1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng

22 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 19,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đồng bằng đôi khi xuất hiện như là các vùng đất thấp ở vùng đáy các thung lũng nhưng cũng có trên các cao nguyên ở độ cao khá lớn.. Các đồng bằng đôi khi xuất hiện như là các vùng đấ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

- - �

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN HỌC: ĐỊA CHẤT ĐỊA MẠO

ĐỀ TÀI: ĐỊA HÌNH MIỀN ĐỒNG BẰNG

Trang 2

M Ụ C L Ụ C

A GIỚI THIỆU TỔNG QUAN-ĐẶT VẤN ĐỀ……….… 4

1 Phần giới thiệu……… … ….4

2 Lý do chọn đề tài……….……4

3 Mục đích – yêu cầu ……… … ……4

4 Đối tượng nghiên cứu……… … ……4

5 Phương pháp nghiên cứu……….5

6 Phạm vi nghiên cứu……… … ……….5

B NỘI DUNG CHỦ ĐỀ I Địa hình đồng bằng được hình thành như thế nào?…….……… …… 5

1.1 Địa hình đòng bằng là gì? ……… ………5

1.2.Cao nguyên là gì? 6

1.3 Trong góc độ địa lý học……… … …… 7

II Đặc điểm của địa hình đồng bằng……… …… 9

III Các kiểu đồng bằng……….……… ….10

3.1 Phân loại theo độ cao tuyệt đối……….……… …10

3.2 Phân loại theo đặc điểm hình thái……….……… …11

3.3 Phân loại theo nguồn gốc phát sinh……… ……… 13

IV Cấu tạo đồng bằng……… ……… 15

4.1 Khái quát sơ lược……… …… 15

4.2 So sánh giữa các đồng bằng nước ta ……… …… 16

4.3 các ví dụ ở đồng bằng nước ta ……… … 16

4.3.1 Đồng bằng ven biển……… ….16

4.3.2 Đồng bằng sông Cửu Long……… ……… 17

4.3.3 Sông Hồng……… ……… 18

V NHỮNG NGUY CƠ THIÊT HẠI XẢY RA VỚI ĐỒNG BẰNG Ở HIỆN TẠI 5.1 Hiện tại ……… ……… 19

5.2 Tương lai……… ………20

C KẾT LUẬN-ĐỀ XUẤT HOẶC Ý KIẾN 6.1 Kết luận……… 21

6.2 Cách khắc phục………22

D Tư liệu tham khảo……… 22

Trang 3

A) GIỚI THIỆU TỔNG QUAN - ĐẶT VẤN ĐỀ.

1.Phần giới thiệu

Địa mạo là một đặc điểm tự nhiên hoặc nhân tạo của bề mặt cứng của Trái Đất hay của hành tinh khác Các địa mạo cùng nhau tạo nên một địa hình nhất định, và sự sắp xếp củachúng trong phong cảnh thì được biết đến là địa hình học Một số dạng địa mạo điển hình

là đồi, núi, cao nguyên, hẻm núi và thung lũng, cũng như các đặc điểm đường bờ biển như vịnh, bán đảo và biển, bao gồm các đặc điểm chìm như sống núi giữa đại dương, núi lửa, và lòng chảo đại dương lớn Nhắc tới địa hình thì ở Việt Nam chúng ta có thể nghĩ ngay đến một dạng địa hình quen thuộc với chúng ta đó là địa hình miền đồng bằng Địa hình miền đồng bằng là một hợp phần quan trọng của môi trường địa lí, đồng thời là sản phẩm của lịch sử phát triển địa chất Nó phát triển trên nền tảng tương tác của hai nhóm

cá nhân nội lực là ngoại lực, cả hai nhóm động lực này luôn thay đổi, do đó bản thân địa hình cũng luôn biến đổi Đó là nguyên nhân khiến cho địa hình đồng bằng hết sức đa dạng với nhiều dạng đặc trưng riêng biệt

