1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx

234 514 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An
Người hướng dẫn P.H. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Nghệ An
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 292,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm vừa qua do những khó khăn về vốn đầu tư, công nghệ và những hạn chế về công tác thị trường, về trình độ kỹ thuật và quản lý chỉ đạo sản xuất kinh doanh nên sản xuất hàng

Trang 1

Luận văn

Trang 2

Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghệ An là một tỉnh nông nghiệp miền Trung không có nhiều những tài nguyên khoáng sản lớn như dầu mỏ hoặc các loại quặng kim loại cần thiết, Nghệ An cũng không phải là một trung tâm thương mại hay công nghiệp, nhưng điều kiện tự nhiên và lao động thuận lợi để phát triển các mặt hàng nông sản, hải sản, vật liệu xây dựng và các ngành như dệt may, giày da, tiểu thủ công nghiệp phục vụ xuất khẩu Trong những năm vừa qua do những khó khăn về vốn đầu tư, công nghệ và những hạn chế về công tác thị trường, về trình độ kỹ thuật và quản lý chỉ đạo sản xuất kinh doanh nên sản xuất hàng hóa nói chung và SXHXK nói riêng kém phát triển, kim ngạch xuất khẩu bình quân trên đầu người hàng năm thấp hơn rất nhiều so với bình quân chung của

cả nước

Với quan điểm đổi mới của Đảng và từ khi có Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào tháng 12/1987, các hình thức đầu tư và LDVNN tại Nghệ An đã được quan tâm phát triển và có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế và cho SXHXK, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và sản xuất được một khối lượng hàng hóa đáng kể, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và tăng nhanh tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế nhất là sản xuất công nghiệp và xuất khẩu

Trang 3

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được, quá trình phát triển các hình thức LDVNN ở Nghệ An vẫn còn rất nhiều vấn đề nổi cộm: Đó là tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn rất chậm, số lượng dự án ít nhưng phần lớn gặp khó khăn thua lỗ nhiều, thậm chí có những dự án phải ngừng sản xuất Các hình thức LDVNN mới chỉ chú trọng đến vấn đề sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, tiêu thụ nội địa hoặc khai thác các nguồn tài nguyên sẵn có như gỗ và các loại khoáng sản khác Các dự án LDVNN đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và chế biến hàng nông sản, hải sản cho xuất khẩu hoặc

để phát triển các ngành công nghiệp dệt may là những ngành mà Nghệ An có lợi thế và tiềm năng phát triển hầu như chưa có Tình trạng này không phải chỉ riêng ở Nghệ An, mà cả ở những địa phương khác trong cả nước cũng tương tự, nhất là các địa phương thuộc vùng nông nghiệp khó khăn như khu vực khu bốn cũ, Tây Nguyên, các tỉnh miền núi vùng Tây Bắc, đồng bằng sông Cửu Long Nguyên nhân của nó không những ở những điều kiện khó khăn khách quan mà còn do quá trình vận dụng, tổ chức thực hiện của các ngành, các địa phương, một phần khác là ở hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là chính sách ưu đãi và thu hút đầu tư vào các vùng kinh tế khó khăn và các lĩnh vực sản xuất và chế biến hàng nông sản xuất khẩu

Vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu "Phát triển các hình thức liên

doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An" nhằm

đưa ra được những quan điểm giải pháp về quá trình tổ chức thực hiện và những kiến nghị về chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đẩy phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An, đồng thời có thể vận dụng cho các địa phương có điều kiện tương tự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hình thức LD đã có mầm mống từ giai đoạn đầu của phương thức sản xuất TBCN và hiện nay đã trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế của các nước Những mãi trong những thập niên gần đây nó mới được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu Đó là các nghiên cứu của P.A.Samelson và W.D

Trang 4

Nordhaus trong cuốn "Kinh tế học" xuất bản lần đầu năm 1948 tại Mỹ, của Raymond Werlls trong lý thuyết "Chu kỳ sản phẩm", của Dominik Salvatore trong cuốn "Kinh tế học quốc tế" và của các nhà kinh tế khác xuất bản trong

những năm gần đây như nghiên cứu của Xavier Ritchet, nhà kinh tế Pháp, trong

cuốn "Kinh tế doanh nghiệp" xuất bản bằng tiếng Việt do trung tâm Pháp - Việt về đào tạo quản lý dịch năm 1997, của J.H Adam trong cuốn "Từ điển tiếng

Anh kinh doanh" (Longman Consise Dictionany of Business English - 1992),

của Tổ chức hợp tác và phát triển của Liên hiệp quốc (OEDC) trong cuốn

"Chính sách cạnh tranh và liên doanh" (Competition policy and Joint Venture)

xuất bản năm 1986 Các nghiên cứu trên đã đưa ra khái niệm về LD, lý giải

cơ sở, vai trò và những "bất lợi" về LD, song đều viết chung với các vấn đề kinh tế khác mà chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về LDVNN trong SXHXK

Ở nước ta, vấn đề liên doanh được Đảng và Nhà nước quan tâm từ giữa những năm 80 và đã đưa vào Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tháng

12 năm 1987 Đã có những nghiên cứu về vấn đề này đăng trên một số tạp chí

và sách chuyên khảo Đó là cuốn "Thành lập và quản lý công ty, xí nghiệp

liên doanh với nước ngoài" do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Phan chủ biên,

"Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện việc thành lập các xí nghiệp liên

doanh với nước ngoài trong công nghiệp Việt Nam", luận án phó tiến sĩ của

nghiên cứu sinh Nguyễn Thường Lạng, "Liên doanh với nước ngoài và đầu tư

tại Việt Nam" của Hà Thị Ngọc Oanh, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội - 1998

Các nghiên cứu và sách báo trên đã quan tâm đến vấn đề LDVNN trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế Việc nghiên cứu vấn đề phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK vẫn hoàn toàn mới mẻ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Mục đích của luận án:

Trang 5

Trên cơ sở hệ thống và khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình thức LD, luận án đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy việc phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK ở tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.

- Nhiệm vụ của luận án:

+ Phân tích và làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc phát triển các hình thức LDVNN, chỉ rõ xu hướng phát triển và vai trò của nó trong SXHXK

+ Khái quát kinh nghiệm của một số nước trong khu vực để có thể nghiên cứu, vận dụng vào điều kiện của địa phương

+ Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển các LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An, tìm ra những mâu thuẫn, hạn chế và nguyên nhân của

+ Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển các LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án: Nghiên cứu những nhân tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển các hình thức LDVNN trong SXHXK như chính sách tạo lập môi trường đầu tư, quy trình thành lập, thẩm định và tổ chức thực hiện, những điều kiện thuận lợi và những khó khăn khách quan, nguyên nhân chủ quan, quan điểm và giải pháp khắc phục

Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu chủ yếu trong phạm vi tỉnh Nghệ An từ khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành (tháng 12/1987) đặc biệt là từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 6

Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận và các phương pháp có tính chất chuyên ngành như điều tra, thống kê, so sánh, khảo sát, khái quát, phân tích, tổng hợp và suy luận

6 Đóng góp mới của luận án

- Trên cơ sở khái quát những cơ sở lý luận và thực tiễn về hình thức

LD, luận án đưa ra khái niệm mới có tính chất tổng hợp và phù hợp với xu thế hiện nay, đồng thời chọn lọc một số kinh nghiệm có thể vận dụng cho điều kiện Việt Nam hiện nay như kinh nghiệm đa dạng hóa các hình thức LD, kinh nghiệm phát triển các doanh nghiệp liên doanh SXHXK vừa và nhỏ ở Hàn Quốc và Malaixia, kinh nghiệm về lựa chọn cơ hội LD, đánh giá hoạt động của LD và cách thức giải quyết những mối bất đồng trong LD

- Qua việc khảo sát tiềm năng phát triển SXHXK và thực trạng thành lập, hoạt động của các dự án LDVNN, luận án đã phân tích những mâu thuẫn

và hạn chế cần khắc phục, đặc biệt là mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển và cơ cấu đầu tư, mâu thuẫn giữa trình độ của công nghệ sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu hiện nay với thực trạng kém phát triển của các doanh nghiệp SXHXK ở Nghệ An, mâu thuẫn giữa yêu cầu về khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu với giá thành sản phẩm trong các LD hiện nay ở Nghệ An

