1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY NHÂN TÔ CON NGƯỜI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

28 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 49,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Lịch sử khoa học nói chung và triết học nói riêng chính là lịch sử nghiên cứu về con người Sở dĩ nói như vậy là vì mục đích của khoa học, trong đó có triết học (dù là thứ triết học nào đi chăng nữa) suy cho cùng đều là vì con người và phục vụ con người Không những thế, con người còn là yếu tố không thể thiếu trong vấn đề cơ bản của triết học, là điểm kết nối quan trọng giữa triết học tự nhiên và triết học xã hội Mặc dù triết học và nhiều khoa học khác đều coi con người là đối tượng n.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Lịch sử khoa học nói chung và triết học nói riêng chính là lịch sử nghiên cứu vềcon người Sở dĩ nói như vậy là vì mục đích của khoa học, trong đó có triết học (dù

là thứ triết học nào đi chăng nữa) suy cho cùng đều là vì con người và phục vụ conngười Không những thế, con người còn là yếu tố không thể thiếu trong vấn đề cơbản của triết học, là điểm kết nối quan trọng giữa triết học tự nhiên và triết học xãhội

Mặc dù triết học và nhiều khoa học khác đều coi con người là đối tượng nghiêncứu, song cách tiếp cận có những điểm khác nhau Những ngành khoa học cụ thểnghiên cứu những khía cạnh riêng lẻ của con người, của xã hội loài người (ví dụ:sinh học nghiên cứu cấu trúc cơ thể và các đặc điểm tự nhiên của con người; tâm lýhọc nghiên cứu đời sống tâm lý của con người…) Triết học nghiên cứu con ngườivới tư cách là một chỉnh thể toàn vẹn, có tính hệ thống, từ việc làm rõ khái niệm,bản chất con người đi đến truy tìm con đường, cách thức giải phóng con người.Những câu hỏi như “Con người từ đâu sinh ra? Ý nghĩa cuộc sống con người là gì?Trong mỗi thời đại lịch sử con người quan hệ với tự nhiên và đồng loại như thếnào? Con người có thể làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình hay không? …?”

đã được các học thuyết triết học từ cổ đại đến nay đặt ra và trả lời bằng những cáchkhác nhau, nhưng chỉ đến triết học Mác – Lênin mới được giải đáp đầy đủ và sâusắc nhất

Đặc biệt, trước khi xuất hiện chủ nghĩa Mác, quan niệm duy tâm về đời sống xãhội đã thống trị Những thiếu sót cơ bản của xã hội học và sử học trước Mác là: thứnhất, chỉ chú ý đến những động cơ tư tưởng của hoạt động của con người, chứkhông tính đến các nguyên nhân vật chất; thứ hai, không nhìn thấy vai trò quyếtđịnh của quần chúng nhân dân, mà chỉ chú ý đến vai trò cá nhân Chính vì vậy, sựphát hiện của Mác về quan niệm duy vật về lịch sử là một bước ngoặt căn bảntrong sự phát triển của tư tưởng xã hội Việc sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử đã

Trang 2

khắc phục được các thiếu sót cơ bản đó, và đã chỉ ra những quy luật của sự pháttriển xã hội.

Chủ nghĩa duy vật duy vật lịch sử là kết quả của sự vận dụng phương pháp luậncủa chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứuđời sống xã hội và lịch sử nhân loại Bản thân sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch

sử cũng chủ yếu hướng tới việc trang bị vũ khí lý luận để con người giải phóngmình, tạo dựng một xã hội mà ở đó “sự tự do của mỗi người là sự tự do của tất cảmọi người” Chính chủ nghĩa duy vật lịch sử đã được hình thành trên cơ sở nghiêncứu đời sống sinh hoạt của con người, mà trước tiên là sinh hoạt vật chất

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước từ trước đến nay, Đảng Cộng sản ViệtNam đã khẳng định tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩaMác-Lê nin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động củaĐảng Chính vì vậy, thấm nhuần tư tưởng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, đặcbiệt là đặt trong quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về con người, trong tiếntrình xây dựng xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vaitrò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sứcmạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiêntrì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Đảng tanhận thức rõ một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tậndụng thành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quátrình đổi mới xã hội đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người

Để đào sâu vào vấn đề triết học về con người và nhân tố con người trong hànhtrình đất nước đổi mới, đề tài tiểu luận của nhóm 1 hướng tới nghiên cứu “quanđiểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vấn đề con người”, qua đó phân tích “sự vậndụng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc phát huy nhân tố con người trongcông cuộc đổi mới đất nước hiện nay”

