉT TẮT
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang 5Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới quý thầy cô trong khoa Kinh Tế
và Nhà Trường đã tạo điều kiện học tập trang bị cho tôi kiến thức nền tảng và chuyên sâu trong suốt quá trình học tập
Và tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các cô chú, anh chị trong Xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi nhiệt tình trong suốt quá trình thực tập tại quý xí nghiệp cũng như trong quá trình thu thập tìm kiếm tài liệu để hoàn thiện khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và tất cả những người thân yêu của tôi
đã luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải Dương, ngày 30 tháng 05 năm2012
Sinh viên thực hiện
Hoàng Xuân Thủy
Trang 6TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động tiêu thụ sản phẩm là hoạt động quyết định sự phát triển của mỗi doanh nghiệp Để hoạt động tiêu thụ thực sự hiệu quả thì công thì công tác tiêu thụ là rất cần thiết Với đề tài “ Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ” Bài khóa luận gồm có phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết luận, trong đó phần nội dung chính bao gồm các phần như sau:
Phần I: Cơ sở lý luận về tiêu thụ sản phẩm
Phần II: Thực trạng về hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ trên thị trường nội địa
Phần III: Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ trên thị trường nội địa
Bài khóa luận đã đi phân tích chủ yếu về thực tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp, rút
ra những mặt tích cực cũng như những mặt còn hạn chế tồn đọng từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giúp xí nghiệp nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của mình
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh nghiệp, bao gồm: tiêu thụ, sản xuất, hậu cần, kinh doanh, tài chính, kế toán và quản trị doanh nghiệp Mặc dù sản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu thụ lại đóng vai trò là điều kiện tiền đề không thể thiếu được để sản xuất có thể có hiệu quả Chất lượng của hoạt động tiêu thụ sản phẩm quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp
Đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay khi mà mọi doanh nghiệp gắn mình với thị trường thì hoạt động tiêu thụ lại càng có vị trí quan trọng hơn Đối với các doanh nghiệp sản xuất chỉ có thể và phải bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà doanh nghiệp có Việc xác định cái mà thị trường cần là một bước trong khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng như vậy của tiêu thụ nên nhiều doanh nghiệp hiện nay đã không ngừng chú trọng đến khâu tiêu thụ Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp nào để thúc đẩy công tác tiêu thụ lại hoàn toàn không giống nhau ở các doanh nghiệp Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: đặc điểm của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất, các điều kiện hiện có của doanh nghiệp…Doanh nghiệp phải biết lựa chọn các biện pháp phù hợp để không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ
Có như vậy thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mới nâng cao và giúp doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu đề ra Sau một thời gian thực tập tại xí nghiệp may tư doanh Tuấn kỳ, tôi đã chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của tôi như sau:
“Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ ”.
Đề tài của tôi gồm các nội dung:
Chương I: Cơ sở lý luận về tiêu thụ sản phẩm.
Chương II: Thực trạng của việc tiêu thụ sản phẩm tại xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ trên thị trường nội địa.
Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm tại xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ.
Bài viết sẽ đi tìm hiểu và làm rõ các nội dung nói trên và đi sâu vào việc phân tích thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp may Tuấn Kỳ Từ đó ta có thể thấy được những mặt mặt tích cực và mặt hạn chế đồng thời cũng làm rõ nguyên nhân dẫn đến những tồn đọng trong công tác
tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài.
Tiêu thụ là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng của mỗi doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh, đặc biệt khi các doanh nghiệp đó hoạt động trong nền kinh tế thị trường, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là khâu cuối cùng trong hoạt động sản xuất và cũng là khâu đầu tiên của quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp, theo đó các doanh nghiệp sau mỗi quá trình sản xuất phải tiến hành việc bán sản phẩm để thu lại những gì đã bỏ ra và có lãi Thông qua hoạt động này, doanh nghiệp mới có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Ta thấy rằng không có tiêu dùng thì không có sản xuất Quá trình sản xuất trong nền kinh
tế thị trường thì phải căn cứ vào việc tiêu thụ được sản phẩm hay không Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hoá từ hàng sang tiền, nhằm thực hiện đánh giá giá trị hàng hoá sản phẩm trong kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động tiêu thụ bao gồm nhiều hoạt động khác nhau và có liên quan chặt chẽ với nhau: như hoạt động nghiên cứu và dự báo thị trường, xây dựng mạng lưới tiêu thụ, tổ chức và quản lý hệ thống kho tàng, xây dựng chương trình bán, Muốn cho các hoạt động này có hiệu quả thì phải có những biện pháp & chính sách phù hợp để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo cho hàng hoá của doanh nghiệp có thể tiếp xúc một cách tối đa với các khách hàng mục tiêu của mình, để đứng vững trên thị trường, chiến thắng trong cạnh tranh và đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển lớn mạnh
Đối với xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ, với đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh là may mặc cung cấp sản phẩm cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu thì hoạt động đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm càng phải được chú trọng hơn nhằm đứng vững
và cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành nói riêng và các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế nói chung
Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác tiêu thụ sản phẩm, cùng với mong muốn được rèn luyện bản thân qua quá trình nghiên cứu thực tế, trong thời gian thực tập tại xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ và cùng với sự hướng dẫn tận tình của Giảng
viên hướng dẫn Đỗ Văn Cường tôi đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ” làm đề
tài nghiên cứu cho bài luận văn này Mục đích của vấn đề này là tìm ra nguyên nhân những hạn chế trong hoạt động thiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp, từ đó đề xuất các phương án giải quyết những tồn tại đó.Thực hiện tốt đề tài trên cũng là một trong
Trang 9những biện pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đứng vững trên thị trường.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng về tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
Công tác tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ
b Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: tình hình tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp trong thị trường Việt Nam
- Thời gian: từ ngày 28/02/2012 đến ngày 12/06/2012
- Nội dung: “ Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ”
4 Phương pháp nghiên cứu
a Nhóm phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Nguồn thông tin bên ngoài: Sách, báo, tạp chí, internet…
- Nguồn thông tin bên trong :
Từ trang web của xí nghiệp: Cung cấp các thông tin khái quát về xí nghiệp gồm giới thiệu khái quát, loại hình dịch vụ chính, chu trình sản xuất kinh doanh
Từ phòng kế toán: Các số liệu về kết quả và tình hình hoạt động kinh doanh của
xí nghiệp
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Các dữ liệu thứ cấp thu thập từ phòng kế toán của xí nghiệp các số liệu về doanh thu, lợi nhuận của xí nghiệp trong 3 năm gần đây, tiến hành đánh giá bằng phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu
Trang 10+ Phương pháp tổng hợp: từ nhũng dữ liệu thu thập được, ta tiến hành tổng hợp các dữ liệu.
+Phương pháp so sánh: sau khi tổng hợp được dưc liệu, ta tiến hành thành lập các bảng biểu, tính tỷ lệ phần trăm, vẽ biểu đồ, so sánh qua thời gian hoặc các đối tượng khác nhau
b Nhóm phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
- Phương pháp thu thập:
- Nguồn thu thập: Từ nhà quản trị của xí nghiệp
- Phương pháp xử lý: phương pháp tổng hợp, thống kê mô tả, phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích kết quả trong phiếu điều tra, phỏng vấn, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Sau khi phân tích các thông tin đã thu thập được cần chon lọc những thông tin phù hợp với đề tài nghiên cứu
Phương pháp thống kê: thống kê kết quả trong các mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn Phương pháp thống kê cho biết tỷ lệ phần trăm các ý kiến được hỏi một cách chính xác, cũng như thứ tự độ quan trọng của các vấn đề nghiên cứu
Phương pháp so sánh: sự thống nhất hay là bất đồng giữa các quan điểm
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được kết hợp sử dụng trong thu thập, lựa chọn tài liệu có liên quan đến đề tài phân phối và tôi thu thập ý kiến kinh nghiệm và đánh giá của các chuyên gia, các nhà quản lý về kênh phân phối Kết hợp phân tích thực trạng phân phối và nhu cầu may mặc, từ đó đưa ra nhứng kết luận và giải pháp có cơ sở lý luận thực tiễn
5 Tổng quan các nghiên cứu trước
Xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ “Các giải pháp nhằm nâng nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp cho năm 2011”
Trong giai đoạn hiện nay đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm là hết sức cần thiết qua nghiên cứu thực tế xí nghiệp đã mang lại được khá nhiều thành tựu cho công tác tiêu thụ sản phẩm của mình Tuy nhiên đề đạt hiệu quả trong hoạt động này thì xí nghiệp may Tuấn Kỳ cần phải đầu tư hơn cho công tác đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm này
Trong quá trình tìm hiểu tôi được biết rằng đã có rất nhiều đề tài về giải pháp đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm Tôi được biết luận văn của bạn Nguyễn Thị Hương
Trang 11Giang trường ĐH Thương Mại: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
xí nghiệp may Hưng Long tại tỉnh Hưng Yên
Luận văn này đã dựa trên lý luận về tiêu thụ sản phẩm, từ đó đưa ra các giải đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm cho xí nghiệp Vì vậy với đề tài của mình tôi tiếp cận tại góc độ tìm hiểu rõ về công tác tiêu thụ sản phẩm để giúp xí nghiệp đạt hiệu quả cao hơn trong công tác này
6 Kết cấu nội dung của đề tài.
Đề tài gồm có các nội dung chính:
Chương I: Cơ sở lý luận về tiêu thụ sản phẩm.
Chương II: Thực trạng về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ tại thị trường nội địa.
Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ tại thị trường nội địa.
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.1. Tiêu thụ sản phẩm.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cẩu thị trường và thu về cho mình một khoản tiền nhất định Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lời thông qua việc đáp ứng nhu cẩu của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sàn phẩm và doanh thu tiều thụ sản phẩm là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp Chỉ khi nào sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
đó được tiêu thụ, có doanh thu thì các chi phí mới được bù đắp, doanh nghiệp mới có lợi nhuận, từ đó duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vậy tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu thụ sản phẩm là gì?
Theo nghĩa rộng đó là quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ nghiên cứu thị trường, xác định nhu cẩu, tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ sản phẩm đến xúc tiến bán hàng và dịch vụ sau bán hàng nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển giao sản phẩm của doanh nghiệp cho khách hàng và nhận tiền từ họ Người mua va người bán gặp nhau, thương lượng về điều kiện mua, giá cả, thời gian Khi hai bên thống nhất với nhau, có sự chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, tiền tệ thì quá trình tiêu thụ chấm dứt Hay nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm là quá trình đơn vị bán, xuất giao sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho đơn vị mua và đơn vị mua thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng theo giá đã thỏa thuận Chỉ qua tiêu thụ, tính chất hữu ích của sản phẩm xuất ra mới được thực hiện, hay nói cách khác, sản phẩm tiêu thụ xong mới được xtôi là có giá trị sử dụng hoàn toàn Thực chất của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
là quá trình thực hiện giá trị trong quá trình sản xuất kinh doanh
Xét trên góc độ sở hữu thì tiêu thụ sản phẩm là sự chuyền giao quyền sở hữu giữa người sản xuất và người tiêu dùng
Xét trên góc độ kinh doanh thì tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh
Trên góc độ luân chuyển vốn thì tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hóa từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ, làm cho vốn trở lại trạng thái ban đẩu khi nó bước vào mỗi giai đoạn sản xuất mới
Bắt đẩu mỗi chu kỳ sản xuất, vốn được các nhà sản xuất đưa vào lưu thông mua các yếu tố đẩu vào của quá trình sản xuất như: công cụ lao động, đối tượng lao động
Trang 13và sức lao động Ở giai đoạn này, vốn bằng tiền được chuyển hóa thành vốn dưới hình thức vật chất (T - H), những vật chất này tạo ra sản phẩm thông qua giai đoạn sản xuất, sản phẩm hàng hóa được đưa ra tiêu thụ và kết thúc qúa trình tiêu thụ là doanh nghiệp sẽ thu được tiền về Qua các giai đoạn khác nhau đồng vốn ban đẩu của doanh nghiệp trở về hình thái vốn của nó (hình thái tiền tệ) Kết thúc chu kỳ này, vốn của doanh nghiệp lại chuyển sang chu kỳ mới, một vòng tuẩn hoàn mới theo đúng các giai đoạn mà nó trải qua.
Vậy tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình luân chuyển vốn Việc thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa thông qua hai hành vi: Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng và được khách hàng thanh toán hay chấp nhận thanh toán
Thời điểm kết thúc tiêu thụ sản phẩm là khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng hoặc nhận được giấy báo chấp nhận thanh toán tiền hàng theo giá đã thỏa thuận Hàng được coi là đã tiêu thụ khi thõa mãn đồng thời cả hai điều kiện
+ Hàng đã chuyển cho người mua
+ Người mua đã trả tiền hay chấp nhận trả tiền
Việc xác định đúng thời điểm tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm, để
từ đó tìm cách hạn chế yếu tố tiêu cực, phát huy nhân tố tích cực trong quản lý hoạt động tiêu thụ Là cơ sở đánh giá tình hình sử dụng nguyên vật liệu, vốn sản xuất để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh một cách chính xác trong kỳ
Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung, vấn đề tiêu thụ sản phẩm được hiểu rất đơn thuẩn: Nhà nước cấp chỉ tiêu cung ứng vật tư cho các đơn vị sản xuất theo lượng định, đồng thời chịu trách nhiệm đẩu ra cho sản phẩm Với cơ chế này, các đơn vị không có trách nhiệm cụ thể đối với hoạt động sản xuất, có tâm lý ỷ lại, kém năng động Vì vậy, giá cả hàng hóa không phản ánh giá trị thực tế của nó nên sản xuất mặt hàng nào, chất lượng ra sao cũng có người mua và có “lãi” Do không có môi trường cạnh tranh lành mạnh dẫn đến chất lượng sản phẩm hàng hóa ngày càng giảm sút, mẫu
mã nghèo nàn, đơn điệu, kinh doanh kém hiệu quả và tụt hậu là điều không thể tránh khỏi của nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ là mục đích cơ bản Phương châm thường
trực của doanh nghiệp là: “Không sản xuât cái không được bán và cái không bán được”
Các doanh nghiệp chỉ tiến hành đẩu tư, sản xuất kinh doanh khi đảm bảo chắc chắn rằng bán được hàng hay nói cách khác: Tiếng nói của thị trường đã được chú y lắng nghe Tiêu thụ sản phẩm xuất phát từ nhu cẩu của ngườitiêu dùng đồng thời giúp
Trang 14người sản xuất hiểu rõ hơn về sản phẩm của mình để có biện pháp hoàn thiện hơn nữa nhằm thỏa mãn tối đa nhu cẩu của xã hội Có thể nói, sản xuất ra đã khó nhưng tiêu thụ sản phẩm còn khó hơn nhiều, việc đảm bảo trang trải chi phí, có lãi là vấn đề không đơn giản.
Tóm lại: Tiêu thụ sản phẩm được ví như là “ chât keo dính”, gắn chặt doanh nghiệp
với thị trường, tạo cơ sở để hòa nhập, chấp nhận lẫn nhau, để có những tiền đề giải quyết cái gọi là môi trường kinh doanh của doanh nghiệp ở các giai đoạn sau Như vậy, tiêu thụ sản phẩm trở thành vấn đề có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
1.2 Bản chất của việc tiêu thụ sản phẩm
Thực chất của hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng của quá trình sản xuất hay kinh doanh thương mại, không chỉ giúp doanh nghiệp đưa hàng hóa dịch vụ ra cung cấp cho thị trường thực hiện giá trị sản phẩm dưới hình thức trao đổi quyền sở hữu thông qua giá trị tiền tệ mà còn giúp doanh nghiệp giải phóng lượng hàng tồn kho đưa lại sức sinh lời cao để doanh nghiệp có lợi nhuận, đầu tư mở rộng thị trường kinh doanh Mặt khác tiêu thụ sản phẩm lại là quá trình nghiên cứu nhu cầu thị trường, thiết lập các chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối, hỗ trợ xúc tiến bán, quảng cáo một cách hợp lý, linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu kịp thời của thị trường
Như vậy, ở doanh nghiệp thương mại, tiêu thụ sản phẩm là kết quả của nhiều hoạt động liên quan và kế tiếp nhau:
Nghiên cứu thị trường, nghiên cứu tâm lý tập quán của người tiêu dùng
Hoạch định chiến lược và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Xây dựng các chiến lược và kế hoạch yểm trợ tiêu thụ sản phẩm
Thiết lập và củng cố bộ máy tổ chức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Đánh giá kết quả, thu thập thông tin phản hồi để tiếp tục hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Công tác tiêu thụ sản phẩm ở xí nghiệp thương mại đặc biệt quan trọng với sự sống còn của xí nghiệp và được xtôi xét như một quá trình kinh tế bao gồm các công việc có liên hệ mật thiết với nhau được tiến hành ở các bộ phận khác nhau trong xí nghiệp
1.3 Ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm.
