Các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đang từng bước chuyển dịch cơ cấu khai thác từ những nghiệp vụ ít có hiệu quả như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm con người sang những nghiệp vụ đạt hiệu quả kinh doanh cao như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản kỹ thuật. Trong đó, bảo hiểm tài sản kỹ thuật luôn là nghiệp vụ có lãi kỹ thuật cao nhất, nhưng cũng là nghiệp vụ có nội dung các sản phẩm cũng như công tác quản lý khai thác, bồi thường phức tạp nhất. Không ngoại lệ, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt) với thế mạnh là doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cũng đang tích cực đầu tư phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật nhằm từng bước nâng cao hiệu quả khai thác đi đôi với tăng trưởng doanh thu, thị phần. Chiến lược phát triển của Bảo hiểm Bảo Việt đã có những thành công nhất định, nhưng vẫn không tránh khỏi những hạn chế như hiệu quả nghiệp vụ chưa đạt được như mong muốn. Với mục tiêu đi sâu phân tích thực trạng phát triển cùng những nhân tố ảnh hưởng và giải pháp đối với nghiệp vụ tài sản kỹ thuật tại Bảo hiểm Bảo Việt, tôi đã lựa chọn đề tài: “Phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt” làm luận văn Thạc sĩ của mình.
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỊNH
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng sự nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không
vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Học viên
Phạm Trung Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giáo viên hướng dẫnluận văn – PGS, TS Nguyễn Văn Định, người đã giúp đỡ và có những ý kiến đónggóp cũng như chỉ dẫn vô cùng chu đáo từ quá trình chọn lọc đề tài luận văn cho đến
đề cương chi tiết cũng như nội dung của luận văn Với chuyên môn về nghiên cứukhoa học cũng như kiến thức chuyên ngành và thực tiễn vô cùng uyên bác, giáoviên hướng dẫn đã giúp nghiên cứu sinh có một góc nhìn đúng đắn để có nhữngđiều chỉnh thích hợp cho bài nghiên cứu Tôi cũng trân trọng cảm ơn các giảng viêntrong Khoa Bảo Hiểm qua cả quá trình giảng dạy trong suốt những kỳ học và cảnhững đóng góp vô cùng quý báu giúp nghiên cứu sinh có thể chọn lựa đề tài cũngnhư phương pháp phù hợp để thực hiện luận văn
Trân trọng cảm ơn các giảng viên trong Khoa Bảo Hiểm, Viện Đào tạo sauđại học, trường Đại học Kinh tế quốc dân và Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt đãtạo những điều kiện tốt nhất để tác giả thực hiện luận văn
Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến các đơn vị mà tácgiả đã có điều kiện gặp gỡ, khảo sát và các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan,
đã đóng góp những thông tin vô cùng quý báu và những ý kiến xác đáng, để tác giả
có thể hoàn thành nghiên cứu này
Học viên
Phạm Trung Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6Số tiền bảo hiểmGiá trị bảo hiểm
Trang 7Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Bảo Việt (2015-2019) 67Bảng 2.2: Doanh thu các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ năm 2019 83Bảng 2.3: Tốc độ gia tăng số lượng hợp đồng bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Tổng
công ty bảo hiểm Bảo Việt 83Bảng 2.4: Tỷ trọng doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật 89Bảng 2.5: Tình hình bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Bảo hiểm
Bảo Việt (2015-2019) 90Bảng 2.6: Chi phí giám định và đề phòng hạn chế tổn thất của Bảo hiểm Bảo Việt
(2015-2019) 93Bảng 2.7: Kết quả kinh doanh của bảo hiểm tài sản kỹ thuật từ năm 2015 đến
năm 2019 93
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 2.1: Tốc độ gia tăng số tiền bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Tổng công ty bảo
hiểm Bảo Việt 84Biểu đồ 2.2: Doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Bảo hiểm Bảo Việt
(Giai đoạn 2015-2019) 86Biểu đồ 2.3: Cơ cấu doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Bảo hiểm
Bảo Việt (Giai đoạn 2015-2019) 87Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật của
Bảo hiểm Bảo Việt (Giai đoạn 2015-2019) 88Biểu đồ 2.5: Tốc độ phát triển số tiền bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ
thuật của Bảo hiểm Bảo Việt (Giai đoạn 2015-2019) 92Biểu đồ 2.6: Hiệu quả kinh doanh theo doanh thu và theo lợi nhuận Nghiệp vụ Tài
Bảo hiểm Bảo Việt tại CTTV 79
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đang từng bước chuyển dịch cơ cấu khaithác từ những nghiệp vụ ít có hiệu quả như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm con ngườisang những nghiệp vụ đạt hiệu quả kinh doanh cao như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểmtài sản kỹ thuật Trong đó, bảo hiểm tài sản kỹ thuật luôn là nghiệp vụ có lãi kỹ thuậtcao nhất, nhưng cũng là nghiệp vụ có nội dung các sản phẩm cũng như công tác quản
lý khai thác, bồi thường phức tạp nhất
Không ngoại lệ, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt) vớithế mạnh là doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cũngđang tích cực đầu tư phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật nhằm từng bướcnâng cao hiệu quả khai thác đi đôi với tăng trưởng doanh thu, thị phần Chiến lượcphát triển của Bảo hiểm Bảo Việt đã có những thành công nhất định, nhưng vẫnkhông tránh khỏi những hạn chế như hiệu quả nghiệp vụ chưa đạt được như mongmuốn
Với mục tiêu đi sâu phân tích thực trạng phát triển cùng những nhân tố ảnhhưởng và giải pháp đối với nghiệp vụ tài sản kỹ thuật tại Bảo hiểm Bảo Việt, tôi đã
lựa chọn đề tài: “Phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty Bảo hiểm
Bảo Việt” làm luận văn Thạc sĩ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
a) Mục tiêu tổng quát
Đánh giá sự phát triển nghiệp vụ tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty Bảo hiểmBảo Việt, qua đó đề xuất các giải pháp, phương hướng nhằm phát triển mạnh mẽnghiệp vụ này trong tương lai
Trang 10- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tạiTổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tàisản kỹ thuật trong giai đoạn 2015-2019 và giải pháp đề xuất đến năm 2025
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Chương 2: Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tạiTổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹthuật tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM TÀI SẢN
KỸ THUẬT TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
PHI NHÂN THỌ
Lịch sử ra đời và phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm kỹ thuật gắn liền với sự phát triểncủa cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật So với các loại hình bảo hiểm khác nhưhàng hải, bảo hiểm cháy thì bảo hiểm kỹ thuật ra đời muộn hơn rất nhiều Đơnbảo hiểm kỹ thuật đầu tiên trên thế giới là đơn bảo hiểm đổ vỡ máy móc đượccấp năm 1859 Nhu cầu tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và kỹ thuật đã là động lựcthúc đẩy làm cho bảo hiểm kỹ thuật phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết và trởthành một trong những loại hình bảo hiểm quan trọng không thể thiếu đối với
sự phát triển của mỗi nền kinh tế
Bảo hiểm kỹ thuật có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế,
xã hội trên toàn thế giới Từ việc bảo hiểm cho các máy móc sản xuất, các thiết bịdụng cụ tinh vi trong y tế, phòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm cho các côngtrình xây dựng khổng lồ như bến cảng, sân bay, dàn khoan trên biển v.v
Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Bước vào thế kỉ 21, sự phát triển của khoa học kỹ thuật sẽ là vấn đề then chốtcho sự đi lên của thế giới văn mình
Các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản rất đa dạng từ rủi ro cháy,
nổ, đến các rủi ro thiên tai như ngập lụt, động đất, núi lửa, mưa bão, giông, cácrủi ro do con người gây ra như bạo loạn đình công, trộm cắp, v.v
Với điều kiện tài chính của mình, chỉ với một khoản phí bảo hiểm rất nhỏ trảcho công ty bảo hiểm, khi gặp tổn thất người được bảo hiểm sẽ nhận được khoảntiền bồi thường của công ty bảo hiểm và chủ động nhanh chóng khôi phục công việcsản xuất kinh doanh trở lại bình thường
Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm thiết bị điện tử, các công ty bảo hiểm luôncùng các ngành, các cơ quan hữu quan khác phối hợp tiến hành công tác đề phòng,
Trang 12hạn chế tổn thất nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể gây ra thiệt hại đốivới tài sản, con người Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản kĩ thuật, các biệnpháp đề phòng, chữa cháy, kiểm tra, giám định các thiết bị máy móc, đóng vai tròquan trọng.
