Câu hỏi đặt ra là liệu những sinh viên sau khi tốt nghiệp chương trình Cử nhân của Học viện Phật giáo Việt Nam có đủ đáp ứng được những điều kiện học tập các chương trình sau đại học tại
Trang 1TĂNG NI SINH TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM DU HỌC NƯỚC NGOÀI:
sĩ, Tiến sĩ và sau Tiến sĩ ngày một tăng nhanh qua các năm Sau khi tốt nghiệp trở về nước, họ đã phụng sự cho Giáo hội một cách tích cực và hiệu quả, góp công lớn vào những thành tựu quan trọng
* Giảng viên khoa Pali và Phật học, Học viện Phật giáo Quốc tế Sri Lanka – SIBA Campus.
Trang 2của Học viện cũng như Giáo hội trong nhiều lĩnh vực văn hoá, giáo dục, quản lý hành chính, từ thiện xã hội, v.v Có thể nói trong điều kiện còn nhiều khó khăn và hạn chế về công tác tổ chức đào tạo của Học viện, lực lượng Tăng ni sinh du học đã đáp ứng một số lượng lớn cho nguồn nhân lực của Phật giáo để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng nhanh và mạnh của Phật giáo Việt Nam trong nước
và ở nước ngoài Câu hỏi đặt ra là liệu những sinh viên sau khi tốt nghiệp chương trình Cử nhân của Học viện Phật giáo Việt Nam
có đủ đáp ứng được những điều kiện học tập các chương trình sau đại học tại nước ngoài hay không? Những khó khăn và hạn chế mà cựu Tăng ni sinh sau tốt nghiệp phải đối mặt khi du học là gì? Liệu
họ có thấy hài lòng với chất lượng đào tạo của Học viện Phật giáo Việt Nam? Mong muốn cũng như những giải pháp được đề xuất
gì về phía Học viện nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Tăng ni sinh du học ra sao? Bài tham luận này sẽ giúp trả lời những câu hỏi
đó với mục đích chính cung cấp cái nhìn tổng quan, đánh giá lại chương trình đào tạo cũng như có những cải cách, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học cũng như sau đại học của Học viện đáp ứng tiêu chuẩn chung của quốc tế đồng thời giúp Tăng ni sinh tốt nghiệp Học viện lựa chọn du học nước ngoài đạt được hiệu quả cao nhất trong học tập và nghiên cứu Đề tài tham luận cũng phản ánh sự đánh giá mức độ hài lòng của Tăng ni sinh tốt nghiệp về chất lượng đào tạo của Học viện qua đó đề xuất hướng giải quyết cho vấn đề đặt ra Phương pháp nghiên cứu tác giả lựa chọn sử dụng là phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc thu thập dữ liệu phục vụ cho bài nghiên cứu Sở dĩ tác giả chọn phương pháp nghiên cứu này vì sau khi suy xét cẩn thận mọi khía cạnh dựa trên tình hình thực tế của bài nghiên cứu, dựa trên thông tin căn bản thì đối tượng phỏng vấn là Tăng ni sinh tốt nghiệp Học viện đang du học tại nước ngoài
Ấn Độ và Sri Lanka được lựa chọn vì hai nước này có số lượng sinh viên đông cũng như chất lượng đào tạo Phật học hàn lâm cao, nhiều chư tôn đức thạc đức Việt Nam cũng từng du học tại hai nước này Việc phỏng vấn bán cấu trúc sẽ giúp người được phỏng vấn có thể
tự do thể hiện quan điểm suy nghĩ cũng như cách đánh giá, cung
Trang 3cấp nhiều thông tin hơn cho những câu hỏi đưa ra Để thu thập dữ liệu, tác giả đã tiến hành lựa chọn 25 cựu Tăng ni sinh đã tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đang du học các chuyên ngành Phật học tại Sri Lanka và Ấn Độ Dữ liệu sau
đó được xử lý và phân tích để đưa ra kết quả nghiên cứu một cách khách quan và chính xác nhất
