UBND TỈNH ĐỒNG THÁP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Số: 727/BC-SNN Đồng Tháp, ngày 09 tháng 4 năm 2020 BÁO CÁO Đánh giá tình hình sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nhữn
Trang 1UBND TỈNH ĐỒNG THÁP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Số: 727/BC-SNN Đồng Tháp, ngày 09 tháng 4 năm 2020
BÁO CÁO Đánh giá tình hình sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
những tháng đầu năm 2020
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Dương tại Công văn số 476/VPUBND-THVX ngày 03/4/2020 của Văn phòng
Ủy ban nhân dân tỉnh về việc chuẩn bị nội dung phục vụ Hội nghị trực tuyến đánh giá tình hình kinh tế - xã hội trong những tháng đầu năm 2020,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đến hết tháng 3 và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 như sau:
I Đánh giá tình hình sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đến tháng 3/2020
1 Kết quả thực hiện
1.1 Về trồng trọt
Các địa phương tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên nền đất lúa kém hiệu quả sang hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản được 4.190 ha1 Vụ Đông xuân 2019-2020 diện tích lúa xuống giống đạt 200.588 ha (đạt 97,8% kế hoạch và giảm 4.653 ha so với cùng kỳ) Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đẩy mạnh các mô hình sản xuất hiệu quả2, đến cuối tháng 3 đã thu hoạch được 191.287 ha, năng suất bình quân đạt 7,21 tấn/ha, sản lượng đã thu hoạch 1,38 triệu tấn (chưa xảy ra tình trạng ùn ứ lúa nguyên liệu) Ước đến cuối vụ năng suất bình quân đạt 7,2 tấn/ha (tăng 0,1 tấn/ha so với cùng kỳ vụ Đông Xuân 2018-2019); sản lượng đạt 1,44 triệu tấn (tăng 3.956 tấn so với cùng kỳ) Do dịch bệnh Covid – 19 xảy ra khoảng giữa tháng 2/2020 nên cũng không ảnh hưởng nhiều đến giá lúa vụ Đông xuân trước khi xảy ra dịch bệnh, giá bán bình quân trên lúa tại ruộng tương đương so với cùng kỳ vụ Đông Xuân 2018-20193
, lợi nhuận bình quân ước đạt 18,5 triệu đồng/ha (tương đương so với cùng kỳ vụ Đông xuân 2018-2019), giá thành sản xuất khoảng 3.100 đ/kg Hiên nay, các địa phương đang xuống giống vụ Hè thu
1
Trong đó: chuyển sang cây trồng ngắn hạn 2.049,2 ha; cây lâu năm 1.748,3 ha và nuôi trồng thủy sản
là 392,5 ha
2 Mô hình phun thuốc bảo vệ thực vật b ng thiết bị bay không người lái (huyện Tam Nông), mô hình giảm giá thành sản xuất lúa (huyện Tân Hồng) Tỷ lệ sản xuất giống chất lượng cao đạt khoảng 66%, tỷ lệ diện tích sử dụng máy gặt đập liên hợp đạt 100%
3 Cụ thể: giá bán IR 50404 4.500-4.600, lúa chất lượng cao 4.900 – 5.200 đ/kg, lúa thơm đặc sản 5.000 – 5.100 đ/kg
Trang 22
được 124.550 ha (đạt 67% kế hoạch) Ước đến cuối vụ (hết quý II/2020), diện tích sản xuất lúa Hè thu được 186.862 ha (đạt 101% kế hoạch), năng suất đạt 5,9 tấn/ha và sản lượng đạt 1,1 triệu tấn
Tổng diện tích hoa màu vụ Đông Xuân 2019-2020 là 12.054,5 ha (tương đương so với cùng kỳ vụ Đông Xuân 2018-2019), đã thu hoạch dứt điểm không còn tồn đọng với giá bán hoa màu giảm mạnh trên một số mặt hàng như
Ớt (giảm 10.000 – 13.000 đ/kg), Hành lá (giảm 11.000 đ/kg) Hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày vụ Hè Thu xuống giống được 11.000 ha kênh tiêu thụ chủ yếu thông qua thương lái và dự kiến sản lượng cần tiêu thụ trong quý II/2020 khoảng 183.823 tấn Riêng với ngành hàng hoa kiểng tiếp tục được phát huy giá trị truyền thống của làng hoa kiểng Sa Đéc, vừa qua Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề cương dự toán chi tiết thực hiện nhiệm vụ “Đề án án Làng văn hóa du lịch Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2019-2025, định