2

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Như chúng ta được biết trên thế giới có với vô số danh lam thắng cảnh phong phú và di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng tạo nên nét riêng của đất nước Một trong các yếu tố hình thành lên chúng không thể không nhắc đến địa hình, đặc biệt là địa hình miền đồng bằng Các đồng bằng đôi khi xuất hiện như là các vùng đất thấp ở vùng đáy các thung

lũng nhưng cũng có trên các cao nguyên ở độ cao khá lớn Chúng có thể được hình thành

từ dung nham chảy xuống, trầm lắng bởi nước (suối, sông hay biển), băng và gió, hay bởi xói mòn dưới các tác động của các yếu tố này từ các sườn đồi, núi Đề tài này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm ,phân loại, khó khăn, thuận lợi của dạng địa hình này, ngoài ra còn có thể giúp chúng ta biết được thêm tầm quan trọng của địa hình đồng bằng mang đến những giá trị to lớn cho sản xuất nông nghiệp

3.MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:

Mục đích: là giúp mọi người hiểu rõ về địa hình miền đồng bằng, các khái niệm cơ bản, đặc điểm và phân loại miền đồng bằng Từ đó chúng ta sẽ thấy miền đồng bằng có vai tròquan trọng như thế nào đối với kinh tế xã hội

Yêu cầu : Nắm rõ về các nội dung của địa hình miền đồng bằng

4.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các dạng địa hình miền đồng bằng

5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 4

Phương pháp phân tích tổng hợp, quan sát khoa học, phân loại và hệ thống hóa lí thuyết

6.PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Những tài liệu địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng

B) NỘI DUNG CHỦ ĐỀ.

I: Địa hình đồng bằng được hình thành như thế nào?

Các đồng bằng đôi khi xuất hiện như là các vùng đất thấp ở vùng đáy các thung lũng nhưng cũng có trên các cao nguyên ở độ cao khá lớn Chúng có thể được hình thành từ dung nham chảy xuống, trầm lắng bởi nước (suối, sông hay biển), băng và gió, hay bởi xói mòn dưới các tác động của các yếu tố này từ các sườn đồi, núi

1.1: Địa hình đồng bằng là gì?

- Đồng bằng còn được gọi là bình nguyên, là những khu vực bề mặt lục địa tương đối rộng, độ chênh cao nhỏ (không quá 10m), hầu như bằng phẳng, ít bị chia cắt, mạng lưới thung lũng thưa

- Thực tế, có những đồng bằng rộng lớn chênh lệch cao vài trăm m trên khoảng cách hàng chục, hàng trăm km

 Ví dụ: đồng bằng Tây Siberia (2,5 triệu km vuông) cao dần từ 0-200km theo hướng bắc-nam trên khoảng cách 1.500-2.000km

Đồng bằng Tây Siberia

Trang 5

1.2 Cao nguyên là gì?

- Cao nguyên là một dạng của đồng bằng, có bề mặt tương đối rộng, bằng phẳng, nhưng có độ cao lớn, thường là trên 200m, sự chia cắt lớn hơn do năng lượng đại hình lơn hơn

- Các cao nguyên thường phân cách với các bộ phận xung quanh bởi các vách dốc

rõ ràng Vách này có nguồn gốc đoạn tầng, mài mòn biển hoặc xâm thực

Trang 6

- Giữa miền đồng bằng và miền núi thường có một vùng chuyển tiếp, gọi là miền trung du

Vùng này có nhiều đồi

- Đồi là một dạng địa hình nhô cao, có đỉnh tròn, sườn thoải, đồi ít khi đứng riêng lẻ

mà thường hay tập trung thành vùng

Ở Việt Nam, vùng đồi tập trung ở các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ,…

Trang 7

1.3 Còn trong góc độ địa lí học.

- Vùng đồng bằng là một vùng đất đai rộng lớn với địa hình tương đi thấp-nghĩa là

nó tương đối bằng phẳng, với độ cao so với mực nước biển không quá 500 m và

độ dốc không quá 5°

- Khi độ cao không quá 200 m, người ta gọi nó là đồng bằng thấp, còn khi độ cao từ

2 m tới 5 m, gọi là đồng bằng cao

- Các dạng đồng cỏ Bắc Mỹ và đồng cỏ châu Âu là các kiểu đồng bằng, và nguyên mẫu cho đồng bằng thường được coi là các đồng cỏ

Đồng bằng cỏ

Nhưng các vùng đồng bằng trong trạng thái tự nhiên của chúng có thể được che phủ bằng các dạng cây bụi, đồng rừng hay rừng, hoặc thảm thực vật có thể thiếu vắng trong trường hợp các đồng bằng cát hay đá tại các sa mạc