Trang 15Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng kết thúc một chu kỳ sản xuất và mở đẩu cho một chu kỳ tiếp theo Chỉ có thông qua tiêu thụ sản phẩm, vốn của doanh nghiệp mới được quay vòng và sinh lời Với số tiền thu được sau khi bán hàng doanh nghiệp
có thể trang trải các chi phí nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả tiền lương cho công nhân Có như vậy quá trình tái sản xuất kỳ sau mới được tiếp tục thực hiện một cách thường xuyên và liên tục
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm phản ánh quy mô quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp, phản ánh trình độ chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác thanh toán
Nó là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản chi phí về công
cụ lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh; có tiền để thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động, trích BHXH, BHYT, KPCĐ; làm nghĩa vụ đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế theo luật định.Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sản xuất ra các sản phẩm đểm
ra tiêu thụ bên ngoài thị trường đáp ứng nhu cẩu tiêu dùng của xã hội chứ không phải
là tiêu dùng trong doanh nghiệp Qua tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được
Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, thực hiện doanh thu bán hàng đẩy đủ và kịp thời góp phẩn làm tăng tốc độ luân chuyển vốn, rút ngắn kỳ thu tiền trung bình, giảm lượng tồn kho, tăng khả năng sinh lời của đồng vốn, là điều kiện để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất, đẩu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tạo nguồn tài chính tiềm năng cho doanh nghiệp để bù đắp chi phí và để thực hiện nghĩa vụ tài chínhvới nhà nước, đảm bảo tình hình tài chính của xí nghiệp lành mạnh, vững chắc đồng thời làm tăng uy tín cho xí nghiệp trên thị trường
Tiêu thụ là khâu cuối cùng để đồng vốn quay về hình thái giá trị ban đẩu Tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng, kịp thời góp phẩn tiết kiệm các khoản chi phí bán hàng, chi phí kho bãi, bảo quản góp phẩn giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận Ngược lại, nếu công tác tiêu thụ sản phẩm diễn ra chậm chạp, yếu kém sẽ kéo dài chu kỳ sản xuất làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả và gây ra những thiệt hại to lớn như: mất thời
cơ, cơ hội kinh doanh thậm chí làm toàn bộ quá trình đẩu tư sản xuất trở nên vô ích, lãng phí Trong “Tư bản ” quyển 2 tập 1- NXB Sự thật năm 1961, C Mác đã nói:
“Nếu ngay trong giai đoạn cuối cùng H’ - T’ hàng hóa bị chất đống không bán được sẽ làm tắc nghẽn lưu thông.”
Sản phẩm được tiêu thụ nghĩa là doanh nghiệp đã đi đúng hướng, từng bước thực hiện được mục tiêu của mình, chứng tỏ sản phẩm sản xuất và tiêu thụ về mặt khối lượng, chất lượng, giá trị sử dụng, giá cả đã phù hợp với nhu cẩu thị trường Từ đó,
Trang 16doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường, nắm bắt nhu cẩu, thị hiếu của người tiêu dùng, từng bước cạnh tranh để thấy và khẳng định chính mình, qua đó hoạch định chiến lược, phát triển sản xuất kinh doanh với những bước đi sáng tạo.
Tổ chức quá trình tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng đối với việc xây dựng, thực hiện kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để từ đó đề ra những biện pháp có hiệu quả nhằm thực hiện kế hoạch tài chính và các kế hoạch khác Trong quá trình này tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp ngày một nâng cao, nó gắn với việc tính toán thời gian, mức sản lượng cẩn cung ứng với số tiền bỏ ra trong kinh doanh của doanh nghiệp và
sự nhạy cảm của khách hàng
1.4 Nội dung của tiêu thụ sản phẩm.
Trang 17Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải tự giải quyết các vấn đề cơ bản của sản xuất kinh doanh Việc tiêu thụ sản phẩm không đơn thần là bán những cái mình sản xuất ra mà nó được hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể các biện pháp marketing nhằm mục tiêu thu được lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.
Nội dung cơ bản của công tác tiêu thụ sản phẩm bao gồm
1.4.1 Nghiên cứu thị trường.
Theo quan điểm marketing thì thị trường bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay ước muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi
để thoả mãn mong muốn Nghiên cứu thị trường là khâu đầu tiên của hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là tìm kiếm và khai thác các cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường nhằm xác định khả năng bán của một hay một nhóm hàng Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ có các biện pháp nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của thị trường, nâng cao số lượng hàng hoá bán ra Thị trường thích hợp với doanh nghiệp là thị trường phù hợp với mục đích và khả năng của doanh nghiệp Đối với một doanh nghiệp thương mại hay doanh nghiệp sản xuất, việc xác định được đâu là phân khúc thị trường và đâu là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp mình giúp doanh nghiệp phát triển đúng hướng, đánh đúng điểm cần đánh Trong đó thị trường mục tiêu bao gồm những khách hàng
mà người làm marketing muốn tập trung nỗ lực của mình vào đó và phân khúc thị trường là hành động chia thị trường thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm có những đặc điểm và nhu cầu riêng, còn các thành viên trong cùng một nhóm thì có các nhu cầu và mong muốn tương tự nhau Việc nghiên cứu thị trường không bị giới hạn bởi thị trường hiện tại của doanh nghiệp mà còn mở rộng ra phân đoạn thị trường mới đầy triển vọng
Kế hoạch tiêu thụ phải xác định được:
Trang 18Thị trường tiêu thụ sản phẩm: thị trường truyền thống, thị trường mới, thị trường tiềm năng.
Danh mục các mặt hàng sản phẩm hoặc sản phẩm sẽ tiêu thụ trong kỳ kế hoạchChất lượng, quy cách và số lượng tiêu thụ
Tổng doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm
1.4.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Doanh nghiệp cần tổ chức bộ máy tiêu thụ sản phẩm hoàn chỉnh và được chuyên môn hoá để tăng hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm Tuỳ theo quy mô của thị trường, số lượng, chủng loại các mặt hàng, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp mà
tổ chức bộ máy tiêu thụ phải thoả mãn các tiêu thức sau: gọn nhẹ, cơ cấu đơn giản, linh hoạt, thích ứng cao với yêu cầu của thị trường, phù hợp với mục tiêu đề ra , phát huy năng lực tập thể, hoạt động đồng nhất có hiệu quả
Hàng hoá sau khi sản xuất ra phải được tiêu thụ trên thị trường Một thực tế cho thấy rằng hàng hoá không bán được không phải do nguyên nhân về chất lượng và giá
cả mà do khâu tổ chức tiêu thụ còn kém Do đó để thực hiện tốt các hoạt động tiêu thụ doanh nghiệp phải chú ý đến các nội dung sau:
1.4.3.1 Tổ chức bộ máy thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
a Nhiệm vụ
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ, thực hiện các dịch vụ trước và sau khách hàng
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm
- Ký kết hợp đồng và theo dõi việc thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm
- Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, nắm bắt các thông tin từ khách hàng phản hồi giúp doanh nghiệp có các biện pháp thích ứng với các biến động diễn ra trên thị trường
- Đánh giá hiệu quả hoạt động của công tác tiêu thụ sản phẩm theo từng giai đoạn
Trang 19b Bộ máy tiêu thụ sản phẩm
Bộ máy tiêu thụ sản phẩm phù hợp sẽ đảm bảo thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đề
ra, phản ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của thị trường, thúc đẩy quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế Các bộ phận phụ trách việc tiêu thụ từng khu vực thị trường, bộ phận phụ trách khâu bán hàng, vận chuyển, thực hiện quảng cáo theo dõi tiến độ tiêu thụ… được giao cho các công việc cụ thể trong nhiệm vụ thực hiện tiêu thụ sản phẩm