2 TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ THÀNH TỰU GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Kể từ sau sự kiện trọng đại đất nước thống nhất (30/04/1975), thì gần 3 năm sau, một sự kiện quan trọng khác đối với Phật giáo
là tại miền Bắc, ngày 01.01.1978, nhà nước cho phép Hội Phật giáo Thống nhất thành lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam và trường Tu học Phật pháp Trung ương Còn tại khu vực miền Nam, việc thành lập Trường Cao cấp Phật học vào năm 1984 và năm
1997 nâng cấp thành Học viện Phật giáo Việt Nam tiền thân của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh do Hòa thượng Thích Minh Châu sáng lập1 đánh dấu bước tiến quan trọng trong giáo dục Phật giáo bậc đại học Gần đây nhất là Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, Hà Nội và Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cần Thơ khẳng định sự giáo dục đầy đủ và toàn diện, rộng khắp của Phật giáo Có thể điểm qua một số thành tựu nổi bật
mà các học viện Phật giáo Việt Nam đạt được trong lĩnh vực giáo dục bậc đại học như sau
Từ năm 1983-1997, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố
Hồ Chí Minh kế thừa Đại học Vạn Hạnh (1964-1975) liên kết giáo
sư và giảng viên với các trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa I và khóa
II của Học viện phần lớn đều trở thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các Ban Trị sự Tỉnh Thành hội và Hội đồng Trị sự Học viện Phật giáo Việt Nam Từ năm 1997-2005 Trường Cao cấp Phật học
1 Nguyễn Công Lý, Nghĩ về giáo dục Phật giáo ở Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,
số 11 (149), 2015, tr 46-64.
Trang 4Việt Nam cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh được chính thức đổi tên thành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đào tạo được 2 khóa cử nhân Phật học và đạt được các thành tựu quan trọng về quan hệ ngoại giao quốc tế và quốc nội ngày càng
đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và đào tạo của Học viện
ở quy mô một trường đại học Phật giáo Từ 2006 trở đi, Học viện
thay đổi chương trình học niên chế với mỗi năm hai học kỳ thành
hệ thống tín chỉ (course-credit/ unit) theo hệ thống giáo dục tiên
tiến và phổ quát trên thế giới Số lượng sinh viên ghi danh thi tuyển sinh và theo học ngày càng nhiều, sau mỗi khóa, đã làm cho Học viện trở thành trung tâm thu hút các học giả và các nhà nghiên cứu
từ nhiều nơi trên thế giới2
Tiếp theo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội là cơ sở đào tạo Phật học lớn nhất miền Bắc, được thành lập từ năm 1981, cho đến nay đã có hàng nghìn tăng, ni sinh được vinh dự đón nhận bằng tốt nghiệp cử nhân Phật học và Cao đẳng Phật học Sau 24 năm, cơ
sở của Học viện đặt tại chùa Quán Sứ với hai phòng học, từ năm
2006 đến nay, Học viện đã chính thức có một cơ sở mới với diện tích trên 10ha tại Sóc Sơn, Hà Nội, có đủ điều kiện về cơ sở vật chất và cảnh quan tu học, phục vụ tốt nhất cho tăng, ni sinh tu học Trong những năm qua, học viện đã không ngừng đổi mới cả chiều sâu và chiều rộng, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Đặc biệt,
để đảm bảo triển khai nội dung chương trình giáo dục đào tạo của học viện cũng như tạo sự yên tâm tu học của tăng, ni sinh, học viện
đã quyết định bảo đảm miễn phí 100% kinh phí ăn ở và 90% kinh phí đào tạo của tăng, ni sinh trong suốt thời gian tu học3
