1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam

65 432 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô Hình Minh Hoạ Hiệu Quả Của Thông Tin Tín Dụng Ngân Hàng Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn Vỹ
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Dong
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Toán Tài Chính
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Năm xuất bản K45
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 825 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống bao gồm Trung tâmTPR Trung ương, Trung tâm TPR của chi nhánh NHNN Hà nội, TP Hồ ChíMinh và bộ phận TPR ở các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, đồng thời tiếnhành đào tạo, tập huấn

Trang 1

Më ®Çu

Năm 1996, nhà báo Thomas Friedman đã phát biểu trên truyền hình Mỹ

“Theo tôi, hiện nay trên thế giới có hai siêu cường, đó là nước Mỹ và công tyxếp loại Moody’s Nước Mỹ có thể huỷ diệt bạn bằng bom đạn, còn công tyMoody’s có thể huỷ diệt bạn bằng cách hạ xếp hạng của bạn và tôi tin rằng

châu Á năm 1997, WB và các công ty tài chính quốc tế như IFC, IMF,ADB… cùng Ngân hàng trung ương các nước đã nỗ lực nghiên cứu, tổng kếtkinh nghiệm và tìm các biện pháp thúc đẩy phát triển hoạt động thông tin tíndụng trên toàn cầu với hy vọng tạo thêm những lá chắn hữu hiệu hơn vớinguy cơ khủng hoảng kinh tế trong tương lai

Cùng với những nỗ lực chung của cộng đồng tài chính quốc tế, ngânhàng nhà nước Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc đẩy mạnh hoạt động

của hệ thống thông tin tín dụng ngân hàng nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tín

dụng và đảm bảo an toàn, phát triển bền vững hệ thống Ngân hàng nhà nước,

mở cửa và hội nhập quốc tế

đất nước ngày càng phát triển Trung tâm thông tin tín dụng thuộc Ngân hàng

xin đề xuất đề tài để nghiên cứu cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp cuả mình

“Mô hình minh hoạ hiệu quả của Thông tin tín dụng Ngân hàng ở Việt Nam”

Từ nghiên cứu này chuyên đề đã chỉ ra những lợi ích to lớn của Thông tin tíndụng đối với hoạt động tín dụng ngân hàng

Em xin chân thành cám ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Dong đãtận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Ch¬ng i

Lý thuyÕt chung vÒ hÖ thèng th«ng tin tÝn dông

nh©n hµng viÖt nam 1.1 Khái quát hoạt động thông tin tín dụng ngân hàng

1.1.1 Hoạt động thông tin tín dụng qua các thời kỳ đổi mới

Triển khai về tổ chức, Trung tâm phòng ngừa và giám sát rủi ro tại chinhánh NHNN Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị được thành lập đầu tiên vàotháng 10/1991; Tiếp theo, tháng 9/1992 Thống đốc NHNN ký Quyết địnhthành lập phòng Thông tin phòng ngừa rủi ro thuộc Vụ Tín dụng; Tháng10/1992 thành lập Trung tâm Phân tích kinh tế và giám sát rủi ro tại chi nhánhNHNN Hà Nội Đầu năm 1993 tiếp tục thành lập 10 bộ phận thông tin phòngngừa rủi ro trực thuộc phòng Tổng hợp của chi nhánh NHNN: Hải Phòng,Quảng Ninh, Hải Hưng, Vĩnh Phú, Hà Nam, Thanh Hoá, Đồng Nai, LâmĐồng, Sông Bé, Long An Đây là bước khởi đầu cho hoạt động TTTD củaNgân hàng Việt Nam Qua 2 năm nghiên cứu, thí điểm đã đúc rút được một

số kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp theo

b) Thời kỳ 1993-1995

Đây là thời kỳ các NHTM mới bước vào hoạt động theo cơ chế thịtrường, thuận lợi cơ bản là đã chặn được lạm phát phi mã, bắt đầu thực hiệnlãi suất thực dương, nhưng rủi ro tín dụng xảy ra rất nghiêm trọng, điển hình

Trang 3

là vụ Epco- Minh Phụng, đã gây nhiều thiệt hại cho các ngân hàng Vì vậy từnăm 1993, hoạt động TTTD đã được triển khai đến tất cả các chi nhánhNHNN tỉnh, thành phố trong cả nước, đồng thời tuyên truyền, vận động cácTCTD thực hiện Ngày 24/7/1993 Thống đốc NHNN ký Quyết định số140/QĐ-NH14 ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động thông tin phòngngừa rủi ro Đây là văn bản đầu tiên tạo hành lang pháp lý cho hoạt độngTTTD trong ngành ngân hàng

Thời kỳ này, NHNN đã xây dựng được mạng lưới thu thập và cung cấpthông tin phòng ngừa rủi ro (viết tắt là TPR) Hệ thống bao gồm Trung tâmTPR Trung ương, Trung tâm TPR của chi nhánh NHNN Hà nội, TP Hồ ChíMinh và bộ phận TPR ở các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, đồng thời tiếnhành đào tạo, tập huấn nghiệp vụ và kỹ thuật tin học cho các cán bộ vận hànhtrong hệ thống TPR; xây dựng các chỉ tiêu thu thập và cung cấp TTTD; xâydựng hệ thống mã số doanh nghiệp, mã số TCTD, mã số địa phương theo địagiới hành chính và phối hợp với Cục Công nghệ Tin học Ngân hàng để xâydựng chương trình phần mềm TPR phục vụ việc thu thập và cung cấp thôngtin từ các chi nhánh TCTD, TCTD về chi nhánh NHNN và về Ngân hàngTrung ương

Đến cuối tháng 6/1995, TPR trung ương đã thu thập, lưu trữ và cấp mã

số cho 14.233 hồ sơ doanh nghiệp có quan hệ tín dụng tại các NHTM Một

số kết quả chính là: thu thập được 9.900 hồ sơ doanh nghiệp có mức dư nợ 20triệu đồng trở lên, với tổng dư nợ 10.950 tỷ đồng và 594,8 triệu USD, trong

đó nợ quá hạn là 604 tỷ và 17 triệu USD; 393 doanh nghiệp nợ quá hạn lớnhơn 100 triệu đồng; 1.329 doanh nghiệp quan hệ từ 2 TCTD trở lên; và 199doanh nghiệp dư nợ trên 10 tỷ đồng

c) Thời kỳ 1995-1999

Trang 4

Đây là thời kỳ nền kinh tế tương đối ổn định và phát triển, về cơ bản đãthoát ra khỏi khủng hoảng Các NHTM đã được củng cố một bước, tích luỹđược nhiều kinh nghiệm trong kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng tăngmạnh, rủi ro tín dụng có chiều hướng giảm, không có những vụ việc rủi ro tíndụng lớn Vì thế, hoạt động nghiệp vụ thông tin phòng ngừa rủi ro đã đượcđổi tên thành thông tin tín dụng theo Quyết định số 120/QĐ-NH14 Ngày24/04/1995 của Thống đốc NHNN ban hành Quy chế tổ chức và hoạt độngcủa Trung tâm TTTD Kể từ đây Trung tâm Thông tin phòng ngừa rủi ro đượcđổi thành Trung tâm TTTD ( tên tiếng Anh là Credit information center), gọitắt là CIC, trưc thuộc Vụ Tín dụng Theo Quy chế 120, quan hệ giữa CIC vàNHTM là bình đẳng trên cơ sở các NHTM tự nguyện tham gia thành viênCIC Nghiệp vụ TTTD được mở rộng thu thập thông tin kinh tế, thương mại

và các thông tin khác có liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, mở rộngquan hệ thông tin với các cơ quan ngoài ngành và các cơ quan TTTD quốc tế

Thời kỳ này, hoạt động TTTD được tổ chức theo một hệ thống dọc từNHNN Trung ương đến toàn bộ các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố và cácTCTD trong cả nước Đến cuối năm 1996 toàn bộ các chi nhánh NHNN đãthành lập Trung tâm, bộ phận nghiệp vụ thực hiện TTTD Tại các NHTM Nhànước, các NHTM cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng có cơcấu tổ chức riêng để thực hiện TTTD

d) Thời kỳ 1999-2006

Đây là thời kỳ sau khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997, mặc dù ViệtNam bị ảnh hưởng không lớn nhưng do các luồng vốn đầu tư nước ngoàichựng lại nên tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm so với thời kỳ trước đó CácNHTM bắt đầu tiến hành các chương trình hiện đại hoá, chú trọng nâng caonăng lực quản trị rủi ro tín dụng và cho vay thận trọng để đối phó với nhữngrủi ro tiềm ẩn Đồng thời ngân hàng các nước trên thế giới cũng đẩy mạnh

Trang 5

hoạt động TTTD để ngăn ngừa hạn chế rủi ro Trong bối cảnh đó, hệ thốngTTTD ngân hàng Việt Nam đã được củng cố mạnh mãe, hình thành Trungtâm TTTD độc lập, trực thuộc Thống đốc, việc tham gia hoạt động TTTDcủa các TCTD từ tự nguyện chuyển sang bắt buộc vì mục tiêu an toàn hệthống.