- Các kiểu vùng đất bằng khác mà thuật ngữ đồng bằng nói chung không hay ít được áp dụng là những vùng bị che phủ hoàn toàn và vĩnh cửu như các đầm lầy, các vùng đất trũng lòng chảo (playa) hay các dải băng

Trang 8

Đồng bằng được che phủ bở rừng

Ngoài ra còn có các vùng đồng bằng tại nhiều khu vực là quan trọng cho phát triển nông nghiệp, do khi đất được bồi tích như là các trầm tích thì độ sâu của nó có thể khá lớn và độ màu mỡ là khá cao, cũng như độ bằng phẳng cao thuận lợi cho quá trình cơ giớihóa sản xuất; cũng như tại các đồng bằng có thể có các đồng cỏ cung cấp thức ăn cho gia súc

Đồng có chăn nuôi gia súc

II:Đặc điểm của địa hình đồng bằng?

- Dao động độ cao nhỏ nên năng lượng địa hình không đáng kể, khiến quá trình bồi

tụ hoạt động mạnh, độ chia cắt ngang lớn hơn chia cắt sâu

 Vì vậy, thống trị ở đồng bằng là các quá trình tích tụ

Trang 9

- Đồng bằng có vỏ phong hóa dày nên đá gốc ít lộ ra bề mặt đồng bằng, ảnh hưởng của đá gốc đối với đồng bằng rất mờ nhạt, nhưng trầm tích bở rời lại có ảnh hưởng lớn.

- Trên địa hình đồng bằng rộng lớn, đường nét, hình dạng mạng lưới thung lũng sông phản ánh rõ nét cấu trúc

- Sông trên đồng bằng thường uốn khúc, có vị trí rất linh động, dễ đổi dòng do pháttriển trên các trầm tích gắn kết kém

- Trên đồng bằng thường gặp một số dạng địa hình phổ biến như: hố trũng nhỏ hìnhđĩa do tiềm lực tạo thành, phễu sụt do hòa tan ngầm thạch cao, đá vôi, chảo thổi mòn, bồn trũng nhỏ do băng hà đào khoét, hồ trũng nhỏ nhiều nguồn gốc khác nhau, các máng trũng nông đến sâu do nước chảy tràn tạo thành, các đoạn sông chết (hồ sót, hồ vai cày), cồn đất, gò đất, dải đất thấp

- Đồng bằng đáy thung lũng thường gặp luống cát dạng bờm ngựa, gợn sóng cát, đêcát ven sông, đê tự nhiên,

III: Các kiểu đồng bằng.

3.1 Phân loại theo độ cao tuyệt đối có thể chia thành bốn loại:

- Đồng bằng trũng: độ cao dưới mực nước biển

 Ví dụ: đồng bằng Prikaspie cao - 26m

- Đồng bằng thấp: độ cao nhỏ hơn 200m

 Ví dụ: đồng bằng Tây Siberia, đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long

- Đồng bằng cao: còn gọi là cao nguyên, độ cao khoảng 200 – 1.000m Ví dụ: đồng bằng Trung Tâm Pháp

Trang 10

- Đồng bằng trên núi: còn gọi là sơn nguyên, có độ cao trên 1.000m

 Ví dụ: sơn nguyên Tây Tạng, Iran,

Sơn nguyên Tây Tạng

3.2 Phân loại theo đặc điểm hình thái:

 Đồng bằng nghiêng: Có độ nghiêng chung về một hướng, có thể chia thành các trường hợp:

 Đồng bằng nghiêng thoải (đồng bằng Amazon, Danuyt, Tây Siberia)

Trang 11

Châu thổ vùng đồng bằng Danuyt

 Đồng bằng nghiêng trước núi (độ dốc lớn hơn dạng nghiêng thoải)

 Đồng bằng ven biển (nghiêng về phía biển, chiều rộng hẹp nhưng thường kéo dài theo bờ biển)

 Đồng bằng thung lũng (ở thung lũng sông mở rộng, có bề mặt bằng phẳng, nhưng cũng có nhiều chi tiết vi địa hình có độ chênh cao trên dưới 1m, độ dốc nhỏ, nghiêng về đường tâm thung lũng)