Thứ ba, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế có tiền thân là Trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại Huế (Quyết định thành lập Số 07–QĐ/TGCP ngày 22 tháng 4 năm 1997 do Ban Tôn giáo
2 HT Thích Giác Toàn, “Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh: Từ
quá khứ đến hiện tại”,
http://www.vbu.edu.vn/vbunews/vbunews-detail/AP-202/Hoc-vien-PGVN-tai-TP-HCM:-Tu-qua-khu-den-hien-tai.html
3 Cẩm Vân, “Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội”, https://thuvienhoasen.org/ a5939/hoc-vien-phat-giao-viet-nam-tai-ha-noi
Trang 5Chính phủ chấp thuận) Số lượng sinh viên tốt nghiệp qua các khóa
đã vượt hơn 1.000 sinh viên4 Cuối cùng là Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đã khẳng định được vị thế và sự phát triển của mình trong khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; đóng góp và phát huy vai trò của mình vào những thành tựu chung mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đạt được sau 35 năm Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, Phật giáo Nam tông Khmer cũng đạt được những thành tựu đáng
kể, quan trọng cho Phật giáo Nam tông Khmer tại Việt Nam5
Sau khi tốt nghiệp tại các Học viện, nhiều Tăng ni sinh qua các thế hệ đã lựa chọn tiếp tục chương trình học tập và nghiên cứu Phật học bậc cao tại nước ngoài Nhiều quốc gia có nền đào tạo Phật giáo phát triển đa phần ở châu Á được đông đảo Tăng ni sinh Việt Nam chọn lựa Có thể chia thành 2 nhóm chính dựa theo tính chất
và đặc điểm đào tạo theo hướng nghiên cứu trong Phật học: nhóm nước đào tạo Phật học sử dụng tiếng Anh như Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar với thế mạnh nghiên cứu đào tạo về Phật giáo Nguyên thuỷ, Nam truyền Theravada trong đó cổ ngữ Pali được sử dụng làm công cụ nghiên cứu chính; nhóm nước đào tạo Phật học
sử dụng tiếng Trung và các ngôn ngữ khác như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản với thế mạnh nghiên cứu đào tạo về Phật giáo Đại thừa (Mahayana), Phật giáo Bắc truyền trong đó sử
dụng Hán cổ và Sanskrit (Phạn văn) làm công cụ nghiên cứu chính Ngoài 2 nhóm chính trên còn 1 nhóm Tăng ni sinh theo học và nghiên cứu về Kim Cang Thừa (Vijrayana hay Tantrayana) chủ yếu
học ở vùng Dharamshala, Ấn Độ, Bhutan, Nepal bằng tiếng Tạng và Sanskrit cổ Tuy nhiên số lượng Tăng ni sinh theo học tại các nước này chiếm số lượng không đáng kể Theo thống kê sơ bộ, số lượng Tăng ni sinh du học Phật pháp tại các nước đào tạo bằng tiếng Anh (năm 2019) như sau:
4 Số liệu đăng trên website học viện: (http://vba.edu.vn/hvpg.aspx?KenhID=107&Tieu DeID=55&LoaiTieuDe=1&LoaiKenh=2&l=vn)
5 Kim Chươi, “Những giải pháp đào tạo ở Học viện Phật giáo Nam tông Khmer”,
https://phat-giao.org.vn/nhung-giai-phap-dao-tao-o-hoc-vien-phat-giao-nam-tong-khmer-d29071.html
Trang 62019 Ấn Độ Sri Lanka Thái Lan Myanmar Tổng số
H1 Biểu đồ tỷ lệ Tăng ni sinh Việt Nam đang du học tại các nước
đào tạo tiếng Anh năm 2019
Từ số liệu trên ta có thể thấy rằng Thái Lan là nước có số lượng Tăng ni sinh lựa chọn đông nhất với 180 du học sinh chiếm tỷ lệ 37,11 % do điều kiện địa lý gần Việt Nam và nhiều nét tương đồng
về văn hoá, kinh tế, xã hội Ấn Độ là quê hương của Phật giáo xếp vị trí thứ 2 với số lượng 140 du học sinh chiếm 28,87% tổng số Tăng
ni sinh du học, thứ ba là Myanmar 90 Tăng ni sinh du học (chiếm