- Cuối cùng luận án đưa ra được những quan điểm và giải pháp phát triển đáp ứng với yêu cầu thực tiễn ở Nghệ An và phù hợp với điều kiện sản xuất và chế biến hàng nông sản, hải sản xuất khẩu hiện nay ở trên phạm vi cả nước Đó là các giải pháp tạo ra môi trường và động lực thúc đẩy đầu tư cho sản xuất hàng nông sản hải sản xuất khẩu trên cơ sở khai thác tối đa các tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương và của đất nước trong quá trình toàn cầu hóa thương mại hiện nay Giải pháp phát triển các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có hiệu quả của địa phương từ đó làm nảy sinh ra các nhu cầu

mở rộng đầu tư và LD với nước ngoài

7 Kết cấu của luận án

Trang 7

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ

lục, luận án được chia thành 3 chương, 10 tiết

Trang 8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ

TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU

1.1 NGUỒN GỐC SỰ RA ĐỜI, KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG VỀ HÌNH THỨC LIÊN DOANH

1.1.1 Nguồn gốc sự ra đời của hình thức LD

Những mầm mống đầu tiên của LD có từ giai đoạn đầu của phương thức sản xuất TBCN Trong quá trình phân tích sự vận động của phương thức sản xuất TBCN, C.Mác tuy không nêu ra phạm trù về LD, không luận giải trực tiếp về nó nhưng đã cung cấp phương pháp luận cơ bản về con đường, về tính tất yếu và vai trò của hình thức quan hệ này C.Mác cho rằng, trong các phương thức sản xuất trước CNTB do sự phát triển còn thấp kém, nên các đơn

vị kinh tế có thể tồn tại hàng thế kỷ mà không hề có sự thay đổi tính chất và phạm vi, không vượt ra khỏi giới hạn của xóm làng hay cái chợ lân cận dành cho thợ thủ công nông thôn và những tiểu chủ Vì vậy, nhu cầu tập trung vốn giữa các chủ xưởng để mở rộng quy mô sản xuất chưa xuất hiện

Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất TBCN làm cho sản xuất vượt ra khỏi giới hạn của làng xã, của chợ địa phương, của từng vùng rồi vượt ra ngoài biên giới quốc gia hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Sự phát triển đó là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, được tác động trực tiếp bởi việc theo đuổi sản xuất giá trị thặng dư trong các xí nghiệp tư bản C.Mác viết:

Ngay trong buổi đầu của nền sản xuất TBCN, một số ngành sản xuất cũng đã đòi hỏi một số tối thiểu mà lúc bấy giờ từng cá nhân riêng rẽ chưa có được Tình hình đó dẫn đến một mặt Nhà nước phải trợ cấp cho những tư nhân, mặt khác thành lập những hội

Trang 9

nắm giữ độc quyền do luật pháp chưa thừa nhận để kinh doanh trong những ngành công nghiệp và thương mại nhất định" [46, tr 450]

Ở đây, C Mác luận giải con đường hình thành công ty cổ phần Nhưng thực tế có những công ty cổ phần lại là doanh nghiệp LD bởi vì con đường của công ty này chỉ bao gồm một số các chủ tư bản, các chủ này không chỉ góp vốn mà còn cùng nhau tổ chức hoạt động kinh doanh ở công ty

Phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư, C Mác cho rằng đó là động lực mạnh mẽ trong quá trình hoạt động kinh doanh của tất cả các nhà tư bản Do theo đuổi sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản buộc phải mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao sức sản xuất của lao động Trong các phương pháp để mở rộng quy mô sản xuất mà các nhà tư bản đã áp dụng là tích lũy tư bản Nhưng đây là "phương pháp hết sức chậm chạp" không thể thỏa mãn khát vọng của các nhà tư bản Hơn nữa các nhà tư bản lại phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt trên thị trường, cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau Bởi vậy quá trình tập trung tư bản đã diễn ra [46, tr 884]

Tập trung tư bản là quá trình làm tăng quy mô của tư bản cá biệt bằng cách sát nhập các tư bản cá biệt nhỏ thành tư bản mới So với tích lũy tư bản, thì đây là phương pháp tăng quy mô của xí nghiệp tư bản nhanh hơn nhiều, do

đó mức độ bóc lột giá trị thặng dư cũng lớn hơn nhiều Có hai con đường để tập trung tư bản: 1) Nhà tư bản lớn dùng sức mạnh kinh tế thôn tính và thu hút

tư bản của các nhà tư bản nhỏ theo nguyên tắc "cá lớn nuốt cá bé"; 2) Các nhà

tư bản " hợp tác" với nhau thông qua hợp nhất xí nghiệp của mình để thành lập xí nghiệp mới Trong thực tế không phải khi nào tập trung tư bản cũng được thực hiện bằng con đường thứ nhất Sự thành lập xí nghiệp mới bằng con đường thứ hai tất yếu sẽ là công ty cổ phần hay công ty LD Và như vậy, cũng như sự ra đời của công ty cổ phần, sự ra đời của công ty LD là kết quả của

một quá trình kinh tế khách quan do tác động bởi các quy luật kinh tế thị

Trang 10

trường được thúc đẩy bởi việc theo đuổi sản xuất giá trị thặng dư mà nguyên nhân sâu xa là do sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định quy định.

Theo C.Mác, quá trình tập trung tư bản dù bằng phương pháp nào cũng vẫn chỉ là những "thay đổi về lượng của các bộ phận gộp thành tư bản xã

hội" [46, tr 884] Song tuy không làm biến đổi tổng lượng tư bản xã hội nhưng tập trung lại rất cần thiết đối với việc kinh doanh của các nhà tư bản

Nó "bổ sung cho công việc tích lũy, nó cho phép các nhà tư bản công nghiệp

mở rộng quy mô kinh doanh của mình" [46, tr 884]

C.Mác còn lý giải: song song với quá trình tập trung tư bản, thì đồng thời hình thức hiệp tác của quá trình lao động với quy mô ngày càng lớn, việc áp dụng khoa học một cách có ý thức về mặt kỹ thuật, việc khai thác đất đai một cách có kế hoạch, việc biến tư liệu lao động thành những tư liệu lao động chỉ sử dụng được một cách tập thể, việc thu hút tất cả các dân tộc vào mạng lưới thị trường thế giới, và đi đôi với cái

đó là tính chất quốc tế của chế độ TBCN cũng phát triển [46, tr.1059] Điều này gợi ý phương pháp tiếp cận trong việc xác định cơ sở của sự hình thành các L D quốc tế hiện nay

V.I.Lênin đã vận dụng quan điểm của C.Mác vào phân tích giai đoạn độc quyền của CNTB Trong phân tích giai đoạn độc quyền của CNTB, tuy không nói về LD, nhưng ta có thể tìm thấy tư tưởng về LD thông qua việc V.I.Lênin phân tích nguyên nhân hình thành và bản chất của CNTB độc quyền

Theo V.I.Lênin, một trong những nguyên nhân làm ra đời CNTB độc quyền là tác động bởi quá trình tập trung tư bản Tổ chức độc quyền là liên minh giữa các xí nghiệp tư bản lớn nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một hoặc một số loại hàng hóa, qua đó hạn chế cạnh tranh, định ra giá

cả độc quyền để thu được lợi nhuận độc quyền cao Trong các hình thức liên

Trang 11

minh giữa các xí nghiệp tư bản tất yếu không loại trừ hình thức LD Chẳng hạn, khi xem xét hình thức xanh-đi-ca, ta cũng có thể nói rằng đây là một kiểu

LD mà các chủ doanh nghiệp chỉ tham gia một phần tư bản cùng quản lý và điều tiết lĩnh vực thương mại của các doanh nghiệp tham gia xanh-đi-ca