Thực hiện Nghị định 88/1998/NĐ-CP ngày 2/11/1998 của Chính phủquy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của NHNN, ngày27/2/1999 Thống đốc ký Quyết định số 68/1999/QĐ-NHNN9 thành lập Trungtâm TTTD thuộc NHNN, trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm TTTD thuộc VụTín dụng Đồng thời Thống đốc đã ký Quyết định số 162/1999/QĐ-NHNN9ngày 8/5/1999 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm TTTD.Theo Quy chế này, CIC là một đơn vị , có chức năng thu nhận, phân tích, dựbáo và cung cấp thông tin doanh nghiệp và các thông tin khác có liên quanđến tiền tệ và hoạt động ngân hàng cho NHNN và các TCTD

Trong năm 2006, CIC đã chủ trì soạn thảo, trình Thống đốc ban hànhcác văn bản pháp quy theo chương trình, kế hoạch đã đăng ký như: Quyếtđịnh số 46/2006/QĐ-NHNN ngày 15/9/2006 của Thống đốc NHNN về việcsửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của CIC ban hành kèm theo Quyết định

số 508/2004/QĐ-NHNN ngày 11/5/2004; Quyết định số 50/2006/QĐ-NHNNngày 12/10/2006 của Thống đốc NHNN về việc bổ sung, thay thế biểu thuthập thông tin và Phụ lục phân loại dư nợ trong Quy chế hoạt động TTTD banhành kèm theo Quyết định số 1117/2004/QĐ-NHNN ngày 8/9/2004 và Quyếtđịnh số 1003/2005/QĐ-NHNN ngày 8/7/2005; Quyết định số 1253/QĐ-NHNN ngày 21/6/2006 của Thống đốc NHNN về việc cho phép CIC chínhthức thực hiện nghiệp vụ phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Trang 6

Trung tâm TTTD là cơ quan đầu mối kết nối thông tin hai chiều với tất

cả các TCTD, chi nhánh TCTD chi nhánh NHNN thông qua trang Web-CIC

và mạng nội bộ TTTD Chi nhánh TCTD, TCTD vừa là nguồn cung cấpthông tin đầu vào, vừa là người khai thác sử dụng thông tin chủ yếu của CIC.Chi nhánh TCTD có trách nhiệm cung cấp thông tin cho Hội sở chính TCTDtập hợp thông tin và truyền về Trung tâm TTTD Và đường cung cấp thôngtin ra theo chiều ngược lại

Đối với NHTM Việt Nam, hiện nay, hoạt động tín dụng vẫn là hoạtđộng mang lại thu nhập chủ yếu, nhưng thực tế thì khả năng rủi ro trong hoạtđộng tín dụng vẫn còn tiềm ẩn rất cao, chất lượng tín dụng chưa được cảithiện đáng kể, nợ quá hạn chưa có khuynh hướng giảm rõ rệt Thời kỳ 1995-

2000 tỷ lệ nợ quá hạn khoảng trên 10%, sau nhiều lần cải tổ cơ cấu nợ thì đếnnay vẫn ở mức khoảng 5% (xem biểu 2.03 dưới đây), đây là tỷ lệ cao so vớithống kê chung trong khu vực Thực tế đã có rất nhiều các vụ việc điển hìnhcho thất thoát tín dụng ngân hàng như: vụ công ty TNHH Quyết Thắng ởThành phố Hồ Chí Minh (1994) do Trần Xuân Hoa là giám đốc; vụ công tyMinh Phụng, công ty Epco; vụ công ty xuất nhập khẩu Tân Bình (Tamexco);

vụ Tổng công ty Dâu tằm tơ; dệt Nam Định; Thủy cung Thăng Long;… đãgây tổn thất đáng kể cho các NHTM

Trang 7

Bảng 1.1 - Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ qua các năm

do đòi hỏi thực tiễn bức xúc của rủi ro tín dụng ngân hàng khi các NHTMmới bắt đầu hình thành và bước vào kinh doanh theo cơ chế kinh tế thịtrường Thời kỳ những năm đầu 1990, do khủng hoảng kinh tế, lạm phát phi

mã, đổ vỡ các quỹ tín dụng, làm cho hoạt động tín dụng gặp muôn vàn khókhăn, rủi ro tín dụng tưởng như không ngăn chặn được, những vụ đổ vỡ gâyrủi ro tín dụng nghiêm trọng như: Epco- Minh Phụng, Nước hoa ThanhHương, … đã buộc ngành ngân hàng phải đưa ra mọi giải pháp để phòngngừa rủi ro và việc hình thành hoạt động TTTD ngân hàng Việt Nam chính làmột trong trong những giải pháp đó

1.2 Thực trạng hệ thống TTTD Ngân hàng Việt Nam

1.2.1 Trung tâm TTTD

1.2.1.1 Kết quả tổ chức thực hiện

Trong cấu trúc của hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam thì Trung tâmTTTD là đơn vị đầu mối, đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạtđộng, tổ chức, hướng dẫn triển khai nghiệp vụ trong toàn hệ thống Vì vậy,việc xem xét thực trạng về tổ chức hoạt động của CIC có ý nghĩa rất lớn khinghiên cứu thực trạng hệ thống TTTD Ngân hàng Việt Nam

Trang 8

Trung tâm TTTD là đơn vị sự nghiệp thuộc cơ cấu tổ chức của NHNN,

có chức năng thu nhận, phân tích và dự báo TTTD trong ngành Ngân hàng đểphục vụ công tác quản lý, điều hành của NHNN, cung cấp và làm dịch vụTTTD cho các TCTD và các tổ chức khác Trung tâm TTTD có tài khoản vàcon dấu riêng để giao dịch theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ tài

Trung tâm TTTD có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: Xây dựng, trìnhThống đốc các văn bản về hoạt động TTTD và hướng dẫn, triển khai thựchiện các văn bản sau khi được phê duyệt; theo dõi, kiểm tra, tổng hợp, đánhgiá và báo cáo tình hình thực hiện Thu nhận, xử lý và lưu trữ dữ liệu TTTD

từ các TCTD, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng theo quy định của Thốngđốc NHNN Khai thác, thu thập thông tin cần thiết liên quan đến khách hàngvay vốn TCTD từ các phương tiện thông tin đại chúng và các nguồn hợp phápkhác; mua thông tin từ các tổ chức ngoài ngành Ngân hàng và của nước ngoàikhi cần thiết để đáp ứng yêu cầu hoạt động TTTD Phân tích và xử lý tín dụng(XLTD) doanh nghiệp Thiết kế, xây dựng các yêu cầu về bảo mật, quản lývận hành mạng, vận hành các Website - CIC, kho dữ liệu và hệ thông TTTD;kiểm soát việc truy cập, khai thác sử dụng TTTD điện tử Cung cấp kịp thời,đầy đủ, trung thực TTTD cho NHNN và các TCTD theo quy định hiện hành.Làm dịch vụ thông tin các TCTD và các tổ chức khác trong và ngoài nước; tưvấn, hỗ trợ khách hàng tìm kiếm TTTD theo yêu cầu

Tổ chức bộ máy của Trung tâm TTTD hiện nay gồm các phòng: Thuthập, xử lý thông tin; Phân tích, XLTD doanh nghiệp; Kỹ thuật và quản trịmạng; Tài vụ; Tổng hợp - Hành chính và Dịch vụ thông tin và Bản tin TTTD