Vai trò của bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Thứ nhất, góp phần ổn định tài chính, ổn định tình hình sản xuất kinh doanhcho doanh nghiệp hoặc cá nhân khi gặp phải rủi ro
Thứ hai, tích cực góp phần ngăn ngừa và đề phòng nguy cơ tổn thất giúp chocuộc sống của con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn
Thứ ba, bảo hiểm tài sản kỹ thuật là chỗ dựa tinh thần cho người tham giabảo hiểm, giúp họ yên tâm trong cuộc sống và trong hoạt động sản xuất kinh doanh,xây dựng, lắp đặt
Thứ tư, góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước Nguồn thu chủ yếu củacác công ty bảo hiểm là từ phí đóng của khách hàng
Thứ năm, góp phần làm giảm nạn thất nghiệp - đây là vấn đề mà Chính phủrất quan tâm và luôn tìm mọi cách để tạo ra công ăn việc làm cho xã hội
Thứ sáu, nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật là một nghiệp vụ quan trọngtrong kinh doanh bảo hiểm gốc tại mỗi công ty bảo hiểm phi nhân thọ
Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Người được bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
Phí bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm
Các sản phẩm bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm tài sản
Các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật
Các sản phẩm bảo hiểm tài sản kỹ thuật khác
Phát triển Bảo hiểm bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Sự cần thiết phải phát triển Bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ
Trang 13Quan niệm về sự phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển trong nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Các nhân tố khách quan
Các nhân tố chủ quan
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TÀI SẢN
KỸ THUẬT TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
Giới thiệu về Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Sự ra đời và phát triển
Là doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên trên thị trường (từ 15/01/1965), TổngCông ty Bảo hiểm Bảo Việt là công ty con được Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100%vốn Ngày 29/03/2019, Bộ Tài chính đã cấp Giấy phép điều chỉnh cho Bảo hiểmBảo Việt, theo đó vốn điều lệ của Bảo hiểm Bảo Việt là 2.900 tỷ đồng
Với hơn 50 năm hình thành và phát triển, Bảo hiểm Bảo Việt tự hào là nhà bảohiểm tiên phong trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tại thị trường Việt Nam vớinhiều giải thưởng danh giá được Nhà nước trao tặng, đồng thời luôn giữ vững vị trídẫn đầu trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ về thị phần và doanh thu
Với hệ thống mạng lưới gồm 79 công ty thành viên, với gần 30.000 đại lý vàtrên 300 phòng phục vụ khách hàng trên toàn quốc, hơn 3.000 cán bộ nhân viên cótrình độ chuyên môn cao, tiềm lực tài chính vững mạnh, năng lực quản lý - kinhdoanh và giải quyết khiếu nại tốt, Bảo hiểm Bảo Việt có thể đáp ứng mọi yêu cầubảo hiểm, bồi thường của khách hàng một cách nhanh chóng, kịp thời và chuyênnghiệp
Ngành nghề và lĩnh vực hoạt động của công ty
Ngành nghề kinh doanh
Sản phẩm và thị trường
Kinh doanh tái bảo hiểm
Giám định và giải quyết bồi thường
Hoạt động đầu tư
Kết quả hoạt động kinh doanh của Bảo Việt (2015 – 2019)
Trang 14Bảo Việt đã trải qua hơn 55 năm hình thành, phát triển và đã đạt được nhiềuthành tựu nổi bật trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, luôn là công tybảo hiểm dẫn đầu về thị phần và doanh thu bảo hiểm Với hệ thống mạng lưới gồm
79 công ty thành viên, với gần 30.000 đại lý và trên 300 phòng phục vụ khách hàngtrên toàn quốc, hơn 3.000 cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, tiềm lực tàichính vững mạnh, năng lực quản lý - kinh doanh và giải quyết khiếu nại tốt, BảoViệt có thể đáp ứng mọi yêu cầu bảo hiểm, bồi thường của khách hàng một cáchnhanh chóng, kịp thời và chuyên nghiệp
Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục đưa ra các mục tiêu khẳng định vị trí số 1 và dẫndắt kiến tạo thị trường với thông điệp “Quản trị hiệu quả - Công nghệ tiên phong”,
đi đầu trong việc ứng dụng cách mạng công nghệ 4.0 không chỉ trong các hoạt độngkinh doanh, quản trị mà còn trong các công tác bán hàng, chất lượng dịch vụ đểmang lại cho khách hàng những sản phẩm bảo hiểm tài chính trọn gói một cáchnhanh nhất, thúc đẩy sự phát triển bền vững cũng như tính hiệu quả cao nhất; Đảmbảo thực hiện tốt cam kết với người lao động, chủ sở hữu, khách hàng và đối tác
Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Bảo Việt
Cơ sở pháp lý triển khai nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Quy trình triển khai bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Kết quả kinh doanh nghiệp vụ
Về công tác giám định bồi thường
Đánh giá thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật ở Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Kết quả đạt được
Bảo Việt cũng tính lợi nhuận của bảo hiểm tài sản kỹ thuật bằng cách lấy doanhthu phí bảo hiểm trừ đi chi phí Doanh thu phí bảo hiểm tài sản kỹ thuật là khoản phíthu được từ các hợp đồng bảo hiểm Chi phí được chia thành chi bồi thường, chi quản
lý, chi hoa hồng đại lý trong đó chi bồi thường là khoản tiền được dùng để chi trả choyêu cầu bồi thường cho khách hàng cũng là khoản chi lớn nhất; chi quản lý là chi giántiếp phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đảm bảo chi quá trình hoạt động diễn ra bìnhthường gồm chi phí lương cho nhân viên, chi phí vật liệu, đồ dùng, dụng cụ, thuế, lệphí nhà đất; chi hoa hồng đại lý là khoản chi được trích trực tiếp từ doanh thu trả cho
Trang 15bên đại lý môi giới
Bên cạnh chỉ tiêu lợi nhuận, các công ty bảo hiểm trong đó có Bảo Việt còn
sử dụng chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh theo lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh theodoanh thu để đánh giá hiệu quả việc triển khai bảo hiểm du lịch quốc tế
Bên cạnh kết quả kinh doanh đã phân tích ở trên, hiệu quả kinh doanh củaBảo hiểm Bảo Việt cũng rất cần được chú trọng Trong đó, các chỉ tiêu đánh giáhiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Bảo hiểm Bảo Việtbao gồm tỷ lệ lợi nhuận, hiệu quả khai thác theo doanh thu và hiệu quả khai tháctheo lợi nhuận
Hạn chế và nguyên nhân
Hạn chế
Bên cạnh những thành công đạt được nêu trên, trong thời gian vừa qua, nghiệp
vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Bảo hiểm Bảo Việt vẫn tồn tại một số hạn chế nhưsau:
- Mạng lưới khai thác và phân phối còn chưa phát huy hết khả năng: Hiệnnay, các kênh khai thác đã có những bước phát triển nhất định nhưng chưa thực sựđồng đều, chủ yếu đang đang khai thác trực tiếp và môi giới