Hoạt động trong cơ chế cạnh tranh và do tác động bởi quy luật lợi nhuận độc quyền cao, nên quá trình tập trung tư bản càng được đẩy mạnh, làm cho quy mô của các xí nghiệp độc quyền càng lớn nhanh vượt ra khỏi dung lượng thị trường trong nước Thêm vào đó là tác động của cuộc cách mạng công nghiệp làm xuất hiện các lĩnh vực kinh doanh mới Do sự phân bố không đồng đều về các nguồn lực sản xuất giữa các quốc gia làm xuất hiện lợi thế so sánh Đây là những cơ sở làm xuất hiện quan hệ kinh tế quốc tế của các

tổ chức độc quyền, thúc đẩy xuất khẩu tư bản

Xuất khẩu tư bản là đưa tư bản ra nước ngoài nhằm chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở nước nhập khẩu tư bản So với đầu tư trong nước, việc xuất khẩu tư bản có thể thu được lợi ích nhiều hơn, chẳng hạn tỷ suất lợi nhuận cao hơn, tìm kiếm và khai thác được nguyên liệu với giá rẻ hơn, thị trường được mở rộng Một trong các hình thức xuất khẩu tư bản là các nhà tư bản sử dụng các chi nhánh của mình hợp tác với các cơ sở sản xuất của nơi nhập khẩu tư bản để xây dựng doanh nghiệp chung, cùng sản xuất kinh doanh, cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận Đây chính là cơ sở ra đời của các LD quốc tế

Trong những thập niên gần đây, sự thành lập các LD với nước ngoài được phát triển mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế học tư sản Cho đến nay đã có những giải thích về sự xuất hiện hiện tượng kinh tế này, phân tích bản chất của nó dưới nhiều khía cạnh khác nhau Dưới đây là một số quan điểm giải thích về bản chất và một số quan niệm về các hình thức LD trong nền kinh tế thị trường

Trang 12

- Quan điểm giải thích LD theo nghĩa rộng: Tức là quan điểm gắn

LD với kinh tế thị trường nói chung trong đó đối tác tham gia LD có thể cùng một quốc tịch hoặc có thể khác quốc tịch Nó được thể hiện trong

lý thuyết kinh tế của P.A.Samuelson (Mỹ) và Xavier Richet (Pháp)

Xavier Richet cho rằng: LD là sự hợp tác liên quan đến các doanh nghiệp của cùng một quốc gia, hoặc cùng một hệ thống kinh tế cũng như các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau [91, tr 108] Đây là loại LD được dựa trên sự hòa hợp và hợp tác Sở dĩ có sự lựa chọn loại doanh nghiệp LD này là vì:

+ Nó có khả năng làm tăng nhanh quy mô sản xuất, tạo ra một khối lượng hàng hóa nhiều hơn;

+ Khi nhiều đơn vị hàng hóa được sản xuất, kinh tế sản xuất lớn được thực hiện, giá bán hàng hóa có thể hạ và bán thêm được nhiều hàng hóa hơn:

+ Với LD "theo chiều dọc" sẽ làm xuất hiện nhân tố mới: chuyên môn hóa và hoạt động kinh tế theo hai giai đoạn, tức là gắn sản xuất với lưu thông

+ Doanh nghiệp lớn lên nhờ "liên kết ngang", qua đó có thể lợi dụng

cơ hội có lợi để mua một số doanh nghiệp cạnh tranh với mình;

+ Sự phát triển của LD có thể trở thành một "Conglomerat" nhỏ bé, lớn lên bằng cách đưa thêm những hoạt động có liên quan vào kinh doanh của mình

- Quan điểm giải thích LD theo nghĩa hẹp: Tức là gắn LD với quan hệ

kinh tế quốc tế, trong đó các đối tác khác nhau về quốc tịch Nó được thể hiện trong lý thuyết "Chu kỳ sản phẩm" của Raymond Verlls và "Kinh tế học quốc tế" của Dominik Salvatore

Theo Dominik Salvatore, việc thành lập doanh nghiệp LD với nước ngoài là cần thiết, nó sẽ tạo ra "hiệu quả phúc lợi" cho các nước có liên quan{86] Có thể biểu diễn ở đồ thị 1.1:

Trang 13

Đồ thị 1.1: Hiệu quả phúc lợi của việc thành lập doanh nghiệp LD

với nước ngoài

Giá trị sản phẩm cận biên của tư bản

Quốc gia 1

Quốc gia 2B AAAeA O M N O' C E D Giá trị sản phẩm cận biên cửa tư bản

HAAeA VMPK2 VMPK1 K

Trang 14

Theo tác giả, giả sử trên thế giới chỉ có hai quốc gia là quốc gia 1 và quốc gia 2 (trên đồ thị 1.1) Tổng tư bản của cả hai quốc gia là 00', quốc gia 1

và quốc gia 2 có các đường giá trị sản phẩm cận biên của tư bản tương ứng là VMPK1 và VMPK2 Trước khi có sự di chuyển vốn là 0'N Lượng sản phẩm

mà quốc gia 1 tạo ra đo bằng diện tích hình OADN, trong đó lượng sản phẩm

do vốn tạo ra được đo bằng diện tích OHDN Quốc gia 2 sản xuất được một lượng sản phẩm đo bằng diện tích NCBO', trong đó số sản phẩm đo lượng vốn tạo ra bằng diện tích NCKO'

Khi có sự di chuyển vốn từ quốc gia 1 sang quốc gia 2, giả sử sự di chuyển này đạt tới điểm cân bằng E, lượng vốn của quốc gia 1 là OM và quốc gia 2 là O'M, thì quốc gia 1 sản xuất được một lượng sản phẩm đo bằng diện tích OAEM, quốc gia 2 sản xuất được một lượng sản phẩm đo bằng diện tích MEBO' Quốc gia 1 giảm đi một lượng sản phẩm đo bằng diện tích MEDN, còn quốc gia 2 tăng lên một lượng sản phẩm đo bằng điện tích MECN Như vậy, toàn thế giới sẽ sản xuất tăng thêm một lượng sản phẩm đo bằng diện tích tam giác ECD trên đồ thị 1.1

Trang 15

Từ phân tích trên, Dominik Salvatore rút ra kết luận: việc di chuyển vốn giữa các nước trong đó có con đường thành lập doanh nghiệp LD có tác dụng làm tăng quy mô sản xuất và khối lượng sản phẩm của toàn thế giới.

Phát triển lý thuyết "Chu kỳ sản phẩm" của Raymond Vernon, Louis Wells đã đưa ra lý thuyết " Chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường quốc tế" Theo sự phát triển của thị trường thế giới, lý thuyết này tiếp tục được bổ sung nhằm giải thích sự vận động của các dòng vốn quốc tế

Theo lý thuyết này, một loại sản phẩm "sống" trên thị trường phải trải qua 4 giai đoạn (đồ thị 1.2)

Giai đoạn 1 (Tung ra thị trường) Sản phẩm mới được sản xuất ở trong nước rồi tung ra bán chủ yếu trên thị trường nội địa Do mới, nên nói chung khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nước ngoài còn thấp Doanh số thu được từ việc bán sản phẩm ở nước ngoài thấp

Giai đoạn 2 (Phát triển sản phẩm) Doanh số thu được có xu hướng tăng ở thị trường nước ngoài Các công ty đa quốc gia mở rộng việc bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài cùng với mở rộng thành lập LD với các công ty ở nước sở tại

Giai đoạn 3 (Giai đoạn chín muồi rồi bão hòa) Doanh số bán hàng có chiều hướng giảm sút các công ty đa quốc gia dịch chuyển sản xuất sang các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế về các yếu tố sản xuất rẻ đặc biệt là lao động giá thấp, lợi thế về các nguồn lực tự nhiên Các LD được thành lập nhiều ở các nước đang phát triển để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Các sản phẩm của LD được sản xuất ở nước sở tại rồi tiêu thụ ở đó hoặc xuất khẩu sang nước khác hoặc về nước chủ nhà

Giai đoạn 4 (Suy giảm và triệt tiêu) Doanh số bán hàng ở vào mức thấp nhất Các công ty đa quốc gia một mặt dịch chuyển sản xuất ra nước ngoài để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm; mặt khác, đổi mới công nghệ thông qua thành lập hoặc tìm các bạn hàng có kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm

Trang 16

ở nước ngoài Từ đó xuất hiện các LD trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ

và tìm hiểu thị trường địa phương

Đồ thị 1.2: Chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường quốc tế [100, tr 82]

Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc thành lập doanh nghiệp LD là do các nhà đầu tư muốn khai thác tính không hoàn hảo của thị trường để thu lợi nhuận ở nước ngoài khi ở đó có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với nếu đầu tư ở trong nước Đây cũng là cơ hội để thâm nhập vào một số thị trường vẫn còn bị bảo hộ

Về phía các nước đang phát triển, các nước thuộc nhóm nước "đi sau" tìm cách "nhảy vọt" và "rút ngắn thời gian đáng kể" bằng việc du nhập các thiết bị máy móc và công nghệ hiện đại từ các nước đi trước và từ các công ty

đa quốc gia để sớm có một nền công nghiệp hiện đại và khai thác tối đa các nguồn lực trong nước Nhưng các nước này không phải lúc nào cũng có khả năng cân đối đủ các nguồn ngoại tệ để nhập khẩu các thiết bị máy móc và các công nghệ cần thiết cho mình, hơn nữa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp chưa đủ khả năng để quản lý và sử dụng các công nghệ này một cách có hiệu quả Vì vậy, Chính phủ và các công ty của những quốc gia này

Phát triển Bảo

hoà Suy giảm

triệt tiêu

Trang 17

cũng tìm mọi giải pháp để thu hút các công ty nước ngoài vào thành lập các

LD để thực hiện chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý

Các nước XHCN ở trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ tiến lên CNXH

bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN cũng đã vận dụng các hình thức này một cách linh hoạt và sáng tạo Nước Nga, sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười,

Lê nin cùng với chính quyền xô viết tổ chức công cuộc phát triển kinh tế, kiên quyết đưa nước Nga từ đói nghèo, lạc hậu tiến lên CNXH Từ thực tế cuộc sống,

Lê nin đã đề ra và đưa vào áp dụng chính sách kinh tế mới (NEP) ở nước Nga Ý tưởng của NEP là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực hiện các hình thức kinh tế quá độ nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng CNXH Một trong những chính sách mà Lênin đưa ra áp dụng ở nước Nga trong thời kỳ là chính sách về CNTB nhà nước Theo Lênin, CNTB nhà nước là sản phẩm của sự can thiệp tích cực của Nhà nước vào hoạt động kinh tế trong các xí nghiệp tư bản Ở nước Nga, đó là sự can thiệp của chính quyền Xô viết, tức là của Nhà nước XHCN, nên nó phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động CNTB nhà nước, nếu xét về nội dung, có thể hiểu đó là các hình thức kinh tế quá độ dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa các thành phần kinh tế với các nhà tư bản trong và ngoài nước cũng như giữa các thành

phần kinh tế với nhau [54, tr 68] Công ty hợp doanh là một hình thức kinh tế

TBNN trong quan điểm của Lênin, chúng ta có thể gọi là công ty LD Bởi vì,

đây là loại công ty được thành lập theo thể thức tiền vốn một phần của tư bản

tư nhân, một phần của tư bản nước ngoài và một phần của chính quyền xô

viết [42, tr 336] Những đặc tính của công ty hợp doanh trong quan điểm của

Lênin trước đây cũng chính là những đặc trưng chủ yếu của doanh nghiệp

LD mới phát triển mạnh mẽ trong vòng vài thập kỷ vừa qua mà toàn thế giới đều biết đến.

Lê nin cho rằng:

CNTB là xấu so với CNXH, nhưng nó lại là tốt so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình

Trang 18

trạng phân tán của người tiểu sản xuất gây nên Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên CNXH bởi vậy trong một chừng mực nào đó, CNTB là không tránh khỏi Bởi

vậy chúng ta phải sử dụng CNTB (nhất là bằng cách hướng vào

CNTB nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và CNXH làm phương tiện, con đường, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên [40, tr 276]

Khẳng định hơn nữa sự cần thiết phải áp dụng các hình thức kinh tế của CNTB nhà nước, Lênin cho rằng việc áp dụng này sẽ tạo điều kiện tốt để nâng cao trình độ quản lý của chính quyền xô viết Lênin viết:

Không có kỹ thuật đại công nghiệp tư bản được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức Nhà nước có kế hoạch khiến cho hàng triệu người phải tuân theo hết sức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm thì không thể nói đến CNXH được,

sử dụng được năng lực của các chuyên gia tư sản Đặc biệt, trong một nước

mà sản xuất nhỏ chiếm ưu thế thì cái lợi lớn hơn cả là trên cơ sở sử dụng lợi ích tư hữu TBCN như một động lực, phát triển được trong một thời gian ngắn nhất nền sản xuất theo hướng sản xuất lớn, tập trung, dưới sự kiểm soát của Nhà nước, chống lại sự hỗn loạn tiểu tư sản

Trang 19

tình trạng suy sụp về kinh tế và hiện tượng lỏng lẻo là cái quan trọng hơn hết, vì để tình trạng vô chính phủ của những kẻ tư hữu tiếp tục tồn tại là một mối nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất, nó sẽ làm chúng ta diệt vong, trái lại sẽ đưa chúng ta đến CNXH bằng con đường chắc chắn nhất [41, tr 251-252]

Trong quan điểm của mình, Lê Nin còn chỉ rõ những tác dụng khác khi áp dụng CNTB nhà nước như nó sẽ giúp thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, củng cố sự tín nhiệm của nông dân với chính quyền

Xô viết; nó sẽ là một công cụ để đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu, tác phong lề mề; giai cấp công nhân và nhân dân lao động có thể học được cách quản lý nền sản xuất lớn, du nhập tiến bộ công nghệ bên ngoài, đồng thời phục hồi được giai cấp công nhân hiện đại

Với tính tất yếu và tác dụng nhiều mặt như trên, việc sử dụng và phát triển các hình thức kinh tế TBNN (trong đó có hình thức LD) là cần thiết để sớm đưa nước Nga tiến lên CNXH

Quan điểm trên của Lênin đã được áp dụng ở nước Nga trong thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới (1921 - 1928), sau đó kể từ những năm 60 được phát triển ở các nước XHCN với tên gọi: "Xí nghiệp liên doanh với nước ngoài" và thành lập "Hội đồng tương trợ kinh tế" (khối SEP) nhằm tiến hành phân công, hợp tác và tương trợ kinh tế lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em, trong đó phát triển mạnh các hình thức gia công hàng xuất khẩu Từ thập kỷ 80 trở lại đây, các hình thức LDVNN đã phát triển mạnh ở Trung Quốc và sau đó là Việt Nam

Như vậy, sự ra đời của các hình thức LD là kết quả tất nhiên của quá trình tập trung hóa và hợp tác hóa sản xuất, của sự vận động dòng đầu tư quốc tế với nguồn gốc bên trong là sự phát triển của phân công lao động quốc tế, sự phát triển của sản xuất hàng hóa khi lực lượng sản xuất đã đạt đến một trình độ nhất định

Trang 20

Tuy nhiên cho đến nay nhận thức và khái niệm về các hình thức LD vẫn chưa có một sự thống nhất và chuẩn hóa Dưới đây, tác giả chỉ đề cập và phân tích một số quan điểm về các hình thức LD của các nhà kinh tế trong những thập niên gần đây và của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời trên cơ sở nhận thức về bản chất của nó để đưa ra quan điểm của mình làm tiền đề cho việc nghiên cứu phát triển và mở rộng các hình thức LDVNN trong SXHXK ở Nghệ An.