Trung tâm TTTD đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan triểnkhai tổ chức bộ máy, xây dựng các văn bản tạo hành lang pháp lý cho hoạtđộng TTTD, chuẩn hoá thông tin, xây dựng phần mềm, cơ sở dữ liệu, nối

Trang 9

mạng đảm bảo thông suốt đến các chi nhánh NHNN và các NHTM; làm đầumối đôn đốc hướng dẫn các NHTM xây dựng và thực hiện thống nhất nghiệp

vụ TTTD; cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho Ban lãnh đạo NHNN vàcác NHTM Đồng thời thường xuyên tổ chức họp giao ban, theo dõi tình hìnhthực hiện, đi sát thực tế nắm bắt những khó khăn vướng mắc và phối hợp hỗtrợ giải quyết kịp thời để thúc đẩy hoạt động TTTD trong toàn hệ thống

1.2.1.2 Tồn tại và nguyên nhân

 Tồn tại

- Chất lượng thông tin cung cấp ra đôi khi chưa thật đảm bảo, có trườnghợp thông tin dư nợ của CIC còn thấp hơn so với số dư thực tế, do chưa thuthập được hết các khoản vay của một khách hàng tại nhiều NHTM khác nhau.Thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yếu mới có được đối với

3500 doanh nghiệp mà CIC đã mua từ Tổng cục thống kê, còn lại hầu nhưchưa có, thông tin về tài sản bảo đảm tiền vay cũng còn chưa đầy đủ

- Thông tin tổng hợp theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế chưa có

- Việc mua thông tin ngoài ngành chưa thường xuyên nên chưa có đủcác thông tin về tài chính của doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài; thông tin về doanh nghiệp nhà nước giải thể, sátnhập, cổ phần hoá; thông tin về doanh nghiệp có vấn đề; thông tin kinh tếkhác và phân tích về đầu tư theo ngành nghề, vùng, miền

- Sản phẩm thông tin cung cấp ra chưa phong phú, chưa có thông tinthích hợp phục vụ cho vay tiêu dùng, tín dụng thẻ, cho vay với doanh nghiệpnhỏ và vừa

- Giá bán sản phẩm TTTD chưa thật hợp lý Ví dụ bản tin tổng hợp đốivới cá nhân là 40.000đ, là hơi cao, thông tin lớn đôi khi cũng làm nản lòngđối với các chi nhánh TCTD

 Nguyên nhân

Trang 10

- NHTM cung cấp thông tin đầu vào cho CIC chưa đầy đủ, chính xác,kịp thời Trong khi nguồn mua thông tin tài chính doanh nghiệp và các thôngtin khác từ ngoài ngành như thông tin về thống kê ngành, thông tin cảnh báocòn khó khăn, chưa có nguồn tin cậy Còn nhều lĩnh vực mới chưa có điềukiện để học hỏi nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước Chưa đẩy mạnhviệc tuyên truyền về hoạt động TTTD, về lợi ích của thông tin trong hoạtđộng tín dụng.

1.2.2 Các chi nhánh NHNN

1.2.2.1 Kết quả tổ chức thực hiện

Bộ phận thực hiện TTTD tại chi nhánh NHNN là một cấu phần trongcấu trúc của hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam Đây cũng là một nét đặctrưng riêng của hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam, gần giống với mô hìnhcủa NHTW Pháp Điều này được quy định về pháp lý tại Quy chế tổ chức vàhoạt động của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương banhành theo Quyết định số 1440/2004/QĐ-NHNN ngày 8/11/2004 của Thốngđốc NHNN Theo quy định thì phòng tổng hợp quản lý các TCTD trực thuộcchi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ tổ chứccông tác TTTD cho các TCTD trên địa bàn

Trách nhiệm, quyền hạn của chi nhánh NHNN đối với hoạt động TTTDđược quy định chi tiết tại Quy chế hoạt động TTTD ban hành theo Quyết định

số 1117/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN

Chi nhánh NHNN có trách nhiệm: Bố trí tổ chức, nhân sự và các điều

kiện liên quan để thực hiện nghiệp vụ TTTD tại chi nhánh Phối hợp với CIC

để đôn đốc, kiểm tra các TCTD, chi nhánh TCTD trên địa bàn thực hiện Quychế hoạt động TTTD và trao đổi TTTD với CIC

Chi nhánh NHNN có quyền: khai thác TTTD phục vụ nhiệm vụ quản

lý của NHNN và cung cấp cho các TCTD, chi nhánh TCTD trên địa bàn

Trang 11

Về thực hiện: Hầu hết các chi nhánh NHNN đã bố trí cán bộ (hoặc

kiêm nhiệm đối với chi nhánh thiếu cán bộ) và trang bị máy tính kết nốiInternet với CIC qua trang Web-CIC Hầu hết các chi nhánh NHNN đã cóphiếu đăng ký truy cập Web-CIC, trong đó không chỉ cán bộ nghiệp vụ TTTD

mà còn có danh sách của cán bộ lãnh đạo và một số phòng ban liên quan đăng

ký truy cập Web-CIC Đến nay 64/64 chi nhánh NHNN đăng ký truy cập và

đã được cấp quyền truy cập cho 246 người sử dụng tại các chi nhánh NHNN.Nhìn chung các chi nhánh NHNN đã chú trọng đôn đốc, kiểm tra các TCTD,chi nhánh TCTD trên địa bàn thực hiện việc báo cáo thông tin, phối hợp vớiCIC kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo tính chân thực, đúng đắn của thông tin

1.2.2.2 Tồn tại và nguyên nhân

 Tồn tại

- Một số nơi lãnh đạo chi nhánh NHNN chưa thực sự quan tâm, chưacoi trọng thông tin và thiếu chỉ đạo thường xuyên kiểm tra đôn đốc thực hiệnnghiệp vụ TTTD đối với các NHTM, chi nhánh NHTM trên địa bàn

- Cán bộ TTTD chưa thường xuyên chủ động tiến hành kiểm tra đốichiếu số liệu do CIC truyền về với số liệu thực tế trên địa bàn

- Việc thu thập thông tin có liên quan đến hoạt động tín dụng từ các cơquan ngoài ngành trên địa bàn chưa đều, chưa cung cấp để xây dựng kho dữliệu toàn ngành

- Chưa tích cực tuyên truyền hướng dẫn các NHTM, chi nhánh NHTMtrên địa bàn Do vậy, tại một số tỉnh việc khai thác sử dụng thông tin chưa tốt

- Việc báo cáo tình hình thực hiện TTTD hàng tháng chưa đều nênkhông phản ánh kịp thời những khó khăn, thuận lợi của địa phương trong quátrình thực hiện

 Nguyên nhân

Trang 12

- Một số chi nhánh có sự thay đổi cán bộ chuyên trách TTTD nhưngkhông có kế hoạch đào tạo, phối hợp CIC để hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời,đảm bảo tính liên tục trong toàn hệ thống.

- Sự phối kết hợp giữa chi nhánh NHNN và CIC ở một số tỉnh chưađược thường xuyên, nhận thức về quá trình đổi mới và trách nhiệm, chứcnăng của bộ phận TTTD trên địa bàn chưa đầy đủ

1.2.3 Tại các NHTM

1.2.3.1 Kết quả tổ chức thực hiện

Bộ phận TTTD tại các NHTM là một cấu phần rất quan trọng trong cấutrúc hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam, vì các NHTM vừa là ngưòi cungcấp dữ liệu đầu vào chủ yếu cho hệ thống, lại vừa là người chủ yếu khai thác

sử dụng thông tin đầu ra của hệ thống Về cơ sở pháp lý hiện hành, thực hiệntheo Quyết định số 1117/QĐ-NHNN, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN,Chỉ thị số 04/2004/CT-NHNN của Thống đốc NHNN Trong phần nàychuyên đề sẽ đề cập đến 4 vấn đề là trách nhiệm, quyền hạn của TCTD trongviệc thực hiện nghiệp vụ TTTD; Tổ chức thực hiện báo cáo và khai thác sửdụng TTTD phục vụ cho hoạt động tín dụng

Trách nhiệm của các TCTD đối với hoạt động TTTD:

- Xây dựng chương trình phần mềm TTTD, chỉ đạo, hướng dẫn, triểnkhai, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện hoạt động TTTD tới các sở giao dịch,chi nhánh, đơn vị trực thuộc

- Thu thập, tập hợp, kiểm soát thông tin từ các sở giao dịch, chi nhánh,đơn vị trực thuộc và báo cáo đầy đủ, trung thực, đúng thời hạn theo các mẫubiểu báo cáo đã quy định về CIC

- Nghiên cứu, ứng dụng, triển khai các nghiệp vụ quản trị rủi ro tíndụng; phải khai thác, sử dụng TTTD nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tronghoạt động tín dụng

Trang 13

- Xây dựng quy trình kỹ thuật, bảo mật, mã số khách hàng, tuân thủ cácchuẩn chung liên quan đến hoạt động TTTD do CIC hướng dẫn để thực hiệnthống nhất, an toàn.