1.4.3.2 Tổ chức bán hàng.
Tuỳ theo điều kiện, đặc điểm sản xuất kinh doanh và đặc tính của sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn các hình thức bán hàng cho phù hợp như: bán hàng trực tiếp, bán hàng qua hợp đồng kinh tế, bán hàng qua điện thoai, mạng internet…
- Tuyển chọn và đào tạo, bố trí người bán hàng – là những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nên có vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm Trong có chế thị trường phân phối hàng hoá ở các doanh nghiệp là hoạt động tác nghiệp mở đầu tạo điều kiện chủ động cho hoạt động bán hàng, đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường đảm bảo lợi nhuận tạo uy tín cho khách hàng
Trang 201.4.3.3 Hoạt động giao dịch, ký kết hợp đồng
Cùng với việc bán hàng tới tận tay người tiêu dùng, doanh nghiệp tìm kiếm và thực hiện bán hàng qua hợp đồng tiêu thụ Hình thức bán hàng này tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán sản phẩm với khối lượng lớn hơn nhiều và là cơ sở xây dựng quan
hệ làm ăn lâu dài, thiết lập kênh khách hàng truyền thống Trước khi ký hợp đồng doanh nghiệp phải xác định rõ mục tiêu yêu cầu của cuộc đàm phán Kết quả của một cuộc đàm phán thành công là hợp đồng tiêu thụ sản phẩm được ký kết Đối tượng ký kết hợp đồng với doanh nghiệp là các đơn vị và cá nhân có nhu cầu và đủ tư cách pháp nhân Bước tiếp theo của việc ký hợp đồng là tiến hành giao hàng và thanh toán theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng Các hợp đồng thường sử dụng là: hợp đồng đại lý tiêu thụ, hợp đồng gia công, hợp đồng liên doanh, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân chia lợi nhuận
Doanh nghiệp cần sắp xếp các công việc cần làm theo hợp đồng đã ký, theo dõi thực hiện, giải quyết kịp thời vướng mắc, đảm bảo uy tín của doanh nghiệp
1.4.3.4 Các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ.
Dịch vụ trước bán hàng: Gồm các dịch vụ giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, chào hàng, tham gia hội chợ triển lãm, tham gia hội nghị khách hàng, tìm hiểu cách bao gói phù hợp với thị hiếu của khách hàng và các dịch vụ kèm theo để gợi mở nhu cầu của khách hàng mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp mình
Dịch vụ trong bán hàng: Góp phần thoả mãn tối đa nhu cầu của người mua gồm giới thiệu sản phẩm, hướng dẫn lựa chọn hàng hoá, hướng dẫn sử dụng hàng hoá Dịch
vụ trong khi bán hàng nhằm tác động vào tâm lý của người tiêu dùng và sự tin cậy của doanh nghiệp
Dịch vụ sau bán hàng: là các hoạt động bao gồm việc bảo hành sản phẩm, tư vấn Dịch vụ sau bán hàng nhằm nâng cao uy tín sản phẩm của doanh nghiệp, củng cố lòng tin của người tiêu dùng khi mua và sử dụng sản phẩm so doanh nghiệp sản xuất
1.4.3.5 Kiểm tra và đánh giá thực hiện kế hoạch tiêu thụ
Sau mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đánh giá kết quả tiêu thụ đã đạt được thông qua các chỉ tiêu sau:
Tổng sản lượng: là tổng số lượng các mặt hàng mà doanh nghiệp đã tiêu thụ được
n
Σ Sbán = Σ Q i
i =1
Trang 21Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ có thể dựa vào chỉ số doanh thu:
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm.
1.5.1 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh.
Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được, nghiên cứu các nhân tố này không phải để điều khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng tốt nhất với xu hướng vận động của nó
Môi trường kinh doanh tác động liên tục đến hoạt động của doanh nghiệp theo những xu hướng tốt và xấu khác nhau, vừa tạo ra cơ hội, vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh
1.5.1.1 Các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước.
Tùy vào từng thời điểm khác nhau mà Nhà nước có những chính sách phát triển kinh tế- xã hội khác nhau, điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Một mặt có tác động tích cực, thúc đẩy phát triển, mặt khác lại có tính kìm hãm, đôi khi còn làm chậm hoặc thậm chí có khi ngừng lại quá trình tiêu thụ như: chính sách thuế, chính sách tiền tệ, chính sách giá cả Do vậy, cẩn thiết phải bám sát các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, để từ đó có những hướng đi hay, những đề xuất có hiệu quả giúp cho quá trình tiêu thụ phát triển lâu dài
1.5.1.2 Môi trường công nghệ.
Sự phát triển của khoa học công nghệ diễn ra trên thế giới đang là một thách thức lớn,
Trang 22đồng thời cũng là một cơ hội tốt để ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất trong sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp, đây là những “vũ khí” để sử dụng trong cạnh tranh, nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, tính hai mặt này của công nghệ sẽ phản tác dụng nếu như doanh nghiệp không biết sử dụng nó một cách hợp lýý gây ra tình trạng lãng phí, không sử dụng hết công suất của máy móc, thiết bị làm cho giá thành cao, sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ.
1.5.1.3 Môi trường cạnh tranh
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường vấn đề cạnh tranh được xác định
là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế với nguyên tắc: Ai hoàn thiện hơn, thỏa mãn nhu cẩu tốt hơn và hiệu quả hơn, người đó sẽ thắng, sẽ tồn tại và phát triển
Do đó, mỗi doanh nghiệp cẩn phải xác định được vị trí để tranh đua, khẳng định mình nhằm nâng cao vai trò của mình trên thương trường Uy tín của doanh nghiệp càng cao thì khả năng tiêu thụ sản phẩm cảng lớn Ngược lại, doanh nghiệp nào không có khả năng cạnh tranh bằng sản phẩm của mình, không tạo được lợi thế trên thị trường thì khả năng tiêu thụ sản phẩm sẽ kém đi để nhường chỗ cho các sản phẩm có uy tín hơn, khả năng cạnh tranh cao hơn
1.5.1.4 Nhu cầu thị trường
Thị trường vừa là nơi diễn ra các hoạt động tiêu thụ sản phẩm (mua và bán sản phẩm) vừa là nơi cung cấp các thông tin kinh tế kịp thời, chính xác và đẩy đủ nhất cho doanh nghiệp về tình hình tiêu thụ sản phẩm, đối thủ cạnh tranh.Thị trường tồn tại một cách khách quan không một doanh nghiệp nào có thể tác động vào làm thay đổi được Thị trường sẽ quy định doanh nghiệp sẽ sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? Doanh nghiệp nào nắm bắt được thị trường một cách đẩy đủ, chính xác
để có những sản phẩm đáp ứng kịp thời thì khả năng tiêu thụ sản phẩm sẽ cao Ngược lại, doanh nghiệp nào không có đủ thông tin của thị trường, việc nắm bắt nhu cẩu thị trường thiếu chính xác và chậm trễ thì sản phẩm sản xuất ra sẽ rất khó tiêu thụ vì có thể đó là sản phẩm bị lỗi thời, không đáp ứng được nhu cẩu của người tiêu dùng
Mặt khác, các doanh nghiệp cũng cẩn phải biết phân biệt được thị trường nào là thị trường chủ yếu, thị trường nào là thị trường thứ yếu để có một chiến lược tiêu thụ sản phẩm hiệu quả nhất
1.5.2 Nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
Đây là các nhân tố chủ quan mà bản thân doanh nghiệp có thể làm chủ được tình hình, có thể kiểm soát được theo ý muốn của mình sao cho hợp lý và hiệu quả nhất
1.5.2.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề
Trang 23Mỗi ngành nghề có đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau nên việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong ngành nghề đó cũng khác nhau, tùy theo từng ngành nghề mà có những đặc trưng riêng biệt về tiêu thụ sản phẩm
Ví dụ:Trong ngành nông nghiệp do đặc điểm sản xuất kinh doanh mang tính thời
vụ nên việc tiêu thụ sản phẩm cũng mang tính thời
vụ, đưa đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong năm cũng thường tập trung vào vụ thu hoạch
Trong ngành dịch vụ công cộng, doanh thu tiêu thụ phụ thuộc vào từng thời điểm
và tính chất phục vụ (như các tour du lịch phát triển mạnh vào mùa hè vì thế dịch vụ vận chuyển du lịch cũng tăng theo)
Ngành công nghiệp do tính chất sản phẩm đa dạng, công nghệ hiện đại, việc sản xuất ít phụ thuộc vào thiên nhiên và thời vụ nên diễn ra quanh năm vì vậy sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ nhanh hơn, do đó tiền thu bán hàng cũng nhanh và thường xuyên hơn