Đồng bằng Amazon

Trang 12

- Đồng bằng lõm: có phần trung tâm thấp hơn xung quanh Các đồng bằng này sâu trong lục địa, không có lối thoát ra đại dương nên còn gọi là đồng bằng nội địa, đặc trưng ở miền khô khan, bán khô khan: đồng bằng Bankhat, Pricaspie và một

số bộ phận ở Bắc Phi, Bắc Mỹ

- Đồng bằng gợn sóng: độ cao dao động rõ rệt, có sự xen lẫn một số bộ phận đồi, núi, có thể chia thành đồng bằng đồi (là loại chuyển tiếp vào miền đồi, trên nền bằng phẳng có thể gặp một số đồi rải rác) và đồng bằng trên núi (có núi xen kẽ tạo

ra sự chuyển tiếp từ từ sang các sườn núi bao quanh, bị chia cắt yếu bởi các thung lũng)

Đồng bằng gợn sóng 3.3 Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:

- Đồng bằng tích tụ phù sa: có thể do sông, hồ, sườn tích, băng tích, biển, hình thành

Trang 13

Đồng bằng tích tụ phù sa

- Đồng bằng bào mòn: do hoạt động phá hủy bờ đá gốc của sóng, thủy triều, dòng biển, để bồi tụ ven biển, cũng có thể là dạng đồng bằng hình thành do bào mòn,xâm thực lâu dài nằm trong nội địa

Đồng bằng bào mòn

- Đồng bằng kiến trúc: phát triển trên phạm vi các nền lục địa, ứng với các địa đài sau khi thoát khỏi mực nước biển vẫn giữ được lớp trầm tích nằm ngang (đồng bằng nguyên sinh)

- Đồng bằng đa sinh: những đồng bằng rộng lớn có nguồn gốc không đồng nhất,

có nơi tích tụ, có nơi bào mòn nhưng giữa các bộ phận này có quan hệ với nhau

Trang 14

Đồng bằng đa sinh

IV: Cấu tạo đồng bằng.

4.1 khái quát sơ lược.

- -Các đồng bằng đôi khi xuất hiện như là các vùng đất thấp ở vùng đáy các thung

lũng nhưng cũng có trên các cao nguyên ở độ cao khá lớn

- Chúng có thể được hình thành từ dung nham chảy xuống, trầm lắng bởi nước

(suối, sông hay biển), băng và gió, hay bởi xói mòn dưới các tác động của các yếu

tố này từ các sườn đồi, núi

- Các vùng đồng bằng tại nhiều khu vực là quan trọng cho phát triển nông nghiệp,

do khi đất được bồi tích như là các trầm tích thì độ sâu của nó có thể khá lớn và độmàu mỡ là khá cao, cũng như độ bằng phẳng cao thuận lợi cho quá trình cơ giới hóa sản xuất; cũng như tại các đồng bằng có thể có các đồng cỏ cung cấp thức ăn cho gia súc

Trang 15

Cấu tạo đồng bằng

 Ý nghĩa: Các vùng đồng bằng tại nhiều khu vực là quan trọng cho phát triển nông nghiệp , độ bằng phẳng cao thuận lợi cho quá trình cơ giới hóa sản xuất , cũng như tại cácđồng bằng có thể cung cấp thức ăn cho gia súc

Đặc điểm và ý nghĩa của loại địa hình đông bằng đối với đời sống và sản xuất như góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã hội, tăng sản lượng lương thực, thực phẩm, góp phần phân bố dân cư và xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu

* Đối với khu vực đồng bằng

-Các thế mạnh:

- Là cơ sở để phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đa dạng các loại nông sản, mà nông sản chính là lúa gạo

- Cung cấp các nguồn lợi thiên nhiên như thủy sản, khoáng sản và lâm sản

- Là nơi có điều kiện để tập trung các thành phố, các khu công nghiệp và các trung tâm thương mại

- Phát triển giao thông vận tải đường bộ, đường sông

Trang 16

- Biển Đông là một vùng biển lớn, tương đối kín, thể hiện rõ tính chất nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á

- Biển Đông rộng gấp nhiều lần phần đất liền và có giá trị to lớn về nhiều mặt Cần phải có kế hoạch khai thác và bảo vệ biển tốt hơn để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Cảnh quan đồng bằng ven biển