- Tổng giám đốc (giám đốc) TCTD chịu trách nhiệm về tính đầy đủ,trung thực, đúng hạn của TTTD đã báo cáo cho NHNN

Quyền của TCTD trong hoạt động TTTD: Được quyền khai thác sử

dụng TTTD Được quyền đề nghị CIC kiểm tra về tính chính xác, kịp thời củaTTTD do CIC cung cấp Được CIC hỗ trợ đào tạo, hướng dẫn cán bộ làmnghiệp vụ TTTD

Trang 14

Các NHTM cổ phần đô thị, cổ phần nông thôn, chi nhánh ngân hàngnước ngoài, ngân hàng liên doanh, các công ty tài chính và cho thuê tài chính

đã xây dựng cơ chế nghiệp vụ, chương trình phần mềm, tập huấn nghiệp vụTTTD và đã thu thập thông tin theo từng ngân hàng để truyền về CIC theomẫu báo cáo mới quy định theo QĐ số 1117 Thông tin báo cáo về tương đốiđều, kịp thời với số lượng hồ sơ khách hàng chiếm tỷ trọng hơn 20 % trêntổng số hồ sơ khách hàng CIC đang lưu trữ Có nhiều NHTM cổ phần đã xâydựng tổ chức bộ máy riêng thực hiện TTTD gắn với việc thực hiện quản trịrủi ro tín dụng, đã học tập kinh nghiệm nước ngoài xây dựng dược các phầnmềm thu thập xử lý TTTD hiện đại như: NHTM cổ phần Hàng Hải, Sài gòn,Đông Á, Á châu…đây thực sự là những tín hiệu đáng mừng cho thấy cácNHTM cổ phần Việt Nam đã thực sự chú ý đến hoạt động TTTD vì mục tiêungăn ngừa hạn chế rủi ro tín dụng

Về khai thác sử dụng thông tin: Việc khai thác, sử dụng thông tin của

các NHTM đã sôi động hơn nhiều so với trước, đặc biệt là tại các địa bàn lớnnhư Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Điều đó cho thấy sản phẩm TTTD đã và đangtrở nên cần thiết đối với các NHTM trong hoạt động kinh doanh, là một yếu

tố đầu vào quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng tín dụng Chuyên đề

sẽ trình bày chi tiết hơn trong phần cung cấp thông tin ra của CIC

Nói chung, các NHTM đã chuyển biến cơ bản về nhận thức, thấy đượctrách nhiệm, tầm quan trọng và lợi ích thiết thực của TTTD trong việc quản

lý, ngăn ngừa hạn chế rủi ro tín dụng và góp phần củng bảo đảm an toàn hệthống ngân hàng Vì vậy, đến nay việc thực hiện nghiệp vụ TTTD tại hầu hếtcác NHTM đã đi vào nề nếp Trước đây các NHTM thực hiện một cách thụđộng, có tư tưởng cho rằng đây là việc của NHNN, NHTM phải tham gia chủyếu là vì phải báo cáo thông tin cho NHNN, nên phụ thuộc vào NHNN về

Trang 15

phương thức thực hiện và chương trình phần mềm, nay đã chuyển sang chủđộng, có sự phối hợp chặt chẽ với NHNN

1.2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân

 Tồn tại

- Một số NHTMCP có chi nhánh ở nhiều địa bàn, nhưng chưa thực hiệntốt vai trò đầu mối chỉ đạo thực hiện TTTD, nên các chi nhánh tự thực hiện,chưa đảm bảo được yêu cầu báo cáo thông tin của NHNN Một số ngân hàng(chi nhánh, đơn vị trực thuộc) đã báo cáo nhưng chưa gửi hết hồ sơ kháchhàng đang có dư nợ Có một số ngân hàng mới chỉ báo cáo những khách hàng

là doanh nghiệp, chưa báo cáo khách hàng tư nhân, cá thể

- Về thời gian báo cáo thông tin còn chưa đều, hầu hết các ngân hàngmới thực hiện báo cáo dư nợ (Biểu K03) theo tuần (trừ 4 NHTM nhà nước:Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương; Đầu tư và phát triển;Ngoại thương), chưa thực hiện đúng qui định là phải báo cáo chậm nhất sau 3ngày làm việc khi có phát sinh quan hệ tín dụng

- Về thực hiện số lượng các biểu báo cáo mới đạt yêu cầu đối với biểuK01, K03, K08, còn các biểu báo cáo khác thực hiện chưa đều

- Về chất lượng báo cáo thông tin ”Hồ sơ khách hàng” báo cáo cònthiếu một số chỉ tiêu (như mã số thuế, tổng số lao động, vốn điều lệ); hoặc cóchỉ tiêu không chuẩn xác (như loại hình khách hàng, ngành kinh tế, ngànhnghề kinh doanh); không có phông tiếng việt “Tình hình tài chính kháchhàng” còn chưa đầy đủ, thiếu chính xác, cùng một doanh nghiệp nhưng sốliệu của các NHTM báo cáo khác nhau

- Về khai thác sử dụng TTTD, còn một số TCTD chưa quan tâm khaithác, ví dụ, trong 6 tháng đầu năm 2006, còn khá nhiều TCTD chưa hỏi thôngtin tại phụ lục số 01 đi kèm chuyên đề

 Nguyên nhân

Trang 16

- Một số lãnh đạo NHTM chưa thực sự quan tâm và chưa kiên quyếtchỉ đạo thực hiện nghiệp vụ TTTD Thực tế, nơi nào lãnh đạo quan tâm thì ở

đó việc báo cáo và khai thác sử dụng thông tin tốt và ngược lại

- Nhiều chi nhánh NHTM chưa có cán bộ chuyên trách đảm nhiệmcông tác TTTD, hoặc có nhưng thay đổi thường xuyên, cán bộ chưa được đàotạo kỹ lưỡng về nghiệp vụ

- Sự phối kết hợp giữa cán bộ tín dụng (là người sử dụng tin) và ngườikhai thác thông tin chưa được chặt chẽ Nhiều cán bộ tín dụng chưa thấy hết

sự cần thiết phải trực tiếp khai thác và có nhu cầu sử dụng TTTD Mặt khác,còn có tâm lý ngại hỏi, chưa có thói quen sử dụng tin

- Trang thiết bị và chương trình phần mềm, mạng máy tính phục vụ chonghiệp vụ TTTD tại các NHTM chưa đồng bộ, chưa đảm bảo việc cung cấp,khai thác sử dụng TTTD

- Một số biểu báo cáo thông tin còn có chi tiết khó thu thập, hoặc cơ sở

dữ liệu hiện có của NHTM chưa đáp ứng được yêu cầu Ví dụ như đối vớicác biểu báo cáo về tài sản thế chấp

- Các NHTM chưa nghiêm túc thực hiện các chuẩn thông tin (số hiệu

và tên cơ quan chủ quản, số hiệu và tên ngành kinh tế)

- Chưa chủ động triển khai thực hiện và phản ánh thường xuyên nhữngkhó khăn vướng mắc với lãnh đạo ngân hàng, với CIC để khắc phục kịp thời

- Một số ngân hàng còn có tâm lý chưa coi trọng thông tin, chưa thực

sự coi thông tin là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt động tín dụng.Thậm chí có nơi vẫn chưa thực sự coi trọng chất lượng tín dụng, họ chỉ chútrọng hoàn thiện hồ sơ thủ tục tín dụng để an toàn cho cá nhân nên khôngmuốn hỏi thông tin từ CIC

- Một số NHTM vì đảm bảo an toàn hệ thống mạng nội bộ nên quyđịnh không cho các chi nhánh kết nối vào mạng internet, hoặc chỉ cho 1 máy

Trang 17

tách rời khỏi mạng được truy cập Internet nhưng do thiếu máy tính nên quiđịnh này đã gây nhiều khó khăn cho các chi nhánh TCTD trong việc truy cậpinternet vào WebCIC để báo cáo và khai thác thông tin.