1.1.2 Khái niệm về hình thức liên doanh

Cho đến nay có nhiều tác phẩm đề cập đến hình thức LD, đặc biệt là các nhà kinh tế học tư sản J.H.Adam trong cuốn "Từ điển tiếng Anh kinh doanh" cho rằng:

LD là một quan hệ bạn hàng tạm thời nhưng đôi khi có tính chất lâu dài được thành lập từ hai hay nhiều cá nhân hoặc công ty hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định trong đó có rủi

ro và thua lỗ nhưng vẫn có thể mong đợi một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý Các bên liên doanh cùng chia sẻ các khoản chi phí và lợi nhuận theo các tỷ lệ được thỏa thuận [98, tr 218]

Quan niệm trên xác định một LD phải được hình thành ít nhất từ hai

công ty khác nhau Động lực để một LD được thành lập là lợi nhuận Trách

nhiệm, mức độ hưởng lợi nhuận cũng như rủi ro được phân chia cho các bên

tham gia LD theo tỷ lệ vốn góp đã thỏa thuận Tuy nhiên, quan niệm của J.H.Adam vẫn chưa được đề cập đến khía cạnh pháp lý - một yếu tố không thể thiếu được để duy trì quan hệ giữa các bên tham gia và điều tiết lợi ích giữa chúng

- Trong Luật kinh doanh của Mỹ có nêu "LD là một quan hệ bạn hàng trong đó hai hay nhiều chủ thể cùng đóng góp lao động hoặc tài sản để thực hiện một mục tiêu đặt ra và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận và rủi ro ngang nhau hoặc do các bên thỏa thuận" [99, tr 669]

Trang 21

Giống quan niệm của J.H.Adam, điều luật này nêu rõ một LD phải có

ít nhất là hai hay hơn hai đối tác tham gia, không loại trừ đó là các đối tác cùng quốc tịch hay khác quốc tịch Điểm mới của điều luật này ở chỗ nó đã

đề cập đến khía cạnh sở hữu của LD Các bên tham gia là các chủ đóng góp tài sản để cùng sở hữu tài sản của LD Song ở đây khía cạnh pháp lý của LD còn mờ nhạt

Trong Từ điển kinh tế "The Happen Colling Dictionary Economics" xuất bản năm 1991 có đề cập "LD là sự cùng làm chủ của hai hãng hoặc một hãng và Chính phủ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh LD làm cho tổng

số nguồn được sử dụng lớn hơn trong việc ứng dụng hàng hóa và dịch vụ, và

có thể có hiệu quả đặc biệt trong việc khai thác nguồn bổ sung đối với một bên, chẳng hạn đóng góp tri thức về quá trình sản xuất và đóng góp kiến thức

về thị trường" [52, tr 8]

Quan điểm này cho rằng các bên tham gia LD có thể là các hãng, các công ty nhưng có thể một bên là một công ty nhưng bên kia là một chính phủ của một quốc gia Tài sản đóng góp vào LD có thể là tiền vốn, tài sản hữu hình nhưng cũng có thể là tài sản vô hình như tri thức, kiến thức về thị trường Tuy vậy, quan niệm này mới chỉ dừng lại ở LD với sự tham gia của hai bên Khía cạnh pháp lý của nó chưa được đề cập thích đáng Hơn nữa LD không chỉ dừng lại ở lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, mà còn cả trong hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai

Tổ chức hợp tác và phát triển của Liên hiệp quốc (OECD) cho rằng:

"Trên quan điểm cạnh tranh, LD là một hình thức nằm giữa hợp đồng và liên minh trong đó hai hoặc nhiều công ty liên kết hoạt động với nhau trong một hoặc hơn các lĩnh vực sau đây:

a Tiến hành các hoạt động mua bán.

b Khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển hoặc điều hành các hoạt động sản xuất.

Trang 22

c Nghiên cứu và triển khai

d Hoạt động chế tạo và xây dựng [102, tr 11].Cách hiểu này cho thấy LD không phải là một quan hệ hợp đồng đơn giản, nó phải cao hơn quan hệ này; đồng thời LD cũng không phải là một quan hệ có tính chất liên minh đầy đủ và chặt chẽ giữa các bên với quy mô lớn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Do nằm giữa quan hệ hợp đồng và liên

minh nên liên doanh có thể được hình thành ở một hoặc hơn các lĩnh vực

thương mại, sản xuất, khoa học - kỹ thuật

Trong khi đó, các nhà kinh tế Mỹ thuộc Trường Đại học tổng hợp America lại đưa ra quan niệm nêu rõ tính chất đa dạng của đối tác tham gia LD:

LD là những thỏa thuận kinh doanh trong đó hai hoặc nhiều công ty hoặc thực thể kinh doanh kết hợp với nhau để hình thành một hoạt động kinh doanh nhất định Các LD có thể được thành lập giữa hai công ty đa quốc gia, giữa một công ty đa quốc gia và Chính phủ, hoặc giữa các công ty đa quốc gia với các nhà kinh doanh địa phương [101, tr 5]

Ở nước ta, trong "Từ điển tiếng Việt", LD được hiểu một cách tổng quát, đó là "cùng nhau hợp tác trong kinh doanh, giữa hai bên hay nhiều bên"

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định các công ty và tổ chức kinh tế nước ngoài được đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với các hình thức sau:

1- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

2- Xí nghiệp hoặc công ty LD, gọi chung là xí nghiệp LD

3- Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

Và một số hình thức khác bổ sung sau này

Trong đó hình thức "xí nghiệp LD" được quy định như sau: "xí nghiệp LD" là xí nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam

Trang 23

trên cơ sở hợp đồng LD hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, hoặc là xí nghiệp mới do xí nghiệp LD hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng LD.

Và hợp đồng hợp tác kinh doanh là "hai bên hoặc nhiều bên được hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp tác sản xuất chia sản phẩm và các hình thức hợp tác khác

Đối tượng, nội dung kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên và quan hệ giữa các bên do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh

Như vậy về bản chất, hình thức thành lập xí nghiệp LD và hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh đều có thể được xem là các hình thức LD với nước ngoài trên cơ sở pháp lý là hợp đồng LD, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc hiệp định ký giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài

Tóm lại, từ những luận điểm trên và qua việc nghiên cứu bản chất của

các hình thức LD có thể đưa ra một khái niệm chung về các hình thức LD như

sau: Liên doanh là một hình thức phối hợp tổ chức các hoạt động kinh tế của

hai bên hoặc nhiều bên cùng quốc tịch hoặc khác quốc tịch như tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động nghiên cứu, dịch vụ,xây dựng nhằm đưa lại lợi ích lớn hơn cho các bên trong liên doanh Nó được hình thành trên cơ sở sự tham gia thành lập, quản lý và sự đóng góp của các bên

về vốn, tài sản hoặc một công đoạn sản xuất kinh doanh nào đó Lợi nhuận rủi ro, trách nhiệm và quyền hạn của các đối tác liên doanh được phân chia theo mức độ đóng góp, đồng thời được thống nhất và bảo đảm bằng một hợp đồng liên doanh do các bên ký kết trên cơ sở pháp luật của quốc gia mà tại

đó hình thức liên doanh được thành lập và hoạt động.

Trang 24

1.1.3 Đặc trưng của hình thức liên doanh

Qua việc nghiên cứu nguồn gốc sự ra đời và khái niệm của các hình thức LD, có thể nhận thấy các hình thức LD có những đặc trưng chủ yếu như sau:

Một là, LD là một phạm trù kinh tế khách quan Nó phản ánh những

mối quan hệ nội tại khách quan xuất phát từ những lợi ích kinh tế khách quan giữa những chủ thể kinh tế đồng thời nó phản ánh một quá trình vận động phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ và phạm vi của sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh

Hai là, đặc thù của các hình thức LD là phải cùng thực hiện sản xuất

kinh doanh về một mặt hàng nào đó hoặc nghiên cứu triển khai trong một lĩnh vực nhất định

Ba là, trong các hình thức LD các bên phải có một trong những hình

thức tham gia sau: tham gia về quản lý, tham gia góp vốn, góp tài sản hoặc góp bằng việc hoàn thành một công đoạn sản xuất kinh doanh nào đó

Bốn là, đặc trưng nổi bật của các hình thức LD là lợi nhuận rủi ro,

trách nhiệm và quyền hạn của các bên được phân chia theo mức độ đóng góp

về tài sản, vốn và được bảo đảm bằng một hợp đồng LD theo đúng quy định của pháp luật tại quốc gia mà hình thức LD được thành lập và phát triển

Với những đặc trưng này có thể phân biệt giữa hình thức LD với các hình thức quan hệ kinh tế khác như cho vay dài hạn, cho vay lãi suất ưu đãi, hợp đồng thương mại trao đổi hàng hóa với nhau lâu dài Trong các hình thức này các bên có thể cho vay vốn dài hạn với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất hoặc có thể tiêu thụ hàng hóa cho nhau lâu dài và ứng trước vốn để hỗ trợ cho sản xuất nhưng không tham gia quản lý và không cùng điều hành sản xuất với nhau, không phân chia lợi nhuận và rủi ro

Đặc trưng của các hình thức LD cũng được phân biệt với các hình thức thuê tài sản thiết bị, thuê mua tài chính hoặc thành lập xí nghiệp 100% vốn nước ngoài Trong các hình thức này phía người cho thuê tài sản, đất đai

Trang 25

hoặc các quốc gia cho thành lập các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài được thu tiền thuê đất, tiền thuê tài sản, thậm chí là cả tiền thuế nhưng không phải chịu rủi ro tổn thất khi việc sản xuất kinh doanh bị đổ bể.