Trang 17

4.3.2 Đồng bằng sông Cửu Long

- Diện tích 40.000 km2, là một đồng bằng thấp

- Mọi vị trí trên đồng bằng này không cao hơn 3 mét so với mực nước biển

- Đồng bằng bị chia cắt dọc ngang bởi nhiều con kênh và các con sông

 Con sông mang nặng phù sa tính rằng khối lượng phù sa lắng động hàng năm

là khoảng 1 tỷ mét khối, hay gần gấp 13 lần khối lượng phù sa lắng đọng của sông Hồng

 Khoảng 10.000 km2 đồng bằng hiện được dùng cho canh tác lúa gạo, biến đây trở thành một trong những vùng sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới

- Mũi phía nam, được gọi là mũi Cà Mau, hay mũi Bãi Bung, là nơi có mật độ rừng rậm cao và các đầm lầy đước

Trang 18

4.3.3 Sông Hồng

- Sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, dài khoảng 1.200 km

- Hai hợp lưu là sông Lô và sông Đà cùng góp phần vào lưu lượng hàng năm trung

bình lên tới 3.000 mét khối mỗi giây

Trang 19

- Con số này có thể tăng lên gấp 60 lần vào mùa mưa

- Vùng châu thổ dựa lưng vào vùng trung du và thượng du núi non

- Cao độ của vùng châu thổ chỉ khoảng hơn ba mét so với mực nước biển, thậm chí

đa phần chỉ là một mét hay còn thấp hơn nữa

Vì là đất thấp nên châu thổ hay bị lũ lụt; ở một số nơi mức nước lụt đã từng dâng ngập làng mạc dưới 14 mét nước Qua nhiều thế kỷ, việc phòng lụt đã trở thành một công việc gắn liền với văn hóa và kinh tế của vùng Hệ thống đê điều và kênh mương rộng lớn đã được xây dựng để chứa nước sông Hồng và để tưới tiêu cho vùng châu thổ giàu lúa gạo này cùng để tháo nước khi bị lụt Hệ thống này sau nhiều thế hệ đã góp phần duy trì mật

độ dân số cao ở đồng bằng sông Hồng và làm tăng gấp đôi diện tích có thể canh tác lúa nước ở đây

- Đồng bằng sông Hồng có hình tam giác với diện tích 15.000 km vuông, hơi nhỏ hơn nhưng lại đông dân hơn đồng bằng sông Cửu Long

- Thời trước nó là một vịnh nhỏ của vịnh Bắc Bộ, dần dần được bồi đắp nhờ khối lượng phù sa lắng đọng khổng lồ của các con sông thuộc hệ thống sông Hồng và

hệ thống sông Thái Bình, qua hàng nghìn năm khiến mỗi năm lấn thêm ra biển khoảng một trăm mét

V: NHỮNG NGUY CƠ THIÊT HẠI XẢY RA VỚI ĐỒNG BẰNG Ở HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI, CÁCH KHẮC PHỤC.

5.

1.Hiện tại:

Trang 20

Đồng bằng sông Cửu Long hiện đã chịu ảnh hưởng thường xuyên của những trận lũ lớn, sự xâm nhập mặn và đất bị ô nhiễm Đây là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất ở Việt Nam bởi sự xâm nhập mặn với 1,8 triệu ha diện tích đất bị nhiễm mặn Gần đây bão đã bắt đầu trở thành một vấn nạn Mới chỉ năm 1994, một báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á về biến đổi khí hậu cho rằng bão không chỉ xảy ra tại Đồng bằng sông Cửu Long,chỉ 15 năm sau, rõ ràng chuyện này đã không còn đúng nữa.

5.2 Tương lai:

- Đến khoảng năm 2100, mực nước biển có thể dâng lên trong khoảng 30cm đến 1m Nhiều khả năng nước biển sẽ dâng lên mức 1m hơn, lúc đó thì 90% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập lụt hàng năm