tỷ lệ 18.56%) và cuối cùng là Sri Lanka – được ví như ngôi sao đang lên, điểm đến lý tưởng cho việc du học Phật pháp trong những năm gần đây với số lượng 65 Tăng ni sinh chiếm 13,4% tổng số du học sinh trong nhóm Đề tài nghiên cứu lựa chọn Ấn Độ và Sri Lanka làm địa điểm khảo sát ý kiến cựu Tăng ni sinh của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đang du học tại 2 quốc gia trên vì thỏa mãn các điều kiện như quốc gia có nền đạo tạo Phật giáo phát triển, nhiều thế hệ chư tôn thiền đức đã từng du học tại đây, Tăng ni sinh tốt nghiệp có nhiều đóng góp cho Phật giáo trong nước cũng như thế giới
Ấn Độ được biết như cái nôi của nền văn minh nhân loại, đồng thời cũng là quê hương của Phật giáo nơi mà hàng triệu Tăng ni, Phật
Trang 7tử trên toàn thế giới và những khách hành hương muốn ít nhất một lần tìm về để tìm hiểu Phật giáo và chiêm bái Tứ Động Tâm – bốn thánh tích linh thiêng thuộc Ấn Độ và Nepal Nhiều trường Phật giáo nổi tiếng của Ấn Độ như Đại học New Delhi, Đại học Nalanda, Đại học Allahabad, Đại học Pune, Đại học Gautam Buddha, v.v… nơi đã từng đào tạo nhiều tăng tài cho nền Phật giáo nước nhà qua nhiều thế hệ Hiện tại số lượng Tăng ni sinh du học tại Ấn Độ là
140 vị theo học chính thức các chương trình đào tạo tại các trường đào tạo, khoảng 50 vị đang tu tập và học tiếng Tạng và Phật giáo Kim Cang thừa tại các ngôi chùa Tây tạng ở khu vực Dharamshala,
Ấn Độ Số lượng du học sinh này không được đưa vào số liệu chính thức vì không theo học các trường Đại học hàn lâm của Ấn Độ Có một điểm đặc biệt trong 140 du học sinh đang du học tại Ấn Độ thì hơn 95% tốt nghiệp từ Học viện Phật giáo Việt Nam tại Việt Nam đang theo học các chương trình sau đại học như thạc sĩ, phó tiến sĩ, tiến sĩ Tỷ lệ sinh viên học Cử nhân Phật học (BA) rất ít (khoảng vài người) Điều này được lý giải do hầu hết chương trình đào tạo
cử nhân Phật học tại Ấn Độ bằng tiếng Hindi (Hindi medium) đó là
rào cản lớn ảnh hưởng đến việc lựa chọn học Cử nhân Phật học tại
Ấn Độ so với các nước khác
Biểu đồ tỷ lệ du học sinh theo cấp học
tại Ấn Độ
Sau Đại học 90%
-Cử nhân - 3%
Chương trình khác
H2 Biểu đồ tỷ lệ du học sinh phân theo cấp độ đào tạo tại Ấn Độ 2019
Nếu Ấn Độ được biết như nơi khởi nguồn của Phật giáo thì Sri
Trang 8Lanka được biết tới như hòn đảo thiêng giữ gìn và lưu truyền chánh pháp Đất nước Phật giáo Nam truyền này hiện có số lượng Phật tử chiếm 70,1% dân số Đây cũng là quốc gia Phật giáo thuần thành, người dân hiền lương, điềm đạm, xã hội trật tự đạo đức Ngũ giới là nền tảng đạo đức căn bản của xã hội, được xem là chuẩn mực đạo đức cho con người noi theo Sri Lanka giữ gìn rất tốt những truyền thống văn hóa Phật giáo tốt đẹp từ thời xa xưa cho đến tận bây giờ Ngày Chủ nhật và ngày rằm (Poya day) hầu hết các cửa hàng đều
đóng cửa để người dân đi chùa tu học, cúng dường, nghe Pháp Phật
tử cung kính, cúng dường, hộ trì chùa chiền và Tăng ni tu học. Cố Trưởng lão HT Thích Minh Châu có thể được xem là thế hệ du học sinh Phật pháp người Việt Nam đầu tiên đến Sri Lanka để học tập Pali và Phật học Tiểu sử Hòa thượng ghi lại rằng: Do trong quá trình nghiên cứu Kinh - Luật - Luận Hán tạng, nhận thấy cách phiên âm các từ ngữ Pali, Sanskrit khác nhau, chưa có sự thống nhất khiến bản văn trở nên khó hiểu nên Hòa thượng xin phép bổn sư và Hội Phật học Trung phần cho phép mình sang Sri Lanka và Ấn Độ học về Kinh, Luật, Luận, Pali và Sanskrit để sau này về nước phục