với mục tiêu Làng Văn hóa Du lịch Sa Đéc trở thành sản phẩm OCOP đạt 4 - 5 sao; thúc đẩy hoạt động kinh doanh sản xuất ngành hoa kiểng; bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống; đẩy mạnh hoạt động du lịch tại làng hoa
Tổng diện tích gieo trồng cây ăn trái đạt 32.639 ha (đạt 107% kế hoạch, tăng 2.858 ha so với cùng kỳ năm trước) Đã thực hiện cấp mã số vùng trồng cho 110 mã vùng với diện tích 5.513,8 ha đối với thị trường Trung Quốc5 và 23
mã vùng với diện tích 476,248 ha đối với các thị trường khó tính như Mỹ, Úc,
và thực hiện sản xuất an toàn với 876,48 ha (32,72 đạt chứng nhận ATTP và 843,76 ha đạt chứng nhận VietGAP) Giá bán hầu hết các mặt hàng cây ăn trái trong thời điểm xảy ra dịch bệnh đều giảm 2.000 – 23.000 đ/kg, trong đó giảm nhiều nhất là mặt hàng Xoài; dẫn đến lợi nhuận thu được các loại cây ăn trái chính đều thấp hơn so với trước khi dịch bệnh xảy ra Do tình hình tiêu thụ trái cây chậm, các doanh nghiệp, vựa trái cây vẫn thu mua với sản lượng thấp để phân phối các kênh tiêu thụ lớn trong nước (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, …) Bên cạnh đó, các thương lái nhỏ lẻ vẫn thu mua để cung cấp đến các chợ nông sản hoặc đa dạng về sản phẩm chế biến (mít sấy, xoài sấy, bánh mì Thanh long,….) nên một số loại cây ăn trái chính trong mùa dịch tại địa phương chưa xảy ra tình trạng tồn đọng Dự kiến sản lượng các loại cây ăn trái cần tiêu thụ quý 2/2020 là 99.400 tấn trong đó: Xoài 40.000 tấn, cây có múi 30.000 tấn, nhãn 13.500 tấn, cây ăn trái khác 14.850 tấn
1.2 Về chăn nuôi
4 Quyết định số 323/QĐ-UBND.HC ngày 24/3/2020 của UBND Tỉnh về Phê duyệt Đề cương dự toán chi tiết nhiệm vụ “Đề án Làng văn hóa du lịch Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2019-2025, định hướng đến năm 2030”
5
Cụ thể: 77 mã vùng trồng xoài (4.532,7 ha), 16 mã vùng trồng nhãn (634,2 ha), 02 mã vùng trồng
thanh long (99,8 ha), 14 mã vùng trồng mít (241,5ha), 01 mã vùng trồng chôm chôm (5 ha) và 13 nhà đóng gói
quả tươi
6 trong đó 19 mã vùng trồng xoài (375,818 ha), 03 mã vùng trồng nhãn (88,13 ha), 01 mã vùng vú sữa (12,3 ha) và 01 nhà đóng gói quả tươi xuất khẩu
Trang 33
Từ đầu năm đến nay, chưa phát hiện ổ dịch cúm trên gia cầm Tuy nhiên, kết quả giám sát sự lưu hành của vi rút cúm gia cầm năm 2019 trên địa bàn tỉnh
là 16,67% và gần đây nhất kết quả giám sát ngày 13/02/2020 đã ghi nhận có sự lưu hành của vi rút cúm A/H5N1 trên đàn gia cầm bán tại chợ thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung Dự báo trong thời gian tới, nguy cơ dịch bệnh cúm gia cầm sẽ xuất hiện rất cao, do vào mùa thu hoạch lúa vịt chạy đồng từ các tỉnh khác về, nên nguy cơ lây lan cho các đàn vịt tại địa phương
Nh m tạo điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi trên địa bàn Tỉnh thực hiện tái đàn khôi phục sản xuất7, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, giới thiệu các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cung cấp giống heo đảm bảo chất lượng8,… đồng thời Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chủ động liên hệ, trao đổi với các đơn vị, doanh nghiệp để cung cấp thông tin, địa chỉ các đại lý tham gia cung cấp giống heo trên địa bàn Tỉnh và phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thông tin đến các tổ chức, cá nhân có nhu cầu biết để liên hệ Ngoài