- Đến năm 2030, khả năng nước biển dâng có thể làm cho khoảng 45% diện tích đấtcủa Đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn hoàn toàn và mùa vụ bị thiệt hại do

lũ lụt

Ngày đăng: 11/04/2022, 13:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Những tài liệu địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
h ững tài liệu địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng (Trang 4)
- Đồng bằng-Cao nguyên là một khái niệm hình thái bên ngoài, còn về mặt nguồn gốc phát sinh thì lại rất đa dạng. - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
ng bằng-Cao nguyên là một khái niệm hình thái bên ngoài, còn về mặt nguồn gốc phát sinh thì lại rất đa dạng (Trang 5)
- Đồi là một dạng địa hình nhô cao, có đỉnh tròn, sườn thoải, đồi ít khi đứng riêng lẻ mà thường hay tập trung thành vùng - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
i là một dạng địa hình nhô cao, có đỉnh tròn, sườn thoải, đồi ít khi đứng riêng lẻ mà thường hay tập trung thành vùng (Trang 6)
- Vùng đồng bằng là một vùng đất đai rộng lớn với địa hình tương đi thấp-nghĩa là nó tương đối bằng phẳng, với độ cao so với mực nước biển không quá 500 m và  độ dốc không quá 5° - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
ng đồng bằng là một vùng đất đai rộng lớn với địa hình tương đi thấp-nghĩa là nó tương đối bằng phẳng, với độ cao so với mực nước biển không quá 500 m và độ dốc không quá 5° (Trang 7)
II:Đặc điểm của địa hình đồng bằng? - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
c điểm của địa hình đồng bằng? (Trang 8)
- Dao động độ cao nhỏ nên năng lượng địa hình không đáng kể, khiến quá trình bồi tụ hoạt động mạnh, độ chia cắt ngang lớn hơn chia cắt sâu - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
ao động độ cao nhỏ nên năng lượng địa hình không đáng kể, khiến quá trình bồi tụ hoạt động mạnh, độ chia cắt ngang lớn hơn chia cắt sâu (Trang 8)
- Trên địa hình đồng bằng rộng lớn, đường nét, hình dạng mạng lưới thung lũng sông phản ánh rõ nét cấu trúc. - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
r ên địa hình đồng bằng rộng lớn, đường nét, hình dạng mạng lưới thung lũng sông phản ánh rõ nét cấu trúc (Trang 9)
3.2. Phân loại theo đặc điểm hình thái: - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
3.2. Phân loại theo đặc điểm hình thái: (Trang 10)
- Đồng bằng tích tụ phù sa: có thể do sông, hồ, sườn tích, băng tích, biển, ... hình thành. - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
ng bằng tích tụ phù sa: có thể do sông, hồ, sườn tích, băng tích, biển, ... hình thành (Trang 12)
- Chúng có thể được hình thành từ dung nham chảy xuống, trầm lắng bởi nước (suối, sông hay biển), băng và gió, hay bởi xói mòn dưới các tác động của các yếu  tố này từ các sườn đồi, núi. - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
h úng có thể được hình thành từ dung nham chảy xuống, trầm lắng bởi nước (suối, sông hay biển), băng và gió, hay bởi xói mòn dưới các tác động của các yếu tố này từ các sườn đồi, núi (Trang 14)
Đặc điểm và ý nghĩa của loại địa hình đông bằng đối với đời sống và sản xuất như  góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã hội, tăng sản lượng lương thực, thực  phẩm, góp phần phân bố dân cư và xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
c điểm và ý nghĩa của loại địa hình đông bằng đối với đời sống và sản xuất như  góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã hội, tăng sản lượng lương thực, thực phẩm, góp phần phân bố dân cư và xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu (Trang 15)
- Đồng bằng sông Hồng có hình tam giác với diện tích 15.000 km vuông, hơi nhỏ hơn nhưng lại đông dân hơn đồng bằng sông Cửu Long - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
ng bằng sông Hồng có hình tam giác với diện tích 15.000 km vuông, hơi nhỏ hơn nhưng lại đông dân hơn đồng bằng sông Cửu Long (Trang 19)
Đồng bằng là dạng địa hình rất quan trọng trong cuộc sống cũng như cảu trái đất đồng bằng xuất hiện tạo ra sự hòa hợp giữa miền núi và vùng trũng thấp, thiếu đi đồng bằng    đất nước sẽ không thể phát triển một cách mạnh mẻ vì đồng bằng là nói cung cấp lư - Địa chất địa mạo về dạng địa hình miền đồng bằng
ng bằng là dạng địa hình rất quan trọng trong cuộc sống cũng như cảu trái đất đồng bằng xuất hiện tạo ra sự hòa hợp giữa miền núi và vùng trũng thấp, thiếu đi đồng bằng đất nước sẽ không thể phát triển một cách mạnh mẻ vì đồng bằng là nói cung cấp lư (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm