Bản chất của tiền công Tiền công tiền lương là khoản tiền người lao động được hưởng sau khi đã đónggóp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ người sử dụng laođộn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
o0o
BÀI TẬP LỚN
Đề tài: TIỀN CÔNG VÀ LIÊN HỆ ĐẾN VẤN
ĐỀ TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MÔN HỌC: Kinh tế chính trị Mác - Lênin
LỚP: CC01
NHÓM: K19M
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths Đỗ Đình Nghĩa
Trang 2MỞ ĐẦU 3
Chương 1: TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN 5
1.1 Bản chất của tiền công 5
1.2 Hình thái tiền công 5
1.3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 8
1.3.1 Khái niệm tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 8
1.3.2 Mối quan hệ giữa tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 8
1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công: Đối với người lao động, doanh nghiệp và nhà nước 9
1.4.2 Ảnh hưởng của tiền công đối với doanh nghiệp 10
1.4.3 Ảnh hưởng của tiền công đối với nhà nước 12
Chương 2: LIÊN HỆ ĐẾN VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 15
2.1 Khái niệm 15
2.2 Thực trạng và nguyên nhân phát triển của tiền lương của doanh nghiệp ở Việt Nam 17
2.2.1 Thực trạng về vấn đề tiền lương của doanh nghiệp ở Việt Nam 17
2.2.2 Nguyên nhân phát triển của tiền lương của doanh nghiệp ở Việt Nam 21
2.3 Định hướng cải cách chính sách tiền lương & kiến nghị xây dựng và phát triển hệ thống thù lao trong doanh nghiệp hiện nay 22
2.3.1 Định hướng cải cách chính sách tiền lương 22
2.3.2 Những giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống thù lao trong khu vực doanh nghiệp 24
KẾT LUẬN 27
Trang 3~ MỞ ĐẦU ~
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tiền công là một trong những động lực thúc đẩy, kích thích con người làm việc, thếnhưng, nó cũng đồng thời là nguyên nhân gây trì trệ, bất mãn hoặc từ bỏ công việc, công
ty của mình Tiền công chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc tăngnăng suất lao động vì nó chính là mục đích chính của người lao động Bất cứ cá nhân haytập thể lao động nào trước khi bắt đầu làm việc trước tiên sẽ nghĩ đến những gì mìnhnhận được và quyền lợi của mình khi tham gia lao động Vấn đề đặt ra là: mỗi nhà quản
lý cần phải biết điều tiết hài hòa các lợi ích, không để lợi ích này xâm phạm hoặc làm tổnhại đến lợi ích kia, mọi biểu hiện coi thường lợi ích hoặc chỉ động viên chung chung nhưthời bao cấp trước đây đều không có tác dụng kích thích người lao động gia tăng năngsuất Đó vẫn luôn là vấn đề nhức nhối của hầu hết các doanh nghiệp, công ty và cơ quan
ở Việt Nam Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Phải cải cách cơ bản chế độ tiền công, nâng cao đời sống của người hưởng lương, chống đặc quyền đặc lợi” Trong nền
kinh tế thị trường, nhu cầu được thể hiện tập trung ở lợi ích trực tiếp, thúc đẩy người laođộng làm việc và làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả Tuy nhiên, tiền công vàngười lao động được hưởng trong nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam còn ở mức thấp, chưađáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động Việc nâng cao tiền công thực tế củangười lao động ở Việt Nam là một nhiệm vụ cấp bách, cần được thực hiện triệt để Cảicách tiền công ở nước ta diễn ra trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, cho nên phải đảm bảo không rời xa lý luận của cách mạng về tiền công màđiểm mấu chốt là tiền công phải đảm bảo giá trị sức lao động
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tiền lương cho công nhân của các công ty xí nghiệp ở Việt Nam hiện nay
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 4Không gian: Việt Nam.
Thời gian: từ 01/01/2020 đến nay
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thứ nhất: phân tích bản chất và hình thái của tiền công.
Thứ hai: Phân tích 2 loại tiền công
Thứ ba: Phân tích ý nghĩa của tiền công ảnh hưởng đến đời sống xã hội như thế nào.Thứ tư: Phân tích các khái niệm về tiền lương trong lĩnh vực doanh nghiệp
Thứ năm: Phân tích thực trạng cũng như nguyên nhân phát triển của tiền công trong
doanh nghiệp
Thứ sáu: Đưa ra định hướng cải cách chính sách tiền lương cũng như kiến nghị xây
dựng và phát triển hệ thống thù lao trong doanh nghiệp hiện nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứunhư trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả, mô hình hóa
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu gồm 2 chương:
- Chương 1: TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
- Chương 2: LIÊN HỆ ĐẾN VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hoàn thành đề tài cũng đồng thời kết thúc môn học Kinh tế chính trị Mác-Lênin,chúng em xin gửi đến thầy Đỗ Đình Nghĩa lời cảm ơn chân thành và sâu sắc Vì vốn kiếnthức còn hạn chế, trong quá trình học và thực hiện đề tài này chúng em không tránh khỏinhững sai sót Vì thế, chúng em kính mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy
Trang 5Chương 1: TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
1.1 Bản chất của tiền công
Tiền công (tiền lương) là khoản tiền người lao động được hưởng sau khi đã đónggóp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng laođộng) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng
Bản chất của tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, làgiá cả của hàng hóa sức lao động Nhưng trong xã hội tư bản, tiền công thể hiện ra như làgiá cả của lao động Đó là do:
- Hàng hóa sức lao động có đặc điểm là không bao giờ tách khỏi người bán, hơnnữa người bán chỉ nhận được giá cả sau khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua,tức là sau khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, hay chính là sau khi đã laođộng
- Nhà tư bản bỏ tiền ra là để có sức lao động Các nhà tư bản tìm cách mua được sứclao động càng rẻ càng tốt, và giải thích rằng lợi nhuận là do mua được hàng hóa dưới giátrị và bán hàng hóa trên giá trị Số lượng tiền công nhiều hay ít là tùy theo ngày lao độngdài hay ngắn hoặc tùy theo kết quả lao động nhiều hay ít
- Số lượng tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm sảnxuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động
Hình thức bên ngoài của tiền công đã ngụy trang rất kín đáo sự bóc lột của chủnghĩa tư bản Nó đã biểu hiện quan hệ bóc lột thành một quan hệ “thuận mua vừa bán”,
“tự do”, “bình đẳng”, giữa công nhân và nhà tư bản Nó đã xóa mờ mọi dấu vết của sựphân chia ngày lao động thành lao động tất yếu và lao động thặng dư, thành lao động cócông và lao động không công
1.2 Hình thái tiền công
Trang 6Có hai hình thức tiền công cơ bản: tiền công tính theo thời gian và tiền công tínhtheo sản phẩm:
- Tiền công tính theo thời gian: Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền
công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân (giờ,ngày, tháng) dài hay ngắn
Bên cạnh đó có sự khác nhau rõ ràng của tiền công ngày, tiền công tuần, tiền côngtháng Tiền công ngày và tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó cao hay làthấp, vì nó còn tùy theo ngày lao động dài hay ngắn Do đó muốn đánh giá chính xácmức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công ngày, mà phải căn cứ vào độ dài của ngàylao động và cường độ lao động, giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mứctiền công tính theo thời gian
Hình 1: Minh họa cho tiền công tính theo thời gian
(Nguồn: Google Search)
Trang 7- Tiền công tính theo sản phẩm: là hình thức tiền công mà số lương của nó phụ
thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay
số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượngcông việc đó đã hoàn thành
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định đơn giá tiền công đượcxác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với sốlượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một người, do đó về thựcchất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm
Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức biến tướng của tiền công tính theo thờigian
Thực hiện tiền công tính theo sản phẩm, một mặt giúp cho nhà tự bản trong việcquản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn, mặt khác kích thíchcông nhân lao động tích cực khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền côngcao hơn
Hình 2: Minh họa cho tiền công tính theo sản phẩm
Trang 8(Nguồn: Google Search) 1.3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
1.3.1 Khái niệm tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao
động của mình cho nhà tư bản Mọi khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho ngườilao động (gồm tiền lương, phụ cấp, phúc lợi, v.v.) đều là tiền công danh nghĩa Tuynhiên, bản thân tiền công danh nghĩa chưa phản ánh đầy đủ mức trả công thực tế chongười lao động
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêu
dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình saukhi đã đóng góp và trừ đi các khoản theo quy định Tiền công thực tế phản ánh đúng mứcsống của người lao động và giá trị tiền công họ nhận được
1.3.2 Mối quan hệ giữa tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phảiđược chuyển hóa thành tiền công thực tế Tiền công phụ thuộc tỉ lệ thuận với tiền côngdanh nghĩa và tỉ lệ nghịch với giá cả hàng hóa, dịch vụ
Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hóa sức lao động; nó có thể tăng lên hay giảmxuống tuỳ theo sự biến động trong quan hệ cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên thịtrường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá
cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuốnghay tăng lên C.Mác đã chỉ rõ tính quy luật của sự vận động tiền công trong chủ nghĩa tưbản như sau: trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa có xuhướng tăng lên, bởi các nhân tố làm tăng giá trị sức lao động như: sự nâng cao trình độchuyên môn của người lao động, sự phát triển của khoa học công nghệ làm tăng năngsuất lao động (NSLĐ) Nhưng, mức tăng của nó thực tế không theo kịp với mức giá cả tưliệu tiêu dùng và dịch vụ, cùng hiện tượng thất nghiệp diễn ra thường xuyên và các đợtkhủng hoảng kinh tế, lạm phát Khi đó tiền công thực tế của giai cấp công nhân đang có
Trang 9xu hướng hạ thấp, đồng thời cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là yếu tố cản trở xuhướng đó.
Sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì có những nhân tốchống lại sự hạ thấp tiền công Một mặt, đó là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòităng tiền công Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác độngcủa cuộc cách mạng khoa học – công nghệ nên nhu cầu về sức lao động có chất lượngcao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kíchthích người lao động bằng lợi ích vật chất Đó cũng là một nhân tố cản trở xu hướng hạthấp tiền công
1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công: Đối với người lao động, doanh nghiệp và nhà nước.
Trả công lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất lớn trong việcgiúp cho tổ chức đạt được hiệu suất cao cũng như tác động một cách tích cực tới đạo đứclao động của mọi người lao động Tuy nhiên, tác dụng của trả công còn tùy thuộc vào khảnăng chi trả và ý muốn trả công của công ty cho người lao động trong tương quan với sựđóng góp của họ Một cơ cấu tiền công hợp lý sẽ là cơ sở để xác định lượng tiền côngcông bằng nhất cho từng người lao động cũng là cơ sở để thuyết phục họ về lượng tiềncông đó
Các tổ chức cần quản trị có hiệu quả chương trình tiền công, tiền lương của mình vìkết quả của chương trình đó có ý nghĩa đặc biệt lớn Tiền công không chỉ ảnh hưởng tớingười lao động mà còn tới cả tổ chức và xã hội
1.4.1 Ảnh hưởng của tiền công đối với người lao động
Người lao động quan tâm đến tiền công vì nhiều lý do:
- Tiền công, tiền lương là nguồn kế sinh chính của người lao động, giúp cho họ vàgia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết Ví dụ như ở đa số các nướcđang phát triển, tỷ lệ lao động làm công ăn lương trong tổng số lao động có việc làm ởmức thấp hơn, do trình độ phát triển và do ngành nông nghiệp và canh tác quy mô nhỏcòn phổ biến Nhưng số lượng lao động làm công ăn lương đang tăng mạnh Vì thế, mức
Trang 10lương và sức mua của tiền lương có ảnh hưởng lớn đối với mức sống Tiền công, tiềnlương kiếm được cũng ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong gia đình, địa vị của
họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ đối với tổchức và đối với xã hội
- Khả năng kiếm được tiền công cao hơn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy người lao động
ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức thông qua sự nâng cao trình độ
và sự đóng góp cho tổ chức
- Vì vậy để có thể trả lương một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi chongười lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của người lao độngđến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp Có thể nói hạch toán chính xác đúng đắn tiềnlương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi conngười, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người laođộng tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế đồng thời tạo điều kiện nângcao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
1.4.2 Ảnh hưởng của tiền công đối với doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, tiền công là một phần quan trọng của chi phí sản xuất hơnnữa lại là chi phí chiếm thêm tỉ lệ đáng kể Vì vậy, chi cho tiền lương là chi cho đầu tưphát triển Hay tiền lương là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp Mặt khác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp công bằng và hợp lý
sẽ góp phần duy trì, củng cố và phát triển lực lượng lao động của mình
Thông thường, mục tiêu của doanh nghiệp là tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợinhuận nhưng bên cạnh đó phải chú ý đến quyền lợi, tiền công hợp lý cho người lao độngnhư tiền bảo hiểm xã hội, tiền trợ cấp, … để duy trì, gìn giữ và thu hút những người giỏi,
có khả năng phù hợp với công việc của tổ chức và đồng thời đảm bảo tái sản xuất và mởrộng sức lao động, kích thích lao động làm việc hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Tăng lương và tăng năng suất lao động có quan hệ mật thiết với nhau Tăng năngsuất lao động là cơ sở để tăng tiền lương và ngược lại, tăng tiền lương là một trong nhữngbiện pháp khuyến khích mọi người ra sức làm việc nhằm tăng năng suất lao động Khi
Trang 11một công ty tăng lương đột xuất, người lao động có xu hướng làm việc chăm chỉ hơnmức yêu cầu Điều này đúng ngay cả khi những công nhân này không sợ bị sa thải Do
đó, ta thấy được rằng khi tiền lương tăng bất ngờ sẽ dẫn đến tăng năng suất mà năng suấttăng dẫn tới doanh thu tăng
Nhưng khi các doanh nghiệp thường tăng tiền lương dẫn đến tăng chi phí sản xuấtkinh doanh, còn tăng năng suất lao động lại làm giảm chi phí cho từng đơn vị sản phẩm.Một doanh nghiệp thực sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung cũng như chi phícho một đơn vị sản phẩm được hạ thấp, tức mức giảm chi phí do tăng năng suất lao độngphải lớn hơn mức tăng chi phí do tiền lương tăng
Các doanh nghiệp có ở khắp nơi trên thế giới, mỗi khu vực có những điều kiện vềđịa lý, có những lợi thế riêng, có những tiềm năng phát triển kinh tế riêng Đối với cácdoanh nghiệp có quy mô nhỏ thì việc tăng lương tối thiểu vùng không có sự tác động lớnđến doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, số lượng lao động đông đảo, thìviệc tăng chi phí trả lương cho lương tối thiểu vùng có tác động rất lớn và không phải làcon số nhỏ Khi lương tối thiểu vùng tăng 5,5% thì mức lương thấp nhất doanh nghiệpphải trả cho người lao động cũng tăng theo Những người lao động có mức lương thấphơn mức tối thiểu vùng sẽ được tăng bằng lương tối thiểu vùng kéo theo các lao độngkhác ít nhiều cũng sẽ được tăng lương Ví dụ như những doanh nghiệp lớn của Mỹ nhưApple, Intel, Ford, v.v luôn chọn những khu vực ở châu Á như Việt Nam, Indonesia,Trung Quốc, Thái Lan, v.v để gia công, sản xuất linh kiện, lắp ráp sản phẩm vì tiền công
5 người lao động ở vùng châu Á bằng với 1 người sống ở các châu lục khác như châu
Mỹ, châu Âu, v.v dẫn đến năng suất vượt trội hơn
Vì vậy hạch toán tiền lương, chính sách của doanh nghiệp và các khoản trích theolương cung cấp các biện pháp khuyến khích, tiền thưởng hoặc cơ hội tăng lương thôngqua hình thức trả lương theo công việc, doanh nghiệp có thể thực hiện các thay đổi để cảithiện tinh thần, chẳng hạn như dẫn đầu, đối xử công bằng với tất cả người lao động vàcung cấp một môi trường làm việc đồng cảm, nơi các nhu cầu của người lao động đượctôn trọng Những chính sách đó giúp các nhà quản lý sử dụng quỹ tiền lương có hiệu quảnhất tức là hợp lý hoá chi phí giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi Trong khi Cung cấp
Trang 12thông tin đầy đủ chính xác về tiền lương của doanh nghiệp, để từ đó doanh nghiệp cónhững điều chỉnh kịp thời, hợp lý cho những kì doanh thu tiếp theo.
1.4.3 Ảnh hưởng của tiền công đối với nhà nước:
Đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa(XHCN) ở Việt Nam vấn đề tiền lương (tiềncông) dựa trên đặc trưng, bản chất của chế độ, giai đoạn XHCN là làm theo năng lựchưởng theo lao động và đến giai đoạn đỉnh cao cộng sản chủ nghĩa(CSCN) là làm theonăng lực hưởng theo nhu cầu Trong những năm gần đây Nhà nước đã có lộ trình tănglương nhằm đảm bảo tương ứng với năng suất lao động xã hội, đảm bảo mức sống chongười dân và công chức nói chung, do vậy việc nghiên cứu vấn đề tiền công rất có ýnghĩa trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện đường lối đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo ban hành nhiều văn bản điều chỉnh, bổ sung, từng bướchoàn thiện chính sách tiền lương, hoàn thiện cơ chế quy định mức lương tối thiểu vùng vàchế độ tiền lương của khu vực doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc chỉ điều chỉnh mức lương cơ sở và banhành chính sách, chế độ mới đối với khu vực công khi đã bố trí đủ nguồn lực, không banhành mới các chế độ phụ cấp theo nghề, bước đầu triển khai xây dựng danh mục vị tríviệc làm để làm cơ sở cho việc trả lương, v.v.. Trong khu vực công, tiền lương từng bướcđược cải thiện, góp phần nâng cao đời sống của người hưởng lương Ví dụ như từ năm
2003 đến 2018 đã 11 lần điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung từ 210.000 đồng lên1.300.000 đồng/tháng (tăng thêm 519%, cao hơn mức tăng chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ
là 208,58%), thu gọn hệ thống bảng lương, rút bớt số bậc và mở rộng khoảng cách giữacác bậc lương Đặc biệt trong năm 2020 đại dịch Covid lây lan, Chính phủ ban hành Nghịđịnh mới quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợpđồng lao động Theo đó, mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01/01/2020 tăng từ180.000 - 240.000 đồng/tháng tùy theo từng vùng, cụ thể như:
Vùng I: 4.420.000 đồng/tháng (tăng 240.000 đồng/tháng so với trước)
Vùng II: 3.920.000 đồng/tháng (tăng 210.000 đồng/tháng so với trước)
Trang 13Vùng III: 3.430.000 đồng/tháng (tăng 180.000 đồng/tháng so với trước)
Quá trình hình thành và phát triển các quan điểm về tiền lương, phân phối tiềnlương nói chung và trong khu vực sản xuất kinh doanh gắn liền với sự hình thành và pháttriển quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa
Chính sách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh được ban hành và ngày cànghoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cụ thể là:
- Nhà nước quy định mức lương tối thiểu để bảo vệ lao động yếu thế trong thịtrường lao động, chống bần cùng hóa lao động;
- Người sử dụng lao động (doanh nghiệp) có quyền xây dựng thang lương, bảnglương, định mức lao động theo các nguyên tắc do Chính phủ quy định và quyết định hìnhthức trả lương, chế độ trả lương, sau khi thỏa thuận với người lao động đảm bảo tuân thủcác quy định tiêu chuẩn về tiền lương theo pháp luật lao động;
- Người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận tiền lương gắn với côngviệc và điều kiện làm việc; tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất laođộng và chất lượng công việc đã thỏa thuận, bảo đảm không thấp hơn mức lương tốithiểu vùng do Chính phủ quy định;
- Nhà nước - với vai trò quản lý vốn sở hữu nhà nước có chính sách tiền lương riêngđối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần nhà nước chiếm cổ phần chiphối
Quy định mức lương bằng hệ số nhân với mức lương tối thiểu đã không thể hiện rõgiá trị thực của tiền lương Nhiều trường hợp tiền lương của lãnh đạo cấp trên thấp hơntiền lương của lãnh đạo cấp dưới, không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt độngcông vụ Có quá nhiều loại phụ cấp, đặc biệt là phụ cấp theo nghề và hệ số tiền lươngtăng thêm đã phát sinh nhiều bất hợp lý Tiền lương theo chế độ thấp nhưng nhiều trườnghợp có các khoản ngoài lương như bồi dưỡng họp, xây dựng đề án, đề tài, v.v chiếm tỷ lệlớn trong thu nhập của cán bộ, công chức, làm mất vai trò đòn bẩy của tiền lương
Trang 14Việc cải cách chính sách tiền lương thời gian tới có những cơ hội, thuận lợi và khókhăn, thách thức đan xen Nhiều quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước tạo nềntảng cho cải cách chính sách tiền lương đã được ban hành, nhất là về hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị và đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quảhoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
Với mục tiêu, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ chính sách tiền lương, nhằm từng bướccải thiện đời sống của người lao động; thực hiện công bằng trong phân phối tiền lương vàthu nhập trong các loại hình doanh nghiệp; phát huy tối đa động lực của tiền lương chophát triển doanh nghiệp bền vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế -
xã hội đất nước trong thời kỳ mới Tạo động lực nâng cao năng suất lao động, hiệu quảcông việc của người lao động, góp phần đầu tư phát triển nguồn nhân lực, xây dựng hệthống chính trị ổn định, nhanh nhẹn, trong sạch, hiệu quả; chống tham nhũng; thực hiệntiến bộ, công bằng xã hội, thúc đẩy và nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh
tế - xã hội bền vững