ra, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giao Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tiếp tục liên hệ với tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sản xuất và cung ứng giống heo chất lượng cao để kịp thời thông tin đến người chăn nuôi biết, liên hệ trong thời gian sớm nhất9
Về tái cơ cấu ngành hàng vịt: Hiện tại toàn tỉnh có 05 THT với 26 thành viên chăn nuôi vịt hướng trứng an toàn sinh học với tổng đàn vịt là: 146.115 con, trong đó: Đàn vịt đang đẻ trứng là 132.550 con với sản lượng trứng bình quân/đêm là 112.668 trứng, do giá trứng giảm (thấp hơn giá trứng vịt rọ năm
2019 là 350đ/trứng), người chăn nuôi không có lời do đó nhiều hộ đã tạm nghỉ nuôi hoặc cho vịt chạy đồng gần và đồng xa, phá vỡ mối liên kết chuỗi sản xuất
Cung ứng – sản xuất – Tiêu thụ Để phát triển ngành hàng vịt được liên kết tiêu thụ với các công ty, doanh nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
ký kết hợp tác với Công ty Cổ phần Ba Huân về tiêu thụ trứng Bên cạnh đó, đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức buổi tọa đàm an toàn sinh học gắn với chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm trong chăn nuôi vịt và đại diện Công ty Cổ phần Ba Huân cũng đã ký ghi nhớ liên kết tiêu thụ trứng vịt với Tổ
hợp tác chăn nuôi vịt Tháp Mười
1.3 Về thủy sản
Tính đến hết tháng 3 năm 2020, tổng diện tích thủy sản nuôi trên địa bàn tỉnh đạt 4.261 ha10
(đạt 52% so với kế hoạch và giảm 205,9 ha so cùng kỳ) Tổng sản lượng thủy sản thu hoạch 102.494 tấn (đạt 15% so với kế hoạch và giảm 26.146,5 tấn so với cùng kỳ) Tình hình tiêu thụ của một số thủy sản nuôi
7
Kế hoạch số số 85/KH-UBND ngày 06 tháng 4 năm 2020 tái đàn gắn với tái cơ cấu
chăn nuôi heo sau dịch bệnh Dịch tả heo Châu Phi giai đoạn 2020-2025
8 Công văn số 591/SNN-KHTC ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Sở Nông nghiệp và PTNT
9 Công văn số 673/SNN-KHTC ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Sở Nông nghiệp và PTNT
10 Trong đó, cá tra 1.350,4 ha, sản lượng 79.195 tấn (giảm 84,4 ha và 34.661 tấn), tôm 273 ha (tăng
84,8 ha và giảm 37, 3 ha) so với cùng kỳ
Trang 44
gặp khó khăn trong điều kiện dịch bệnh xảy ra, dẫn đến giá bán thấp người nuôi
bị thua lỗ11
Đối với ngành hàng cá tra, toàn tỉnh hiện có 368 cơ sở nuôi cá tra thương phẩm được cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi với diện tích mặt nước 1.562 ha và
có 827 ha cá tra được cấp chứng nhận sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn Do tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra nên thị trường xuất khẩu cá tra không thuận lợi, nhất là thị trường Trung Quốc và Hoa kỳ, giá bán cá tra nguyên liệu luôn ở mức thấp dao động từ 18.000 -18.500 đồng/kg (thấp hơn cùng kỳ khoảng 4.500 đồng/kg) trong thời gian dài dẫn đến người nuôi bị thua lỗ Dự kiến trong quý II/2020 có khoảng 115.000 tấn cá tra đến kỳ thu hoạch
1.4 Về xây dựng nông thôn mới
Mô hình xây dựng nông thôn tiếp tục được duy trì và phát triển, nhiều mô hình hay và sáng tạo được duy trì có hiệu quả như Mô hình “Hội quán” được tiếp tục phát huy tinh thần tự nguyện, tự lực, tự quản trong nhân dân, lũy kế đến ngày 20/3/2020 toàn tỉnh có 92 hội quán được thành lập hơn 5.000 thành viên;