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH

SỬ VỀ CON NGƯỜI

1.1 Khái quát về chủ nghĩa duy vật lịch sử

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội,

là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàphép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại,nhờ đó hoàn thiện và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và phép biện chímg duy vật; hoàn thiện và phát triển thế giới quan, phươngpháp luận triết học của chủ nghĩa Mác — Lênin Chủ nghĩa duy vật lịch sử là mộttrong những phát hiện vì đại nhất của chủ nghĩa Mác, bởi "Việc phát hiện ra quanniệm duy vật lịch sử, hay nói cho đúng hơn, việc áp dụng, việc vận dụng triệt đểchủ nghĩa duy vật để xem xét lĩnh vực những hiện tượng xã hội, đã loại bỏ đuợchai khuyết điểm căn bản của những lý luận lịch sử trước kia", đồng thời, "Chủnghĩa Mác mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phátsinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế xã hội" theo quan điểm duy vật

1.2 Quan điểm của CNDVLS về con người:

1.2.1 Khái quát về con người

Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội, trong đó, phương diện tựnhiên và phương diện xã hội thống nhất biện chứng với nhau Điều đó đã được

Trang 4

C.Mác khẳng định trong tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học năm 1844: “Conngười là một thực thể tự nhiên có tính người, là một sinh vật có tính loài”.

a Bản tính tự nhiên của con người

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của conngười chính là giới tự nhiên.Vì vậy, bản tính tự nhiên là một trong những phươngdiện cơ bản của con người, loài người Do vậy, việc nghiên cứu, khám phá khoahọc về cấu tạo tự nhiên và nguồn gốc tự nhiên của con người là cơ sở khoa họcquan trọng để con người hiểu biết về chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bảnthân mình trong mọi hành vi và hoạt động sáng tạo ra lịch sử của nó, tức lịch sửnhân loại Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ những khía cạnh sauđây:

Thứ nhất,con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên, là một động vật xã hội Quan điểm trên của

chủ nghĩa duy vật lịch sử được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủnghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đacuyn về sự tiếnhóa của các loài Học thuyết của Đacuyn đã khẳng định rằng giới sinh vật, kể cảloài người là sản phẩm của sự tiến hóa Cách đây khoảng 3,5 tỷ năm, trái đất đượcbao phủ bởi đại dương mênh mông, hạt sống đầu tiên được hình thành đó là nhữnghạt coacervate Từ hạt sống đầu tiên đó giới sinh vật đã phát triển một cách đa dạngthành các cơ thể đơn bào, đa bào, thực vật, động vật Trong thế giới sinh vật phongphú và đa dạng ấy, có một loại động vật linh trưởng cấp cao là tổ tiên của conngười ngày nay Thông qua quá trình đấu tranh sinh tồn và chịu sự tác động củacác nhân tố tiến hóa là di truyền, biến dị và chọn lọc tự nhiên, loài linh trưởng ấy

đã tiến hóa thành người Sự tiến hóa của loài người lần lượt trải qua các dạng sau:người vượn Australopithecus, người khéo léo Homo habilis, người đứng thẳngHomo erectus, người thông minh Homo sapiens, người hiện đại Homo sapiens Vấn đề nguồn gốc của con người ngày càng được làm sáng tỏ bởi những khám phácủa khoa học hiện đại Năm 1974, nhà nhân chủng học Donald Johanson tìm thấy

Trang 5

hóa thạch gần như nguyên vẹn của một phụ nữ tồn tại từ 3,2 triệu năm trước tạiEthiopia và đặt tên là Lucy Tháng 10, năm 2009, các nhà khoa học ở California -

Mỹ công bố hình ảnh hoàn chỉnh về con người có niên đại cách đây 4,4 triệu nămmang tên Ardi Sự xuất hiện của Ardi đã làm thay đổi những hiểu biết truyền thống

về cội nguồn con người, các nhà khoa học cho rằng Ardi đứng thẳng, không giốngvượn, có thể là tổ tiên chung của con người và các động vật linh trưởng hiện nay.Tiếp theo đó, ngày 9 tháng 4 năm 2010, các nhà khoa học Australia công bố kếtquả nghiên cứu hai bộ xương hóa thạch cách đây khoảng 1,75 đến 1,95 triệu nămtìm được ở Nam Phi, bổ sung một mắt xích còn thiếu trong quá trình tiến hóa từngười tối cổ lên người hiện đại…