- Việc cổ phần hoá các NHTM Nhà nước diễn ra chậm cũng ảnh hưởngkhông nhỏ tới việc thực hiện TTTD, vì sở hữu chung nên ý thức phòng ngừarủi ro cũng có nơi chưa tốt

1.2.4 Thực trạng các nghiệp vụ TTTD ngân hàng Việt Nam

1.2.4.1 Nghiệp vụ báo cáo TTTD

a) Tình hình thực hiện

Nghiệp vụ báo cáo TTTD của hệ thống TTTD ngân hàng Việt Namđang thực hiện tại tất cả ba nhóm tham gia hệ thống là CIC, các chi nhánhNHNN và các TCTD Nhưng để thấy rõ nội dung thực hiện một cách đầy đủnhất, chuyên đề sẽ trình bày nội dung nghiệp vụ này đang thực hiện tại CICvới các mục chính là: thu thập thông tin; lưu trữ và xử lý thông tin; cung cấpthông tin; thông tin nước ngoài, như sau:

(1) Thu thập thông tin

Thu thập thông tin là khâu rất quan trọng trong nội dung hoạt độngTTTD, nó cung cấp toàn bộ nguyên liệu đầu vào cho CIC Để thu thập đượcthực hiện tốt, CIC đã chú ý khai thác các nguồn có thể thu thập và đề raphương pháp thu thập thích ứng

Đối với thông tin về các khách hàng vay, thì nguồn thu thập chính vẫn

từ các NHTM báo cáo cho NHNN theo Quyết định số 1117/2004/QĐ-NHNN

Thông tin về tài chính doanh nghiệp chủ yếu mua từ Tổng Cục Thống

kê Thông tin về kinh tế thị trường khai thác từ các nguồn thông tin đại chúngnhư: báo, tạp chí, mạng thông tin điện tử Thông tin về doanh nghiệp nướcngoài thu thập từ đối tác là cơ quan TTTD quốc tế mà CIC đã ký hợp đồng

Trang 18

Phương thức nhận tin: Hiện nay đang tiến hành một số phương pháp

chính là nhận file thông tin dạng Text hoặc Excel do CIC qui định thống nhất

về hình thức, nội dung và chuẩn hoá chung về cấu trúc file báo cáo NHTM

có thể gửi file theo nhiều kênh như: thông qua SBV net, qua địa chỉ Internet,trên trang Web CIC, qua vật mang tin Trong trường hợp đặc biệt có thể nhậnthông tin bằng văn bản hoặc bằng Fax

Đường luân chuyển thông tin: chi nhánh, đơn vị trực thuộc NHTM

báo cáo thông tin về hội sở chính, hội sở chính tập hợp, kiểm tra, gửi về CIC

Phạm vi thu thập tin: Tất cả mọi khách hàng không phân biệt loại

hình, thành phần kinh tế, doanh nghiệp hay cá nhân, không phân biệt mức dư

nợ, khi có quan hệ tín dụng với NHTM, thì NHTM phải báo cáo thông tin vềCIC NHNN (Tức là thu thập toàn bộ khách hàng có dư nợ, chưa thu thậpkhách hàng tín dụng thẻ) Thông tin về kinh tế thị trường đã thu thập thông tin

về lãi suất, huy động vốn, tỷ giá, văn bản pháp luật có liên quan ban hànhtrong kỳ, thông tin cảnh báo, tin về các doanh nghiệp mới thành lập, giải thể,sát nhập

Các chỉ tiêu thu thập tin: Hiện nay các chỉ tiêu thu thập thông tin của

CIC đã được chỉnh sửa phù hợp với chế độ kế toán mới của các doanh nghiệp

và tương đối phù hợp với yêu cầu thông tin của NHTM Hệ thống mẫu biểuthu thập thông tin về khách hàng vay từ các NHTM bao gồm 9 biểu (K1A,K1B, K3, K4A, K4B, K6, K7, K8, K9)

(2) Lưu trữ và xử lý thông tin

CIC đã chú trọng tới việc lưu trữ thông tin để tạo dựng kho dữ liệu của

hệ thống TTTD ngân hàng Tại đây hồ sơ khách hàng gồm hồ sơ pháp lý, tìnhhình tài chính, tình hình hoạt động, quan hệ tín dụng và thường xuyên đượccập nhật bổ sung , lưu trữ theo mã số Do thay đổi qui trình thu thập thông tin,nhận tin thông qua hội sở chính của NHTM, thay vì nhận tin trực tiếp từ các

Trang 19

chi nhánh NHTM, đã nâng cao vai trò, trách nhiệm của NHTM Mặt kháccũng do việc cải tiến file dạng text đối với các biểu báo cáo thông tin, tạo điềukiện cho việc báo cáo của các NHTM được thuận tiện, nên kết quả thu thậpthông tin tại CIC đã có bước chuyển biến tích cực Lượng thông tin thu thậpđược hàng năm tăng lên rõ rệt Đến năm 2006, CIC đã thu thập được5.443.663 hồ sơ khách hàng, tăng 3.969.412 HSKH so với cuối năm 2005(tăng trưởng 269%), vượt 217,7% so với kế hoạch năm 2006, với tổng dư nợ

là 443.227 tỷ VND và 9.203 triệu USD, tăng so với năm 2005 là 121.498 tỷ

Số khách hàng nợ ≥

5% vốn tự có của 1 TCTD

Tổng dư nợ

Tỷ VNĐ

Tổng dư nợ Triệu USD

Nguồn : Trung tâm thông tin tín dụng

Chất lượng thông tin cũng tăng lên do các NHTM đã áp dụng kỹ thuậttin học báo cáo thông tin bằng file, chiết xuất số liệu trực tiếp từ dữ liệu kếtoán giao dịch, hạn chế việc báo cáo thủ công nên đã tránh được nhiều sai sót.Ngoài việc thu thập thông tin từ NHTM, CIC còn thu thập thêm thông tin từ

Trang 20

các nguồn khác, như thông tin về báo cáo tài chính doanh nghiệp liên tục cácnăm từ 1998 đến 2004 của 3500 doanh nghiệp nhà nước Kho TTTD ngânhàng VN thực sự đang là một cơ sở dữ liệu lớn trong hệ thống ngân hàng và

có thông tin sẵn sàng để cung cấp các báo cáo thông tin theo yêu cầu

Xử lý, phân tích thông tin Mới chỉ xử lý kiểm tra trước khi nạp thông

tin vào máy tính và tổng hợp theo một số tiêu thức, xử lý tập hợp thông tintheo đúng mã khách hàng, theo mã TCTD (hoặc chi nhánh TCTD) Việc phântích thông tin chưa được đẩy mạnh, nên thông tin cung cấp ra chưa phongphú, chưa thực sự hấp dẫn đối với người sử dụng tin

(3) Cung cấp thông tin

Đối tượng được sử dụng thông tin Theo quy định hiện nay, đối

tượng được sử dụng thông tin của hệ thống TTTD ngân hàng bao gồm: Banlãnh đạo NHNN, vụ, cục, đơn vị thuộc, các chi nhánh NHNN TCTD và chinhánh TCTD Tổ chức và cá nhân khác

Quy định tra cứu và trả lời thông tin Việc tra cứu thông tin chủ yếu

thực hiện trên WebCIC Các đơn vị được sử dụng thông tin phải có bản đăng

ký danh sách người truy cập, được CIC cấp quyền truy cập, cấp mã số truycập, thì ngưòi sử dụng mới được truy cập vào WebCIC để tra cứu, khai thácthông tin Việc tra cứu thông tin có thể bằng hai cách tạo phiếu hỏi tin gửiCIC, chi nhánh NHNN, TCTD; hoặc tra cứu tự động trên WebCIC Về tracứu thông tin tự động: máy tính sẽ tự động tính toán, chiết xuất đưa ra thôngtin trả lời cho yêu cầu hỏi tin Đây là phương pháp tiên tiến, nhưng hiện nay

do thông tin lưu trữ trong kho dữ liệu chưa đầy đủ, chưa cập nhật, nên thôngtin đưa ra chưa chính xác Do vậy thực tế vẫn chủ yếu thực hiện hỏi tin bằngphiếu tra cứu, bộ phận trả lời tin sẽ kiểm tra lại thông tin, xác minh thêm chođầy đủ, cập nhật bổ sung thông tin trước khi cung cấp cho yêu cầu hỏi tin

Các sản phẩm TTTD hiện đang cung cấp ra

Trang 21

Các sản phẩm của CIC được cung cấp chủ yếu trên trang WebCIC vàmột số sản phẩm TTTD khác phát hành bằng văn bản Cụ thể có hai nhómchính như sau:

Những thông tin cung cấp theo định kỳ gồm:

- Danh sách khách hàng quan hệ tín dụng;

- Danh sách khách hàng quan hệ tín dụng theo địa bàn tỉnh, thành phố;

- Danh sách khách hàng có quan hệ tín dụng theo TCTD;

- Danh sách khách hàng có dư nợ ngoại tệ lớn;

- Danh sách khách hàng có dư nợ lớn hơn 5% vốn tự có tại TCTD;

- Dư nợ theo vùng kinh tế;

- Diễn biến giá vàng;

- Diễn biến tỷ giá;

- Diễn biến lãi suất huy động;

- Diễn biến lãi suất cho vay;

- Thông tin về một số doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam;

- Danh sách doanh nghiệp đã XLTD trong từng kỳ;

Những thông tin khai thác từng lần, gồm 5 loại như sau:

(i) Bản thông tin tổng hợp theo một số tiêu thức, gồm:

- Bản trả lời tin tổng hợp về khách hàng doanh nghiệp;

- Bản trả lời tin tổng hợp về khách hàng cá nhân;

- Bản trả lời tin về tài sản đảm bảo tiền vay;

(ii) Bản thông tin phân tích, XLTD doanh nghiệp;

Trang 22

(iii) Bản thông tin tài chính doanh nghiệp;

(iv) Bản tin CIC thường kỳ, phát hành 2 số/tháng;

(v) Bản báo cáo thông tin về doanh nghiệp nước ngoài;

(4) Về thông tin nước ngoài

Bên cạnh các nguồn tin trong nước, CIC chú trọng việc tăng cường hợptác, mở rộng mối quan hệ với các cơ quan thông tin quốc tế Hàng năm, CICđều ký hợp đồng với D&B để thu thập thông tin về các doanh nghiệp nướcngoài có ý định quan hệ kinh tế với doanh nghiệp của Việt Nam hoặc chàocho vay những khoản ngoại tệ lớn

Qua thực hiện thấy rằng, việc ký kết hợp đồng thu thập thông tin vớinước ngoài đã mở ra cho CIC có thêm nguồn thông tin đáng tin cậy, thông tinthu thập được đã phản ánh phần nào sự thật về hoạt động và thực trạng tàichính của doanh nghiệp nước ngoài có ý định vào hợp tác kinh doanh vớiViệt Nam, hoặc chào mời cho vay vốn, chào bán hàng hoá

Sau đây là một vài dẫn chứng cụ thể, từ 1995 đến 1999, theo yêu cầucủa các NHTM, CIC đã thu thập được thông tin về 279 doanh nghiệp củanước ngoài, trong đó có 35 doanh nghiệp mời chào cho vay, mức thấp là 3triệu USD và mức cao nhất là 3,6 tỷ USD, số còn lại là hoạt động thương mại.Qua điều tra thu thập cho thấy, trong số đó chỉ có 160 doanh nghiệp có đủthông tin về pháp lý, tài chính, khả năng thanh toán, 119 doanh nghiệp còn lạilịch sử hoạt động không rõ ràng, chủ yếu là làm môi giới, lừa đảo, mục đíchcuối cùng là xin chứng thư bảo lãnh của ngân hàng Việt Nam với điều kiệnkhông huỷ ngang và được phép chuyển nhượng để làm công cụ bán lại trênthị trường nhằm hưởng phí dịch vụ Từ năm 2000 đến nay, theo yêu cầu củaNHTM, CIC đã thu thập được hơn 500 báo cáo thông tin

Trang 23

Trong thời gian qua việc thu thập thông tin về các đối tác nước ngoài

có ý định vào làm ăn với Việt Nam đã góp phần đáng kể vào việc ngăn ngừarủi ro khi quan hệ kinh tế, thương mại với nước ngoài

Về mức thu dịch vụ của hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam được áp

dụng theo quyết định số 1669/2005/QĐ-NHNN, ngày 18/11/2005 của Thốngđốc NHNN tại phụ lục số 02 đính kèm chuyên đề

b) Kết quả đạt được

Việc hình thành hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam là một bước đi tấtyếu phù hợp với tiến trình phát triển của hoạt động tín dụng trong nền kinh tếthị trường Với nòng cốt hệ thống là CIC của NHNN, CIC được WB đánh giá

là một tổ chức đăng ký tín dụng công hoạt động hiệu quả ở khu vực Châu Á

Hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam sẵn có tất cả các ưu điểm chung giốngnhư các PRC khác, ngoài ra nó còn có những ưu điểm riêng có như: (i) Phùhợp với xu thế và thông lệ chung quốc tế trong hoạt động TTTD; (ii) Là một

hệ thống của ngân hàng nên hiệu lực pháp lý trong ngành cao trong việc báocáo và khai thác sử dụng thông tin; (iii) Do là hệ thống riêng của ngành ngânhàng, có tính bảo mật cao nên trong những trường hợp cần thiết NHNN có thể

sử dụng công cụ này để thực hiện những cuộc điều tra khảo sát hoặc thực hiệnnhững nhiệm vụ khác như: Thu thập báo cáo những khoản vay vượt quá 5%,15% vốn tự có của từng TCTD giúp Thanh tra NHNN; Thu thập, lưu trữ,thông báo việc phát hành séc quá số dư, séc giả, séc khống ; Thu thập điềutra thông tin về doanh nghiệp nước ngoài phục vụ cho việc quản lý nhà nước;Điều tra đột xuất về rủi ro tín dụng; Khảo sát thông tin về các doanh nghiệplớn của Việt Nam Sau đây là tóm tắt một số nét về kết quả đã đạt được củanghiệp vụ báo cáo TTTD:

Thứ nhất, thông tin chia sẻ gồm cả thông tin tích cực và thông tin tiêucực, là nguồn thông tin rất quan trọng đối với NHNN đã giúp ích rất nhiều

Trang 24

trong quản lý vĩ mô, giám sát hoạt động của TCTD và việc hoạch định, thựcthi chính sách tiền tệ Đối với TCTD nó một mặt góp phần ngăn ngừa hạn chếrủi ro tín dụng nhằm đảo bảo an toàn hệ thống, mặt khác với thông tin tíchcực nó góp phần mở rộng thị phần, lựa chọn khách hàng tốt, giảm chi phí điềutra thông tin, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng tín dụng Có thểnói đến nay không còn hiện tượng khách hàng có vấn đề nhưng vẫn đi vay ởnhiều ngân hàng cùng một lúc với số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng nhưtrường hợp Epco - Minh Phụng năm 1994

Thứ hai, đối tượng thu thập thông tin mở rộng ra khách hàng cá nhân,góp phần mở rộng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, phân bổ nguồn tín dụngmột cách công bằng và hợp lý Đây là một mảng thị trường đầy tiềm năng đốivới các TCTD mà trước đây vốn bị bỏ ngỏ Từ đó góp phần mở rộng thịtrường tín dụng chính thức và thu hẹp thị trường tín dụng không chính thức(tín dụng chợ đen, cho vay nặng lãi…) mang lại lợi ích cho người tiêu dùng

Thứ ba, TTTD giúp giảm tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Thực tếchứng minh tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Cổ phần là thấp hơn so với cácNHTM Nhà nước một phần là do các NHTM Cổ phần thực hiện nghiêm túcviệc cung cấp và khai thác sử dụng TTTD tại CIC trong thời gian vừa qua

Thứ tư, TTTD góp phần làm thay đổi dần văn hóa tín dụng và nâng caođạo đức kinh doanh của cả người vay và người cho vay Vì người vay có ýđịnh lừa đảo đã biết rằng ngân hàng có một hệ thống TTTD nên khó mà lừađảo được Thực tế là hiện tượng lừa đảo, một tài sản thế chấp vay nhiều nơi,vay TCTD này để trả TCTD khác đã bị phanh phui từ đó làm nản lòng những