- Chưa xây dựng được hệ thống quản trị thông tin nhóm khách hàng tổ chức:Bảo hiểm Bảo Việt chưa có một cơ sở dữ liệu nhóm khách hàng tổ chức thống nhấtgây khó khăn trong công tác quản trị và xây dựng các chính sách chăm sóc kháchhàng doanh nghiệp, khách hàng lớn
- Bộ tài liệu quy tắc, biểu mẫu và hướng dẫn khai thác nghiệp vụ chưa đượcchuẩn hóa: Qua quá trình phát triển của nghiệp vụ, hệ thống tài liệu nghiệp vụ vàbiểu mẫu khai thác được bổ sung dần theo nhu cầu kinh doanh tuy nhiên còn chưahoàn thiện và đầy đủ
- Công tác giám định bồi thường sản phẩm mới vẫn còn đang gặp nhiềuvướng mắc: Hiện tại, các sản phẩm mới thuộc nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuậtđược phát triển mạnh mẽ bước đầu đang mang lại nguồn doanh thu ổn định chodoanh nghiệp
- Công tác đánh giá rủi ro trước khi cấp đơn chưa được chú trọng một cáchđúng mực
Nguyên nhân
Trang 16- Mạng lưới khai thác và phân phối còn chưa phát huy hết khả năng
- Chưa xây dựng được hệ thống quản trị thông tin khách hàng
- Bộ tài liệu quy tắc, biểu mẫu và hướng dẫn khai thác nghiệp vụ chưa đượcchuẩn hóa
- Công tác nghiên cứu ban hành sản phẩm mới chưa đạt được hiệu quả cao
- Công tác đánh giá rủi ro trước khi cấp đơn chưa được chú trọng một cáchđúng mực
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TÀI
SẢN KỸ THUẬT TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
Định hướng phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Định hướng kinh doanh chung của Bảo hiểm Bảo Việt tới năm 2025
Định hướng phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật của Bảo Việt tới năm 2025
Các giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Phát triển kênh khai thác và địa bàn hoạt động cả về chiều rộng và chiều sâu Quản trị thông tin nhóm khách hàng tổ chức bằng phần mềm
Chuẩn hóa các quy tắc bảo hiểm, các biểu mẫu và quy trình khai thác
Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới
Chấn chỉnh công tác đánh giá rủi ro và giám định bồi thường tổn thất
Chú trọng công tác phát triển nguồn nhân lực
Tăng cường hợp tác với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm trong và ngoài nướcĐẩy mạnh công tác đào tạo nghiệp vụ
Nâng cao năng lực tài chính thông qua việc tăng vốn chủ sở hữu
Xây dựng văn hóa kinh doanh
Kiến nghị
Đối với Nhà nước
Đối với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
KẾT LUẬN
Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành kinh tếtrong đó các ngành xây dựng, giao thông vận tải… kéo theo nghiệp vụ bảo hiểm tài
Trang 17sản kỹ thuật cũng được gián tiếp hưởng lợi khi ngày càng nhiều công trình đượckhởi công và các công trình hiện đại đi vào hoạt động cần có nhu cầu bảo hiểm khigặp rủi ro xảy ra Bảo hiểm Bảo Việt mặc dù gặt hái được nhiều thành công trongviệc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tạinhiều khuyết điểm, vì vậy, hoạt động kinh doanh loại hình bảo hiểm này tại Bảo Việtchưa thực sự đóng góp nguồn lợi nhuận tương xứng với mức đóng góp từ doanh thuđem lại
Với đặc thù sản phẩm có tính kỹ thuật nghiệp vụ cao, việc phát triển mở rộngquy mô nghiệp vụ còn gặp khá nhiều khó khăn từ nội tại của doanh nghiệp bảohiểm và yếu tố cạnh tranh của thị trường
Qua phân tích thực tế tình hình triển khai tại Bảo hiểm Bảo Việt, Luận vănThạc sĩ: “Phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt”
đã đánh giá được kết quả kinh doanh và bồi thường của nghiệp vụ Đồng thời, luậnvăn cũng đã đề xuất những giải pháp cụ thể sát với thực tế của doanh nghiệp nhằmphát triển hơn nữa nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật trong thời gian tiếp theo
Trang 18LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỊNH
Hà Nội - 2020
Trang 19LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế nước ta đang từng bước mở cửa và hội nhập kinh tếquốc tế, ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng đã gópphần quan trọng trong việc ổn định an toàn tài chính cho các cá nhân, doanhnghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó tác động tích cực đến
sự tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế
Năm 2015, bức tranh chung về tình hình kinh tế thế giới tuy chưa thực sựkhởi sắc, nhưng cũng đã bớt ảm đạm Nhịp độ tăng trưởng chung của nền kinh tếthế giới vẫn chưa đạt mức dự báo, tuy nhiên, những tác động của khủng hoảng tàichính và nợ công không còn trầm trọng, kinh tế toàn cầu bắt đầu thích nghi dần vớinhững biến động về chính trị, an ninh Trong nước, kinh tế Việt Nam nằm trong số
ít quốc gia có tốc độ phục hồi ấn tượng, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểmsoát ở mức thấp Trong bối cảnh đó, các ngành tài chính ngân hàng nói chung vẫncòn gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, ngành bảo hiểm vẫn luôn giữ được mức tăngtrưởng cao và ổn định
Với đặc thù kinh doanh rủi ro, ngành bảo hiểm luôn đối diện với nguy cơ thua
lỗ nếu không có các biện pháp quản trị rủi ro phù hợp Theo đó, các công ty bảo hiểmphi nhân thọ đang từng bước chuyển dịch cơ cấu khai thác từ những nghiệp vụ ít cóhiệu quả như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm con người sang những nghiệp vụ đạt hiệuquả kinh doanh cao như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản kỹ thuật Trong đó, bảohiểm tài sản kỹ thuật luôn là nghiệp vụ có lãi kỹ thuật cao nhất, nhưng cũng là nghiệp
vụ có nội dung các sản phẩm cũng như công tác quản lý khai thác, bồi thường phứctạp nhất
Không ngoại lệ, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt) vớithế mạnh là doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cũngđang tích cực đầu tư phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật nhằm từng bướcnâng cao hiệu quả khai thác đi đôi với tăng trưởng doanh thu, thị phần Chiến lược
Trang 20phát triển của Bảo hiểm Bảo Việt đã có những thành công nhất định, nhưng vẫnkhông tránh khỏi những hạn chế như hiệu quả nghiệp vụ chưa đạt được như mongmuốn
Với mục tiêu đi sâu phân tích thực trạng phát triển cùng những nhân tố ảnhhưởng và giải pháp đối với nghiệp vụ tài sản kỹ thuật tại Bảo hiểm Bảo Việt, tôi đã
lựa chọn đề tài: “Phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty Bảo hiểm
Bảo Việt” làm luận văn Thạc sĩ của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
c) Mục tiêu tổng quát
Đánh giá sự phát triển nghiệp vụ tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty Bảo hiểmBảo Việt, qua đó đề xuất các giải pháp, phương hướng nhằm phát triển mạnh mẽnghiệp vụ này trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tạiTổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tàisản kỹ thuật trong giai đoạn 2015-2019 và giải pháp đề xuất đến năm 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp khác nhau mang tính chất truyền thốngtrong nghiên cứu kinh tế làm cơ sở cho việc nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