1.5.2.2 Khối lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ.
Khối lượng sản phẩm sản xuất ra có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ và từ đó ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ Khối lượng sản phẩm tiêu thụ là khối lượng hàng hóa đểm bán trên thị trường Khi sản phẩm tiêu thụ càng nhiều thì khả năng về doanh thu sẽ càng lớn Nhưng điều cẩn lưu ý là doanh nghiệp cẩn phải nghiên cứu, xtôi xét kỹ lưỡng tình hình nhu cẩu thị trường Vì nếu số lượng hàng hóa đểm ra tiêu thụ quá lớn, vượt quá nhu cẩu thị trường sẽ gây nên tình trạng bão hòa, làm cho giá cả hàng hóa giảm, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp Còn nếu khối lượng sản phẩm đưa ra thị trường tiêu thụ nhỏ hơn so với nhu cẩu thị trường (trong khi chưa tận dụng hết khả năng sản xuất của doanh nghiệp) sẽ tạo nên cơn sốt hàng hóa, giá cả tăng nhưng số lượng tiêu thụ giảm, làm cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm theo Mặt khác, một bộ phận khách hàng không được đáp ứng nhu cầu sẽ tìm đến các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trên thị trường Do đó, xí nghiệp sẽ mất đi một bộ phận khách hàng và thị phẩn của doanh nghiệp sẽ bị thu hẹp Vì vậy, trong công tác tiêu thụ sản phẩm các nhà quản lý doanh nghiệp cẩn phải đánh giá chính xác nhu cẩu của thị trường và năng lực sản xuất của doanh nghiệp mình để chuẩn bị khối lượng sản phẩm đưa ra tiêu thụ một cách hợp lý và hiệu quả nhất
1.5.2.3 Chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ
Người Đức có câu: “Chât lượng là sự quay trở lại của khách hàng” Ngày nay, trong
các doanh nghiệp sản xuất, việc sản xuất luôn được gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao
Trang 24chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng hai lẩn tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm Cụ thể: Chất lượng ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm do đó ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu( sản phẩm có phẩm cấp cao giá bán sẽ cao hơn) vì vậy, chất lượng là giá trị được tạo thêm Mặt khác, chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén, dễ dàng đè bẹp mọi đối thủ, nhờ đó khối lượng sản phẩm tiêu thụ được sẽ tăng lên.
Chất lượng sản phẩm không phải hoàn toàn do người sản xuất quyết định mà còn
do người tiêu dùng kiểm nghiệm Đó là hệ thống đặc tính nội tại của sản phẩm đã được xác định bằng những thông số có thể đo hoặc so sánh phù hợp với điều kiện hiện tại và thỏa mãn nhu cẩu xã hội Chất lượng sản phẩm hàng hóa không nhất thiết được thực hiện bằng trang thiết bị máy móc nên khi xtôi xét vấn đề này ta cẩn phải lưu ý tới mối quan hệ với những đặc tính khác trong cùng một hệ thống sản xuất ra sản phẩm,
nó được hình thành từ khi thiết kế, quá trình chế tạo, được khẳng định qua kiểm tra kỹ thuật và đểm ra sử dụng
Tóm lại, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
vệc tạo uy tín của doanh nghiệp với khách hàng nó là sợi dây vô hình kết nối doanh nghiệp với khách hàng tạo điều kiện cho việc tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi
1.5.2.4 Giá cả sản phẩm.
Nếu ta cố định các nhân tố khác lại thì giá bán sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu Trong cơ chế thị trường hiện nay, giá cả được hình thành tự phát trên thị trường theo sự thỏa thuận giữa người mua và người bán Do đó, doanh nghiệp có thể sử dụng giá cả như một công cụ hữu hiệu để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và tăng doanh thu cho doanh nghiệp Hiện nay, giá cả các sản phẩm sản xuất ra ngoài một số loại có tính chất chiến lược do Nhà nước bảo hộ và định giá (như điện, nước, xăng, dẩu ) còn lại đại
bộ phận giá cả các sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào việc thỏa thuận ký kết hợp đồng với người đặt hàng, tùy thuộc vào cơ chế thị trường và quan hệ cung cẩu trên thị trường
Do đó, doanh nghiệp phải tự tính toán để cân nhắc và định giá sao cho giá bán bù đắp được chi phí đã bỏ ra và đồng thời có được lợi nhuận để thực hiện tái sản xuất giản đơn
và tái sản xuất mở rộng Tùy thuộc vào thị trường mà doanh nghiệp sẽ rơi vào một trong
ba trạng thái sau: lãi, lỗ hay hòa vốn Điều đó phản ánh rất thực chất cơ chế giá trong cạnh tranh, hoàn toàn khác cơ chế giá áp đặt hành chính
1.5.2.5 Kết cấu sản phẩm.
Kết cấu sản phẩm tiêu thụ là tỷ trọng theo doanh thu của từng mặt hàng so với tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp vì mỗi mặt hàng có một công dụng kinh tế nhất định hay việc thỏa mãn của nó cho một nhu cẩu tiêu dùng là khác
Trang 25nhau Để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp luôn tìm cách thay đổi các mặt hàng sản xuất với nhiều loại sản phẩm đa dạng và phong phú hơn nhằm đáp ứng nhu cẩu tiêu dùng của đaị bộ phận khách hàng một cách tốt nhất Nhưng không phải mặt hàng nào đưa ra cũng có nhu cẩu như nhau, có mặt hàng được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng, nhưng cũng có mặt hàng lại không được người tiêu dùng lựa chọn hoặc ít có nhu cẩu Chính vì vậy, kết cấu sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến quá trình tiêu thụ, nếu kết cấu sản phẩm đưa ra thị trường một cách hợp lý sẽ đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm, ngược lại sẽ không đáp ứng được nhu cẩu của khách hàng dẫn đến hàng hóa bị
ứ đọng, thậm chí còn phải giảm giá bán gây tình trạng xấu cho doanh nghiệp Để tránh được tình hình này yêu cẩu doanh nghiệp luôn phải nghiên cứu để đưa ra những kết cấu sản phẩm mới ưu việt hơn kết cấu sản phẩm cũ , nhằm đáp ứng được nhu cẩu thị trường tốt nhất
1.5.2.6 Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp.
Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm và doanh thu của doanh nghiệp, công tác tổ chức bán hàng bao gồm các nội dung sau:
Hình thức bán hàng: Để mở rộng và chiếm lĩnh thị trường, các doanh nghiệp cẩn tổ
chức mạng lưới phân phối sản phẩm phù hợp Do đó, một doanh nghiệp nếu áp dụng tổng hợp các hình thức bán buôn, bánlẻ, bán hàng tại kho, tại cửa hàng, bán trả góp tất nhiên sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn so với doanh nghiệp chỉ áp dụng đơn
thuẩn một hình thức bán hàng nhất định nào đó Các doanh nghiệp cũng nên linh hoạt
trong các hình thức bán hàng nhằm tạo mọi thuận lợi cho người mua hàng để thúc đẩy quá trình tiêu thụ nhanh hơn
Công tác tổ chức thanh toán: Việc áp dụng nhiều hình thức thanh toán như: thanh
toán hàng đổi hàng, thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán bằng chuyển khoản, thanh toán ngay, trả chậm, bán chịu sẽ làm cho khách hàng cảm thấy thoải mái, tự do, có cơ hội lựa chọn phương thức thanh toán thuận lợi nhất, do đó có thể thu hút được nhiều khách hàng đến với doanh nghiệp làm cho quá trình tiêu thụ diễn ra nhanh, gọn
Ngược lại, nếu chỉ áp dụng một hoặc một số hình thức thanh toán bắt buộc nào đó
có thể thích hợp với khách hàng này nhưng lại không phù hợp với khách hàng khác, từ
đó sẽ hạn chế số lượng sản phẩm tiêu thụ, ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Các dịch vụ kèm theo khi tiêu thụ: Doanh nghiệp muốn tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng, tăng sức mạnh cạnh tranh trong công tác tiêu thụ sản phẩm, thường họ có
tổ chức dịch vụ kèm theo như vận chuyển, bảo hành, hướng dẫn cách sử dụng, giới thiệu kèm theo để tạo ra tâm lý thoải mái, yên tâm cho khách hàng khi mua sản phẩm,
Trang 26đồng thời cũng khuyến khích khách hàng tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn.
