1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế hệ thống xử lý bụi công ty chế biến gỗ gia dụng pisano

91 562 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế hệ thống xử lý bụi công ty chế biến gỗ gia dụng Pisano
Trường học University of Technology, Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Environmental Engineering
Thể loại Dự án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 12,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam còn có hàng nghìn các nhà máy của các ngành công nghiệp khác nhau được xây dựng từ trước với trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kĩ vẫn đang tiếp tục hoạt động và còn phải t

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Lời cảm ơn

Nhận xét của giáo viên phản biện nnnnnieeiereirrerrre

Mục lục

Chương Ï: Lili mở ở đầu

L Giới thiệu về Cty chế biến gỗ gia dụngPISANO s-scscse

1.2 Sản phẩm, sản lượng \ và thị trường t tiêu u thu

1.3 Tình hình hoạt động vàsảẩn xuất -.«-<c=sererereer

1.3.1 Hiện trạng và hướng phát triỂn -. = r=se

1.3.2 Nguồn nguyên liệu 5 22<c<22rerrrrrrrerirreie 1.3.3 Nguồn nhiên liệu

1.3.4 Nguồnnhânlực

I Quy trình công nghệ sản xuất và › thiết bị chủ y yếu

2.3 Các thiết bị chủ yếU -c=+ecreseretrrrerrieirrieirrreie

2.3.1 Máy móc thiết bị chính -. -s++xcererrrerrrrrrrreee 2.3.2 Máy móc thiết bị phụ -« s=+errrerrrrrrrrrrrr

2.3.3 Máy móc dịch vụ văn phòng - s =cerererrrrre

II Nguồn ô nhiễm tại nhà máy chế biến gỗ gia dụng Pisano

3.1 Khái niệm chung vỀ bụi .<cecererrrrrrrrrrrerrrrirrrrrerr

Trang 2

3.2.6 Chất thải rắn

3.2.7 Ô nhiễm nguồn nước

4.1.1 Lấy mẫu bụi từ ống dẫn khí

4.2.3 Phương pháp tĩnh điện

4.3 Lưa chọn phương án xử lý

I Phương án xử lý bụi

II Tính toán đường ống

I Tính toán thiết kế xiclon —

1.1 Cấu tạo và nguyên lý làm VIỆC

1.5 Tính cấu tạo xiclon HH ninh

IL Tính toán thiết kế thiết bị loc tli vai

3.2.5 O mhi&m do nhiét d6 ccccscscsessssscssssesusnuecsesseneesnsstinsnssssseus

4.2 Các phương pháp xử lý An

4.2.1 Phương pháp lọc khô . s-ssesesseeeerrirrerriiie 4.2.2 Phương pháp lọc ưỚớtL -ssằskerererrrrrrrrrre

2.2 Tính trở lực đoạn ống s z:setttetetrrerrrerrrrrirrirrre

Chương IV Tính toán thiết kế thiết bị - -2-5 2=->+eree

1.2 Tính toán thiết kế thiết bị xiclon nhóm 1

1.3 Tính toán thiết kế thiết bị xiclon nhóm HD 22222 vee

1.4 Tính toán thiết kế thiết bị xiclon nhóm III -

Chương V Khái toán giá HN

Chương VI Kết luận- Kiến nghị 5-5 2 nnntHrmrrrrerierre

24

dA „ò_.24

„25 3.3.1 Tác động lên môi trường không khí xung quanh

3.3.2 Tác động của sơn và hơi dung mÔI - =-=+ -

IV Tổng quan về phương pháp xử lý bụi - -.- - -. -=-esereeeee

4.1 Phương pháp xác định bụi trong không khí -

Trang 3

oe

k I Đặt vấn để

Trang 4

O nhiễm công nghiệp là một trong những vấn dé môi trường nổi cộm, bức

xúc của Việt Nam trong thời công nghiệp hoá Hàng loạt các khu chế xuất, khu

công nghiệp ra đời và cùng với đó là hàng trăm các nhà máy mới Việt Nam

còn có hàng nghìn các nhà máy của các ngành công nghiệp khác nhau được

xây dựng từ trước với trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kĩ vẫn đang tiếp

tục hoạt động và còn phải tổn tại trong thời gian dài nữa Nền công nghiệp tăng

trưởng với tốc độ cao nhưng cũng kéo theo nguồn tài nguyên thiên nhiên bị

khai thác nhanh chóng, lượng chất thải công nghiệp ngày càng tăng Bên cạnh

đó, tác động đến môi trường của các trang thiết bị, máy móc nhập khẩu vào

Việt Nam với những trình độ công nghệ khác nhau cũng là vấn để đáng được

quan tâm Nhiều năm qua, vấn để môi trường chưa được quan tâm đồng thời

với gia tăng sản xuất công nghiệp Điều này dẫn đến các ô nhiễm nghiêm

trọng cho môi trường không khí, đất, nước, ô nhiễm tiếng ổn, ô nhiễm môi

trường lao động công nghiệp, ảnh hưởng sức khoẻ của con người, nhất là ở các

đô thị lớn và khu công nghiệp và các vấn để toàn cầu như phá huỷ tầng 6zon

hay hiệu ứng nhà kính Hậu quả của ô nhiễm công nghiệp là vô cùng lớn, việc

xử lý rất tốn kém và phức tạp, lâu dài Điều này đã được minh chứng tại các

nước công nghiệp phát triển trong thời kỳ đầu và ở các nước công nghiệp đang

phát triển Đây là bài học quí đối với Việt Nam

Ngày nay, ô nhiễm không khí không còn là một cụm từ mới mẻ trong sách vở hay trong các phương tiện thông tin đại chúng Cụm từ này xuất hiện

ngày càng nhiễu- tương ứng với tốc độ công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân

Dù rằng tự làm sạch là khả năng tuyệt vời của thiên nhiên, nhưng nó cũng có

giới hạn của nó Và đến khi chúng ta nhận thức được vấn đề thì đã muộn, đã có

hàng chục ngàn người chết trên thế giới vì không khí ô nhiễm và số lượng chết

tăng cao lên nữa nếu môi trường không được quan tâm và bảo vệ

Một trong những nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm không khí là bụi Đặc biệt, ngày càng nguy hiểm đối với sức khoẻ của những người lao động trong

những ngành nghề phải thường xuyên tiếp xúc với bụi Chế biến gỗ là một

trong những ngành nghề như thế

Trang 5

Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu trang trí nội thất

càng tăng cao về sản lượng lẫn chất lượng, thẩm mỹ Vì thế, việc khếch trương

qui mô sản xuất, tăng năng suất lao động cũng đồng nghĩa với việc công nhân

phải đối mặt với hàm lượng chất ô nhiễm nhiều hơn, mà trong đó bụi gỗ là

A

một

Không nằm ngoài tình hình chung, Công ty chế biến gỗ gia dụng Pisano

đang ngày càng mở rộng thị trường, nâng cao năng suất, sản lượng Cụ thể với

việc Nhà máy đã đầu tư xây dựng thêm một xưởng sản xuất mới có qui mô lớn

hơn, lượng nhân công ngày càng tăng qua từng năm Vì thế, xử lý ô nhiễm

không khí tại các phân xưởng sản xuất này là một yêu cầu tất yếu nhằm bảo vệ

sức khoẻ con người, đồng thời tuân thủ các qui định pháp luật về bảo vệ môi

quí Thầy, Cô

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN

Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp đem lại nhiều lợi ích

cho đất nước, vấn để ô nhiễm môi trường do các nhà máy gây ra cũng cần được

quan tâm Nhiều dự án khu công nghiệp được hình thành với sự quan tâm đúng

mức về vấn để môi trường Bên cạnh đó, cũng còn có những nhà máy, xí

nghiệp đã được xây dựng từ rất lâu nên không nằm trong khu qui hoạch công

nghiệp, do đó ô nhiễm môi trường do sản xuất là không thể tránh khỏi Những

thiệt hại gây ra bởi nạn ô nhiễm như sự gia tăng các bệnh đường hô hấp, bệnh

tìm, bệnh đường ruột,.và sự tàn phá tài nguyên thiên nhiên, sự hư hại mùa

màng, sự di chuyển các chất ô nhiễm vào thực phẩm thường là ảnh hưởng qua

chuỗi thức ăn

Đề tài “Thiết kế hệ thống xử lý bụi- Công ty chế biến gỗ gia dụng

Pisano” cũng không nằm ngoài mục đích góp phần bảo vệ môi trường Một mặt

giúp em củng cố kiến thức đã được học, mặt khác thông qua các tính toán có

thể giải quyết một cách hợp lý các mâu thuẫn giữ nhu cầu phát triển kinh tế và

yêu cầu bảo vệ môi trường

Luận văn tốt nghiệp được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng các số liệu