Trang 21làm rõ nguồn gốc và bản chất sự của bảo hiểm tài sản kỹ thuật cũng như sự pháttriển của nghiệp vụ bảo hiểm này tại Bảo hiểm Bảo Việt;
Trang 22- Phương pháp thu thập tổng hợp: Luận văn thu thập thông tin, tổng hợp vàphân tích số liệu dựa trên các nguồn thông tin thứ cấp từ báo cáo tài chính, các báo cáothường niên, báo cáo tổng hợp kinh doanh, bồi thường của Bảo hiểm Bảo Việt, báo cáo
số liệu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm và Hiệphội Bảo hiểm Việt Nam, các quy định của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm
- Phương pháp phân tích thông tin số liệu thứ cấp: Sử dụng đồ thị, bảng biểu
để mô tả số liệu So sánh số liệu giữa các năm, phân tích cơ cấu Qua đó rút ra nhậnxét và đánh giá về dịch vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Tổng công ty
- Phương pháp so sánh: Luận văn đối chiếu dữ liệu nghiên cứu về Bảo hiểmBảo Việt với thị trường bảo hiểm nói chung cũng như giữa các nghiệp vụ thuộc bảohiểm tài sản kỹ thuật với nhau để đưa ra cái nhìn tổng quát về đối tượng nghiên cứu
5 Đóng góp khoa học của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về bảohiểm tài sản kỹ thuật và phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật
- Về mặt thực tiễn: Luận văn phân tích thực trạng phát triển nghiệp vụ bảohiểm tài sản kỹ thuật tại Bảo hiểm Bảo Việt qua đó làm rõ các kết quả đạt được, hạnchế và nguyên nhân Đồng thời, căn cứ xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểmtài sản kỹ thuật, luận văn đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị phát triểnnghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại Bảo hiểm Bảo Việt trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật tại doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Chương 2: Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật tạiTổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹthuật tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM TÀI SẢN
KỸ THUẬT TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
PHI NHÂN THỌ
1.1 Lịch sử ra đời và phát triển bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Vào thời kỳ Trung đại, Phục Hưng, ở Châu Âu vẫn chưa có hệ thống phòngcháy, chữa cháy hữu hiệu Khi hỏa hoạn xảy ra, người bị hại thường dựa vào sựgiúp đỡ của các phường hội Nguồn gốc của Bảo hiểm tài sản có thể được coi bắtnguồn từ cuộc đại hỏa hoạn tại London năm 1666 thiêu hủy hơn 13000 ngôi nhà vàgần như toàn bộ thành phố, người ta mới ý thức được tầm quan trọng của việc thiếtlập hệ thống phòng cháy, chữa cháy và bồi thường cho người bị thiệt hại Các tácđộng tàn phá của ngọn lửa chuyển đổi sự phát triển của bảo hiểm tài sản từ vấn đềthuận tiện thành vấn đề khẩn cấp Năm 1681 nhà kinh tế Nicholas Barbon và mườimột cộng sự đã thành lập công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên với tên gọi "InsuranceOffice for Houses", ở phía sau Sàn giao dịch Hoàng gia để bảo hiểm gạch và nhàkhung Ban đầu, 5000 ngôi nhà được bảo hiểm bởi Văn phòng Bảo hiểm của Barbon.Sau đó, hàng loạt các công ty bảo hiểm hỏa hoạn khác được thành lập và dần lan rộngsang các nước khác trên các Châu lục Tại Colonial Mỹ, năm 1752 Benjamin Franklin
đã giúp phổ biến và thực hành các tiêu chuẩn của bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm tài sảnđối với rủi ro lan rộng do cháy, ông thành lập Tổ chức đóng góp Philadelphia cho Bảohiểm nhà ở khỏi mất mát do hỏa hoạn Công ty của Franklin từ chối bảo hiểm một sốtòa nhà, như nhà gỗ, nơi nguy cơ hỏa hoạn là quá lớn Bảo hiểm hỏa hoạn đã trở thànhloại hình đầu tiên trong nghiệp vụ bảo hiểm tài sản Ngày nay, nghiệp vụ bảo hiểm tàisản được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển
Mặt khác, sự ra đời và phát triển của bảo hiểm kỹ thuật gắn liền với sựphát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật So với các loại hình bảo hiểmkhác như hàng hải, bảo hiểm cháy thì bảo hiểm kỹ thuật ra đời muộn hơn rấtnhiều Đơn bảo hiểm kỹ thuật đầu tiên trên thế giới là đơn bảo hiểm đổ vỡ máy
Trang 24móc được cấp năm 1859 Nhu cầu tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giớilần thứ hai và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và kỹ thuật đã
là động lực thúc đẩy làm cho bảo hiểm kỹ thuật phát triển mạnh mẽ hơn baogiờ hết và trở thành một trong những loại hình bảo hiểm quan trọng không thểthiếu đối với sự phát triển của mỗi nền kinh tế
Bảo hiểm kỹ thuật có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế,
xã hội trên toàn thế giới Từ việc bảo hiểm cho các máy móc sản xuất, các thiết bịdụng cụ tinh vi trong y tế, phòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm cho các côngtrình xây dựng khổng lồ như bến cảng, sân bay, dàn khoan trên biển v.v
Ngày nay Bảo hiểm kỹ thuật đã có sự phát triển rất nhanh và tương đối hoànchỉnh bao gồm các loại hình chính sau:
- Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
- Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt
- Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
- Bảo hiểm thiết bị điện tử
- Bảo hiểm mất thu nhập cho máy móc ngừng hoạt động
- Bảo hiểm máy móc thiết bị chủ thầu
Các loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm kỹ thuật có liên quan chặt chẽ vớinhau Mỗi loại hình đảm bảo cho một giai đoạn hay một khâu quá trình sản xuất
Cho đến nay bảo hiểm xây dựng, lắp đặt cũng như bảo hiểm kỹ thuật có sựphát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Với xu thế phát triển như hiệnnay, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt còn phát triển và tiến xa hơn nữa trong tương lai
Ở Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm tài sản cũng được triển khai sớm vào cuốinăm 1989 sau khi có Quyết định 06/ TCQĐ ngày 17/1/1989 của Bộ trưởng Bộ TàiChính và Bảo Việt là doanh nghiệp đầu tiên triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy Saumột thời gian thực hiện để phù hợp hơn với thực tế, Bộ Tài Chính đã ban hành thêmmột số quyết định: Quyết định số 142/TCQĐ về quy tắc và biểu phí mới và quyếtđịnh số 212/TCQĐ ngày 12/4/1993 ban hành biều phí bảo hiểm cháy và các rủi rođặc biệt với mức phí tối đa thay cho biểu phí cũ theo Quyết định số 142/TCQĐ và
Trang 25mới nhất là Quyết định 28/2007/QĐ- BTC ngày 24/04/2007 về quy tắc và biểu phíbảo hiểm cháy bắt buộc Với việc ban hành Nghị định 130/2006/NĐ - CP ngày08/11/2006 và Thông tư 220/2010/TT-BTC về quy định chế độ bảo hiểm cháy nổbắt buộc đã làm cho thị trường bảo hiểm tài sản trở thành chiếc bánh hấp dẫn đốivới nhiều doanh nghiệp bảo hiểm.