ý định xấu trong thị trường tín dụng Ví dụ Lã Thị Kim Oanh, nguyên Giámđốc Công ty Đầu tư và Phát triển nhà thuộc Bộ Nông nghiệp &Phát triển nôngthôn dùng tài sản đảm bảo tiền vay là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đểthế chấp tại 3 ngân hàng Cả 3 ngân hàng đều không có thông tin về khách

Trang 25

hàng này, do vậy đã cho vay vốn, dẫn đến rủi ro Nhưng với một hệ thốngTTTD tốt thì chắc chắn điều này không thể xảy ra Về phía người cho vay,cũng có nhiều trường hợp cán bộ tín dụng vay ké, hoặc giúp khách hàng lậpchứng từ khống vay ở nhiều ngân hàng, khai gian số Chứng minh thư và địachỉ để chia nhỏ khoản vay, nhằm trốn tránh sự phát hiện Nhưng thông quaTTTD đã phanh phui nhiều vụ việc, từ đó đã làm thay đổi dần ý thức, giảmbớt rủi ro từ phía người cho vay

Thứ năm, thiết lập được hệ thống thông tin ngày càng mở rộng với đầumối là CIC, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố và các TCTD Hệ thống TTTDđến nay đã theo dõi được khoảng 80% số dư nợ cho vay nền kinh tế với5.443.663 hồ sơ khách hàng đang có quan hệ tín dụng tại các TCTD Tổng dư

nợ thu thập được là 443.227 tỷ VNĐ và trên 9.203 tỷ USD (tính đến thờiđiểm cuối năm 2006)

động cung cấp thông tin của CIC đã được đẩy mạnh, bình quân hàng ngàyCIC trả lời khoảng 400 lượt thông tin Chất lượng các bản trả lời thông tinngày càng tăng, thông tin phong phú hơn, số liệu chính xác hơn, thời giancung cấp nhanh hơn Đồng thời định kỳ (5ngày/lần) CIC báo cáo Thống đốc

và cung cấp cho Thanh tra NHNN thông tin về doanh nghiệp có tổng dư nợlớn hơn 5% và 15% vốn tự có của TCTD CIC đã chú trọng áp dụng côngnghệ trong trả lời tin thông qua Web-CIC, trong đó có áp dụng hình thức trảlời tin tự động, do đó tiết kiệm được thời gian, chi phí cho các TCTD Năm

2006, CIC đã cung cấp 104.121 bản trả lời tin cho các TCTD, tăng 69% sovới cùng kỳ năm 2005, tăng 44% so với kế hoạch năm 2006

Bảng 1.3 - Kết quả cung cấp thông tin năm 2006

Đơn vị tính: lượt bản tin

Trang 26

Loại thông tin

Thực hiện năm 2005 lượt bản tin

Thực hiện năm 2006 lượt bản tin

Tăng, giảm so với năm 2005(%) Bản trả lời tin cho các TCTD 61.808 104.121 69 %

Bảng 1.4 - Kết quả cung cấp thông tin từ năm 2004 đến năm 2006

Đơn vị tính: lượt bản tin

Loại thông tin cung cấp ra Năm 2004

lượt bản tin

Năm 2005 lượt bản tin

Năm 2006 lượt bản tin Trả lời qua Web-CIC 21.156 61.808 104.121 Lượt truy cập Web-CIC 154.248 357.589 1.645.040 Trả lời tin về doanh nghiệp nước

Trang 27

chiếm thị phần tín dụng rất lớn thì hỏi tin chỉ chiếm 23,7%, chỉ bằng khoảng1/3 số hỏi tin của NHTM Cổ phần.

Bảng 1.5 - Cung cấp thông tin phân theo loại hình TCTD

Đơn vị tính : triệu VND

TCTD

Số bản cung cấp thông tin 2005

Số bản cung cấp thông tin 2006

Tỉ trọng trên Tổng trả lời tin (%)

Dư nợ đến 31/12/2006 triệu VND

NHTM Nhà nước 16.840 24.713 23,7% 413.807.725 NHTM Cổ phần Đô thị 40.517 74.295 71,4% 111.947.977 NHTM Cổ phần Nông

Tỉ lệ tăng hỏi tin của các TCTD trên địa bàn Hà Nội và TPHCM lần lượt là56,2% và 48,9% Tuy nhiên tính theo hai miền Nam và Bắc thì tỉ lệ tăngtrưởng của Miền Nam là 79,5% trong khi tỉ lệ tăng của Miền Bắc là 43,8%.Điều này cho thấy các chi nhánh TCTD trên địa bàn các tỉnh phía Nam đã

Trang 28

quan tâm đến khai thác sử dụng TTTD hơn các chi nhánh TCTD trên địa bàncác tỉnh phía Bắc.

Bảng 1.6 - Cung cấp thông tin tại Hà Nội và TP HCM năm 2006

Đơn vị tính : triệu VND

Thành phố

Số bản trả lời tin 2005

Số bản trả lời tin 2006

Tăng, giảm

so với 2005 (%)

Dư nợ đến 31/12/2006 triệu VND

Số bản trả lời tin 2006

Tăng, giảm so với 2005 (%) Khu vực phía Bắc từ Huế trở ra 19.183 27.589 43,8% Khu vực phía Nam từ Huế vào 42.625 76.532 79,5%

Nguồn : Trung tâm thông tin tín dụng

Về khai thác thông tin tự động trên WebCIC thực hiện chưa được tốt,nguyên nhân do người sử dụng tin muốn có kết quả trả lời trực tiếp của ngườitrả lời tin từ CIC

Trang 29

Năm 2006, CIC đã cung cấp 1.935 bản thông tin về doanh nghiệp trongnước cho các Hãng thông tin nước ngoài như BOL, MECIB, ACP (tăng 42%

so với năm 2005), cung cấp 850 bản thông tin về doanh nghiệp trong nướccho các tổ chức khác (tăng 65% so với năm 2005), làm dịch vụ 86 bản trả lờitin về doanh nghiệp nước ngoài cho các TCTD và tổ chức khác trong nước.Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài nhằm nâng caochất lượng và hiệu quả cho các sản phẩm dịch vụ thông tin Năm 2006, CIC

đã ký hợp đồng mới với hãng tin ACP (Đài Loan), thực hiện dịch vụ thông tintrực tiếp cho đối tác D&B thông qua chương trình Remote Dews trực tuyếnthay vì qua đối tác trung gian (BOL - Thái Lan) như trước đây

c) Những tồn tại và nguyên nhân

 Tồn tại

Có thể tập trung các tồn tại đối với nghiệp vụ báo cáo TTTD như sau:Một là, thu thập dữ liệu đầu vào chưa tốt, chủ yếu mới thu thập đượcthông tin dư nợ, còn các thông tin về tài chính, phi tài chính, tình hình tài sảnđảm bảo, bảo lãnh, tình hình tài chính của khách hàng vay thì thu thập chưabảo đảm yêu cầu Việc phối hợp với các bộ, ngành như cơ quan cấp phépthành lập doanh nghiệp, cơ quan thuế, cơ quan tư pháp chưa tốt nên chưa có

đủ dữ liệu đầu vào cần thiết cho TTTD

Hai là, Việc xử lý thông tin nhìn chung còn đơn điệu, chưa có các kinhnghiệm phân tích tiên tiến, chưa có các hoạt động gia tăng như chấm điểm tíndụng, thông tin cảnh báo, thông tin khách hàng có hiện tượng gian lận, kháchhàng vi phạm tín dụng, thanh toán

Ba là, sản phẩm cung cấp ra còn nghèo nàn, tuy đã thiết kế được 22 sảnphẩm, nhưng thực tế mới đáp ứng được khoảng 10 sản phẩm có chất lượng,

có tính cập nhật Chưa có sản phẩm đặc thù phục vụ riêng cho yêu cầu củatừng loại hình TCTD

Trang 30

Bốn là, chưa triển khai đầy đủ, đúng nghĩa báo cáo TTTD tiêu dùng,nhất là chưa có thông tin về khách hàng tín dụng thẻ, trong khi hoạt động nàyđang phát triển mạnh và nhu cầu thông tin để phòng ngừa rủi ro rất lớn.