vụ việc nghiên cứu Phật học nước nhà Vào năm 1952, được sự chấp thuận của Giáo hội và Hòa thượng bổn sư, Hòa thượng Thích Minh Châu xuất dương du học tại Sri Lanka Thời gian đầu tại Kelaniya, Hòa thượng đã miệt mài học Pali và Anh văn; sau 3 năm chuyên cần học tập, năm 1955, Hòa thượng được Trường Đại học Tích Lan (Ceylon University) tặng bằng Pháp sư (Saddammcariya) Sau đó,
Hòa thượng sang Ấn Độ và theo học tại Nava Nalanda Mahavihara thuộc Đại học Bihar (Ấn Độ)6. Từ khoảng mười năm trở về trước, Sri Lanka vẫn còn khá mới mẻ và chưa được biết rộng rãi với nhiều người học Phật tại Việt Nam nhưng những năm gần đây, số lượng
du học sinh Việt Nam đến đất nước này một đông hơn Theo đó, trước năm 2010 có khoảng 5-10 du học sinh thì cho đến thời điểm hiện tại, số lượng Tăng ni sinh và sinh viên Việt Nam học tại Sri
6 Tiểu sử Trưởng lão Hoà thượng Thích Minh Châu, tieu-su-truong-lao-hoa-thuong-thich-minh-chau (truy cập 26/08/2019)
Trang 9https://quangduc.com/a49120/01-Lanka đã vượt hơn 65 vị, con số này tăng lên sau mỗi năm Hiện nay, Sri Lanka đã trở thành địa điểm du học Phật pháp được nhiều Tăng ni sinh Việt Nam tin tưởng chọn lựa. Theo khảo sát sơ bộ của tác giả, số lượng Tăng ni du học sinh tại Sri Lanka vào khoảng trên dưới 65 người Trong đó chiếm phần lớn là học viên cao học - thạc
sĩ (khoảng 15 vị), phó tiến sĩ MPHIL (15 vị) và tiến sĩ (khoảng 5 vị), cử nhân BA khoảng dưới 25 vị, số còn lại là 20 vị học Diploma các ngành tiếng Anh, Phật học, Pali, Sanskrit
Biểu đồ tỷ lệ du học sinh theo cấp học tại Sri Lanka
Trang 10VÀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA HỌC VIỆN
Để khảo sát những khó khăn, hạn chế mà cựu Tăng ni sinh tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải khi du học Phật pháp tại nước ngoài, cụ thể là tại Sri Lanka
và Ấn Độ, tác giả đã tiến hành phỏng vấn 25 Tăng ni sinh hiện đang học tại 2 quốc gia trên Tiêu chí về người được lựa chọn phỏng vấn phải đáp ứng 2 yêu cầu cơ bản sau:
- Tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố
Hồ Chí Minh
- Đang theo học các chương trình đào tạo sau đại học (MA, MPhil, PHD) tại các trường đại học chính thống của Sri Lanka và Ấn Độ
Các vị Tăng ni sinh này được áp dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc xoay quanh 3 vấn đề chính sau:
1 Những khó khăn, hạn chế gặp phải khi du học tại nước ngoài
2 Đánh giá mức độ hài lòng về chất lượng đào tạo của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 113 Đề xuất ý kiến, đóng góp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện,đáp ứng tiêu chuẩn học thuật quốc tế và tạo điều kiện cho Tăng ni sinh tốt nghiệp hội nhập và bắt kịp với
sự phát triển ngày càng nhanh và mạnh của nền đào tạo Phật học trên thế giới ngày nay
Kết quả phân tích dữ liệu phỏng vấn cho thấy, những khó khăn
và hạn chế mà Tăng ni sinh du học phải đối mặt bao gồm 6 vấn đề chính với tỷ lệ như sau:
1 Yếu kém về ngoại ngữ (Anh văn), thuật ngữ chuyên ngành Anh văn Phật pháp: 21/25 (84%)
2 Cổ ngữ Pali: 13/25
3 Kinh nghiệm nghiên cứu, học thuật, kỹ năng mềm: 8/25
4 Tài chính: 3/25 (Sri Lanka)
5 Khác biệt văn hoá: 2/15
6 Thủ tục visa: 3/25 (Sri Lanka)
7 Cơ sở lưu trú trong quá trình học: 4/25
8 Những khó khăn khác: thiếu đoàn kết 4/25
9 Không gặp khó khăn: 2/25