Tính đến năm 1990 nước ta đã có khoảng 16 doanh nghiệp triển khai nghiệp
vụ này với giá trị bảo hiểm lên tới 6.200 tỷ đồng Mặc dù đối tượng bảo hiểm chủyếu của doanh nghiệp là các kho xăng dầu còn phần lớn các khách sạn, chợ, nhàmáy… có giá trị lớn vẫn chưa được bảo hiểm, song năm 1994 thì loại hình này đãđược triển khai ở hầu hết 53 tỉnh thành phố với tổng giá trị bảo hiểm 27.000 tỷđồng Còn giai đoạn 1994-1995 thì có sự xuất hiện của một số công ty bảo hiểm phinhân thọ: Bảo Minh, Pjico, Bảo Long… đã hâm nóng thị trường bảo hiểm cháy Từ
đó cho đến nay chúng ta tiếp tục chứng kiến sự phát triển đa dạng và sôi động củathị trường bảo hiểm cháy với sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhưBảo hiểm Bảo Việt, BIC, MIC, ABIC… Từ ngày 01/01/2008 cuộc cạnh trạnh trênthị trường bảo hiểm cháy diễn ra khốc liệt hơn, khi Việt Nam sẽ thực hiện lộ trìnhcam kết WTO, các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài sẽ được khai thác sảnphẩm bảo hiểm bắt buộc trong đó có bảo hiểm cháy nổ
Bên cạnh đó, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt bắt đầu phát triển từ khi BộTài Chính cho phép sử dụng đơn bảo hiểm, quy tắc và biểu phí của nhà tái bảohiểm Munich Re Sau khi đất nước mở cửa (năm 1986) và hội nhập với nềnkinh tế khu vực và thế giới Bảo hiểm xây dựng lắp đặt ở nước ta có nhữngbước phát triển rất đáng mừng từ hành lang pháp lý cho đến sự hoạt động củacung cầu bảo hiểm trên thị trường Đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đầu tiên
ở Việt Nam được cấp là đơn bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt cho trạm thu phát vệtinh mặt đất Láng Trung Đây là công trình liên doanh giữa Tổng Công ty Bưuchính Viễn thông Việt Nam và hãng Teltra của Úc.Do phát triển nhanh nênnghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật đã đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong tổng doanh thuphí của DNBH Phi Nhân Thọ
Trang 261.2 Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm tài sản kỹ thuật
1.2.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Bước vào thế kỉ 21, sự phát triển của khoa học kỹ thuật sẽ là vấn đề then chốtcho sự đi lên của thế giới văn mình Các công trình xây dựng kỹ thuật cao được đầu
tư lớn, các máy móc thiết bị giá trị lớn được đầu tư đưa vào sử dụng để nâng caohiệu quả công việc, các tòa nhà cao tầng, chung cư, khu trung tâm thương mại hiệnđại, v.v ngày một phát triển và tăng trưởng nhanh chóng cùng với sự phát triển củanền kinh tế Từ đó, đặt ra một yêu cầu đảm bảo về mặt tài chính nhằm tiến triển liêntục nhanh chóng và có hiệu quả
Các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản rất đa dạng từ rủi ro cháy,
nổ, đến các rủi ro thiên tai như ngập lụt, động đất, núi lửa, mưa bão, giông, cácrủi ro do con người gây ra như bạo loạn đình công, trộm cắp, v.v Tương tự,các rủi ro được bảo hiểm trong xây dựng lắp đặt thường gặp như rủi ro cháy,
nổ, rủi ro thiên tai, lún và sạt lở đất, rủi ro trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ
ba Nó gây tác hại không chỉ cho một ngành hay một khu vực kinh tế mà cònnhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau Nếu có rủi ro xảy ra dẫn đến tổnthất lớn, có thể dẫn đến phá sản
Cũng giống các loại hình bảo hiểm khác, bảo hiểm tài sản kĩ thuật nhằm ổnđịnh hoạt động của các tổ chức kinh tế trong trường hợp chẳng may gặp các rủi ronói trên Với việc thu phí bảo hiểm từ nhiều tổ chức kinh tế và cá nhân có liên quantrong nền kinh tế để lập quỹ bảo hiểm và quan hệ tái bảo hiểm có đủ khả năng bồithường ngay tổn thất cho người được bảo hiểm, đặc biệt với các tổn thất lớn, giúpngười được bảo hiểm nhanh chóng khắc phục hậu quả tổn thất, khôi phục sản xuấtkinh doanh và đời sống
Thêm vào đó, với cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp phải chủđộng trong sản xuất kinh doanh, không được trợ cấp trong các trường hợp khôngmay gặp phải rủi ro làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Do đó, các doanhnghiệp có xu hướng quan tâm đến vấn đề bảo hiểm Nếu tham gia bảo hiểm, trongtrường hợp gặp phải các rủi ro gây ra thiệt hại tới tài sản, tiền vốn của họ thì bảo
Trang 27hiểm sẽ bồi thường kịp thời các tổn thất đó, giúp người được bảo hiểm giải quyếtngay khó khăn về mặt tài chính Với điều kiện tài chính của mình, chỉ với mộtkhoản phí bảo hiểm rất nhỏ trả cho công ty bảo hiểm, khi gặp tổn thất người đượcbảo hiểm sẽ nhận được khoản tiền bồi thường của công ty bảo hiểm và chủ độngnhanh chóng khôi phục công việc sản xuất kinh doanh trở lại bình thường.
Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm thiết bị điện tử, các công ty bảo hiểm luôncùng các ngành, các cơ quan hữu quan khác phối hợp tiến hành công tác đề phòng,hạn chế tổn thất nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể gây ra thiệt hại đốivới tài sản, con người Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản kĩ thuật, các biệnpháp đề phòng, chữa cháy, kiểm tra, giám định các thiết bị máy móc, đóng vai tròquan trọng
1.2.2 Vai trò của bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Khi tham gia bảo hiểm nói chung cũng như bảo hiểm tài sản kỹ thuật nóiriêng đều mang lại cho cá nhân, tổ chức, cộng đồng những lợi ích kinh tế thiết thực.Bởi vậy, bảo hiểm tài sản kỹ thuật có vai trò rất lớn:
Thứ nhất, góp phần ổn định tài chính, ổn định tình hình sản xuất kinh doanhcho doanh nghiệp hoặc cá nhân khi gặp phải rủi ro Các rủi ro như cháy, nổ, thiêntai, v.v có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà ta không thể lường trước vì những nguyênnhân bất ngờ, ngoài tầm kiểm soát Tổn thất xảy ra có thể là rất lớn như đối với cánhân, hộ gia đình là toàn bộ giá trị tài sản nằm trong ngôi nhà của họ Còn vớidoanh nghiệp không những bị thiệt hại về tài sản, mà còn làm gián đoạn đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận cũng như uy tín củadoanh nghiệp Nhưng khi tham gia bảo hiểm tài sản kỹ thuật thì cá nhân, doanhnghiệp sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường nhanh chóng kịp thời từ đó giảm gánhnặng về tài chính, nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất kinhdoanh Từ đó họ khôi phục, phát triển kinh doanh và các hoạt động khác một cáchbình thường như vậy sẽ tạo ra ổn định chung cho xã hội
Thứ hai, tích cực góp phần ngăn ngừa và đề phòng nguy cơ tổn thất giúp chocuộc sống của con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn Khi tham gia bảo hiểm tài
Trang 28sản kỹ thuật, người tham gia phải nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Phí nàyngoài dùng để bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì nó còn được sử dụng trongcông tác đề phòng hạn chế tổn thất, thông qua việc thông kê xác định nguyên nhân củacác vụ tổn thất, đánh giá khu vực có mức độ rủi ro cao, chi phí trang bị cho khách hàngnhững phương tiện phòng cháy chữa cháy… Ngoài ra doanh nghiệp bảo hiểm còn phốihợp với nhà nước thực hiện công tác tuyền truyền phổ biến kiến thức phòng cháy chữacháy cho toàn dân, đầu tư trang thiết bị phòng cháy chữa cháy… Những hoạt động nàykhông chỉ có đối tượng tham gia bảo hiểm được lợi mà xã hội cũng trở nên an toànhơn.
Thứ ba, bảo hiểm tài sản kỹ thuật là chỗ dựa tinh thần cho người tham giabảo hiểm, giúp họ yên tâm trong cuộc sống và trong hoạt động sản xuất kinh doanh,xây dựng, lắp đặt Với việc đóng một khoản phí với tỷ lệ nhỏ so với giá trị tài sảntham gia bảo hiểm thì các cá nhân, doanh nghiệp sẽ nhận được sự giúp đỡ từ công
ty bảo hiểm để khắc phục hậu quả khôn lường Hiện nay xu hướng tòan cầu hóa nênrất nhiều công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam vì thế mà rất nhiều khu côngnghiệp, công trình cao ốc mọc lên san sát với số vốn lên tới hàng trăm tỷ đồng mànguy cơ tổn thất do cháy, nổ, thiên tai xảy ra ở đây là luôn thường trực Vì thế bảohiểm tài sản kỹ thuật sẽ giúp các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư và mở rộng sảnxuất kinh doanh Ngoài ra hợp đồng bảo hiểm tài sản còn là một bằng chứng của sựđảm bảo để doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng Nếu rủi ro xảy ra thì doanhnghiệp sẽ được bồi thường từ phía công ty bảo hiểm và sẽ đảm bảo khả năng trả nợcao hơn các doanh nghiệp không tham gia bảo hiểm
Thứ tư, góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước Nguồn thu chủ yếu củacác công ty bảo hiểm là từ phí đóng của khách hàng Đây là nguồn vốn rất lớn gópphần đầu tư phát triển kinh tế xã hội, nộp thuế cho ngân sách Nhà nước để từ đóNhà nước có điều kiện tái đầu tư nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việclàm cho người lao động từ đó thúc đẩy xã hội và tăng trưởng kinh tế Ngoài ra bảohiểm tài sản kỹ thuật còn góp phần tăng thu ngoại tệ thông qua hoạt động tái bảohiểm Vì đây là một nghiệp vụ có giá trị lớn nên để đảm bảo khả năng thanh toán
Trang 29cũng như uy tín của doanh nghiệp trên thị trường thì hoạt động tái bảo hiểm làđương nhiên và chủ yếu cho nhà tái nước ngoài.
Thứ năm, góp phần làm giảm nạn thất nghiệp - đây là vấn đề mà Chính phủrất quan tâm và luôn tìm mọi cách để tạo ra công ăn việc làm cho xã hội Vì hiệnnay bảo hiểm tài sản kỹ thuật ngày càng phát triển vì thế nghiệp vụ này luôn luônđòi hỏi một lượng nhân viên lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Thứ sáu, nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật là một nghiệp vụ quan trọngtrong kinh doanh bảo hiểm gốc tại mỗi công ty bảo hiểm phi nhân thọ Dù chiếm tỷtrọng doanh thu phí bảo hiểm gốc không lớn nhưng nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹthuật luôn là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận lớn nhất cho doanh nghiệp
1.3 Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật
1.3.1 Người được bảo hiểm
Trong bảo hiểm tài sản, Người được bảo hiểm là người có quan hệ với đốitượng bảo hiểm được pháp luật công nhận, là người có quyền sở hữu, chiếm hữu, sửdụng đối với đối tượng được bảo hiểm là tài sản Nói cách khác, Người được bảohiểm là người có quyền lợi có thể được bảo hiểm, bị thiệt hại về tài chính khi đốitượng bảo hiểm là tài sản gặp rủi ro
Trong bảo hiểm kỹ thuật, mỗi công trình xây dựng lắp đặt là một quy hoạchtổng thể liên quan đến rất nhiều khía cạnh của các vấn đề pháp luật, hợp đồng
và kỹ thuật cho nên việc hợp tác chặt chẽ giữa các bên là vấn đề cần thiếtkhông thể thiếu được Chính vì vậy việc xác định rõ người được bảo hiểm trongmột công trình xây dựng lắp đặt là rất cần thiết Trong bảo hiểm xây dựng lắpđặt, tất cả các bên liên quan đến công việc xây dựng lắp đặt và có quyền lợitrong công trình xây dựng và được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảohiểm đều có thể là người được bảo hiểm
- Chủ đầu tư hoặc chủ công trình (Bên A trong hợp đồng xây dựng)
- Nhà thầu chính (Bên B trong hợp đồng xây dựng)
- Các nhà thầu phụ
- Các kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn, cố vấn chuyên môn Tuy nhiên, các hợp đồng
Trang 30bảo hiểm xây dựng không bảo hiểm cho trách nhiệm nghề nghiệp của các kiến trúc sư,
cố vấn chuyên môn, các kỹ sư tư vấn, mặc dù họ có liên quan đến công trình xây dựng
Do đó có rất nhiều bên được bảo hiểm nên sẽ nảy sinh vấn đề đơn bảo hiểm
sẽ ghi tên ai hay ai là người được ghi tên đầu tiên Thông thường, người đứng ra kýkết hợp đồng bảo hiểm và đóng phí sẽ là người đại diện cho các bên trong hợp đồngbảo hiểm Vì vậy, trên hợp đồng sẽ ghi tên người đứng ra đại diện kèm theo danhsách những người có quyền lợi liên quan đến công trình
Các chủ thể khác trong hợp đồng bảo hiểm
- Người bảo hiểm: tổ chức hoặc cá nhân có đầy đủ tư cách pháp nhân đượcnhà nước cho phép tiến hành hợp đồng bảo hiểm, được thu phí để lập ra quỹ bảohiểm và chịu trách nhiệm bồi thường cho bên được bảo hiểm khi đối tượng bảohiểm gặp rủi ro
- Người tham gia: là người ký kết hợp đồng bảo hiểm nhằm tham gia bảohiểm cho chính mình và người thụ hưởng, đồng thời là người chịu trách nhiệm nộpphí khai báo rủi ro và thông báo thời hạn
- Người thụ hưởng: là người được chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm nhận
sự trợ giúp và bồi thường từ người bảo hiểm, người thụ hưởng có thể được chỉ địnhđích danh hoặc không đích danh
1.3.2 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của bảo hiểm tài sản là tất cả các loại tài sản thuộc quyền sở hữu
và quản lý hợp pháp của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức và cánhân thuộc mọi thành phần kinh tế Việc đánh giá đầy đủ rủi ro của đối tượng bảohiểm trong tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tính phí phù hợp và có kếhoạch kết hợp với chủ tài sản xây dựng kế hoạch phòng ngừa và hạn chế tổn thấthiệu quả nhất
Đối tượng của bảo hiểm xây dựng lắp đặt bao gồm tất cả các công trình xâydựng dân dụng, kỹ thuật, công trình công nghiệp ví dụ như nhà ở, tòa nhà vănphòng, bệnh viện, sân bay, đường cao tốc, đê kè, nhà máy thủy điện v.v Thôngthường, một công trình xây dựng lắp đặt được chia làm nhiều hạng mục tham gia
Trang 31bảo hiểm khác nhau bao gồm: cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng lắp đặt,trang thiết bị xây dựng, máy móc xây dựng, các tài sản có sẵn trên và xung quanhkhu vực công trường thuộc quyền sở hữu, quản lý, trông nom hay coi sóc của ngườiđược bảo hiểm, chi phí dọn dẹp hiện trường và trách nhiệm dân sự của người đượcbảo hiểm đối với bên thứ ba.
1.3.3 Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và giới hạn tráchnhiệm của công ty bảo hiểm Thông thường, đơn bảo hiểm tài sản kỹ thuật đượcchia thành hai loại hình: đơn bảo hiểm cho rủi ro định danh và đơn bảo hiểm mọirủi ro Trong đó:
- Đơn bảo hiểm cho rủi ro định danh liệt kê rõ các rủi ro được bảo hiểm theođơn và chỉ các thiệt hại phát sinh do các rủi ro đó mới được bảo hiểm Các sảnphẩm phổ biến của loại hình này là bảo nhiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt, bảohiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm nhà tư nhân, bảo hiểm công trình dân dụng kỹthuật đã hoàn thành v.v
- Đơn bảo hiểm mọi rủi ro không quy định rõ các rủi ro được bảo hiểm màchỉ quy định các rủi ro loại trừ theo đơn và tất cả các tổn thất phát sinh không thuộccác điểm loại trừ này sẽ được bảo hiểm Các sản phẩm phổ biến của loại hình này làbảo hiểm mọi rủi ro tài sản, bảo hiểm xây dựng/lắp đặt, bảo hiểm máy móc thiết bịchủ thầu, bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm nồi hơi v.v
1.3.4 Thời hạn bảo hiểm
Tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên mà thời hạn bảo hiểm được ghi rõtrong đơn bảo hiểm Đối với đơn bảo hiểm tài sản thời hạn bảo hiểm thường là 1năm Đối với đơn bảo hiểm kỹ thuật, thời hạn bảo hiểm thường là thời gian thi côngcông trình được tính từ khi bắt đầu khởi công công trình đến khi hoàn thiện haychuyển giao hoặc đưa vào sử dụng cộng với thời gian bảo hiểm bảo hành
1.3.5 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
+ Giá trị bảo hiểm
Trang 32Đối với bảo hiểm tài sản, giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế hoặc giá trị muamới của tài sản được bảo hiểm Việc xác định chính xác giá trị của tài sản là quantrọng vì đó là căn cứ để bồi thường chính xác giá trị thiệt hại khi có rủi ro xảy ra.