Năm là, đối tượng được phép sử dụng TTTD bị thu hẹp trong phạm vingành ngân hàng, ngoài ra các tổ chức và cá nhân khác có nhu cầu chưa đượctiếp cận sử dụng TTTD Quyền lợi cá nhân của các khách hàng có hồ sơ tạikho dữ liệu TTTD chưa được đảm bảo Họ chưa được phép tiếp cận và sửađổi nguồn thông tin sai lệch trong bộ hồ sơ của mình

- Chưa chú trọng đến khâu tuyên truyền, quảng bá sản phẩm TTTD,đặc biệt là lợi ích hoạt động TTTD trong việc hạn chế và ngăn ngừa rủi ro

- Các TCTD chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo thông tin vàkhai thác sử dụng thông tin góp phần hạn chế rủi ro cho hoạt động tín dụng

- Chưa có một hệ thống mã khách hàng chuẩn thống nhất trong toànquốc, góp phần tạo thuận lợi và rút ngắn thời gian tìm kiếm thông tin vềkhách hàng tại các tổ chức, cơ quan, bộ ngành khác nhau

Trang 31

- Chưa chú trọng đến khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm TTTDdựa vào nhu cầu của người sử dụng.

- Chưa có một chế tài cụ thể với những trường hợp vi phạm chế độ báocáo, khai thác và sử dụng TTTD góp phần hạn chế và ngăn ngừa rủi ro củacác TCTD

- Nguồn nhân lực tại các cơ quan trong hệ thống TTTD ngân hàng ViệtNam còn thiếu cả về số lượng và yếu về trình độ chuyên môn và các khả năngphụ trợ khác cho công việc (Ngoại ngữ, tin học…), chính điều này làm choviệc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin những năm qua còn nhiều hạn chế

1.2.4.2 Nghiệp vụ XLTD doanh nghiệp

a) Tình hình thực hiện tại Trung tâm thông tin tín dụng

Do đòi hỏi bức xúc của thực tiễn hoạt động tín dụng, nghiệp vụ XLTDdoanh nghiệp của hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam đã hình thành, đi vàohoạt động từ 2002 Tiên phong trong nghiệp vụ này là CIC Từ năm 2000,CIC đã xây dựng đề án XLTD doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng, đã tổchức hội thảo lấy ý kiến tham gia của các vụ, cục, TCTD và một số nhà khoahọc trong ngành và trình Thống đốc cho phép áp dụng thí điểm Ngày24/01/2002 Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN về việc cho phép CIC triển khai thí điểm đề án phân tích, XLTDdoanh nghiệp trong thời gian 2 năm Sau thí điểm Thống đốc đã ban hànhQuyết định số 473/QĐ-NHNN ngày 28/4/2004 phê duyệt đề án phân tích,XLTD doanh nghiệp Việc XLTD tiến hành tương đối đều, hàng năm CIC đãxếp loại được khoảng 3000 doanh nghiệp Ngoài việc trả lời tin theo yêu cầucủa NHTM, kết quả xếp loại được đăng tải liên tục trên Bản tin TTTD thường

kỳ của CIC

Trang 32

Tóm tắt các bước tiến hành XLTD doanh nghiệp tại CIC thực hiện theoQuyết định số 1253/QĐ-NHNN ngày 21/06/2006 của Thống đốc NHNN vềthực hiện phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp như sau:

Bước 1 - Thu thập thông tin

Bước 2 - Phân loại doanh nghiệp theo ngành, bao gồm: Trồng trọt,chăn nuôi; Chế biến các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp; Xây dựng; Thươngmại hàng hoá; Dịch vụ; Công nghiệp năng lượng (điện, than, dầu khí); Côngnghiệp chế tạo; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

Bước 3 - Phân loại doanh nghiệp theo quy mô:

Những tiêu thức cơ bản xác định quy mô doanh nghiệp gồm: Nguồnvốn kinh doanh; Lao động; Doanh thu thuần; Nộp ngân sách Nhà nước

Bước 4 - Xây dựng các chỉ tiêu phân tích cơ bản:

* Các chỉ tiêu tài chính bao gồm:

Các chỉ tiêu thanh khoản: Khả năng thanh toán ngắn hạn; Khả năng

thanh toán nhanh

Các chỉ tiêu hoạt động: Luân chuyển hàng tồn kho; Kỳ thu tiền bình

quân; Hiệu quả sử dụng tài sản

Các chỉ tiêu về cân nợ: Nợ phải trả/tài sản; Nợ phải trả/ vốn chủ sở

hữu; Nợ quá hạn/Tổng dư nợ ngân hàng

Các chỉ tiêu về thu nhập: Tổng thu nhập trước thuế/Doanh thu; Tổng

thu nhập trước thuế/Tổng tài sản có; Tổng thu nhập trước thuế/Nguồn vốn

* Các chỉ tiêu phi tài chính bao gồm 3 chỉ tiêu là trình độ, số năm kinhnghiệm của giám đốc và số năm hoạt động của doanh nghiệp

Bước 5 - Xây dựng bảng tính điểm theo quy mô, theo ngành kinh tếBước 6 - Tổng hợp kết quả tính điểm, căn cứ vào hệ số của các chỉ tiêu,đối chiếu với bảng điểm để tính điểm cho từng doanh nghiệp

Bước 7- Đưa ra hệ thống XLTD doanh nghiệp (gồm 9 loại)

Ngày đăng: 18/02/2014, 15:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 –  Kho dữ liệu TTTD - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 1.2 – Kho dữ liệu TTTD (Trang 19)
Bảng 1.4 -  Kết quả cung cấp thông tin từ năm 2004 đến năm 2006 - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 1.4 Kết quả cung cấp thông tin từ năm 2004 đến năm 2006 (Trang 26)
Bảng 1.5 -  Cung cấp thông tin phân theo loại hình TCTD - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 1.5 Cung cấp thông tin phân theo loại hình TCTD (Trang 27)
Bảng 1.6 -  Cung cấp thông tin tại Hà Nội và TP. HCM năm 2006 - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 1.6 Cung cấp thông tin tại Hà Nội và TP. HCM năm 2006 (Trang 28)
Đồ thị 2.01 -  Cân bằng nợ đối với người vay - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
th ị 2.01 - Cân bằng nợ đối với người vay (Trang 37)
Bảng 2.2 -  Hệ số đảm bảo tiền vay ứng với 10 quan sát Hệ số khoản vay (K i ) Tên tài sản đảm bảo - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.2 Hệ số đảm bảo tiền vay ứng với 10 quan sát Hệ số khoản vay (K i ) Tên tài sản đảm bảo (Trang 40)
Bảng 2.4 - Bảng ước lượng mô hình bằng Eviews Dependent Variable: L * i - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.4 Bảng ước lượng mô hình bằng Eviews Dependent Variable: L * i (Trang 41)
Bảng 2.7 -  Bảng phân tích số liệu - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.7 Bảng phân tích số liệu (Trang 43)
Bảng 2.8 - Bảng ước lượng mô hình bằng Eviews - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.8 Bảng ước lượng mô hình bằng Eviews (Trang 44)
Bảng 2.9- Xác suất vỡ nợ đối với khoản vay nhiều món L i Xác suất vỡ nợ với khoản vay nhiều món ( p ~ i ) - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.9 Xác suất vỡ nợ đối với khoản vay nhiều món L i Xác suất vỡ nợ với khoản vay nhiều món ( p ~ i ) (Trang 45)
Bảng 2.11 -  Ví dụ về lợi nhuận thu được từ 9 khách hàng                                                                             Đơn vị : triệu VND - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.11 Ví dụ về lợi nhuận thu được từ 9 khách hàng Đơn vị : triệu VND (Trang 47)
Bảng 2.12 -  Bảng ước lượng mô hình bằng Eviews Dependent Variable:  ∏ MFI i - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.12 Bảng ước lượng mô hình bằng Eviews Dependent Variable: ∏ MFI i (Trang 48)
Bảng 2.14 -  Ví dụ về lợi nhuận thu được từ 9 khách hàng - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.14 Ví dụ về lợi nhuận thu được từ 9 khách hàng (Trang 50)
Bảng 2.15. So sánh lợi nhuận thu được ứng với 9 quan sát - mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam
Bảng 2.15. So sánh lợi nhuận thu được ứng với 9 quan sát (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w