1.5.2.7 Quảng cáo, giới thiệu sản phẩm.
Quảng cáo là công cụ Marketting và là phương tiện thúc đẩy bán rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp
Mục đích của quảng cáo là phải đưa ra những thông tin đến người tiêu dùng về một mặt hàng nào dó, giải thích được lợi ích của mặt hàng này và so sánh ưu thế của
nó với mặt hàng tương tự
Đối với những sản phẩm mới, quảng cáo sẽ giúp cho khách hàng làm quen với sản phẩm, thấy được tính ưu việt của nó, từ đó khơi dậy nhu cẩu mới để khách hàng tìm đến với doanh nghiệp.Do vậy, quảng cáo cũng góp phẩn không nhỏ trong quá trình thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang diễn ra sôi động như hiện nay vừa là điều kiện thuận lợi, vừa tạo ra bao khó khăn, thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tạo cho mình lợi thế kinh doanh để tồn tại thì vấn đề tiêu thụ sản phẩm ngày càng thể hiện vai trò mang tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để có doanh thu tiêu thụ, doanh nghiệp phải trải qua một quá trình rất dài và rất nhiều nhân tố ảnh hưởng, mức độ tác động đó nhiều hay ít tùy thuộc vào những điều kiện khác nhau trong tương lai Vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải có một cách nhìn tổng thể đối với tất cả những nhân tố này và nắm rõ được sự biến động của từng nhân
tố để từ đó có những kế hoạch, quyết định đúng đắn, chính xác trong việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và tăng doanh thu
1.6 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm.
Trang 271.6.1. Đánh giá chung tình hình tiêu thụ.
Đây là khâu cuối cùng của công tác tiêu thụ sản phẩm, để doanh nghiệp thấy được những mặt được cũng như những mặt yếu kém còn tồn tại Trên cơ sở đó doanh nghiệp
có kế hoạch phát huy những điểm mạnh và khắc phục những yếu kém trong kỳ kinh doanh tiếp theo
Công tác tiêu thụ sản phẩm là khâu có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp Cho nên đánh giá kết quả của công tác tiêu thụ là việc hết sức cần thiết Doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu kế hoạch hoặc kết quả kỳ trước làm thước đo so sánh để thấy được mức độ hoàn thành kế hoạch hay mức độ phát triển của kỳ hiện tại Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh Thông qua tiêu thụ doanh nghiệp thực hiện được giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, thu hồi được vốn bỏ ra, góp phần tăng nhanh tốc độ lưu chuyển vốn và thoả mãn được phần nào nhu cầu của xã hội Sản phẩm chỉ được coi là đã tiêu thụ khi và chi khi doanh nghiệp thu được tiền hay khách hàng chấp nhận trả tiền
Thường xuyên phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá giúp doanh nghiệp biết được những nguyên nhân, tồn tại ảnh hưởng đến việc tiêu thụ, qua đó có biện pháp thích hợp để thúc đẩy quá trình tiêu thụ Nhiệm vu của việc phân tích tiêu thụ gồm:
- Đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá về mặt số lượng, chất lượng, chủng loại mặt hàng và thời hạn tiêu thụ
- Xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ
Để đánh giá tình hình tiêu thụ về mặt khối lượng theo từng loại sản phẩm, hàng hoá, có thể dùng thước đo hiện vật và sử dụng công thức:
Số lượng SP từng loại tiêu thụ kỳ kế hoạch
Tuy nhiên, muốn đánh giá chung tình hình tiêu thụ của toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ, ta phải sử dụng thước đo giá trị bằng chỉ tiêu sau:
Trang 28Trong công tác tiêu thụ sản phẩm, việc đánh giá được tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ cũng như chủng loại mặt hàng tiêu thụ là rất quan trọng, nhưng việc xtôi xét đến kỳ hạn tiêu thụ của sản phẩm cũng cần doanh nghiệp phải quan tâm Việc giao kịp thời và nhanh chóng sản phẩm cho khách hàng là biện pháp đảm bảo chất lượng của sản phẩm, thu hồi vốn nhanh cũng là tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và cho cả doanh nghiệp thực hiện được các kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra Khi phân tích
kỳ hạn tiêu thụ, cần tính ra và so sánh sản phẩm, hàng hóa đã chuyển giao từng tháng, từng quý của từng sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết Cần liên hệ với tình hình sản xuất kinh doanh đê đảm bảo tính nhịp nhàng giữa sản xuất và tiêu thụ sao cho sản xuất đến đâu thì tiêu thụ hết đến đó, tránh ứ đọng sản phẩm Mặt khác doanh nghiệp cũng không được gây khó khăn cho khách hàng như giao không đủ hàng, đồng thời doanh nghiệp cũng cần tuân thủ các điều khoản đã ký với khách hàng trong hợp đồng
Kết quả của công tác tiêu thụ sản phẩm được phản ánh thông qua các chỉ tiêu hiện vật và giá trị:
1.6.2.1. Thước đo hiện vật
Thước đo hiện vật biểu hiện cụ thể số lượng sản phẩm được tiêu thụ trong kỳ Mặt khác số lượng sản phẩm trong kỳ được thể hiện qua các đơn vị đo lường bao gồm: chiếc, kg, bộ…sản phẩm đã bán
Khối lượng tiêu thụ của từng loại sản phẩm được tính như sau:
Qi = Qđk + Qsx – Qck
Trang 29Trong đó:
Qi : là số lượng sản phẩm loại I được tiêu thụQđk: là số lượng sản phẩm loại I tồn đầu kỳQsx: là số lượng sản phẩm loại i sản xuất trong kỳQck: là số lượng sản phẩm loại i tồn cuối kỳ
1.6.2.2. Thước đo giá trị
Đó là lượng sản phẩm tiêu thụ được biểu hiện bằng doanh thu tiêu thụ:
Dti = Qi * PiTrong đó:
DTi : là doanh thu tiêu thụ của sản phẩm i trong kỳQi: là khối lượng sản phẩm i được tiêu thụ trong kỳPi: là giá bán một đơn vị sản phẩm i
1.6.2.3. Vòng quay hàng tồn kho.
Doanh thu thuần
Vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho bình quân
-1.6.3. Các chỉ tiêu hiệu quả tiêu thụ
Ta có các chỉ tiêu chính thường dùng để đánh giá hiệu quả của công tác tiêu thụ sản phẩm như :
Thị phần của doanh nghiệp
Là tỷ lệ thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, đây là chỉ tiêu tổng quát nói lên sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trên thị trường
• Thị phần tuyệt đối :là tỷ trọng phần doanh thu của doanh ngiệp so với toàn bộ sản phẩm cùng loại được tiêu thụ trên thị trường
• Thị phần tương đối: xác định trên cơ sở thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp so với thị phần tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp
Thông qua sản lượng tiêu thụ để đánh giá xtôi kết quả tiêu thụ trên các thị trường của doanh nghiệp đã được mở rộng hay thu hẹp.Việc mở rộng thị trường doanh nghiệp có thể thực hiện là mở rộng thị trường theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu:
Trang 30• Mở rộng thị trường theo chiều rộng là việc doanh nghiệp thực hiện xâm nhập vào thị trường mới,thị trường nước ngoài, thị trường của đối thủ cạnh tranh.
• Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc doanh nghiệp tiến hành khai thác tốt hơn trên thị trường hiện có bằng cách cải tiến hệ thống phân phối, thực hiện các chính
sách sản phẩm, giá cả, dịch vụ sau tiêu thụ sản phẩm
KẾT LUẬN CHƯƠNG
Chương 1 tôi đã đi tìm hiểu về toàn bộ những kiến thức liên quan đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm Đây sẽ là tiền dề cho bài nghiên cứu của tôi về: Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ trên thị trường Việt Nam
Trang 31Chương II: THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA XÍ NGHIỆP MAY TƯ DOANH TUẤN KỲ TẠI THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC.
