PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦATƯ NHÂN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN, LIÊN HỆ VIỆT NAM 1 Phân tích điều kiện huy động vốn của tư nhân a Điều kiện kinh tế Điều kiện tác động đế
Trang 1PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
TƯ NHÂN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN, LIÊN HỆ VIỆT NAM 1) Phân tích điều kiện huy động vốn của tư nhân
a) Điều kiện kinh tế
Điều kiện tác động đến cầu vốn tư nhân
- Chu kỳ kinh doanh: là những dao động của nền kinh tế xung quanh xu thế tăng trưởng dài hạn, bao gồm cả những thời kì tăng trưởng nhanh xen kẽ với những thời kì suy thoái của nền kinh tế Khi nền kinh tế đang đi lên thì đầu tư tăng, quy mô của nền kinh tế mở rộng, nhu cầu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế cũng như của các doanh nghiệp tư nhân gia tăng Ngược lại, khi chu kì kinh doanh ở vào thời kì đi xuống, qui mô nền kinh tế thu hẹp, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và các doanh nghiệp tư nhân thu hẹp lại Tuy nhiên, không phải lúc nào sự tăng hay giảm chi tiêu của các doanh nghiệp cũng thuận chiều với
xu hướng lên xuống của chu kì kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế: Năng lực tăng trưởng được đảm bảo thì năng lực tích lũy của nền kinh tế sẽ có khả năng gia tăng, khi đó quy mô các nguồn vốn đầu tư tư nhân trong nước
có thể huy động sẽ được cải thiện
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp tư nhân có điều kiện tăng tích lũy, tăng thêm nguồn lực để đầu tư phát triển xản xuất kinh doanh
- Môi trường đầu tư: Môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc
ra quyết định bỏ vốn ra đầu tư của nhà đầu tư Môi trường đầu tư tốt sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư vào hoạt động kinh tế xã hội, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư tư nhân
- Lãi suất cho vay của ngân hàng
Điều kiện tác động đến cung vốn tư nhân
- Tiết kiệm: Nguồn đầu tư của khu vực doanh nghiệp (Ip) được hình thành từ tiết kiệm của khu vực phi tài chính và của khu vực hộ gia đình (Sp) và nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Fp) Từ đó gia tăng tiết kiệm sẽ làm gia tăng khả năng huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân:
Ip = Sp + Fp (1)
Sp = Yp - Cp (2)
Trang 2Trong đó: Yp là thu nhập khả dụng
Cp là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình
- Lãi suất huy động vốn của ngân hàng: Về mặt lý thuyết, lãi suất càng cao thi xu hướng tiết kiệm càng lớn và từ đó tiềm năng của các nguồn vốn đầu tư càng cao Tuy nhiên, bản thân yếu tố lãi suất có yếu tố 2 mặt, đó là khi tăng lãi suất cũng có nghĩa là chi phí sử dụng vốn trong đầu tư cao hơn Điều này sẽ làm giảm phần lợi nhuận thực của nhà đầu
tư
b) Điều kiện chính trị - pháp luật
- Chính trị ổn định là điều kiện để phát triển kinh tế Nó tạo ra môi trường an toàn, tin cậy làm cho các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư, cung cấp nguồn cung vốn lớn
- Các chính sách và giải pháp huy động vốn cho đầu tư phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và phải thực hiện được các nhiệm vụ của chính sách tài chính quốc gia Các chính sách phải đảm bảo khuyến khích, định hướng các hoạt động thu hút cung ứng vốn nhằm huy động tổng lực của nền kinh tế
- Phải đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo nguyên tắc vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng
- Cần phải đa dạng hóa và hiện đại hóa các hình thức và phương tiện huy động vốn
- Các chính sách huy động vốn phải được tiến hành đồng bộ cả về nguồn vốn và biện pháp thực hiện
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, rà soát, loại bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp, đơn giản hóa thủ tục và quy trình giải quyết thủ tục hành chính
- Các chính sách khuyến khích đầu tư thông qua các ưu đãi một cách hợp lý nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư của tư nhân trong nước
c) Điều kiện văn hóa – xã hội
- Tâm lý tiết kiệm: Tiết kiệm dẫn tới đầu tư Khoản tiết kiệm hay tỷ lệ tiết kiệm lớn sẽ là nguồn cung cấp vốn đầu tư tư nhân lớn cho đầu tư phát triển
- Thói quen tiêu dùng:Cần thay đổi thói quen tiêu dùng, chuyển từ việc dùng tiền mặt sang dùng thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng thông qua các tổ chức tín dụng, trung gian tài chính tạo nên nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Trang 3- Quan niệm về nấc thang giá trị xã hội: Một xã hội hoạt động như thời bao cấp sẽ không khuyến khích đầu tư tư nhân Khi xã hội hướng tới sự phát triển toàn diện, khuyến khích cho tư nhân đầu tư phát triển, nguồn vốn huy động từ khu vực tư nhân tăng lên
d) Điều kiện công nghệ
- Về phía các doanh nghiệp: Tình hình phát triển , ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất trên thế giới cũng như trong nước ảnh hưởng tới trình độ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của tư nhân từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn của tư nhân cho đầu tư phát triển
- Về phía các ngân hàng: Việc tăng nhanh tốc độ thanh toán cũng đồng nghĩa với việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của xã hội, gia tăng vòng quay của đồng tiền và tăng cường trao đổi thương mại, thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia vào hoạt động đầu tư phát triển
e) Các điều kiện khác
- Về cơ sở hạ tầng: Hệ thống đường xá, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng rất lớn tới quyết định đầu tư của tư nhân
- Về tài nguyên thiên nhiên: Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư
- Về khí hậu Các yếu tố điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến chu kỳ:
sản xuất kinh doanh trong khu vực, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động dự trữ, bảo quản hàng hóa Từ đó ảnh hưởng đến việc đầu tư vốn của doanh nghiệp vào từng khu vực
III-KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN TƯ NHÂN–THỰC TIỄN VIỆT NAM
1 Thực trạng cụ thể
2.1 Điều kiện kinh tế
2.1.1 Điều kiện tác động đến cầu đầu tư
a Tăng trưởng kinh tế
Bảng 1: Số liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế và nguồn vốn của tư nhân cho đầu tư
phát triển (tính theo giá so sánh năm 2010)
Năm Tốc độ TTKT Nguồn vốn ( 100 tỷ đồng)
Trang 42010 6.78 2.99
(Nguồn: TCTK)
Có thể thấy rằng do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 nên nền kinh
tế Việt Nam cũng bị chững lại, đỉnh điểm tăng trưởng còn 5.03 vào năm 2012, chính vì vậy nguồn vốn cho đầu tư phát triển cũng theo đó mà bị giảm trong giai đoạn 2010-2012, tuy nhiên giai đoạn 2012-2015 nền kinh tế đang dần hồi phục, tốc độ tăng trưởng ổn định,
do vậy vốn tư nhân cũng tăng theo
b Chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế của Việt Nam kéo dài từ 7-9 năm
Năm 2008 kinh tế bắt đầu suy thoái, đến năm 2012 là đỉnh điểm suy thoái, sau đó nền kinh tế dần phục hồi vào các năm sau đó, năm 2016 được nhận định nền kinh tế bắt
đầu chu kì phục hồi mới (Tạp chí tài chính7/12/2015)
c Thuế thu nhập doanh nghiệp
năm 2014, mức thuế suất phổ thông là 22%.Từ ngày 1/1/2016, xuống mức 20% và mức thuế suất ưu đãi là 10% và 17% Mức thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay khá thấp so với các nước như Philippines là 30% và Trung Quốc là 25% Việc giảm thuế suất là cần thiết để giúp doanh nghiệp vơi bớt khó khăn, giúp tăng phần vốn doanh nghiệp, có thêm nguồn lực tài chính, giảm chi phí trả lãi vay Tuy nhiên thuế thu nhập doanh nhập doanh nghiệp giảm từ 20% đến 15% thậm chí 10% sẽ chỉ có ý nghĩa với những doanh nghiệp làm ăn có lãi
d Lãi suất cho vay của ngân hàng
Trong giai đoạn 2008-2015, mức lãi suất cao nhất năm 2008 là 19.19%, ứng với
nó nguồn vốn cũng đạt thấp nhất là 217.034 tỷ đồng, những năm sau lãi suất giảm thì nguồn vốn tăng lên Lãi suất có dấu hiệu tăng trong giai đoạn 2010-2012 và có dấu hiệu giảm từ 2012 Tuy nhiên hơn 1 năm trở lại đây, năm 2015 và 2016 thì lãi suất vay trung
và dài hạn không có dấu hiệu giảm Lãi suất ngắn hạn thì giảm, nhưng lãi suất trung và dài hạn thì khó có thể giảm,
Trang 52.1.2 Điều kiện tác động cung đầu tư
a Tiết kiệm
Theo đánh giá, Việt Nam có tỉ lệ tiết kiệm cao thứ 2 trong khu vực chỉ đứng sau Trung Quốc, cao hơn nhiều so với các nước phát triển chỉ khoảng 2-7%
Tỷ lệ tiết kiệm cao, nhưng khả năng huy động thành vốn cho đầu tư phát triển lại thấp Theo đánh giá của các chuyên gia bộ kế hoạch và đầu tư hiện nay nguồn vốn trong dân cư còn khoảng trên 100.000 tỉ đồng : trong đó 44% dành cho việc mua vàng và ngoại
tệ, 20% cho mua nhà đất và cải thiện điều kiện sinh hoạt, 17% dành gửi tiết kiệm ngắn hạn , 19% dùng để trực tiếp đầu tư Điều này cho thấy lượng vốn thu hút vào đầu tư của khu vực dân cư còn thấp chiếm 36%, chưa tương xứng với tiềm năng của khu vực này Phần lớn tiết kiệm của họ dùng mua vàng, đô la để tích trữ lượng này chiếm đến 44%
b Tỷ lệ lạm phát
Bảng 4: Tỷ lệ lạm phát và vốn tư nhân Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Tỷ lệ lạm
phát
(%)
9,19 18,58 9,21 6,6 4,09 0,63
Vốn tư
nhân
(tỉ đồng)
299.500 298.093 385.000 410.500 468.500 529.600
(Nguồn : TCTK)
- Theo bảng trên, ta có thể thấy giai đoạn lạm phát cao nhất là năm 2011 Đó cũng chính là lúc lượng vốn đầu tư thực của tư nhân thấp nhất trong cả giai đoạn 2010-2015
- Giai đoạn sau 2011 tới nay: giai đoạn 2011 đến nay nhìn chung tỉ lệ lạm phát đã giảm, hơn nữa còn giảm mạnh vào năm 2015 và dẫn tới việc thu hút vốn đầu tư của tư nhân năm 2015 là 529,6 nghìn tỉ đồng, cao nhất từ trước đến nay
Trang 62.2 Điều kiện chính trị, pháp luật
a chính trị
Việt Nam có chính trị ổn định: không có chiến trang, xung đột vũ trang, khủng bố, bạo động Đây là một lợi thế của Việt Nam nếu như so với các khu vực khác trên thế giới: khủng bố ở Trung Đông, Bắc Phi, tranh chấp chính trị ở các nước Đông Phi, Ukraina,… hay ngay đối với các nước trong khu vực như bạo loạn, biểu tình vũ trang ở Thái Lan, biểu tình chính trị ở Hong Kong,… Dù Việt Nam cũng có những tranh chấp về chủ quyền biển đảo và có một số rắc rối ở các công ty có vốn từ Trung Quốc, nhưng Nhà nước đã có những biện pháp khắc phục, ổn định tình hình và không ảnh hưởng nhiều đến tình hình kinh tế - chính trị trong nước
Chính trị trong nước ổn định, khiến tư nhân yên tâm đem vốn của mình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp mình trong nước
b Chính sách, pháp luật
Luật Đầu tư 2014 đặt ra các quy định thông thoáng về quy trình, thủ tục thực hiện
dự án đầu tư Theo đó, Luật đã áp dụng phổ biến chế độ đăng ký đầu tư; bãi bỏ hàng loạt các quy định mang tính chất xin - cho, kiểm duyệt đối với nhà đầu tư; chuyển thủ tục quản lý hoạt động của dự án đầu tư từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm
Việc ban hành Luật Đầu tư 2014 đã thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước, đẩy mạnh quá trình huy động vốn tư nhân cho đầu tư phát triển Tuy nhiên Luật Đầu tư vẫn còn một
số hạn chế ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình huy động vốn:
- Một số quy định của Luật còn chồng chéo với quy định của các Luật khác
- Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư đã bộc lộ một số hạn chế Không ít địa phương tăng cường thu hút đầu tư mà không chú trọng chất lượng, hiệu quả của dự án, không tuân thủ quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ, buông lỏng biện pháp kiếm tra, giám sát và thiếu chế tài ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc thực hiện dự án
2.3 Điều kiện văn hóa xã hội
- Tâm lý người Việt “Ghét rủi ro và ưa thích giữ tiền mặt”
Trang 7Như đã đánh giá ở trên, hiện nay nguồn vốn trong dân cư còn khoảng trên 100.000
tỉ nhưng phần lớn tiết kiệm của họ dùng mua vàng, đô la để tích trữ lượng này chiếm đến 44% Qua đó có thể thấy tâm lý chung của người Việt Nam là những người ghét rủi ro, ưu thích giữ tiền mặt
- Thói quen tiêu dùng “tiền tươi thóc thật”
Từ trước đến giờ Việt Nam vẫn luôn được đánh giá là nền kinh tế tiền mặt, tỉ lệ tiền mặt trên tổng thanh toán chiếm từ 17% trở lên
Như vậy để đáp ứng thói quen tiêu dùng này, các cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam thường tích trữ trong “két” một khối lượng tiền mặt tương đối lớn Điều này là không tích cực đối với nền kinh tế, giảm lượng vốn đầu tư xã hội, đồng thời không thúc đẩy sự phát triển của các trung gian tài chính
2.4 Yếu tố công nghệ
số lượng dịch vụ được cung cấp ngày càng đa dạng và số lượng các NHTM tham gia cung cấp cũng ngày một tăng lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Có thể nói, một điểm yếu phổ biến và nổi bật của các NHTM Việt Nam là sự đơn điệu trong hoạt động kinh doanh Doanh thu của các NHTM vẫn dựa chủ yếu từ cho vay trong khi hoạt động cho vay là một lĩnh vực nhiều rủi ro Đối với thị trường thẻ - một lĩnh vực được đánh giá là có bước phát triển vượt bậc thời gian qua nhưng vẫn mang tính rời rạc do có sự khác biệt trong quan điểm giữa các NHTM, các liên minh Phạm vi phát hành và sử dụng thẻ mới chủ yếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn; đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu tập trung vào tầng lớp đang làm việc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và mới đây là đối tượng hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước Vì vậy vẫn chưa thực sự thay đổi được thói quen sử dụng tiền mặt của dân chúng
3.Đánh giá hiệu quả kênh huy động vốn
3.1.Huy động vốn qua thị trường tín dụng
Tích cực
Trang 8-Năm 2015 tín dụng có bước khởi sắc
+ Tăng trưởng đạt 18% -con số cao nhất trong 5 năm qua.
+ Mặt bằng lãi suất thị trường tiếp tục giảm khoảng 0,2-0,5%/năm, có tác dụng hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp tiết giảm chi phí, duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh
Hạn chế
-Tồn tại nhiều nợ xấu
Tính đến cuối năm 2015, tỷ lệ nợ xấu là 2,5% so với 17% của năm 2012 Do nợ xấu cao, các NHTM luôn cần phải huy động một lượng nguồn vốn lớn để đảm bảo luân chuyển vốn cũng như thanh khoản
Ngoài ra, các nguồn vốn từ thị trường tín dụng chủ yếu là các khoản vốn ngắn hạn được điều chuyển sang trung và dài hạn trên thị trường vốn, trong khi các NHTM trong nước chưa thực hiện được đầy đủ các nguyên tắc của chuẩn mực quản trị rủi ro Basel II,
do đó việc dựa vào nguồn vốn trên phân đoạn thị trường này sẽ gây rủi ro rất lớn đối với nguồn cung vốn một khi có biến động bất thường
Giải pháp
- Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt để điều tiết lãi suất thị trường ở mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng
- Kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu đặt ra, đi đôi với bảo đảm chất lượng tín dụng, an toàn hệ thống
- Tập trung nguồn vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh nhất là các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ như công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khởi sự doanh nghiệp
- Kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách nhằm tạo thuận lợi cho hệ thống tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng trên cơ sở nguồn vốn lành mạnh, bảo đảm chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống
Trang 93.2.Thị trường chứng khoán
3.2.1 Cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp
Tích cực
- Thu hút lượng vốn lớn
Tính đến năm 2015, Việt Nam đã có 678 công ty niêm yết trên 2 sở giao dịch chứng khoán, và hơn 200 CTCP đăng ký giao dịch trên thị trường Giao dịch chứng khoán của Công ty Đại chúng chưa niêm yết (UPCoM)
Vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt gần 1.300.000 tỷ đồng, tăng 1.300 lần so với năm
2000 và tăng 1,78 lần so với đầu năm 2010 Quy mô vốn hóa thị trường đạt trên 33% GDP, giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân hàng ngày đạt hơn 2.000 tỷ đồng/phiên
- Là kênh huy động nhằm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại
Thông qua phát hành cổ phiếu, tổng vốn điều lệ của các NHTM đã tăng lên đến 272.600 tỷ đồng
- Thuận lợi về mặt chính sách: thị trường cổ phiếu phát triển song song với quá trình
cổ phần hóa các DNNN, do đó góp phần tạo lập các chuẩn mực về công tác quản trị doanh nghiệp, minh bạch hóa thông tin, nâng cao hiệu quả hoạt động của nhóm doanh nghiệp này
Hạn chế
- Giao dịch không ổn định, dòng vốn trong nước có dấu hiệu chững lại do thiếu thông tin
- Với các doanh nghiệp ngoài nhà nước, do thông tin và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp không minh bạch, chất lượng kiểm toán thấp, chưa tạo được lòng tin cho nhà đầu tư, dẫn tới tình trạng không mặn mà với hoạt động tăng vốn của các doanh nghiệp cổ phần hóa
- Thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn ở mức sơ khai, giá trị phát hành chỉ bằng 1/6 giá trị của trái phiếu Chính phủ Phần lớn các trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra được nhà đầu tư xem như một khoản tín dụng đến ngày đáo hạn lấy gốc và lãi
3.2.2 Trái phiếu chính phủ
Trang 10Trái phiếu chính phủ là một nguồn huy động vốn quan trọng cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển
Tích cực
- Phát hành trái phiếu chính phủ là kênh phân phối huy động vốn cho ngân sách Nhà nước
Tính từ năm 2005 đến nay, lượng vốn huy động từ các đợt đấu thầu trái phiếu Chính phủ
ước đạt 833.000 tỷ đồng, trong đó riêng giai đoạn 2010-2015 đạt 795.830 tỷ đồng (Tạp
chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán 6/2016)
Đến thời điểm 30/12/2015, tổng khối lượng vốn huy động từ phát hành trái phiếu chính
phủ đạt 256.223,3 tỷ đồng (Tổng cục thống kê)
- Kỳ hạn trái phiếu được kéo dài giúp thu hút nguồn vốn
Kỳ hạn vay bq từng
Kỳ hạn còn lại bq
của danh mục nợ
TPCP
(Nguồn: TCTK)
+ Tỷ trọng trái phiếu kỳ hạn dài phát hành năm 2015 tăng đáng kể so với năm 2014: TPCP có kỳ hạn từ 5 năm trở lên chiếm 75% tổng khối lượng TPCP phát hành (cả năm
2014 chỉ chiếm khoảng 47%), trong đó tỷ trọng trái phiếu có kỳ hạn trên 10 năm tăng đáng kể, chiếm gần 30% tổng khối lượng trái phiếu phát hành, tăng khoảng 10% so với năm 2014
+ Năm 2015 là năm đầu tiên KBNN thực hiện phát hành TPCP kỳ hạn dài 20 năm và
30 năm theo hình thức riêng lẻ cho các công ty Bảo hiểm nhân thọ với tổng khối lượng phát hành dự kiến cả năm đối với kỳ hạn 20 năm là 7.000 tỷ đồng và 30 năm là 3.900 tỷ đồng Tổng khối lượng phát hành cả năm 2015 là 10.130 tỷ đồng, chiếm 3,95% tổng khối lượng vốn huy động cả năm
+ Về kỳ hạn vay bình quân: Kỳ hạn vay năm 2015 đạt mức 7,12 năm, tăng 2,28 năm
so với mức cả năm 2014 (4,84 năm), theo đó nâng kỳ hạn còn lại bình quân của danh