1.2 PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC LIÊN DOANH

Trong thực tế hiện nay có nhiều cách phân loại các hình thức LD chẳng hạn:

- Ở Mỹ, LD có hai loại: hợp đồng LD và góp vốn LD Hợp đồng LD là

một hiệp hội gồm những cá nhân hay công ty nhằm tiến hành một dự án kinh doanh cụ thể Góp vốn LD là hình thức thành lập một công ty cổ phần [26, tr 550]

- Ở Thái Lan, LD tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn,

một quan hệ bạn hàng hay một hình thức phi công ty

- Ở Hàn Quốc, có 5 hình thức LD là công ty trách nhiệm hữu hạn,

công ty trách nhiệm vô hạn, công ty có số thành viên trách nhiệm hữu hạn và

Một là, LD sản xuất, chế tạo, lắp ráp sản phẩm Hình thức này chủ

yếu được thành lập trong các ngành công nghiệp cơ khí lắp ráp các sản phẩm như điện tử, ôtô, máy bay Nó đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn vào máy móc, thiết bị, công nghệ, đào tạo, thời gian thu hồi vốn kéo dài và quy mô thành lập doanh nghiệp lớn

Hai là, LD chế biến sản phẩm Hình thức này chủ yếu được thành lập

trong các ngành chế biến hàng nông sản và khoáng sản Nó phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu phục vụ cho hoạt động của LD Các nước đang phát triển thường thông qua chính sách thu hút đầu tư nước ngoài thường góp vốn,

Trang 26

công nghệ chế biến vào LD, còn đối tác trong nước chịu trách nhiệm trong việc tìm kiếm, khai thác nguyên liệu phục vụ cho hoạt động của LD.

Ba là, LD dịch vụ Hình thức này chủ yếu được thành lập trong các

ngành vận tải, bảo hiểm, ngân hàng, du lịch, tư vấn, y tế, giáo dục nhằm cung cấp dịch vụ cho khách hàng Đây là hình thức LD cần ít vốn đầu tư, thời hạn thu hồi vốn nhanh hơn so với LD trong các ngành sản xuất trực tiếp

Bốn là, LD trong nghiên cứu và phát triển Hình thức này được thành

lập nhằm phối hợp hoạt động nghiên cứu và phát triển giữa các bộ phận nghiên cứu của các công ty, giữa các viện nghiên cứu hoặc các trường đại học

để đưa ra một thiết kế mới, một kiểu dáng công nghiệp mới của sản phẩm hoặc xây dựng chiến lược nghiên cứu và phát triển của một công ty hoặc một tập đoàn Hình thức LD này tạo ra sản phẩm "chất xám" có vai trò thúc đẩy sản xuất phát triển theo chiều sâu, nâng cao sức cạnh tranh của công ty, tập đoàn hoặc quốc gia trên thị trường Việc thành lập LD này hay gặp phức tạp

vì các bên tham gia không muốn góp bí quyết của mình vào LD

1.2.2 Phân loại theo hình thức pháp lý

*Có hai hình thức cơ bản:

- LD theo hình thức thành lập các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân

riêng:

Trong hình thức này có các loại hình tổ chức pháp lý như sau:

Một là, công ty trách nhiệm hữu hạn Trong hình thức này, các bên

đóng góp một tỷ lệ vốn nhất định vào vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp và chịu trách nhiệm cũng như hưởng lợi theo tỷ lệ vốn góp Nó thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và đang ở giai đoạn đầu hoạt động Khi LD mở rộng quy mô, tăng vốn hoạt động thì hình thức này bộc lộ những hạn chế về cách thức tăng vốn và cơ chế điều hành

Trang 27

Hai là, công ty cổ phần Thường được áp dụng khi thành lập các LD

có quy mô lớn và có triển vọng mở rộng sản xuất, kinh doanh Ở đây, doanh

nghiệp LD phát hành cổ phiếu để thu hút vốn Cổ đông của LD hưởng thu nhập theo lợi tức cổ phần tham gia LD Điều kiện để thành lập LD này là phải có thị trường vốn phát triển, nhất là thị trường chứng khoán

Ba là, các tổ chức góp vốn hữu hạn hoặc công ty có sở hữu hoàn toàn Đây là hình thức được thành lập trên cơ sở các thành viên góp vốn tiến

hành thu hút vốn nhàn rỗi từ các thành viên khác không phải là các tổ chức kinh doanh hay pháp nhân Ở một số nước phát triển, nếu một bên tham gia

LD sở hữu trên 95% vốn thì LD được gọi là công ty góp vốn hữu hạn [38, tr 66]

LD theo các hợp đồng hợp tác kinh tế, kỹ thuật và dịch vụ.

Trong hình thức LD này không thành lập ra các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân riêng, đồng thời có các dạng hợp đồng như sau:

+ Các hợp đồng hợp tác sản xuất kinh doanh

Một là, LD với nước ngoài Trong hình thức LD này các đối tác LD

thuộc các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế từ các quốc gia khác nhau Trong luận án này chủ yếu đề cập đến hình thức LDVNN trong SXHXK

Hai là, LD trong nước Trong hình thức này các đối tác tham gia LD

đều từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế trong nước

Trang 28

Theo cách phân loại này còn có LD hai bên LD nhiều bên tùy theo số lượng đối tác tham gia

1.2.4 Phân loại theo mức độ tham gia của các bên vào một LD

Có các hình thức:

Một là, LD toàn bộ Là hình thức mà công ty gốc tham gia toàn bộ

vốn, năng lực sản xuất, kinh doanh đứng thành một bên trong LD Thực chất,

đó là một công ty nhỏ nhập vào một công ty khác có qui mô lớn hơn trong cùng một lĩnh vực kinh doanh

Hai là, LD từng phần Là hình thức chỉ có một bộ phận hoặc chi

nhánh của công ty gốc (công ty mẹ) tham gia thành lập một LD Trong trường hợp này, có thể một doanh nghiệp tham gia thành lập LD với nhiều bên khác nhau trong những dự án khác nhau Đây là hình thức LD phổ biến mà các công ty đa quốc gia thường áp dụng ở các nước Các công ty này thường có chiến lược kinh doanh đa dạng, đầu tư vào nhiều dự án khác nhau vào các nước với cơ cấu đầu tư khác nhau

Ngoài các khía cạnh nêu trên, việc xác định các hình thức LD còn căn

cứ vào các giai đoạn của quá trình tái sản xuất như LD cung cấp nguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận, LD trong phân phối và tiêu thụ sản phẩm; hoặc căn cứ theo khu vực địa lý, theo các nhóm nước trên cơ sở tính theo thu nhập bình quân đầu người Ví dụ, ở Nhật người ta chia ra thành LD ở khu vực Bắc Mỹ,

LD ở khu vực Tây Âu, LD ở khu vực Châu Á [38, tr 66]

Như vậy, việc xác định một LD nào đó thuộc hình thức này hay hình thức khác chỉ có tính tương đối Trong thực tế, các hình thức LD có quan hệ qua lại lẫn nhau, cùng phản ánh một thực thể kinh doanh đặc thù trong nền kinh tế thị trường, phân biệt với các thực thể kinh doanh khác Tuy nhiên, việc phân biệt các hình thức LD là cần thiết và có ý nghĩa về phương pháp luận

Nó cung cấp căn cứ cho nhận thức và tổ chức thực tiễn để một nước, một địa phương cũng như một doanh nghiệp tìm kiếm, lựa chọn phương thức LD

Trang 29

thích hợp Các hình thức LD trên hoàn toàn có thể áp dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu.