Mô hình sổ tay hộ gia đình thi đua “Chung sức xây dựng Mục tiêu quốc gia” với phương thức “đi từng ngõ, gõ cửa từng nhà”: Trong năm 2020, nh m đổi mới hình thức tuyên truyền, Ban Dân vận Tỉnh ủy xây dựng 130 bảng pano tuyên truyền trực quan về 15 nội dung của phong trào hộ gia đình thi đua Chung sức xây dựng nông thôn mới theo tiêu chí nâng cao với tổng kinh phí 170 triệu đồng12 hỗ trợ tập trung tại 03 huyện: Tháp Mười13
, Cao Lãnh14 và Tân Hồng15
; Những mô hình sáng tạo của Hội, đoàn thể tỉnh như: mô hình xây dựng điểm vui
chơi cho thanh thiếu nhi xã nông thôn mới (duy trì, thực hiện mới nâng tổng số
163 điểm), cụm dân xanh - an toàn (duy trì, thực hiện mới nâng tổng số 95 điểm),
biến bãi rác thành vườn hoa (duy trì, thực hiện mới nâng tổng số102 mô hình),
Đ i Thanh niên tình nguyện xây dựng Nông thôn mới (duy trì 99 đ i) của Đoàn
Thanh niên Tỉnh; mô hình Chi hội Nông dân “Nhà sạch, Đường sạch, Đồng ruộng sạch” của Hội Nông dân tỉnh16; mô hình “Đoạn đường 3 sạch” của Hội Phụ nữ tỉnh17
Ngoài ra, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức các hoạt động để phát động phong trào “Chống rác thải nhựa”, xây dựng mô hình điểm “Sông không rác” tại
TX Hồng Ngự, thành phố Sa Đéc và huyện Tháp Mười Đến ngày 20/3/2020, toàn tỉnh có 76/117 xã (đạt 64,96%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới18,
11 Cụ thể: cá lóc giá 24.000 – 25.000 đồng/kg (thấp hơn khoảng 12.000 đồng/kg); tôm càng xanh 80.000
– 210.000 đồng/kg (thấp hơn khoảng 10.000 đồng/kg); ếch 27.000 -28.000 đồng/kg (thấp hơn 3.500 đồng/kg) so
với cùng kỳ
12 từ nguồn vốn Sự nghiệp Chương trình NTM năm 2019 chuyển sang
13 Huyện phấn đấu đtạ chuẩn NTM năm 2019, hỗ trợ 59 bảng pano
14 Hỗ trợ 47 bảng pano
15 Huyện có xã Biên giới, hỗ trợ 24 bảng pano
16 Vừa tổ chức triển khai tại xã Tân Phú, huyện Châu Thành
17 bỏ rác đúng nơi quy định; không vứt rác xuống sông, kênh, rạch; không sử dụng túi nilon 100% cơ
sở duy trì hiệu quả mô hình “đoạn đường 3 sạch” tại cộng đồng dân cư với tổng chiều dài trên 638 km (trong đó duy trì: 470,6 km, nhân rộng: 167,4 km)
18 Không tính xã Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự đã chuyển lên thành thị trấn Thường Thới Tiền của huyện Hồng Ngự; xã Thường Thới Hậu B của huyện Hồng Ngự sáp nhập với xã Thường Lạc của huyện Hồng Ngự
Trang 55
tăng 6 xã so cuối năm 2019, tăng 19 xã so với cùng kỳ; 02 xã đạt 19 tiêu chí (đã
tổ chức thẩm tra, chuẩn bị thông qua H i đồng cấp tỉnh); 19 xã đạt từ 16 - 18
tiêu chí và 20 xã đạt từ 14 - 15 tiêu chí Đối với đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới: Huyện Tháp Mười đã trình hồ sơ đề nghị xét công nhân huyện
đạt NTM năm 2019 theo góp ý của Đoàn Thẩm tra tỉnh (tổ chức ngày
26/2/2020); thành phố Cao Lãnh và thị xã Hồng Ngự đang hoàn thiện hồ sơ theo
kiến nghị của Đoàn thẩm định Trung ương trình UBND Tỉnh (do m t số n i
dung yêu cầu điều chỉnh phải tiến hành điều tra bổ sung)
1.5 Về công tác thanh tra chuyên ngành
Trong những tháng đầu năm 2020, Thanh tra Sở Nông nghiệp và PTNT
đã lập đoàn thanh tra đối với một số cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp và công tác an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên do điều kiện dịch bệnh hiện nay Đoàn công tác dã tạm dừng tiến độ thanh tra trong việc chấp hành pháp luật đối với cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh
2 Tồn tại, khó khăn