Đối với bảo hiểm kỹ thuật, giá trị bảo hiểm được tính cho từng hạng mục bảohiểm, trong đó chủ yếu là giá trị bảo hiểm đối với thiết bị được lắp đặt và các máymóc thiết bị phục vụ công tác xây dựng/lắp đặt được tính bằng giá trị thay thế mớicủa bất kỳ một máy móc hay thiết bị mới tương đương (bao gồm giá mua, chi phí
kỹ thuật, cước vận chuyển, thuế hải quan, chi phí lắp đặt, phí kho bãi)
+ Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là giá trị tính thành tiền theo giá thị trường của tài sản tạithời điểm tham gia bảo hiểm và được ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm và hoàntoàn do Người được bảo hiểm lựa chọn kê khai Đây là số tiền mà doanh nghiệpphải trả cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm Nó chính là giới hạn trách nhiệm của Công ty bảo hiểm Tức là,trong bất kỳ trường hợp tổn thất nào thì số tiền bồi thường của Công ty bảo hiểmkhông được vượt quá số tiền bảo hiểm
1.3.6 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm phải nộp cho công
ty bảo hiểm ngay sau khi cấp đơn Việc xác định chính xác phí sẽ quyết định đếnkết quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty Phí bảo hiểm có thể nộpmột lần hoặc nhiều lần do công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm thỏa thuận rõtrên hợp đồng Hiệu lực của đơn bảo hiểm chỉ được đảm bảo nếu người được bảohiểm thanh toán phí theo đúng quy định hợp đồng Trường hợp phát sinh tổn thấttrước thời hạn thanh toán phí, công ty bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảohiểm thanh toán nốt số phí còn lại của hợp đồng sau đó mới giải quyết bồi thường
Phí bảo hiểm của các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuậtthường được phân chia thành phí tiêu chuẩn và phụ phí Trong đó, tỷ lệ phí bảohiểm thường được quy định rõ bằng biểu phí của công ty bảo hiểm hoặc các vănbản pháp luật liên quan
Trang 331.3.7 Hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm là một văn bản pháp lý qua đó bên bảo hiểm sẽ cam kếtbồi thường cho bên được bảo hiểm là chủ tài sản, chủ các công trình xây dựng, lắpđặt khi có rủi ro xảy ra gây tổn thất, ngược lại, bên được bảo hiểm cam kết trảkhoản phí phù hợp với mức trách nhiệm và rủi ro mà bên bảo hiểm đã nhận
Trong hợp đồng bảo hiểm sẽ có hai bên: bên bảo hiểm chính là các công tybảo hiểm chi trả bảo hiểm; bên được bảo hiểm để thiết lập quỹ tài chính và chịu tráchnhiệm chi trả bảo hiểm; bên được bảo hiểm để thiết lập quỹ tài chính và chịu tráchnhiệm chi trả bảo hiểm; bên được bảo hiểm (là chủ tài sản, chủ đầu tư, chủ thầu cáccông trình) có thể hiểu bao gồm người tham gia bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm kí kết vànộp phí Các hợp đồng bảo hiểm có thể được kí kết trực tiếp giữa người tham gia bảohiểm và bên bảo hiểm hoặc kí kết gián tiếp thông qua môi giới, đại lý
Trách nhiệm các bên trong hợp đồng bảo hiểm
a. Đối với người tham gia:
- Quyền lợi của người tham gia
+ Chọn doanh nghiệp bảo hiểm
+ Yêu cầu được giải thích các điều khoản, điều kiện bảo hiểm, cấp giấychứng nhận, được trả tiền bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
+ Có quyền hủy bỏ hợp đồng hoặc thay đổi một số điều khoản Có quyền táitục khi hợp đồng hết hiệu lực
- Nghĩa vụ của người tham gia
+ Tuân thủ các quy định đã nêu trong đơn bảo hiểm và các điều khoản củahợp đồng, cung cấp đầy đủ và chính xác mọi thông tin liên quan đến rủi ro được bảohiểm trước khi mua bảo hiểm mà bên bảo hiểm cần tìm
+ Tạo điều kiện và hỗ trợ cán bộ bảo hiểm tham gia khảo sát, đánh giá rủi rotài sản trước khi mua bảo hiểm và khi có tổn thất xảy ra
+ Đóng phí đầy đủ theo thời gian và phương thức đã thỏa thuận
+ Thông báo cho doanh nghiệp ngay khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Có tráchnhiệm cung cấp toàn bộ hồ sơ, chứng từ, tài liệu liên quan đến tài sản bị tổn thất
Trang 34theo hướng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.
b. Đối với công ty bảo hiểm:
- Quyền lợi của công ty bảo hiểm
- Nghĩa vụ của công ty bảo hiểm
+ Cung cấp cho khách hàng bộ hợp đồng bảo hiểm bao gồm: hợp đồng bảohiểm và đơn bảo hiểm, thông báo thu phí bảo hiểm
+ Thực hiện nghiêm túc việc giải quyết khiếu nại, bồi thường cho kháchhàng trên cơ sở đơn bảo hiểm và các điều khoản bổ sung
+ Khi xảy ra tổn thất phải phối hợp với khách hàng và các bên liên quan đểđưa ra các biện pháp nhằm hạn chế tổn thất, phối hợp với khách hàng và tổ chứcgiám định để giám định tổn thất nhanh nhất, đảm bảo tính chính xác
+ Hướng dẫn kịp thời đầy đủ, cụ thể các yêu cầu về lập hồ sơ khiếu nại cầnthiết để yêu cầu bồi thường tổn thất hay thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm
+ Phối hợp với các bên liên quan thu thập hồ sơ bồi thường khi xảy ra tổnthất, thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm
1.4 Các sản phẩm bảo hiểm tài sản kỹ thuật
1.4.1 Các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm tài sản hướng tới đối tượng tài sản đã hình thành và trong quá trìnhhoạt động hay sử dụng, ví dụ như trung tâm thương mại, chung cư, nhà máy, xínghiệp sản xuất, kho hàng hóa v.v Các sản phẩm bảo hiểm thuộc nhóm sản phẩmbảo hiểm tài sản bao gồm: Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm mọirủi ro tài sản, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm nhà tư nhân v.v…
Trong đó, sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt là sản phẩm cơbản và phổ biến nhất của nghiệp vụ bảo hiểm tài sản Sản phẩm này bao gồm cácnội dung chi tiết như sau:
Trang 351.4.1.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt là tất cả các loại tài sảnthuộc quyền sở hữu và quản lý hợp pháp của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế Đối tượng này tương đốirộng và được phân loại như sau:
- Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng và các côngtrình phụ trợ, thiết bị gắn cố định như một phần cấu trúc công trình (không baogồm đất đai);
- Máy móc, trang thiết bị, công cụ, dụng cụ và các phương tiện lao động phục
vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm
Các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải xác định chính xác đối tượng bảo hiểm