2.1. Tổng quan về doanh nghiệp.
2.1.1. Tên, địa chỉ và quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
1. Tên doanh nghiệp: XÍ NGHIỆP MAY TƯ DOANH TUẤN KỲ
2. Địa chỉ trụ sở chính: Số 95B, Phố Chi Lăng, Phường Nguyễn Trãi, Tp Hải Dương, Hải Dương
Địa điểm kinh doanh: Km số 50/200, Quốc lộ 5, Xã Việt Hòa, Tp Hải Dương, Hải Dương
3. Quy mô hoạt động:
- Xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ được thành lập theo giấy phép số 0010/ HD – GP ngày 22/10/1999 của UBND tỉnh Hải Dương và Và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0401000174 ngày 7/3/2003 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương cấp với ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất, gia công hàng may mặc
- Buôn bán hàng bông vải sợi và đồ bảo hộ lao động
- Xí nghiệp được xây dựng trên diện tích 7600 m2 với tổng số vốn đầu tư là 11.500 triệu đồng, đểm lại việc làm cho nhiều người lao động với các sản phẩm chính như : Quần áo văn phòng, Quần áo bảo hộ lao động, Găng tay, Khẩu trang
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của DN.
- Xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ được cấp phép thành lập số 0010/ HD – GP ngày 22/10/1999 của UBND tỉnh Hải Dương Với trụ sở ban đầu tại số 95B, Chi Lăng, Phường Nguyễn Trãi, Tp Hải Dương, Hải Dương do ông NGUYỄN ĐỨC KỲ làm chủ doanh nghiệp
- Từ khi thành lập, xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ đã tiến hành đầu tư cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị đi vào sản xuất
Doanh thu năm 2000 đạt 5000 triệu đồng
Doanh thu năm 2001 đạt 7000 triệu đồng
- Xí nghiệp đã sử dụng 110 lao động thường xuyên ổn định, có mức thu nhập bình quân 400.000đ/ người Đóng góp BHXH, BHYT cho 70 lao động
Trang 32- Tới năm 2003 Xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ bắt đầu tiến hành mở rộng đầu tư, xây dựng cơ sở mới tại Km 50/ 200 Quốc lộ 5, Xã Việt Hòa, Tp Hải Dương, Hải Dương với diện tích 7600 m2, thời gian thuê đất 50 năm Việc mở rộng đã giải quyết trang bị quần áo, đồ BHLĐ cho các đơn vị kinh tế trong nước và quần áo cao cấp cho xuất khẩu Điều quan trong là thu hút được hàng trăm lao động có việc làm, có thu nhập thường xuyên và ổn định.
- Đóng góp cho ngân sách địa phương, mỗi năm hàng trăm triệu đồng Góp phần xây dựng thành phố Hải Dương ngày càng giàu đẹp, có vị thế vững chắc trong tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh
- Trải qua hơn 10 năm hình thành và phát triển tới nay Xí nghiệp đã vượt qua những thăng trầm, khó khăn của nền kinh tế đứng vững trên thị trường với nhiều hợp đồng trong và ngoài nước, đểm lại doanh thu trên 50000 triệu đồng và thu nhập ổn định cho người lao động
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
2.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
PX MAY 2
Trang 33Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức Xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ
2.1.4. Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận.
1. Giám đốc
- Là người trực tiếp quyết định các chủ trương, chính sách, mục tiêu chiến lược của Xí nghiệp, nắm giữ trực tiếp sự thành bại của Xí nghiệp
- Phê duyệt tất cả các quy định áp dụng trong nội bộ Xí nghiệp
- Chịu trách nhiệm về các mặt hoạt động của Xí nghiệp trước tập thể cán bộ, công nhân viên trong Xí nghiệp và trước pháp luật hiện hành
- Trực tiếp ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu
- Quyết định toàn bộ giá cả mua bán hàng hóa, vật tư, trang thiết bị
- Là chủ tài khoản của Xí nghiệp
- Là người ký quyết định liên quan tới nhân sự của Xí nghiệp
2. Phòng kế toán
- Cung cấp đầy đủ toàn bộ thông tin về hoạt động kinh tế - tài chính của Xí nghiệp nhằm giúp cho Giám đốc điều hành, quản lý hoạt động kinh tế - tài chính của đơn vị đạt hiệu quả cao
- Phản ánh đầy đủ các khoản chi phí phải bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
- Phản ánh được kết quả lao động của cán bộ, công nhân viên trong Xí nghiệp, xác định trách nhiệm vật chất đối với người lao động một cách rõ ràng nhằm khuyến khích người lao động nâng cao nâng suất lao động
Trang 34- Phản ánh cụ thể từng loại nguồn vốn, từng tài sản, sự vận động của nó giúp cho việc kiểm tra, giám sát, tính toán hiệu quả trong việc sử dụng vốn và tính chủ động trong kinh doanh.
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế - tài chính của đơn vị
- Phụ trách cân đối thu chi, báo cáo quyết toán
- Quyết toán, trả lương cho công nhân viên
- Thay mặt Xí nghiệp thực hiện các nghĩa vụ về Thuế với Nhà nước
3. Phòng kỹ thuật
- Thiết kế mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng
- Tư vấn cho khách hàng mẫu mã sản phẩm
- Tiếp nhận tài liệu kỹ thuật, tài liệu kế hoạch, các mẫu gốc từ khách hàng, chuyển giao tài liệu kỹ thuật, các mẫu gốc cho bộ phận sản xuất thực hiện
- Hướng dẫn cho công nhân trong Xí nghiệp thực hiện tốt công nghệ mới áp dụng vào sản xuất
- Theo dõi công nhân trong suốt quá trình sản xuất, tránh trường hợp sản xuất không đúng với yêu cầu sản phẩm
- Thực hiện công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa các trang thiết bị
- Xây dựng kế hoạch mua mới, sửa chữa trang thiết bị
- Đánh giá công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật đối với công nhân viên
- Quản lý hồ sơ của công nhân viên
- Tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất của Xí nghiệp
- Phát triển thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước theo chiến lược của Xí nghiệp
- Lập kế hoạch kinh doanh các sản phẩm của Xí nghiệp từ các đơn đặt hàng và dự án mới
- Thực hiên các hoạt động xuất nhập khẩu của xí nghiệp kết hợp với phòng Kế toán
Trang 35- Phân tích, tìm kiếm khách hàng, thị trường mới cho Xí nghiệp.
- Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho Giám đốc
- Tổ chức xuất nhập nguyên vật liệu, thành phẩm
5. Phân xưởng may
- Sử dụng máy móc thực hiện các công đoạn sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của Xí nghiệp
- Đóng gói và tiến hành nhập kho các thành phẩm
2.1.5 Ngành nghề kinh doanh, sản phẩm, loại hàng hoá.
- Ngành nghề kinh doanh : Sản xuất, gia công, xuất nhập khẩu hàng may mặc,
buôn bán hàng vải sợi và đồ bảo hộ lao động
- Sản phẩm : Quần áo bảo hộ lao động, găng tay, khẩu trang, áo sơ mi, áo khoác
complete, veston
- Do đặc thù của doanh nghiệp chủ yếu là sản xuất, gia công may mặc nên các
đơn hàng của doanh nghiệp chủ yếu là các đơn hàng trong và ngoài nước Thị trường trong nước chủ yếu gồm các tổ chức tại các tỉnh như : Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương
Thị trường nước ngoài bao gồm : Ba Lan, Sec, Hungari doanh nghiệp hiện vẫn đang tìm kiếm thêm các thị trường trong và ngoài nước khác
2.1.6. Cơ cấu lao động của doanh nghiệp
Bảng cơ cấu lao động
Trang 36BẢNG 3.1 : BẢNG CƠ CẤU LAO ĐỘNG DOANH NGHIỆP
Nguồn: Bộ phận lương_ phòng kế toán.