Ba tháng đầu năm tình hình xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản gặp khó khăn, giá bán giảm do ảnh hưởng tình hình dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp Một số mặt hàng vẫn có thương lái tổ chức thu mua như Mít, thanh long, nhãn, xoài, ớt… tuy nhiên giá giảm 30 – trên 50% so với thời điểm trước khi dịch bệnh bùng phát
Tình hình thời tiết vụ Hè Thu phức tạp, tình trạng khô hạn kéo dài, những vùng trồng lúa năng suất thấp và thường bị thiếu nước đầu vụ, vùng gò cao, rất khó để khuyến cáo chuyển đổi cơ cấu cây trồng do lợi nhuận nhiều mặt hàng hoa màu, cây ăn trái giảm thấp trong 3 tháng đầu năm
Do tình hình xuất khẩu cá tra gặp khó khăn, đa số các doanh nghiệp chế biến đã sử dụng gần hết công suất của các kho lạnh để lưu trữ các sản phẩm chế biến trong khi nguồn nguyên liệu nhiều, do đó trong thời gian tới giá bán cá tra nguyên liệu có xu hướng không tăng
Tình hình sản xuất giống thủy sản cũng gặp khó khăn, nhất là giống cá tra
do cá tra thương phẩm tiêu thụ chậm nên kéo theo giá cá giống cũng giảm sâu
và sau khi thu hoạch, người nuôi thả nuôi trở lại mang tính chất thăm dò (mật độ thưa và cho ăn cầm chừng)
II Đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19
Đối với các mặt hàng nông sản có diện tích sản xuất lớn như Xoài, Nhãn,… cần tiếp tục kêu gọi các doanh nghiệp, cơ sở chế biến củng cố tận dụng các kho dự trữ, bảo quản, lưu trữ kho lạnh, cấp đông, tăng cường chế biến sau thu hoạch Khuyến khích các đơn vị đưa nông sản, trái cây tươi vào các chợ đầu mối, siêu thị, trung tâm thương mại để bày bán, khuyến cáo người nông dân thực hiện dãn vụ, rải vụ …
Trang 66
Tập trung triển khai nhân rộng các mô hình, biện pháp canh tác tiên tiến
như thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), kỹ
thuật canh tác "3 giảm, 3 tăng" (3G3T), kỹ thuật canh tác "1 phải, 5 giảm"
(1P5G), hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI)…, hình thành các chuỗi liên kết
nông sản bền vững,
Tập trung đẩy mạnh sản xuất, chế biến hàng nông, lâm, thuỷ sản đảm bảo
nguồn cung cho nông sản;
Xây dựng và triển khai kế hoạch đăng ký mã vùng trồng và truy xuất
nguồn gốc nông sản để đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung
Quốc và các nước khác
Tiếp tục vận động người nuôi tham gia thành lập các tổ hợp tác, hợp tác
xã, hội quán nh m trao đổi kinh nghiệm cũng như cập nhật thông tin về thị
trường Đồng thời thực hiện liên kết với các doanh nghiệp sản xuất thức ăn,
doanh nghiệp chế biến thủy sản nh m đảm bảo đầu ra sản phẩm nh m ổn định
thu nhập
Phối hợp với Sở Công thương: (i) tăng cường công tác thông tin thị
trường mà Việt Nam đã ký các FTA (số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn, quy
chuẩn, rào cản của từng thị trường), để định hướng cho người sản xuất và
doanh nghiệp xuất khẩu; (ii) Đổi mới, nâng cao hiệu quả chương trình xúc tiến
thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh
nghiệp; (iii) Theo dõi sát tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp để có những đề
xuất kiến nghị các Bộ Ngành trung ương tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ổn định và sản xuất kinh doanh xuất khẩu
Tăng cường sử dụng không gian mạng để tăng tần suất kết nối hiệu quả
giữa thông tin thị trường, vùng nguyên liệu sản xuất có truy xuất nguồn gốc và
doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kính báo Ủy ban nhân dân Tỉnh./
- Ủy ban nhân dân Tỉnh;
- GĐ và phó GĐ Sở;
- Lưu: VT, KHTC
Nguyễn Phước Thiện
Người ký: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Thời gian ký: 09.04.2020 09:43:31 +07:00