1.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU

1.3.1 Xu hướng phát triển

Từ khi xuất hiện trong đời sống kinh tế các nước đến nay, hình thức LDVNN đã có quá trình phát triển và biến đổi về nhiều mặt Về cơ bản, xu hướng phát triển của nó có những nét cơ bản như sau:

Một là, số lượng các LDVNN tăng nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng vốn đầu tư của các nước.

Những LDVNN đầu tiên được thành lập gắn liền sự xuất hiện các dòng đầu tư quốc tế kể từ cuối thế kỷ XIX Đó là sự có mặt của các công ty đa quốc gia trên thị trường nước ngoài nhằm khai thác tài nguyên ở đó đem về nước như công ty dầu mỏ ở Mêhicô (công ty Standard Oil) của Rốccơpheolơ (từ năm 1870), liên minh khai thác đồng thuộc tập đoàn Nicken quốc tế, tập đoàn cao su Hoa Kỳ ở Sumatra, Tập đoàn Singer, National Cash Register Company, International Harvester (nay là Navistar) và Remington của Hoa

Kỳ Năm 1970, hãng xe hơi Daimler - Benz (Đức) được thành lập Năm 1899, hãng này đã thành lập 1 xưởng lắp ráp ở Viên (Áo), sau đó lập những chi nhánh dưới hình thức công ty LD để chế tạo xe hơi Năm 1888, một công ty

Mỹ đã đầu tư ra nước ngoài bằng hình thức LD để lắp ráp, chế tạo xe hơi ở Canada, bởi vì ở đây thiết lập hàng rào thuế quan quá cao, nên các hãng này phải thâm nhập thị trường bằng hình thức LD Những tập đoàn nêu trên, ngay

từ buổi đầu thành lập đã tồn tại dưới hình thức LD chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, thu lợi nhuận bổ sung từ các thị trường nước ngoài

Sau chiến tranh thế giới thứ II, do tác động của cách mạng khoa học

kỹ thuật, khối lượng mậu dịch giữa các nước cũng như dòng vốn đầu tư quốc

tế tăng nhanh, cạnh tranh ngày càng gay gắt khiến cho việc thành lập các doanh nghiệp LD nhất là LDVNN trở thành sự lựa chọn có tính sống còn về

Trang 30

mặt chiến lược của các công ty trên thị trường Số lượng các LDVNN tăng nhanh cùng với sự gia tăng nhanh chóng của dòng vốn đầu tư trực tiếp trên thế giới Chẳng hạn, cho đến tháng 6/1991, trong số 34.090 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc thì số dự án LD là 19.524 (chiếm 57,3%) với tổng số vốn là 17,8 tỷ USD Đến tháng 3 - 1991, số lượng các LD ở cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) là 3.200, tăng gấp 3 lần so với 1 năm trước đó,

tỷ trọng các LD trong nền kinh tế là 0,5% tổng giá trị sản phẩm xã hội Hình thức LD thường thu hút khoảng 2/3 tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài [52,

tr 32-33]

Hơn một thập niên gần đây, bên cạnh sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, trên thế giới còn nổi lên xu hướng gia tăng các số lượng các nước hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế với một thị trường toàn cầu tự do hóa Các nhiệm vụ kinh tế được phân chia dần giữa các quốc gia Các nước sử dụng nguồn lực kinh tế (tài nguyên, lao động, vốn kỹ thuật, công nghệ ) trên quy mô toàn thế giới Cạnh tranh quốc tế trở nên gay gắt, đặc biệt

là giữa các trung tâm kinh tế thế giới và các nước công nghiệp mới, đã đẩy nhanh hơn nữa sự tăng lên về các LD Các hình thức LDVNN đã trở thành vũ khí để vượt qua hàng rào thuế quan, thâm nhập thị trường mới, mở rộng qui mô sản xuất, "gia tốc" khả năng cạnh tranh của các công ty và thực hiện việc chuyển giao công nghệ LDVNN trở thành mục tiêu chính của hợp tác kinh tế quốc tế, là giải pháp cho sự tồn tại của các công ty đa quốc gia trên thị trường thế giới

Hai là, xu hướng LD ngày càng đa phương và đa dạng.

Nếu cách đây hơn một thế kỷ chỉ có các LD mà đối tác là các công ty

đa quốc gia của các nước công nghiệp phát triển đầu tư vào thuộc địa nhằm khai thác tài nguyên như lập đồn điền và khai thác khoáng sản xuất khẩu phục

vụ cho sản xuất công nghiệp ở chính quốc, thì sau chiến tranh thế giới lần thứ

II, xu hướng chuyển dịch dòng vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chủ yếu giữa các nước tư bản phát triển và thực hiện LD thông qua các liên minh kinh tế trong từng khu vực nhằm củng cố tiềm lực kinh tế và vị trí của hệ thống

Trang 31

TBCN thế giới Năm 1950, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào các nước tư bản phát triển chiếm khoảng 40% tổng số vốn đầu tư nước ngoài toàn thế giới; đến cuối thập kỷ 80, con số này là gần 80% Từ đầu những năm

90 lại đây, cùng với xu hướng biến đổi của dòng vốn đầu tư trực tiếp, các hình thức LDVNN lại có xu hướng tăng lên giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển và giữa các nước đang phát triển với nhau

Có sự chuyển hướng này bởi vì: 1) Ở các nước phát triển đã xuất hiện tình trạng suy giảm lãi suất và lợi nhuận do suy thoái kinh tế mang tính chu

kỳ, nên buộc phải tìm đến các nước đang phát triển - nơi có nhu cầu trong đầu tư; 2) Xu hướng toàn cầu hóa, đa dạng hóa quốc tế trong đầu tư; 3) Tác động trực tiếp bởi cách mạng khoa học - kỹ thuật buộc các nước công nghiệp phát triển phải thường xuyên thay thế, chuyển giao các thế hệ kỹ thuật và thiết bị lạc hậu; 4) Sự xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề mang tính toàn cầu buộc các nước phát triển phải có sự nhượng bộ, hợp tác với các nước đang phát triển; 5) Các nước đang phát triển đã có những thành tựu lớn trong phát triển kinh

tế, có sự ổn định ở mức độ nhất định về kinh tế vĩ mô và thực hiện cải cách cơ cấu kinh tế phù hợp với xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa, tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế

Sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các nước XHCN còn lại đã thông qua công cuộc cải cách, đổi mới, chuyển sang phát triển kinh tế thị trường mở cửa, các hình thức đầu tư quốc tế, trong đó có hình thức LDVNN có điều kiện phát triển Trung Quốc có Luật đầu tư nước ngoài từ năm 1979, Cu Ba năm 1982, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên năm

1984 Từ đầu thập kỷ 80, Trung Quốc đã xuất hiện trong danh sách 10 nước đang phát triển đứng đầu thế giới về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; năm

1993 trở thành nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu các nước Châu Á với 20 tỷ USD và so với thế giới chỉ đứng sau Mỹ Số lượng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc trong thời gian gần đây đã chiếm tới 1/3 tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn thế giới vào các nước đang

Trang 32

phát triển Đến cuối tháng 8-1997, Trung Quốc đã phê chuẩn 297.000 dự án thành lập công ty có vốn nước ngoài, chủ yếu là LD, trong đó đã đi vào kinh doanh 145.000 công ty Số công ty này xuất khẩu sản phẩm ước chiếm 40% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước [50, tr 450]

Kể từ giữa những năm 80 còn diễn ra hình thức LD giữa các nền kinh tế CNH mới Châu Á với các nước, nhất là các nước trong cùng khu vực Theo số liệu của Viện Kinh tế thế giới, trong 6 tháng đầu năm 1994, Đài Loan đã đầu tư vào Indonexia một lượng vốn gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 1993, lên tới 101 triệu USD Tính đến tháng 7/1994 Singapore đầu tư 15 tỷ USD vào các nước Đông Nam Á Khu vực Đông Á và Đông Nam Á là nơi gia tăng mạnh mẽ lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Năm 1998 tiếp nhận 86 tỷ USD chiếm 51,7% tổng

số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực các nước đang phát triển