Từ thuyết tiến hoá luận của Darwin đến những khám phá của khoa học hiện đại làchặng đường dài thể hiện cố gắng của con người trong quá trình tìm hiểu chính bảnthân mình Mặc dù các thành tựu khoa học có thể mở ra hướng mới cho việcnghiên cứu nguồn gốc con người, song, chúng không phủ nhận mà tiếp tục xâydựng căn cứ vững chắc cho nhận định: con người là sản phẩm của tự nhiên, củaquá trình tiến hoá

Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, đồng thời giới tự nhiên cũng

là “thân thể vô cơ của con người” Con người là bộ phận của giới tự nhiên nên

như mọi động vật khác con người có đầy đủ những đặc điểm mà tự nhiên ban tặng.Con người phải dựa vào tự nhiên, tìm thức ăn, nước uống từ trong tự nhiên, đấutranh để tồn tại, ăn uống và sinh con đẻ cái C.Mác viết: “Con người không bao giờthoát ly khỏi những đặc tính vốn có của vật, thành thử bao giờ cũng chỉ có thể nóiđến việc những đặc tính ấy có ít hay nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính vàtính người mà thôi” Bởi mang các đặc điểm tự nhiên - sinh học, nên con ngườicòn bị hạn chế bởi những đối tượng tự nhiên – thân thể vô cơ ở bên ngoài Nhữngbiến đổi của tự nhiên và những quy luật tự nhiên (đồng hóa, dị hóa, di truyền, biến

dị, thích nghi, sinh, lão, bệnh, tử) trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên quy định

sự tồn tại của con người và xã hội loài người Diễn đạt quan niệm trên, C.Mác viết:

“Thực thể không có tự nhiên ở bên ngoài nó thì không phải là thực thể tự nhiên, nókhông tham gia vào đời sống tự nhiên” Bên cạnh đó, với tư cách là thực thể tự

Trang 6

nhiên, con người bằng hoạt động của mình cũng luôn tác động ngược lại với tựnhiên, làm thay đổi tự nhiên Điều này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa conngười với những tồn tại khác của giới tự nhiên.

b Bản tính xã hội của con người

Mặc dù mang bản tính tự nhiên, song con người không đồng nhất với các tồn tại khác của tự nhiên mà còn mang bản tính xã hội C.Mác viết: “Nhưng con người

không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người” Bản tính

xã hội nhất định phải là một phương diện khác của bản tính con người, hơn nữađây là bản tính đặc thù của con người.Bản tính xã hội của con người được phântích từ những khía cạnh sau:

Một là, xét từ giác độ nguồn gốc hình thành, loài người không phải chỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động.Chủ nghĩa duy vật lịch sử

đã phân tích vai trò của lao động và khẳng định lao động là yếu tố quyết định sựhình thành bản tính xã hội ở con người, nhờ đó mà con người có khả năng vượtqua những tồn tại tự nhiên khác vươn lên đứng đầu trong giới sinh vật C.Mác vàPh.Ăngghen đã khẳng định: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức,bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầubằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tưliệu sinh hoạt của mình” Con người chỉ có thể tồn tại khi được thoả mãn nhữngnhu cầu tự nhiên - sinh học, tuy nhiên các tư liệu để thoả mãn nhu cầu đó không cósẵn trong giới tự nhiên, bởi thế con người phải lao động, sáng tạo và không ngừngsáng tạo Chính quá trình lao động đã hoàn thiện mặt tự nhiên, xây dựng nền tảngsinh học vững chắc cho bản tính xã hội của con người Thông qua lao động, conngười đã hình thành tư duy – ý thức, con người bằng hoạt động thực tiễn đã tácđộng vào các đối tượng hiện thực, buộc chúng phải bộc lộ các thuộc tính, quy luậtvận động để con người nhận thức Cũng nhờ lao động, ngôn ngữ xuất hiện để đápứng nhu cầu trao đổi tư tưởng, kinh nghiệm của con người và trở thành phươngtiện hữu hiệu để con người thiết lập, phát triển các mối quan hệ xã hội

Trang 7

Hai là, xét từ giác độ tồn tại và phát triển, thì sự tồn tại của loài người luôn luôn

bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội Xã hội là hình thức vận

động cao nhất của thế giới vật chất, hình thái này lấy con người và sự tác động qualại giữa người với người làm nền tảng Con người là bộ phận căn bản nhất của xãhội nên mỗi sự chuyển biến của xã hội đều ghi những dấu ấn nhất định lên conngười, các quy luật xã hội vẫn luôn tác động ngoài ý chí và nguyện vọng của conngười Những nhân tố, quy luật xã hội có ảnh hưởng đến con người đó là kinh tế,chính trị, văn hóa…, là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất, quy luật về sự phù hợp giữa cơ sở hạ tầng vớikiến trúc thượng tầng, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ýthức xã hội, các quy luật về giai cấp và đấu tranh giai cấp…

Như vậy, sự tồn tại bản tính tự nhiên của con người không chỉ bác bỏ quanniệm siêu nhiên về nó mà còn khẳng định con người là sản phẩm của quá trình tiếnhóa tự nhiên, chính tự nhiên là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của con người.Bản tính xã hội của con người chỉ được hình thành dựa trên một nền tảng tự nhiên– sinh học vững chắc, song đến lượt mình, bản tính xã hội quay lại tác động hoànthiện mặt tự nhiên trong con người Trên thực tế, mặc dù có có những nét chungvới động vật, chẳng hạn như những đặc điểm về cơ cấu và chức năng của cơ thể,đặc tính di truyền… song, bản tính tự nhiên trong con người không còn nguyêndạng như trong động vật, mà nhờ mặt xã hội, những nét chung ấy đã được cải tạo

và phát triển ở trình độ cao hơn Những vấn đề đã trình bày ở trên cho thấy tínhthống nhất biện chứng giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của con người.Bản tính tự nhiên đã được nhân hoá để mang giá trị văn minh loài người, còn bảntính xã hội thì không thể thoát ly tiền đề tự nhiên - sinh học, hai mặt đó hoà quyệnvới nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội

1.2.2 Bản chất của con người

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất,

"bản tính người" của con người, nhưng về cơ bản những quan niệm đó thường lànhững quan niệm phiến diện, trừu tượng và duy tâm, thần bí Bản chất của con

Trang 8

người không phải là cái gì có sẵn, mà có quá trình hình thành, phát triển và hoànthiện cùng với hoạt động thực tiễn của con người.

a Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ

xã hội.

Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, sự tồn tại bản tính tự nhiên trong con người là mộttất yếu khách quan, song để nhận thức được bản chất con người phải xuất phát từchính đời sống con người, từ những quan hệ xã hội Bởi vậy, trong luận đề thứ sáucủa tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã viết: “Bản chất con người khôngphải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của

nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”

Luận đề của C.Mác khẳng định rằng cần phải chấm dứt các cuộc tranh luận chungchung, trừu tượng về con người, mà phải đặt con người “trong tính hiện thực củanó” Bản chất con người không phải là cái gì đó cao siêu, bên ngoài con người

“tách khỏi bản thân nó để lên ở trên mây thành một vương quốc độc lập”, mà nằmngay trong chính đời sống hiện thực đầy sống động của con người Vì vậy, nghiêncứu con người phải gắn với điều kiện lịch sử, với hoàn cảnh sống cũng như quátrình hoạt động để tồn tại và phát triển của con người Đây chính là sự vận dụngquan điểm lịch sử - cụ thể của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc phân tích lịch

sử xã hội loài người Chỉ trên cơ sở phương pháp luận ấy mới có thể lý giải chínhxác bản chất con người cũng như tìm kiếm con đường giải phóng con người, khắcphục những bế tắc của chủ nghĩa duy tâm tư biện và chủ nghĩa duy vật siêu hình,máy móc

Bản chất con người do những quan hệ xã hội của con người quy định Con người

“trong tính hiện thực của nó” tồn tại một cách cụ thể bằng hoạt động lao động sảnxuất, chinh phục tự nhiên, đấu tranh giai cấp, cải tạo xã hội… Bằng những hoạtđộng đó, con người tạo dựng, thiết lập đồng thời tham gia vào các quan hệ xã hội.Đây là những mối liên hệ vô cùng đa dạng và phong phú, là sợi dây gắn kết conngười, các cộng đồng người Ví dụ, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ

Trang 9

dân tộc, quan hệ tôn giáo, quan hệ nghề nghiệp, quan hệ kinh tế, quan hệ chínhtrị… Bản thân những quan hệ xã hội không độc lập, riêng rẽ mà đan xen, hoàquyện, tác động qua lại và trở thành yếu tố quan trọng cấu thành xã hội Bởi vậy,

“tổng hoà những quan hệ xã hội” không có nghĩa là một phép cộng giản đơn, tổng

số các quan hệ xã hội mà là sự khái quát tất cả các quan hệ xã hội trong sự tươngtác, gắn bó, thâm nhập lẫn nhau Có nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về tổng hoànhững quan hệ xã hội Nếu xét theo thời gian thì bao gồm những quan hệ conngười đã có, đang có và sẽ có (quá khứ - hiện tại – tương lai) Nhưng nếu xét theoloại quan hệ thì bao gồm quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần Và nếu xét theotính chất thì bao gồm quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên, ngẫu nhiên, ổn định,không ổn định

Là thành viên của xã hội, con người chịu tác động mạnh mẽ của các quan hệ xãhội, thông qua các quan hệ xã hội mà con người hình thành và bộc lộ bản chất củamình Chính sự tác động của các quan hệ xã hội đã kết tinh và định hình ở conngười năng lực hoạt động thực tiễn, tư duy, sự tự ý thức và đánh giá và điều chỉnhhành vi Con người ở trong hoàn cảnh, trong những mối quan hệ xã hội nào thì sẽđịnh hình bản chất đó Bởi vậy, nếu tách rời các mối quan hệ xã hội, thì con người

sẽ không thể trở thành người theo nghĩa đích thực - “con người viết hoa” Nhấnmạnh điều này, C.Mác viết: “Bản chất con người tự nhiên chỉ tồn tại đối với conngười xã hội…chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại cótính người”

Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủnhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Song, ở con người, mặt tự nhiên tồntại trong sự thống nhất với mặt xã hội, ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinhvật ở con người cũng đã mang tính xã hội

Có thể nói, con người không thể tách rời xã hội, tách rời các mối quan hệ xã hội

mà cùng với xã hội khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức Vì thế,

có thể khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện,hoàn cảnh lịch sử xã hội mà con người luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều

Trang 10

kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định C.Mác đã viết: “Con ngườikhông phải là một sinh vật trừu tượng đâu đó ẩn nấp ngoài thế giới Con ngườichính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội”.

b Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người.Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữusinh Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử –

xã hội

C Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người làsản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằngchính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cầnphải được giáo dục”

Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồngốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện naycủa chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực màchúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hềbiết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa convật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ralịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”

Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác độngvào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển củalịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên Conngười thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêmthế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình Trongquá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người làsản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thâncon người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của conngười, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Trên cơ sở

Trang 11

nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinhthần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu

do con người đặt ra Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quyluật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn pháttriển nhất định của xã hội

Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luônluôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp Bản chất con người khôngphải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tạicủa con người Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tíchcực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bản chấtcon người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sự vận động

và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sựvận động và biến đổi của bản chất con người

Tóm lại, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm chohoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộmôi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng pháttriển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáodục Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác độngtrở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: Hoạt động thực tiễn, quan hệứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy,các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt động vật chất Đó là biện chứngcủa mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch

sử xã hội loài người

1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận:

Từ quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người có thể rút ra một

số ý nghĩa phương pháp luận quan trọng sau đây:

Trang 12

Một là,để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì không thể đơn thuần từ phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính quyết định là phải từ phương diện bản tính xã hội, từ những quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người Chỉ khi đặt con người vào chính điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ

thể, vào những quan hệ xã hội đang tác động, chi phối con người mới có thể đưa ranhững nhận định đúng đắn về con người Chẳng hạn như sự hạn chế năng lực sángtạo của những con người tiểu nông không thể trả lời từ bản tính tự nhiên của họ màphải từ sự hạn chế trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế - chính trị - văn hoácủa xã hội tiểu nông

(Ví dụ: Người nông dân Việt Nam từ nhiều đời đã gắn bó với nền sản xuất nôngnghiệp nhỏ, manh mún, tự cung, tự cấp, bó hẹp trong phạm vi làng xã, cộng đồng

tự giám sát lẫn nhau thông qua dư luận xã hội… chính điều đó đã làm nảy sinh một

số hạn chế như tư tưởng cục bộ dòng họ, xem thường pháp luật “phép vua thua lệlàng”, khả năng hạch toán kinh tế kém cỏi, thiếu chuẩn xác về thời gian, tâm lý cầu

an, cầu may, coi trọng kinh nghiệm, coi thường lý luận…)

Hai là,động lực cơ bản của sự tiến bộ và phát triển của xã hội chính là năng lực sáng tạo nên lịch sử của con người Vì vậy, phát huy năng lực sáng tạo của mỗi

con người, vì con người chính là phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sựtiến bộ và phát triển của xã hội Đối với Việt Nam hiện nay, để phát huy nguồn lựccon người, cần phải xây dựng ở con người những phẩm chất sau:

1 Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoànkết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội

2 Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

3 Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa tôntrọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiệnmôi trường sinh thái

Trang 13

4 Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suấtcao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

5 Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm

(Ví dụ: Các tôn giáo coi cuộc đời con người chỉ là tạm bợ, “sống gửi, thác về” nênchủ trương giải thoát bằng con đường tu hành, giải phóng về mặt tinh thần, tìmhạnh phúc ở kiếp sau chứ không phải trong đời sống hiện thực)

Theo chủ nghĩa Mác, bản chất con người được hình thành trong các mối quan hệ

xã hội và thay đổi khi các mối quan hệ xã hội thay đổi Vì vậy, để phát triển bảnchất con người theo hướng tích cực, cần phải giải phóng họ khỏi những quan hệ xãhội tiêu cực đang đè nặng, đồng thời, tạo ra những quan hệ xã hội tích cực

(Ví dụ: Để giáo dục một đứa trẻ trở thành người có ích cho xã hội thì phải quantâm xây dựng những mối quan hệ xã hội tích cực như: Gia đình đầm ấm, hạnhphúc, quan hệ bạn bè, nhà trường, thầy cô trong sáng, xã hội văn minh Trong côngtác cải tạo người lầm lỗi, những quan hệ xã hội tích cực mà chúng ta cần tạo ra đó

là một môi trường lành mạnh để họ học tập, cải tạo, khi họ trở về với xã hội thì

Trang 14

phải tiếp nhận họ một cách chân tình, không phân biệt đối xử, tạo công ăn việc làmcho họ… điều đó sẽ làm bản chất của họ trở nên tốt đẹp hơn).

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định trong những xã hội tồn tại quan hệ áp bức,bóc lột lao động của con người bị tha hoá, người lao động đánh mất mình tronghoạt động người, nhưng lại tìm lại mình trong hoạt động vật Tức là con người chỉ

là chính mình khi thực hiện những hoạt động mang tính chất bản năng, tự nhiênnhưng khi lao động - thực hiện hoạt động mang tính người thì tự bản thân conngười tách ra khỏi sản phẩm mình làm ra và nô dịch cho nó C Mác viết: “Tính thahoá của lao động biểu hiện ở chỗ là một khi không còn sự cưỡng bức lao động vềthể xác hoặc về mặt khác thì người ta trốn tránh lao động như trốn tránh bệnh dịchhạch vậy” Bởi vậy, sự nghiệp giải phóng con người sẽ bắt đầu bằng việc xoá bỏcác quan hệ kinh tế - xã hội áp bức, bóc lột đang trói buộc làm tha hoá con người

và xây dựng những quan hệ xã hội mang tính nhân đạo, nhân văn Cuộc cách mạng

xã hội chủ nghĩa chính là hành động thực tiễn của con người để thực hiện mục tiêu

đó, chính cuộc cách mạng này đã xác lập và phát triển một xã hội tự do – xã hộichủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa – mà sự tự do sáng tạo của người này trở thànhđiều kiện cho sự tự do, sáng tạo của người khác, “mỗi người vì mọi người, mọingười vì mỗi người” Vì lý do đó, chiến lược phát triển và giải phóng con ngườicủa Việt Nam hiện nay đã thể hiện nhất quán việc kiên định con đường xã hội chủnghĩa, phát triển kinh tế, giải phóng con người khỏi sự thao túng của những quan

hệ xã hội cũ đã lỗi thời, đẩy mạnh giáo dục và đào tạo, xây dựng nền văn hoá tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tóm lại, với quan niệm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, chủ nghĩaduy vật lịch sử đã khẳng định: con người là một thực thể thống nhất giữa phươngdiện tự nhiên và phương diện xã hội; bản chất con người là tổng hoà những quan

hệ xã hội Nếu như các trường phái triết học phi mácxít xem xét con người mộtcách trừu tượng, tìm bản chất con người từ những lực lượng siêu nhiên hoặc đề caobản chất tự nhiên vô tình hạ thấp con người xuống hàng động vật thì triết học Mác

đã xem xét con người một cách hiện thực trong các quan hệ xã hội, nhấn mạnh sựphân biệt giữa con người với thế giới loài vật nhưng không bỏ quên bản tính tự

Ngày đăng: 10/04/2022, 22:04

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w