- Theo như bảng 01 ta thấy số lượng lao động năm 2010 tăng hơn so với năm 2009 Việc tăng lao động là do doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng lớn do đó cần thêm công nhân để hoàn thành các đơn hàng đúng thời gian Việc tuyển thêm lao động vừa để đáp ứng yêu cầu công việc vừa bù đắp lượng lao động thiếu hụt do việc thuyên chuyển công tác, xin thôi việc, nghỉ việc vì hết tuổi lao động của người lao động Do đặc thù riêng của ngành dệt may nên đòi hỏi lao động nữ lớn hơn so với lao động nam,
nữ chiếm 90% lao động tại doanh nghiệp
- Từ bảng ta cũng thấy được đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp phần lớn đều có trình độ đại học, cao đẳng tuy nhiên đội ngũ công nhân ít người được đào tạo tại các trường lớp năm 2009 là 20 người, 2010 là 30 Vì vậy doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho công nhân viên của mình có thêm cơ hội học tập và nghiên cứu để nâng cao hơn nữa kiến thức của bản thân cũng như để đáp ứng yêu cầu công việc
2.1.7. Kết quả sản xuất kinh doanh
BẢNG 2.1: BẢNG KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Xý nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh_ phòng kế toán)
- Tổng lợi nhuận trước thuế năm 2010 tăng so với năm 2009 là 33%, n ă m
2 0 11 t ă n g s o v ớ i 2 0 1 0 l à 5 0 % , c ụ t h ể l à t ă n g t ừ 8 0 0 t r i ệ u V N Đ l ê n
1 2 0 0 t r i ệ u V N Đ Đ i ề u n à y c h o t h ấ y d o a n h n g h i ệ p l à m ă n r ấ t c ó
Trang 37h i ệ u q u ả
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng đều qua các năm từ 2009 đến
2011, tương ứng với tỷ lệ là 37 % năm 2010 so với năm 2009, 62 % năm 2011 so với
2010 Ta thấy tỷ lệ doanh thu của xí nghiệp tăng rất nhanh trong 2 năm 2011 và năm
2010 Điều này cho thấy xí nghiệp đã không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ và hoạt động sản xuất kinh doanh
2.2. Thực trạng tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ trên thị
trường nội địa.
2.2.1. Tổng quan về kết quả tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp trong những năm gần
đây.
BẢNG 2.2: DOANH THU TIÊU THỤ HÀNH BÁN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
CỦA XÍ NGHIỆP MAY TƯ DOANH TUẤN KỲ
Bảng 2.2 : Bảng doanh thu bán hàng trong và ngoài nước.
( Nguồn: Báo cáo KQTT_ phòng kế toán)
- Qua bảng 2.2 ta thấy doanh thu bán hàng qua các năm của doanh nghiệp đều tăng, đặc biệt là năm 2011 so với năm 2010 tăng 30.000 tr VND Đây là năm mà nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn và biến động
- Doanh thu bán hàng trong nước và ngoài nước trong năm 2009 và 2010 đều tăng lên Trong đó doanh thu năm 2010 ngoài nước tăng 5.940 tr VND tương ứng tăng 26,5 %
so năm 2009 Doanh thu trong nước năm 2010 tăng 7.010 tr VND tương ứng tăng 55.8
% so với năm 2009 Từ đây cho ta thấy sự phát triển nhanh chóng của doanh nghiệp ở
cả thị trường trong nước và ngoài nước Sản phẩm của xí nghiệp đã thu hút và chiếm được lòng tin của khách hàng trong và ngoài nước Ngoài ra doanh nghiệp đã thực hiện tốt trong quá trình marketing và sản xuất tạo điều kiện cho sự gia tăng nhanh chóng về doanh thu
Trang 38Ngoài ra ta thấy doanh thu bán hàng ngoài nước của doanh nghiệp cao hơn trong nước do đó có thể thấy doanh nghiệp tập trung xuất khẩu các sản phẩm ra thị trường ngoài nước Tuy nhiên tỷ trọng doanh thu bán lại ngoài nước giảm đi ngược lại tỷ trọng doanh số bán trong nước lại tăng lên trong năm 2010 Có thể thấy thị trường trong nước đang có mức tăng doanh thu cao hơn thị trường ngoài nước.
- Bước sang năm 2011 doanh thu đã tăng lên mức đáng kinh ngạc 30.000 tr VND so với năm 2010 Mức doanh thu đều tăng lên ở cả thị trường trong nước và ngoài nước chứng tỏ doanh nghiệp vẫn duy trì tốt quá trình phát triển của mình Doanh số bán ngoài nước tăng 9188 tr VND tương ứng tăng 32% so với năm 2010 Doanh thu bán trong nước tăng 20812 tương ứng tăng >100 % Tới năm 2011 doanh thu bán ra nước ngoài đã giảm hẳn thay vào đó là doanh thu bán trong nước tăng một cách nhanh chóng Điều này do năm 2011 là năm nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, đang dần suy thoái, trong khi đó nền kinh tế trong nước lại đang trong đà đi nên vì vậy những hợp đồng quốc tế giảm thay vào đó là trong nước tăng lên Ngoài ra điều này cũng cho thấy doanh nghiệp ngày càng thu hút được các tổ chức trong nước, đồng thời cho thấy hướng đi của xí nghiệp là đúng đắn
- Tỷ trọng doanh thu dần nghiêng về thị trường trong nước do đó doanh nghiệp cần có chiến lược hợp lý để phát triển thị trường trong và ngoài nước để doanh nghiệp tiếp tục phát triển đi lên
2.2.1. Thực trạng tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp tại thị trường nội địa.
2.2.1.1. Công tác nghiên cứu thi trường của xí nghiệp.
Để có được kế hoạch phù hợp cho việc tiêu thụ sản phẩm thì công tác nghiên cứu thị trường là công tác quan trọng trong khâu đưa sản phẩm tới tay người người tiêu dùng.a) Công tác nghiên cứu thị trường
Xí nghiệp đã xác định vấn đề nghiên cứu “ nhu cầu may mặc của người dân tại các thị trường chính và ở các tỉnh lân cận khác”
Kỹ thuật nghiên cứu: xí nghiệp đã cử nhân viên thị trường trực tiếp đi điều tra, khảo sát ý kiến của người dân về nhu cầu may mặc trong từng thời điểm khác nhau thông qua các bảng câu hỏi Nội dung của bảng câu hỏi nhằm tìm hiểu, nghiên cứu về tập quán, tâm lý người tiêu dùng, tìm hiểu về chính sách cung cấp sản phẩm an toàn, nhanh nhất, an toàn nhất tới tay người tiêu dùng theo theo từng địa phương
Ngoài ra xí nghiệp còn dựa vào kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm các năm trước, các đơn đặt hàng, các hợp đồng, các số liệu dự báo nhu cầu thị trường những năm cũ
Trang 39 Xí nghiệp cũng tìm hiểu về các đối thủ cạnh tranh nằm trên địa bà tỉnh như công
ty TNHH may mặc Thanh Bình, công ty may CPTM và SXCN Việt Nam…
Sau khi công tác nghiên cứu thị trường của xí nghiệp hoàn thành từ đó xí nghiệp sẽ đưa ra được những kế hoạch cụ thể phục vụ cho công tác tiêu thụ sản phẩm
b) Kết quả nghiên cứu thị trường của xí nghiệp trong năm 2009 đến 2011
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu xí nghiệp đã có được các kết quả sau
Sản phẩm được tiêu dùng nhiều nhất đó là quần âu và áo sơ mi
Ngoài thị trường tiêu thụ chính của xí nghiệp ( Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên) thì nhu cầu may mặc ở các tỉnh như Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh… cũng rất lớn
Thông tin về một số đối thủ cạnh tranh:
Thông tin về giá:
BẢNG 2.3: SO SÁNH GIÁ CẢ CÁC SẢN PHẨM CỦA ĐỐI THỦ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI XÍ NGHIỆP MAY TƯ DOANH TUẤN KỲ NĂM 2011
ĐVT: nghìn đồng
Tuấn Kỳ
CT may Thanh Bình
CT SPTM Việt Nam
-Nguồn: bộ phận thị trường_ xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ
Thông qua số liệu trên ta thấy giá chào hàng các sản phẩm của các công ty trên địa bàn tỉnh là khác nhau Tuy nhiên giá cả các sản phẩm ở các công ty đều ở mức tương đương nhau, giá trị chênh lệch là không đáng kể Với mức giá cả như vậy thì khả năng cạnh tranh của xí nghiệp may tư doanh Tuấn Kỳ là tương đối cao Điều này đòi hỏi xí nghiệp phải chú trọng hơn vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm và chú trọng hơn vào quá trình tiêu thụ sản phẩm
2.2.1.2. Lập kế hoạch tiêu thụ.
Trang 40Sau khi công tác nghiên cứu thị trường kết thúc, kế hoạch cho công tác tiêu thụ sản phẩm được lập ra.