để chuẩn bị phương án: đánh giá quản lý tốt rủi ro, định phí hợp lý và đưa ra tư vấn,khuyến cáo với người được bảo hiểm về các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất,công tác phòng cháy, chữa cháy hiệu quả nhất
Nhằm mục tiêu kiểm soát rủi ro nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, các công ty bảohiểm thường phân loại các đối tượng ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh thamgia bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt thành các “Nhóm rủi ro”, bao gồm:
- Rủi ro Nhóm 1: Ngành nghề hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro tốt,được trang bị đầy đủ các trang thiết bị an toàn phòng cháy chữa cháy, trường hợpxảy ra tổn thất có thể khống chế được Các ngành phổ biến bao gồm: Sân bay, bệnhviện, trường học, trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn cao cấp có hệ thốngchữa cháy tự động (sprinkler) v.v…
- Rủi ro Nhóm 2: Ngành nghề hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro khátốt, nguy cơ xảy ra tổn thất ở mức độ trung bình, bao gồm: Nhà hàng, chung cư,nhà máy chế biến thức ăn, nhà máy sản xuất đồ hộp, nhà máy sản xuất cấu kiệnkim loại v.v
- Rủi ro Nhóm 3: Ngành nghề hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro tươngđối cao, khả năng xảy ra tổn thất ở mức độ trung bình và mức độ thiệt hại lớn, ví dụ
Trang 36như nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, nhà máy hóa chất, xưởng sản xuất túi nylon,nhà máy sản xuất các sản phẩm nhựa, nhà máy sản xuất da thuộc v.v
Trang 37- Rủi ro Nhóm 4: Bao gồm các ngành nghề có mức độ rủi ro rất cao, tần suấtxảy ra tổn thất thường xuyên với mức độ thiệt hại lớn và có thể là tổn thất toàn bộ.Các ngành nghề phổ biến bao gồm: khu nghỉ dưỡng ven biển thuộc miền Trung,chợ, nhà máy sản xuất nến, kho hàng hóa độc lập v.v…
- Rủi ro Nhóm 5: Đây là nhóm rủi ro mới được tách từ rủi ro Nhóm 4 baogồm các ngành nghề có mức độ rủi ro cao nhất dựa trên thống kê thiệt hại thực tếqua nhiều năm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam và khu vực Các ngành nghềthuộc rủi ro Nhóm 5 bao gồm: ngành dệt, may, ngành sản xuất giày và ngành sảnxuất gỗ
1.4.1.2 Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và giới hạn trách nhiệmcủa công ty bảo hiểm Trong bảo hiểm hỏa họan và các rủi ro đặc biệt, doanhnghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại và chi phí sau đây:
- Thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra cho đối tượng bảo hiểm
- Chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế tổn thất đối với tài sản được bảohiểm trong và sau khi xảy ra hỏa hoạn
- Chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi tổn thất xảy ra
a Rủi ro được bảo hiểm
Rủi ro A: Cháy, sét, nổ
Trong đó:
- Rủi ro Cháy được bảo hiểm nếu hội tụ cả ba yếu tố:
+ Thực sự phát ra ánh lửa
+ Ngọn lửa đó không phải là lửa chuyên dùng
+ Lửa đó phải là bất ngờ, ngẫu nhiên
Nhưng loại trừ:
+ Động đất, núi lửa phun hoặc biến động khác của thiên nhiên
+ Thiệt hại gây ra bởi: tài sản tự lên men hoặc tự tỏa nhiệt, hoặc đang trongquá trình xử lý có nhiệt, hoặc tài sản bị đốt cháy theo lệnh của bất kỳ cơ quan côngquyền nào hoặc cháy do lửa ngầm dưới đất
Trang 39sạch đất đai.
- Sét đánh: người tham gia bảo hiểm sẽ được bồi thường cho rủi ro này nếutham gia bảo hiểm và tài sản bị phá hủy do sét đánh trực tiếp gây cháy Nếu sét đánhkhông gây cháy, phát ra lửa mà ảnh hưởng đến tài sản thì không được bồi thường
- Nổ: nồi hơi hoặc hơi đốt sử dụng với mục đích duy nhất là phục vụ sinhhoạt nhưng loại trừ thiệt hại gây ra do động đất, núi lửa phun hoặc các biến độngkhác của thiên nhiên
Rủi ro B: Nổ
Nhưng loại trừ:
- Thiệt hại xảy ra đối với nồi hơi, bình đun nước bằng hơi tiết kiệm(economizers), máy móc hoặc thiết bị có sử dụng áp lực hoặc đối với các chất liệuchứa trong các máy móc thiết bị đó do chúng bị nổ
- Thiệt hại gây ra bởi hoặc do hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của các hànhđộng khủng bố của một người hoặc một nhóm người nhân danh hoặc có liên quanđến bất kỳ tổ chức nào
Rủi ro C: Máy bay và các phương tiện hàng không hoặc các thiết bị trên cácphương tiện đó rơi trúng
Rủi ro D: Gây rối, đình công, công nhân bế xưởng hoặc những hành độngcủa những người tham gia các cuộc gây rối lao động hay những người có ác ýkhông mang tính chất chính trị
Nhưng loại trừ những thiệt hại sau:
- Do tịch thu, phá hủy hoặc trưng dụng theo lệnh của Chính phủ và nhà cầm quyền
- Tổn thất do mất thu nhập, tổn thất do chậm trễ, tổn thất do mất thị trườnghay bất kỳ tổn thất thiệt hại nào mang tính chất hậu quả hoặc mang tính chất giántiếp khác dưới bất kỳ hình thức nào
Rủi ro E: Hành động ác ý
Trang 40Thiệt hại đối với tài sản mà nguyên nhân trực tiếp là hành động ác ý của bất
cứ người nào nhưng loại trừ những thiệt hại do trộm cắp hay cố gắng thực hiệnhành động trộm cắp Nhà bảo hiểm chỉ đồng ý bảo hiểm rủi ro này khi người đượcbảo hiểm mua bảo hiểm cho rủi ro D
Rủi ro F: Động đất hoặc núi lửa phun, bao gồm cả lụt và nước biển tràn dohậu quả của động đất, núi lửa phun hoặc cháy do lửa ngầm dưới đất
Rủi ro G: Giông, bão
Nhưng loại trừ thiệt hại
- Nước thoát ra khỏi ranh giới của các nguồn nước tự nhiên hay nhân tạohoặc bất kỳ thiết bị chứa nước hay đường ống dẫn nước và lụt do nước biển
- Gây ra do sương mù, lún hoặc sụt lở đất
- Hàng rào, cổng ngõ và các động sản ngoài trời bị hư hại
- Xảy ra đối với các tòa nhà đang trong giai đoạn xây dựng, sủa chữa trừ khitất cả các cửa, lỗ hổng của tòa nhà đã được hoàn thành
Rủi ro H: Giông, bão, lụt
Tương tự rủi ro G nhưng bổ sung rủi ro lụt
Rủi ro I: Nước thoát ra từ các bể chứa nước, thiệt hại chưa nước hoặc đườngống dẫn nước
Nhưng loại trừ thiệt hại do nước thoát ra hay rò rỉ từ hệ thống chữa cháy
tự động hoặc thiệt hại đối với bất kỳ ngôi nhà nào bỏ trống hoặc không cóngười sử dụng
Rủi ro J: Đâm va do xe cơ giới hay động vật thiệt hại trực tiếp phát sinh từviệc đâm va bởi xe cơ giới hay động vật
b Rủi ro loại trừ
Tổn thất do hành động cố ý hoặc đồng lõa của người được bảo hiểm gây ra.Thiệt hại gây ra bởi:
- Gây rối, nổi dậy quần chúng bãi công hay công nhân bế xưởng khi rủi ro
D được ghi nhận là được bảo hiểm thể hiện trong giấy chứng nhận bảo hiểm/ hợpđồng bảo hiểm, nhưng chỉ với phạm vi bảo hiểm đã quy định tại rủi ro đó;