đo đạc có sắn và tham khảo tài liệu để tính toán và thiết kế

Trang 7

ChUORG hhị x

TONG QUAN VE CONG TY CHẾ BIEN GO

GIA DUNG DISANO

PISANO

1.1 Sơ Lược Về Công Ty

Công ty chế biến gỗ Pisano (Tên tiếng Việt: Công ty TNHH Chế biến gỗ

PISANO) được cấp giấy phép hoạt động từ ngày: 04/08/2000, với vốn đầu tư là

250.000USD

Địa chỉ hoạt động của công ty: Khu 14, xã Long Đức, huyện Long Thành,

tỉnh Đồng Nai Điện thoại: 061.546.181 Công ty được xây dựng trên một lô đất

thuộc xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Đây là địa điểm rất

thuận lợi cho việc sẩn xuất và kinh doanh của công ty bởi các đặc điểm sau

đây:

- - Nằm cách quốc lộ 51 cách khoảng 5km về hướng Đông

- Công ty nằm độc lập với các hộ dân cư xung quanh có địa hình nông

thôn, trống thoáng

- _ Phía Đông giáp: đường đất đỏ liên xã

- _ Phía Bắc giáp: rừng cao su

- - Phía Tây giáp: rừng cao su

- _ Phía Nam giáp: khu đất trống

Tổng diện tích mặt bằng của công ty: 4790m’ , trong đó bao gồm:

- _ Còn lại là nhà xưởng phụ: văn phòng, nhà bảo vệ, nhà kho, nhà vệ sinh,

nhà để xe, nhà tập thể cho công nhân với kết cấu nền ximăng, tường gạch, kèo

sắt, mái tôn,

Mục tiêu đầu tư của công ty: sản xuất gia công các sản phẩm gỗ xuất khẩu

từ gỗ vườn tạp, gỗ rừng trồng (không sử dụng gỗ rừng tự nhiên)

1.2 Sản phẩm, sản lượng và thị trường tiêu thụ

Ngành nghề sản xuất, kinh doanh: chủ yếu sản xuất chế biến và kinh doanh

các sản phẩm gỗ gia dụng gồm bàn làm việc, bàn ăn, ghế ngồi, kệ, tủ, và các

sản phẩm gỗ gia dụng khác

Sản lượng của công ty:

- _ Ghế ngồi: 50.000 chiếc/năm

Trang 10

- _ Cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu:

+ Cấp điện: sử dụng điện lưới quốc gia

+ Cấp nước: bằng giếng khoan, có tháp nước

+ Thoát nước: theo địa hình khu vực

+ Thông tin liên lạc: vị trí thuận lợi trong việc lắp đặt hệ thống điện

thoại, fax theo yêu cầu

Việc đầu tư thành lập Công ty TNHH chế biến gỗ gia dụng Pisano nhằm

vào các mục đích sau:

đô gỗ gia dụng tại Việt Nam Sản phẩm của công ty sẽ góp phần giải quyết

nhu câu tiêu dùng hàng trang trí nội thất ngày càng lớn ở trong nước và đặc

biệt là việc xuất khẩu ra nước ngoài

nguồn nguyên liệu khá dồi dào trong cả nước Đây là loại hình hoạt động

sản xuất nằm trong danh mục được Nhà nước khuyến khích và ưu tiên kêu

gọi đầu tư

bộ công nhân kỹ thuật và hàng loạt lao động gián tiếp từ việc thu gom phế

liệu gỗ Đào tạo và huấn luyện đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân đạt đến

trình độ kỹ thuật chuyên môn cao, làm việc trong điểu kiện máy móc thiết

bị đạt mức độ cơ khí hoá và tự động hoá cao

khoảng thuế doanh thu, thuế lợi tức và các chi phí bảo hiểm xã hội khác

a) Gỗ

Gỗ cao su là một trong những nguồn nguyên liệu tốt dùng chế biến các mặt hàng gỗ gia dụng ở Đông Nam Á Ở Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh

Đồng Nai, Tây Ninh, Sông Bé, là nguồn cung cấp gỗ cao su thừa khá phong

phú Tỷ trọng đặc biệt của gỗ cao su rất nhỏ so với nhiều kiểu gỗ cứng khác

và sự biến đổi của tỷ trọng đặc biệt trong gỗ cao su thấp

Một thuận lợi khác của gỗ cao su trong sản xuất là màu sắc nhạt và sử

dụng tốt

Nguồn gốc phát sinh các loại gỗ thừa có thể được dẫn ra như sau:

Trang 11

Keo dán hiểu theo nghĩa thông thường là những chất có khả năng kết

dính được các vật liệu một cách tương đối bển chắc bằng tác dụng bể mặt

của mình

Hiện nay, có rất nhiều loại keo dán được sử dụng trong ngành công nghiệp: keo từ thiên nhiên (keo dán có nguồn gốc từ động vật hay thực vật),

keo dán tổng hợp (keo trên cơ sở polime nhiệt rắn, polime nhiệt dẻo, polime

nhiệt rắn và nhiệt dẻo, ), keo vô cơ (keo photphat, keo silicat, keo

sứ, ),v.v tuỳ theo mỗi công nghệ khác nhau mà người ta lựa chọn loại keo

cho phù hợp

Ở đây, Công ty chế biến gỗ gia dụng Pisano với công nghệ hiện đại và

nhằm hạn chế gây ô nhiễm môi trường nên công ty đã sử dụng loại keo dán

tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật sử dụng trong công nghệ Khác với loại

keo động vật, về bản chất hoá học hầu như chỉ là những chất protit, các loại

keo thực vật đa dạng và phong phú hơn Có chất thuộc loại polisacarit (tỉnh

bột, dextrin), có chất là poliphenol (sơn ta, dầu đào lộn hột), có chất là chất

béo (dẫu trùng hợp), có chất là hydro cacbon (cao su thiên nhiên) và cũng

gạo nếp), loại củ (khoai tây, khoai lang, sắn, dong, ) màu trắng, dạng bột,

có kích thước từ 80 micron (bột khoai tây) đến 5 micron (bột gạo) Trong

nước nóng (khoảng 60 đến 779C), các tiểu phân này bị trương nở, thành một

thứ hỗ đặc Nếu xử lý tỉnh bột bằng hơi nước nóng, sé thu được keo dị thể

bao gồm các tiểu phân bị trương nở Trộn cho đồng nhất sẽ hình thành một

dung dịch có tính tạo màng cao sau khi đông cứng

Về bản chất hoá học, hầu hết các tỉnh bột đểu có thành phần bao gồm 75% hidratcacbon phân nhánh là amilopectin (có khối lượng phân tử khoảng

13600) và 25% amiloza Chính amiloza có đại phân tử không phân nhánh đã

gây nên tính tạo gel của tinh bột Nếu tách riêng 2 thành phần này, ta thấy

Trang 12

màng amilopectin sấy khô tương đối giòn, trong khi đó màng amiloza mỏng

hơn và rất giống với màng xenluloza

Việc tách riêng 2 thành phần này- amiloza và amilopectin không phải là

điểu khó khăn, nhưng với những mục đích st dung tinh bột thông thường,

trong đó có mục đích làm keo dán, người ta không cần thiết phải tách riêng

chúng

Để cải tiến độ nhớt và khả năng kết dính của tỉnh bột người ta thường

phân huỷ hay biến tính chúng bằng men (chẳng hạn men maltaza), bằng

những axit vô cơ, bằng các tác nhân oxi hoá hay đơn giản hơn cả là bằng

cách đun nóng Những sản phẩm tinh bột xử lý trong công nghiệp có thể

chia thành 3 nhóm: tỉnh bột hoa tan, tinh bột oxi hod va dextrin

Sáp lỏng thường được dùng để làm giảm độ hút nước và những chỗ lồi

lõm hoặc khuyết tật của chỉ tiết sản phẩm Sáp lỏng thường được đưa vào

trong hỗn hợp keo

Sơn là hợp chất hoá học bao gồm nhựa hoặc dầu chưng luyện, có chất

màu hoặc không có chất màu Khi sơn lên bể mặt sản phẩm ta được lớp

màng mỏng bám trên bể mặt, có tác dụng cách ly với môi trường khí quyển

bảo vệ và làm đẹp sản phẩm

e Tinh chat

Sơn công nghiệp cũng giống như sơn ôtô, chịu mài mòn, chịu dầu, chịu

xăng, chịu khí hậu kém

Sơn công nghiệp dùng cho sản phẩm trong nhà thí dụ phích nước, dụng cụ

khoa học, máy móc, cửa, đổ chơi, dụng cụ điện, đồng hồ, dụng cụ kim loại

và đồ gỗ dùng trong nhà

Sơn công nghiệp là hỗn hợp nitroxelulo, nhựa tổng hợp, hoặc este tùnh

hương, dung môi và chất pha loãng,.v.v sau đó cho thêm hỗn hợp bột màu,

chất làm dẻo, khuấy, lọc, đóng thùng

e Qui cách

Trang 13

2) Độ bóng: (máy đo độ bóng) Màu phù hợp mâu

10)Chịu dâu (ngâm trong dâu công nghiệp | Mang khong thay doi

20 trong 24 giờ, nhiệt độ 25 + 1°C)

11)Độ bám chắc cấp <3

12)Chịu nhiệt (xác định độ dẻo sau khi sấy ở

nhiệt độ 80 + 20C thời gian 1 giờ) (cm) <3

(Nguôn: NXBGŒD “Kỹ thuật sơn” Nguyễn Văn Lộc)

e Phương pháp sử dụng

- _ Sơn công nghiệp có thể phun lên lớp sơn lót hoặc trên bề mặt mattit

Dùng hỗn hợp dung môi gốc nitrô pha loãng với tỷ lệ 80 ~ 120%, điểu chỉnh độ nhớt Nếu sơnbiến màu trắng, cho thêm 10 ~ 25% chất chống

ẩm sơn gốc nitrô

Trang 14

este tùng hương, nếu mài bóng thì màng sơn mất bóng

Dung môi là chất lỏng bay hơi, có tác dụng hoà tan màng Sau khi màng

đóng rắn toàn bộ dung môi bay hơi, không lưu lại trên màng

Dung môi thường dùng là các loại este, xê(Ôn, ete,

e Tinh chat

Hỗn hợp dung môi là chất pha loãng trong sơn, phân làm hai loai: loai I

và loại II, là chất lỏng không màu trong suốt, có mùi thơm, dễ bay hơi, dễ

cháy, có tính kích thích

Hỗn hợp dung môi dùng để điều chỉnh độ nhớt của sơn, tạo điều kiện

phun sơn dễ dàng Sơn loại tốt dùng hỗn hợp dung môi tốt Yêu cầu kỹ thuật

là: hoà tan mạnh, bay hơi đồng đều, cân bằng, khi làm loãng không có kết

tủa (nitrôxelulo) Khi phun màng sơn không biến trắng, mất bóng, đóng

CỤC,V.V

Hỗn hợp dung môi gồm nhiều loại dung môi bay hơi và chất pha loãng

tạo thành Thành phần chủ yếu của chúng là: các loại este axetôÔn, rượu,

chất có vòng thơm v.v qua khấy, lọc mà thành

Bảng 2: Chất lượng hỗn hợp dung môi của sơn nitroxelulo theo

tiêu chuẩn sau:

2) Bề ngoài và độ trong suốt Trong suốt, không có huyền phù 3) Lượng nước (pha với bezen với ti

hoặc sử dụng cách xa nguồn nhiệt, để phòng cháy

Quá trình bay hơi của dung môi trong sơn chia làm 4 giai đoạn:

- _ Khi bắt đâu phun sơn, dung môi bay hơi chiếm khoảng 25- 35%

Trang 15

dung môi cùng với lúc đầu chiếm khoảng 35- 75%

Tốc độ bay hơi của hai giai đoạn này có quan hệ mật thiết tính lưu động,

tính biến trắng của màng sơn, nếu làm giảm tốc độ bay hơi giai đoạn này thì

cải thiện được tính lưu động và tính biến trắng

- - Khi màng sơn có xu hướng ổn định nhưng chưa khô hoàn toàn, tổng

lượng bay hơi của dung môi chiếm khoảng 75- 90%

Nếu làm giảm tốc độ bay hơi ở giai đoạn này làm tăng khả năng chống

biến trắng và tăng độ bóng bề mặt

- - Khi màng sơn đã khô hoàn toàn sự bay hơi cuối cùng chiếm khoảng

10% Tốc độ bay hơi nhanh chậm của giai đoạn này có quan hệ rất lớn đến

độ cứng kết màng sơn

Kết luận: xét về mặt chống biến trắng, tính lưu động, độ cứng kết màng

sơn, tốc độ bay hơi của hỗn hợp dung môi ở phần 75% trước càng chậm

càng tốt, ở phân 25% sau tốc độ bay hơi càng nhanh càng tốt

Khi pha chế để dùng cân chú ý những điểm sau:

khác nhau, vì vậy công dụng cũng khác nhau

không nhựa tách ra, sơn kết tủa, màng sơn mất bóng gia công khó khăn

- Giữa chất pha loãng và dung môi, không có giới hạn phân biệt rõ,

một chất dung môi có thể làm chất pha loãng, trên thực tế, chất pha loãng là

hỗn hợp của mấy loại dung môi Phân biệt giữa chất làm loãng và dung môi

căn cứ vào năng lực hoà tan, tốc độ bay hơi ảnh hưởng tới việc tạo

màng,.v v để nghiên cứu

xấu đến sức khoẻ công nhân Tải lượng sơn phát tán vào môi trường không

khí gây ô nhiễm chiếm khoảng 0,5% lượng sơn sử dụng Ngoài ra, hơi dung

môi phát sinh trong quá trình phết keo, tải lượng hơi dung môi phát sinh

được tính bằng 0,5% lượng sử dụng

- - Nhưng quá trình gây ô nhiễm này công ty đã tổ chức đưa ra biện pháp

xử lý rồi nên ta không để cập nhiều ở đây

- - Ngoài ra, trong phân xưởng còn phát sinh tiếng ổn, ô nhiễm do nhiệt, nguy cơ gây cháy nổ, nước thải và chất thải rắn

- Đối với các nguồn gây ô nhiễm trên, ta nhận thấy cần phải đưa ra biện pháp giảm thiểu nhanh chóng là các nguồn gây ô nhiễm về bụi và khói

thải Vì các nguồn.này, công ty chưa có kế hoạch đưa ra biện pháp cụ thể

Trang 16

f Các phụ gia khác

Các phụ gia khác có thể cho thêm vào trong quá trình chế biến gỗ là các

chất bảo quản nhằm chống lại sự mục nát và sự tấn công của mối cũng như

làm chậm sự bắt lửa Nhu cầu nguyên liệu thô và các phụ gia, hoá chất sử

dụng trong quá trình sản xuất như sau:

Bảng 3 Nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu hàng năm

STT Nguyên vật liệu Đơn vị tính | Số lượng

- - Toàn bộ vật liệu phụ được mua tại Việt Nam

1.3.3 Nguồn nhiên liệu (năng lượng)

a) Nhu cầu về điện

Điện được sử dụng ở toàn bộ dây chuyền sản xuất và các mục đích sinh hoạt của công nhân, cũng như các mục đích khác

Công ty sử dụng nguồn điện chính là nguồn điện lưới Quốc gia từ nhà máy

điện Trị An (400 MVA) đã được hạ thế xuống cho công ty (650 KVA) Công

suất tiêu thụ điện của công ty là 1.300.000 KWh/năm

b) Nhu cầu về nước Nước dùng cho sản xuất chủ yếu phục vụ cho khâu ngâm, tẩm Lượng nước tẩm xả hằng ngày là 1 mỉ

Theo thực tế sản xuất ở xưởng, lượng nước đòi hỏi cho sản xuất rất nhỏ,

lượng nước sử dụng chủ yếu trong xưởng là nước sinh hoạt của công nhân,

nhân viên làm việc

Với nhu cầu sử dụng nước 45 lit/người.ngày, có thể ước tính được lượng nước tiêu thụ hàng ngày cho sinh hoạt của công nhân là:

90 người x 45 lít/người.ngày = 4050 lí/ngày

= 4,05 m”/ngày

c) Phong chéng cháy nổ

Qui trình công nghệ sản xuất gỗ it phát sinh các yếu tố gây cháy nổ, tuy

nhiên, phòng chống cháy nổ luôn là nhiệm vụ được doanh nghiệp quan tâm

Doanh nghiệp sẽ dành kinh phí hợp lý để thiết kế, xây dựng và lắp đặt đây

Trang 17

un ‘

đủ các thiết bị phòng cháy chữa cháy đảm bảo yêu cầu kỹ thuật theo sự

hướng dẫn của Công an PCCC tỉnh Đồng Nai, đồng thời, thường xuyên

tuyên truyền giáo dục công nhân hiểu và nâng cao ý thức PCCC, chấp hành

tốt yêu cầu của cơ quan chức năng về an toàn cháy nổ

d) Nhién liéu khac

Trong công đoạn sấy gỗ, công ty sử dụng lò sấy công suất 20 mỶ, nhiên

liệu dùng để đốt là củi từ bán thành phẩm hay các gỗ vụn, mạt cưa phát sinh

trong quá trình sản xuất

1.3.4 Nguồn nhân lực

Công ty giải quyết được việc làm cho hơn 90 công nhân Việt Nam

Trang 18

Căn cứ vào chủng loại nguyên liệu, công nghệ sản xuất sản phẩm được

thực hiện theo sơ đồ sau:

NGUYÊN LIỆU GỖ TẠP VƯỜN

NGUYÊN LIEU GO XE PHOI

ÉP ĐỊNH HÌNH

TUBI

Trang 19

Đặc điểm chính của qui trình công nghệ trên là:

- _ Không sử dụng dàn cưa CD để xẻ gỗ nguyên liệu

mua của các doanh nghiệp chế biến gỗ đang hoạt động hợp pháp tại Việt

Nam

- Các công đoạn bóc tấm, dán keo, ép định hình, sử dụng máy móc

thiết bị với lao động thủ công

Quá trình gia công chế biến gỗ được tóm tắt như sau: gỗ các loại (gỗ

nhập, gỗ vườn, gỗ cao su thanh lý đã được xẻ thành tấm) được mua trong

nước hoặc nhập khẩu vận chuyển về tập kết tại kho nguyên liệu Từ đây, gỗ

được chuyển đến các dàn máy cưa mâm cắt thành phôi theo yêu cầu Sau

đó, các phôi gỗ sẽ được chuyển vào các hố ngâm tẩm có phụ gia Borat để

chống mối mọt Qua thời gian ngâm tẩm khoảng một tuần, các phôi gỗ sẽ

được đưa qua hệ thống lò sấy bằng điện trở để đạt độ ẩm dưới 12% Cuối

cùng được vận chuyển đến xưởng tinh chế sản phẩm mộc gồm các công

đoạn: cắt, mài, lọng, bào, thẩm, đục, chà nhám, lắp ghép thành các chỉ tiết

bán thành phẩm hoặc sản phẩm (sau đó có thể sơn tuỳ theo sản phẩm) theo

yêu cầu của khách hàng

2.3 Các thiết bị chủ yếu 2.3.1 Máy móc thiết bị chính

thuộc thế hệ mới Số lượng các loại máy móc, thiết bị rất phong phú, đa

dạng về số lượng và chủng loại

Trang 20

ĐỀN

Bảng 4: Danh mục các thiết bị

(Nguôn: Báo cáo ĐTM của xưởng chế biến gỗ gia dụng Cty Pisano) 2.3.2 Máy móc thiết bị phụ

Bao gồm các loại xe hơi, xe ca và xe tải phục vụ cho việc đi lại, vận

chuyển hàng hoá

2.3.3 Máy móc dịch vụ văn phòng Bao gồm các loại máy vi tính, máy in, may photocopy, telephone, fax, phuc vụ cho công tác quản lý và các công việc văn phòng

Trang 21

Các phân tử chất rắn thể rời rạc (vụn) có thể được tạo ra trong quá trình

nghiền, ngưng kết và các phan ứng hoá học khác nhau Dưới tác dụng của

các dòng khí hoặc không khí, chúng chuyển thành trạng thái lơ lửng và

trong những điểu kiện nhất định chúng tạo thành dạng vật chất mà người ta

goi 1a bui

Bui la một hệ thống gồm 2 pha: pha khí và pha rắn rời rạc

Pha rắn rời rạc là các hạt có kích thước nằm trong khoảng từ kích thước

nguyên tử đến kích thước nhìn thấy được bằng mắt thường, có khả năng tổn

tại ở dạng lơ lửng trong thời gian dài ngắn khác nhau

Sol khí (aerozon) cũng là hệ thống vật chất rời rạc gồm từ các hạt thể

rắn và thể lỏng ở dạng lơ lửng trong thời gian dài không hạn định Tốc độ

lắng chìm của các hạt aerozon rất bé Những hạt bé nhất của aerozon có

kích thước gần bằng kích thước của các nguyên tử lớn, còn những hạt lớn

nhất có kích thước khoảng 0,2- 1 um

3.1.2 Phân loại

Về kích thước, bụi được phân chia thành các loại sau:

e Bui thô, cat bui (grit): gdm các hạt bụi từ chất rắn có kích thước hạt

6>75 um

e Bui (dust): hat chat ran c6 kich thuéc nhỏ hơn bụi thô (5-75 um) dude hinh thanh tir c4c qué trinh co khi nhu nghién, tan, dap

e_ Khói (smoke): gồm các hạt vật chất có thể là rắn hoặc lỏng được tạo

ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hoặc quá trình ngưng tụ có kích thước

hat S=1- 5 um hat bui cd nay có tính khuyếch tán rất ổn định trong khí

quyển

e Khói mịn (fume): gồm những hạt chất rắn rất mịn, kích thước hạt ồ<

1pm

một nông độ đủ để làm giảm tâm nhìn thì đước gọi là sương gid (fog)

3.2 Các nguồn gây ô nhiễm

Trong quá trình sản xuất nguồn gây ra ô nhiễm chủ yếu của công ty là khí

thải, bụi, tiếng ồn, chất thải rắn, nước thải sinh hoạt,

3.2.1 Bụi thải

Đây là tác nhân ô nhiễm quan trọng nhất trong xưởng chế biến gỗ của

Cty Pisano, vì hiện tại nồng độ bụi quá cao so với tiêu chuẩn cho phép

Trang 22

Công nghiệp chế biến gỗ nói chung là một trong những ngành công

nghiệp phát sinh nhiều bụi Đối với loại công nghiệp này, dây chuyển công

nghệ là loại dây chuyền công nghệ hở (tức là dây chuyền công nghệ mà ở

đó không có trang bị các thiết bị thu hổi và tái sử dụng chất thải), bụi phát

sinh chủ yếu từ các công đoạn và quá trình sau:

- _ Cắt, cưa xẻ gỗ để tạo phôi cho các chỉ tiết mộc

Rọc, xẻ gỗ

Khoan, phay, bào

- _ Chà nhám, bào nhẵn bể mặt các chỉ tiết

Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể về kích thước hạt bụi và tải lượng bụi

sinh ra ở những công đoạn khác nhau Tại các công đoạn gia công thô như:

cưa, bào, cắt, tiện, phay, phần lớn chất thải đều có kích thước lớn, có khi lới

hàng ngàn um Hệ số phát thải bụi ở các công đoạn trong công nghệ sản

xuất gỗ được thể hiện trong bảng 5 sau:

Nguyên liệu gỗ sử dụng là 600 mỶ/năm (gỗ cao su), với tỷ trọng gỗ

khoảng 0,7- 0,8 tấn/mỶ, chọn tỷ trọng gỗ là 0,8 tấn/mỶ Vậy, số tấn gỗ tiêu

thụ trong năm sẽ là:

600m”năm x 0,8tấnm” = 480tấn/năm

Sản lượng thành phẩm khoảng 500 m”/năm = 400 tấn/năm Tại các công

đoạn gia công tinh như chà nhám, đánh bóng, tải lượng bụi không lớn nhưng

kích cỡ bụi rất nhỏ, thường nằm trong khoảng từ 2- 20 um nên dễ phát tán

trong không khí Ngoài ra, tại các công đoạn khác như vận chuyển gỗ, lắp

ghép, đều có phát sinh bụi Tuy nhiên, mức độ không đáng kể

Thành phần và tính chất của bụi ở đây chủ yếu là bụi cơ học Đó là một hỗn hợp các hạt xellulose với kích thước thay đổi trong một phạm vi rất

rộng Các loại bụi này, nhất thiết phải có thiết bị thu hồi và xử lý triệt để

Nếu không, sẽ gây ra một số tác động nhất định đến môi trường và sức khoẻ

của con người mà luận văn sẽ để cập đến trong phần tiếp theo

Trang 23

3.2.2 Khói thải

Ở tại các công đoạn sấy gỗ, nhiên liệu được sử dụng là các chất thải rắn

của quá trình sản xuất như gỗ vụn, mạt cưa, dăm bào Khi đốt cháy các loại

nguyên liệu này sinh ra khói thải chứa các chất ô nhiễm không khí như bụi

tro, khí CO, NO,, Hydrocácbon trong đó chủ yếu là bụi tro với hệ số ô

nhiễm là 15g/1kg nhiện liệu và NO; với hệ số ô nhiễm là 5g/lkg nhiên liệu

sử dụng

3.2.3 Nguồn ô nhiễm tại khâu phun sơn

Các chất gây ô nhiễm tại khu vực sơn bóng gồm có bụi sơn và hơi dung

môi hữu cơ Đó là các chất lỏng và hơi dung môi có kích thước từ 20- 500

um

Trong dây chuyển công nghệ tại khu vực phun sơn này có hệ thống quạt

hút thông gió và ống thải ra ngoài

3.2.4 Nguồn gây ô nhiễm do tiếng ồn Sau ô nhiễm không khí, ô nhiễm do tiếng ồn là loại ô nhiễm đáng chú ý

ở nhà máy chế biến gỗ Đặc điểm chung của hầu hết các máy móc công

nghệ của ngành này là có mức ổn cao, những máy móc gây ồn chính như:

Nhiệt độ không khí cao trong hầu hết các phân xưởng sản xuất cũng

đáng quan tâm Nhà xưởng trong công ty thường có nhiệt độ cao là do tập

trung nhiều máy móc hoặc có nhu cầu tiêu thụ điện lớn (như các máy móc

công nghệ), đặc biệt của nguồn nhiệt từ lò sấy Ngoài ra, diện tích mái của

nhà xưởng lớn cũng góp phần làm tăng nhiệt độ không khí do thu nhiệt từ

bức xạ mặt trời

3.2.6 Chất thải rắn

Chất thải rắn của công ty bao gồm:

Trong quá trình sản xuất chất thải rắn phát sinh từ công đoạn định hình (như cưa, mài, khoan, bào, chà nhám, ) Chất thải rắn bao gồm các mảnh gỗ

vụn và mọt cưa, dăm bào Khối lượng chất thải rắn lớn, thường vào khoảng

30- 300 kg/tấn gỗ nguyên liệu Các chất thải rắn này có thể gây ô nhiễm

môi trường đất, nước và không khí nếu không có biện pháp quản lý và xử lý

thích hợp

Trang 24

Rác thải sinh hoạt bao gồm các loại thức ăn thừa, các loại vỏ hộp, bao bì,

kim loại, giấy, bao PE, trong đó chủ yếu là các chất hữu cơ dễ lên men từ

thức ăn thừa của công nhân

3.2.7 Ô nhiễm nguôn nước

s* Nước thải sản xuất

Nước thải sinh ra trong quá trình sản xuất của công ty bao gồm:

Nước ngâm tẩm gỗ trong quá trình phòng chống mối mọt Hoá chất được

sử dụng trong ngâm tẩm 1a Borat (Na2B,O7) làm sạch chất nhựa lignin có

trong nguyên liệu với hàm lượng pha chế là 1kg cho 5mŸ nước Như vậy, với

thể tích bể là 5mŸ thì dung tích nước là 2m thì lượng Borat dùng cho pha

chế là 0,4 kg, thời gian ngâm gỗ ở hồ là 7 ngày Sau đó, được xả bỏ hoặc

châm thêm nước để sử dụng lại Borat là một chất bột khi tan vào trong

nước sẽ tạo ra môi trường kiểm có độ pH cao theo phản ứng thuỷ phân sau:

B„Os(OH)„7 + 5 H;O = 4 H;BO¿ + 2 OH ˆ

H;BO¿ có tác dụng làm tan chất nhựa Lignin có trong nguyên liệu gỗ nên nước thải tại các hổ ngâm tẩm thải ra có hàm lượng COD cao và độ màu

cao, khoảng từ 1500- 1700 mg/I (vượt tiêu chuẩn cho phép 15- 17 lần) Nếu

công ty có hai hồ ngâm, mỗi hồ có dung tích là 5m” nếu hoạt động hết công

suất thì mỗi tuần công ty thải nguồn nước này ra môi trường bên ngoài từ 3-

4mÖ/tuần và mang tính chất định kỳ không liên tục Việc xả thải nguồn nước

này chưa qua công đoạn xử lý về lâu dài sẽ gây ảnh hưởng đến nguồn nước

mặt và nguồn nước ngầm trong khu vực

s% Nước sinh hoạt Nước thải sinh hoạt chủ yếu từ sinh hoạt vệ sinh cá nhân và nhà vệ sinh

Đặc điểm và tính chất của nguồn nước thải này thường chứa nhiễu chất rắn

lơ lửng (SS), dầu mỡ, các hợp chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng (N, P), vi

khuẩn, cũng như vi trùng gây bệnh Nếu trực tiếp thải ra môi trường không

qua công đoạn xử lý, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nguồn

nước ngầm trong khu vực

s* Nước mưa chảy tràn Bản thân nước mưa không gây ô nhiễm môi trường nhưng khi chảy tràn

qua khu vực mặt bằng của công ty sẽ cuốn đất, cát, mạt gỗ và các chất cặn

bã khác Do vậy, vào mùa mưa nếu không có tiêu thoát tốt sẽ gây ra tình

trạng ứ đọng gây ô nhiễm trong khuôn viên công ty

Trang 25

dung môi từ khâu phun sơn, khói thải từ lò sấy và tiếng ổn, còn các ô nhiễm

khác thì không đáng kể, cho nên ảnh hưởng của công ty đến khu vực xung

quanh là không đáng kể

Công ty đã tiến hành đo đạt và phân tích kết quả (theo phương pháp lấy

mẫu và phân tích không khí theo TCVN)

Trước tiên, bụi là một trong những tác nhân gây ô nhiễm không khí, góp

phần làm tăng tải lượng ô nhiễm chung cho toàn vùng, ảnh hưởng xấu đến

chất lượng môi trường không khí của khu vực xưởng nói riêng và vùng lần

cận trong toàn khu vực nói chung

Đối với sức khoẻ con người, công nhân qua một thời gian tiếp xúc lâu

dài với bụi phát sinh trong các công đoạn sản xuất của xưởng (chủ yếu là

bụi gỗ và mùn cưa) có thể bị nhiễm bệnh phổi Bệnh này tiến triển nhanh

gây khó thở rõ rệt, suy phổi điển hình, tràn khí phế mạc và hay tái phát

Đối với động vật, bụi sẽ gây tác hại hoặc trực tiếp qua đường hô hấp hoặc gián tiếp qua đường nước uống,

Đối với thực vật, bụi bám trên bể mặt lá làm giảm khả năng hô hấp và

quang hợp của cây

3.3.2 Tác động của sơn và hơi dung môi

-.Sơn đính vào da tay lâu ngày dẫn đến gây ung thư da

- Sơn và dung môi dễ gây cháy nổ trong môi trường có nhiệt độ cao

- - Ngoài ra, công nhân còn bị choáng váng, nhức đầu, chóng mặt, tức

thở do tiếp xúc với hơi dung môi và sơn v V

Trang 26

Qúa trình lấy mẫu bụi từ ống dẫn khí mang bụi báo gồm các thao tác sau:

- - Thu giữ lượng bui' có 6 trong thể tích khí lấy được bằng một thiết bị lọc

- _ Lấy bụi đã lắng đọng trong thiết bị lọc bụi của dụng cụ lấy mẫu;

Khi lấy mẫu bụi trên đường ống dẫn phải tuân thủ những yêu cầu sau đây: + Đầu ống lấy mẫu phải đặt song song với chiều chuyển động của dòng khí sao cho miệng ống lấy mẫu trực diện với dòng chảy Độ lệch không quá

+ Vận tốc hút ở miệng ống lấy mẫu phải bằng vận tốc dòng khí trong

đường ống, chỉ cho phép độ sai lệch là: đại lượng thứ nhất lớn hơn đại lượng

thứ hai không quá 10%

+ Mẫu bụi thu được phải đại diện cho toàn cục, tức là độ phân cấp cỡ hạt

cũng như nồng độ phải đúng bằng độ phân cấp trung bình và nồng độ trung

bình trên đường ống

Ngoài ra, còn phải đảm bảo thêm hai yêu cầu bổ sung sau đây:

+ Khối lượng bụi thu giữ được phải đủ để phân tích các tính chất cần nghiên cứu Khi cần nghiên cứu đây đủ toàn bộ các thông số của bụi thì

lượng bụi cần thu phải là 800g

+ Bộ phận lọc trong thiết bị lấy mẫu phải đảm bảo giữ' được toàn bộ lượng bụi có mặt trong dòng khí đi qua với sai số không quá 3%

Bụi tổng cộng được thu trên giấý lọc PVC hoặc giấy có- cốt thuỷ tỉnh Giấy được cân trước và sau khi lấý mẫu trong cùng một điều kiện

Hàm lượng bụi trong không khí được xác định trên cơ sở chênh lệch trọng lượng

Khi hàm lượng bụi trong không khí từ 0,5 — 50mg/m” thì thể tích mẫu khí cần thiết phải lấy là 200- 400 lít

Các loại giấy được sử dụng để lấy mẫu bụi:

e Millipore Cat No 000037 Ao hoac tudng duong

e_ Giấy lọc PVC 37mm, kích thước lỗ 5m

e Gidt xenlulo 37mm, Millipore

Nồng độ bụi được xác định theo công thức sau:

Mg bụi trong mẫu

Mg/mÌ bụi tổng cộng =

Thể tích mẫu không khí (m”)

Trang 27

4.2 Các phương pháp xử lý bụi

Để xử lý các aerozon (bụi, khói, sương), người ta sử dụng phương pháp

khô, ướt và tĩnh điện

Trong phương pháp khô, bụi được lắng bởi trọng lực, lực quán tính, lực li

tâm hoặc được lọc qua vách ngăn xốp

Trong phương pháp ướt, sự tiếp xúc giữa khí, bụi và nước được thực hiện

Nhờ đó, bụi được lắng trên các giọt lỏng, trên bề mặt bọt khí hay trên các

màng chất lỏng

Trong phương pháp tĩnh điện, các aerozon được tích điện và gắn trên

điện cực

4.2.1 Phương pháp lọc khô 4.2.1.1 Thiết bị thu hồi bụi khô

Thiết bị thu hồi bụi khô hoạt động dựa trên các cơ chế lắng khác nhau:

trọng lực (các buồng lắng bụi), quán tính (lắng bụi nhờ thay đổi hướng

chuyển động của dòng khí hoặc nhờ vách ngăn) và li tâm (các xyclon đơn,

nhóm và tổ hợp, các thiết bị thu hồi bụi xoáy và động)

a Thiết bị lọc bụi lỉ tâm kiểu đứng (xyclon)

- - Cấu tạo: Thiết bị lọc li tâm kiểu đứng thường được gọi là xyclon, có

cấu tạo rất đa dạng Nhưng nguyên lý cấu tạo cơ bản bao gồm các phần chủ

yếu: ống tăm, vỏ trụ thực hiện lắng, đáy nón thu cặn, cửa vào tiết diện chữ

nhật, cửa tháo cặn có van gid

- - Phạm vi sử dụng: thu gom bụi dựa vào sự phân ly quán tính

- Nguyên lý: Hệ bụi theo ống dẫn vào cửa xyclon theo phương tiếp

tuyến với vận tốc từ 20 - 25 m/s Dong hỗn hợp quay tròn trong rãnh giữa

ống tâm và vỏ trụ Dưới tác dụng của lực li tâm, các hạt rắn văng ra thành

và lắng xuống đáy Còn pha liên tục (khí sạch) theo ống tăm ra ngoài Cặn

lắng rơi xuống đáy nhờ van gió đưa ra ngoài Ngoài nhiệm vụ đưa cặn lắng

ra, van gió còn không cho khí đi vào xyclon

- - Ủu điểm: Thiết bị thu bụi bằng dòng không khí xoáy xyclon đã được

sử dụng rộng rãi, và lý thuyết về dòng khí xoáy là cơ sở thiết kế các thiết bị

thu gom bụi quán tính

Ngoài ra, thiết bị xyclon vừa có cấu trúc đơn giản, giá thành rẻ, không có

các chỉ tiết truyền động phức tạp, vận hành dễ dàng, có thể sử dụng bất kỳ

vật liệu nào thích hợp Vật liệu chế tạo xyclon không bị bó hẹp nên xyclon

có thể dùng trong những điều kiện đặc biệt như chống ăn mòn, mài mòn mà

các thiết bị dạng khác không thể khắc phục được Ngoài ra, xyclon có thể

vận hành bình thường ở nhiệt độ lên đến 500C, thu hồi dễ dàng các hạt bụi

có tính mài mòn Xyclon có thể làm việc ở áp suất lớn, trị số tổn thất áp lực

ổn định, hiệu quả không giảm cho dòng khí có nồng độ bụi cao

Trang 28

những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn Sum

Hiệu suất của xyclon phụ thuộc vào tốc độ dòng không khí, tốn thấp áp

lực, đường kính xyclon Theo lý thuyết, hiệu suất tỉ lệ thuận với tốc độ dòng

khí, tỷ lệ thuận với tổn thất áp lực và tỷ lệ nghịch với đường kính xyclon

b Buông lắng bụi

- - Định nghĩa: Những hạt bụi cỡ lớn lắng động dưới tác dụng của trọng

lực trên đường ống, để hiệu quả của quá trình lắng được cao hơn, người ta

phải chế tạo ra 1 thiết bị riêng biệt dành cho việc lắng bụi, gọi là buồng

lắng bụi

- Pham vi si dụng: Buỗng lắng bụi được áp dụng để lắng bụi thô có

kích thước hạt từ 60 — 70 um trở lên Tuy vậy, các hạt bụi có kích thước nhỏ

hơn vẫn có thể bị giữ lại trong buồng lắng

- - Cấu tạo của buồng lắng rất đơn giản Đó là I không gian hình hộp có

tiết dạng ngang lớn hơn nhiều lần so với tiết diện đường ống dẫn khí vào để

cho vận tốc dòng khí giảm xuống rất nhỏ, nhờ thế hạt bụi đủ thời gian để rơi

xuống chạm đáy dưới tác dụng của trọng lực và bị giữ lại ở đó mà không bị

đòng khí mang theo

nguyên lý rơi tự do của hạt trong chế độ chuyển động chảy tầng của dòng

không khí là có nhiễu hạn chế do kích thước buồng lắng lớn và lưu lượng

không khí cân lọc không được nhiễu Để khắc phục nhược điểm nói trên,

Giáo sư V.V Baturin đã để xuất loại buồng lắng có tấm chắn thành nhiều

ngăn Dòng không khí chuyển động ở buồng lắng này theo đường dích dắc

từ ngăn này sang ngăn khác, do đó hạt bụi không những rơi dưới tác dụng

của sức hút trọng trường mà còn bị va đập vào các tấm chắn do lực quán

tính gây ra, nhờ đó kích thước của buồng lắng có thể giảm nhỏ và hiệu quả

lọc tăng cao

c Thiết bị lọc quán tính

các hạt bụi dưới tác dụng của lực quán tính tiếp tục chuyển động theo hướng

cũ và tách ra khỏi khí, rơi vào bình chứa Đó là nguyên lý hoạt động của

thiết bị lọc quán tính

- - Cấu tạo: Loại thiết bị lọc kiểu quán tính là loại ”lá sách hình chóp cụt” do Viện thiết kế công nghiệp Lêningrat ( Liên Xô cũ) chế tạo Bộ phận

tách bụi được cấu tạo từ một lượng lớn các vành hình côn có đường kính thu

nhỏ dần sau cho vành hình côn này bao trùm một phần hình côn đứng trước

và tạ ra khe hở 4 —- 5mm để dòng khí sạch lọc qua Còn bụi thì bị phản xạ

Trang 29

4.2.1.2 Thiét bi loc bui

Khi cho khí chứa bụi qua vách ngăn xốp, các hạt rắn được giữ lại còn khí

đi xuyên qua nó hoàn toàn Đó là nguyên lý của thiết bị lọc bụi

Trong quá trình lọc bụi, các hạt bụi khô tích tụ trong các lỗ xốp hoặc tạo

thành lớp bụi trên bể mặt vách ngăn và do đó chúng trở thành môi trường

lọc đối với các hạt bụi đến sau

Trong quá trình làm sạch khí, các hạt bụi tiến gần đến các sợi hoặc bể

mặt vật liệu Hạt va chạm với chúng và lắng xuống do tác dụng của lực

thẩm thấu, quán tính và hút tĩnh điện

a) Thiết bị lọc túi vải (thiết bị lọc ống tay áo)

Thiết bị dạng này phổ biến nhất Đa số thiết bị lọc vải có vật liệu lọc

dạng tay áo hình trụ, được giữ chặt trên lưới ống và được trang bi co cau gill

bụi, còn gọi là thiết bị lọc tay áo

Đường kính tay áo có thể khác nhau, phổ biến nhất là 120 - 300mm và

chiéu dài 2200 — 3200mm Tỉ lệ chiều dài và đường kính tay áo thường vào

khoảng 16 — 20

- - Nguyên lý: Khí cần lọc được đưa vào phễu chứa bụi rồi theo các ống

túi vải đi từ trong ra ngoài hoặc từ ngoài vào trong để đi vào ống góp khí

sạch và thoát ra ngoài Khi bụi đã bám nhiều trên mặt trong hoặc mặt ngoài

ống tay áo làm cho sức cẩn của chúng tăng cao ảnh hưởng đến năng suất

lọc, người ta tiến hành hoàn nguyên bằng cách rung để giữ bụi, kết hợp với

thổi khí ngược từ ngoài vào trong ống tay áo hoặc phụt không khí nén kiểu

xung lực để không khí đi từ trong ra ngoài ống tay áo

- - Ủu điểm: Hiệu suất lọc thường rất cao và chỉ phụ thuộc vàoloại vật

liệu lọc Trong trường hợp tối ưu, hiệu suất có thể lên đến 99% Ngoài ra,

tổn thất áp lực trong thiết bị lọc túi vải cũng thấp hơn nhiều so với các

phương pháp khác Thêm vào đó, vật liệu lọc túi vải chịu được nhiệt độ cao,

thông thường chúng làm việc tốt ở nhiệt độ cao hơn 100C, vải tổng hợp có

thé lam viéc & 180°C, vật liệu lọc bằng sợi thuỷ tỉnh có thể chịu được 250C

- - Khuyết điểm: Tuy vậy, phương pháp lọc túi vải cũng còn có những

khuyết điểm không thể tránh khỏi Hiệu suất và tổn thất áp lực của thiết bị

lọc túi vải không ổn định, chúng thay đổi có chu kỳ theo thời gian lọc Ngoài

ra, chi phí vận hành thiết bị lọc túi vải cao hơn các loại thiết bị khác, việc

tái sinh vải lọc bắt buộc phải thay đổi thường xuyên hằng ngày, thậm chí

Trang 30

Phương pháp lọc ướt (hay còn gọi là phương pháp thu bụi ẩm) là phương

pháp xử lý bụi dùng chất lỏng (thường là nước) làm chất kết dính bụi Sự kết

dính xảy ra nhờ sự va chạm quán tính giữa phần tử nước và các hạt bụi,

chuyển động nhiệt, chuyển động Brown Nước đóng vai trò tạo nên một

mặt tiếp xúc cho các quá trình trên xảy ra

Quá trình thu bụi ẩm thường đi kèm với quá trình hấp thụ và quá trình

làm nguội khí Do thiết bị thu bụi ẩm, vừa có chức năng hấp thụ khí độc hại

có trong khí thải, lại vừa đảm nhiệm thêm chức năng của thiết bị trao đổi

nhiét

Hiệu suất của thiết bị lọc ướt phụ thuộc vào bề mặt tiếp xúc của pha khí

và pha lỏng cũng như lực va đập Diện tích tiếp xúc càng lớn thì hiệu suất

càng cao và ngược lại

b) Phân loại Thiết bị thu bụi ẩm được phân loại thành các nhóm chính sau đây phụ thuộc vào phương pháp hoạt động của chúng:

- - Tháp rửa khí rỗng

- - Tháp rửa có khí đệm

- Thiét bi va dap quán tính

- Thiét bi ly tam (cyclon ướt)

- Ong Ven tury

s* Tháp rửa khí rỗng Trong thiết bị tháp rửa khí rỗng, người ta cho dòng khí đi qua một màng

sương được tạop thành bằng cách phun chất lỏng Sự va đập diễn ra kéo

theo sự kết dính các hạt bụi vào hạt sương và lắng xuống Dòng không khí

sạch đi ra khỏi thiết bị

Trong tháp rửa khí rỗng, ta tận dụng tối đa diện tích tiếp xúc của pha lỏng

Do đó, nếu như tốc độ của pha khí quá lớn thì hiệu suất sẽ giảm

s* Tháp rửa khí có đệm tiếp xúc

Khác với tháp rửa khí rỗng, trong tháp rửa khí tiếp xúc người ta đặt thêm những vật liệu đệm gọi là ô đệm để tăng diện tích tiếp xúc O đệm có thể

có nhiều hình dáng như khối trụ, vành khuyên, bán khuyên, yên ngựa Vật

liệu chế tạo có thể bằng sứ, nhựa, gỗ, tùy thuộc vào tính chất của dung

dịch

Trang 31

Khí thải đi từ dưới lên tiếp xúc với pha lỏng đi từ trên xuống hình thành

những bọt khí Do tác dụng của lực căng bể mặt, các bọt khí này càng lên

cao, càng có khuynh hướng kết hợp với nhau thành bọt khí lớn hơn sẽ bị các

ô đệm khống chế, diện tích tiếp xúc lại tăng lên

Ngược lại, với thiết bị rửa khí rỗng, trong thiết bị tiếp xúc người ta tận

dụng tối đa diện tích tiếp xúc của pha khí Nước luôn luôn được đưa vào

thiết bị vừa đủ để tạo hiệu suất tốt nhất

s* Thiết bị sải bọt

Thiết bị sủi bọt là một thiết bị lọc ẩm trong đó hai pha khí và lỏng tiếp

xúc nhau thông qua các bong bóng khí Các bong bóng này được tạo thành

nhờ một đĩa tạo bọt hay đĩa sụt Đĩa tạo bọt là một đĩa được đục lỗ, khí từ

dưới đi lên sẽ gặp một màng nước chắn ngang miệng lỗ tạo nên các bọt khí

Thiết bị sủi bọt có thể làm việc ở 3 chế độ của khí: chế độ sủi bọt, chế độ

bọt và chế độ sóng Chế độ sủi bọt là chế độ mà các bọt khí với tốc độ

không lớn lắm sủi qua lớp chất lỏng trên đĩa Chế độ bột là chế độ mà dòng

khí có tốc độ cao hơn làm cho các bong bóng trên đĩa chuyển sang trạng thái

bọt rối Chế độ sóng là chế độ mà các luồng khí chỉ tạo nên sự dao động

trên đĩa Tốc độ thắng của dòng khí lúc này thích hợp để tạo thành chế độ

Lọc tĩnh điện là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay dược áp dụng rộng

rãi Phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi bật so với các phương pháp

khác, đặc biệt là thiết bị lọc tĩnh điện có hiệu quả cao, cũng như có thể tự

động hóa khâu vận hành

- Cơ chế: thiết bị lọc tĩnh điện làm việc dưới tác dụng của lực điện

trường Trong thiết bị lọc tĩnh điện, một điện trường mạnh được tại ra nhờ

hai điện cực của dòng điện một chiều cường độ lớn Điện cực âm gọi là điện

cực phát quang, điện cực dương gọi là điện cực thu bụi Trong điện trường

giữa hai điện cực, sự Ion hoá diễn ra mãnh liệt Các ion dương được tạo ra

tại điện cực âm do hiện tượng phóng điện, chúng tạo ra quầng sáng bao

quanh điện cực này Các ion âm, dưới tác dụng của lực điện trường, dịch

chuyển ra xa điện cực âm, đi về điện cực dương, là điện cực thu bụi Do đặc

tính của hạt bụi, các ion âm sẽ bám dính trên các hạt bụi và mang chúng

theo trong quá trình di chuyển về điện cực thu bụi

- _ Ưu điểm: thiết bị lọc tĩnh điện có rất nhiều ưu điểm Các ưu điểm nổi

bật của thiết bị lọc tĩnh điện là:

Trang 32

+ Hiệu suất thu bụi cao (có thể đạt 99%), tiêu tốn năng lượng ít

+ Có thể thu được bụi có kích thước nhỏ với nồng độ lớn Trong một vài

thiết bị, ta có thể thu được bụi có kích thước nhỏ đến 0,1m, với lưu lượng

lên đến 50.000.000 mg/mỶ

+ Có thể tự động hoá hoàn toàn khâu vận hành

+ Chịu được nhiệt độ cao, lên đến 500°C

+ Có thể làm việc ở áp suất cao hoặc áp suất chân không

- Khuyết điểm: tuy vậy, thiết bị lọc tĩnh điện cũng còn có nhiều khuyết

điểm:

+ Vì tính chất rất nhạy cảm, nên chúng không thể dùng trong dây chuyển

xử lý bụi có nồng độ thay đổi Mỗi một thay đổi nhỏ các thông số cũng dẫn

đến việc giảm đáng kể hiệu suất, đôi khi thất bại hoàn toàn

+ Chi phí chế tạo cao Các thiết bị lọc tĩnh điện phức tạp hơn các thiết bị

khác, giá thành củng cao hơn nhiều

+ Phụ thuộc vào công suất cấp điện nguồn

+ Không thể dùng trong các dây chuyển xử lý không khí có chứa các

chất dễ cháy nổ

3.3 LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ

Phạm vi sử dụng hợp lý của thiết bị lọc bụi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

= Kich thước hạt bụi

50 um là chiếm tỷ lệ cao nếu không nói là hầu hết Ngoài ra, buồng lắng

bụi cần được sử dụng như cấp lọc thô trước các loại lọc tinh đắt tiền khác

s Xyclon thường được sử dụng trong các trường hợp:

- Bui thé

- Nông độ bụi ban đầu cao >20 mg/m”

nên dùng xyclon ướt hoặc xyclon chùm

s* Thiết bị lọc ướt được sử dụng khi:

- _ Cần lọc bụi mịn với hiệu quả tương đối cao;

- - Kết hợp giữa lọc bụi và khử khí độc hại trong phạm vi có thể, nhất là loại khí, hơi cháy được có mặt trong khí thải;

- - Kết hợp làm nguội khí thải;

Trang 33

đáng kể đối với thiết bị cũng như các quá trình công nghệ liên quan

s* Thiết bị lọc túi vải được sử dụng trong các trường hợp sau:

- Cần đạt hiệu quả lọc cao hoặc rất cao;

điểm sương

s* Thiết bị lọc bụi bằng điện được sử dụng khi:

- Cần lọc bụi tinh với hiệu quả lọc rất cao;

- Lưu lượng khí thải cần lọc rất lớn;

- Cần thu hồi bụi có giá trị

Trang 38

Như đã nói ở phần 1, tại các khu khảo sát gây ô nhiễm của công ty, nồng độ

bụi đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép Riêng tại phân xưởng mộc, nồng độ bụi

cao hơn tiêu chuẩn cho phép, cần tiến hành xử lý bụi cho phân xưởng này

Hiện trạng môi trường của phân xưởng mộc:

Phân xưởng mộc có diện tích 40m x 20m, gồm có những thiết bị sau:

Bảng 7: Trang thiết bị trong phân xưởng mộc

vị

9_ | Máy cưa mâm Cái 3

13 | May cha nhám tay Cai 6

Trang 40

Công ty đã tiến hành đo đạt nổng độ bụi phát sinh của thiết bị và phân cấp

cỡ hạt (theo phần trăm khối lượng)

Vịtrílấy |Nồông | Khối Phân cấp cỡ hạt theo % khối lượng

Ở những công đoạn khác nhau có sự khác biệt về kích cỡ hạt bụi và tải

lượng sinh ra Tại các công đoạn gia công thô như cưa, cắt, bào, khoan, phần

lớn chất thải đều có kích thước lớn có khi tới hàng ngàn um với tải lượng chất

thải bình quân từ 30- 300 kg/tấn gỗ nguyên liệu Tại công đoạn gia công tỉnh

(máy chà bóng) tuy tải lượng không lớn nhưng kích cỡ hạt bụi rất nhỏ cho nên

khó thu hổi và dễ phát tán trong không khí

Ngày đăng: 18/02/2014, 14:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w