Cùng với xu hướng đa phương hóa là sự đa dạng hóa lĩnh vực và hình thức hoạt động của LD Các LD không chỉ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất,

mà còn hoạt động trong các lĩnh vực khác như thương mại, dịch vụ Có những

LD chuyên môn hóa chỉ hoạt động trong một lĩnh vực như bán hàng hóa cho một tổ chức ngoại thương - hoạt động LD nhằm tìm kiếm thị trường nước ngoài mở rộng xuất khẩu Có những LD chuyên môn hóa lĩnh vực cho thuê tài sản, hoặc làm những công việc có tính chất kỹ thuật, công nghệ (soạn thảo các dự án đầu tư, trao đổi bằng sáng chế, tiêu thụ sản phẩm do công ty sản xuất theo bằng sáng chế ) LD trong các ngành công nghiệp chế biến, trong các ngành công nghiệp khai thác Gần đây còn phát triển hình thức LD kinh doanh tổng hợp cả sản xuất và tiêu thụ Các LD phát triển ở nhiều cấp độ khác nhau, từ LD có tính chất tức thời (thỏa thuận mềm dẻo giữa các bên thông qua một hợp đồng thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định), đến

sự ra đời của một doanh nghiệp LD (với tư cách một thực thể thống nhất hoạt động trong một thời kỳ hàng chục năm) Các bên tham gia LD, ở hình thức đơn giản nhất, có thể chỉ có hai bên đối tác, sau đó mở rộng ra thành nhiều

Trang 33

bên mang quốc tịch khác nhau Số lượng LD không ngừng tăng lên và theo đó

là xu hướng đa phương, đa dạng và kinh doanh tổng hợp nhiều lĩnh vực

Ba là, cơ cấu LD thay đổi theo hướng tập trung vào công nghiệp chế biến, công nghệ cao và dịch vụ.

Đây là sự thay đổi mang tính thời đại Do các nước đều muốn thực hiện chiến lược hiện đại hóa nền kinh tế của mình nên đều chú trọng đến biến đổi cơ cấu kinh tế Một cơ cấu kinh tế được coi là hiện đại khi trong đó các ngành công nghiệp chế biến, và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn Chiến lược này đã chi phối hoạt động đầu tư, trong đó đáng kể là đầu tư dưới hình thức LD

Thêm vào đó là tình trạng "giá cánh kéo" trong xuất khẩu các sản phẩm thô và nguyên dạng so với xuất khẩu các sản phẩm chế biến và dịch vụ quốc tế (bảng 1.1)

Bảng 1.1: Giá một số mặt hàng thô trên thị trường thế giới (1995-1999)

Nguồn: Viện Kinh tế thế giới 1999.

Trang 34

Trong khi giá cả các sản phẩm thô, nhất là nông sản, trên thị trường thế giới có chiều hướng giảm mạnh thì giá cả của các sản phẩm chế biến và công nghiệp vẫn tương đối ổn định Điều này làm cho giá cả tương đối của các sản phẩm thô giảm mạnh Mặt khác, số lượng các sản phẩm thô và nguyên dạng do bị giới hạn bởi dự trữ tài nguyên và đặc điểm chu kỳ sống của sinh vật, nên không thể tăng đột biến trong thời gian ngắn, ngược lại đôi khi còn bấp bênh bởi việc sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Trong khi đó, việc sản xuất các sản phẩm chế biến lại tương đối ổn định, ít bị lệ thuộc vào tự nhiên, có thể tăng nhanh năng suất và giá trị xuất khẩu nhờ việc ứng dụng kỹ thuật tiên tiến và công nghệ cao Tình trạng"giá cánh kéo" gây bất lợi cho xuất khẩu sản phẩm thô và nguyên dạng buộc các nước phải phát triển công nghiệp chế biến, phải dành nhiều ưu đãi cho nó nên đã tạo sức hấp dẫn thu hút các hình thức đầu tư và LD trong khu vực này.

Trong lĩnh vực kinh tế dịch vụ cũng có xu hướng như vậy Vào giữa thập

kỷ 80, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ chiếm tới 50% tổng số vốn đầu tư trực tiếp trên toàn thế giới, trong đó dịch vụ ngân hàng và buôn bán chiếm tỷ trọng lớn nhất, thứ đến là đầu tư vào quảng cáo và giao thông vận tải

Sở dĩ các LD được phát triển trong lĩnh vực này là vì: 1) Sự phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đời sống vật chất ngày một cao, nên nhu cầu về các loại dịch vụ cho đời sống và sản xuất phải phát triển tương ứng; 2) Cùng với công nghiệp chế biến, kinh tế dịch vụ thường có thu nhập cao; 3) Do đặc tính kỹ thuật của lĩnh vực này mà người ta dễ thực hiện các hợp tác Ví dụ, đi theo việc xuất khẩu các sản phẩm chế biến, chế tạo, các nước xuất khẩu là các dịch vụ bảo dưỡng, bảo hành sản phẩm

Bốn là, xu hướng hai chiều trong LDVNN.

Từ cuối những năm 70 lại đây xuất hiện xu hướng hai chiều trong LDVNN, tức là một nước vừa thu hút đầu tư nước ngoài vào LD, vừa đầu tư

ra nước ngoài thành lập LD ở đó Theo số liệu của Viện Kinh tế thế giới, Mỹ

Trang 35

là điển hình về xu hướng này Trong khi là một chủ đầu tư lớn ra các nước (chiếm 17% trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, năm

1997 đầu tư ra nước ngoài 110 tỷ USD, năm 1998: 133 tỷ USD, năm 1999 tăng lên so với năm 1998), Mỹ còn là nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất, khoảng 1/3 vốn FDI hàng năm của toàn thế giới (năm 1998 thu hút 173 tỷ USD, năm 1999 thu hút 240 tỷ USD trong số gần 800 tỷ USD của FDI toàn thế giới)

Kể từ những năm 60, các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã triển khai rộng rãi các hình thức LD hai chiều nêu trên Chẳng hạn, đến cuối những năm

80, Bungari đã có hơn 50 công ty LD ở nước ngoài, đại bộ phận các công ty này được chuyên môn hóa vào việc xuất khẩu những mặt hàng do tổ chức ngoại thương và các tổ chức khác cung cấp Công ty Irinnokar (LD với CHLB Đức), Sibikar (LD với Italia) và Texnokar (LD với CH Pháp) chuyên môn hóa xuất khẩu các loại xe rùa điện, xe rùa hơi, máy chế biến kim loại và chế biến gỗ của Bungari sang CHLB Đức, còn các công ty Bunlma, Sofbim, Sibimex thì xuất khẩu các sản phẩm đó sang Italia và Pháp Hunggari, năm 1978 mới có 14 công ty LD ở nước ngoài, năm 1982 (tức là sau 4 năm) đã có tới 122 công ty

mà đại bộ phận các công ty này hoạt động có tính chất thương mại, nhằm vào quảng cáo và marketing trực tiếp tại thị trường của bạn hàng nước ngoài để

mở rộng xuất khẩu sản phẩm của Hunggari Vì thế, nếu những năm 60 các LD của nước này chỉ xuất khẩu bằng khoảng 1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, thì những năm 80 đã đạt mức 25% [82, tr 41-46] Nhìn chung, việc

mở rộng LDVNN đều nhằm tăng khối lượng sản xuất cho xuất khẩu, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa giữa các nước tham gia LD Các nước nêu trên còn là những đối tác tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước mình dưới hình thức LD Mục tiêu của hình thức LD này nhằm ổn định việc cung cấp thiết bị, quy trình công nghệ mới, tiếp thu kỹ thuật tiên tiến và thu

Trang 36

hút vốn nước ngoài, đồng thời mở rộng việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thế giới.

Có thể nhận thấy xu hướng hai chiều của các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (trong đó có hình thức LD) trên thế giới qua bảng 2.2:

Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào và chảy ra trên thế giới

-Nguồn: Viện Kinh tế thế giới 1999

1.3.2 Vai trò của hình thức LDVNN trong SXHXK

1.3.2.1 LDVNN là con đường làm tăng nhanh quy mô sản xuất và

bổ sung nguồn lực cho SXHXK

Với xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay và do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nhất là công nghệ tin học, mức độ cạnh tranh cùng một hàng hóa trên thị trường quốc tế càng ngày càng cao Một loại sản phẩm ra đời và tiêu thụ trên thị trường thế giới, ngay lập tức một loại sản phẩm thay thế khác xuất hiện và cạnh tranh Trong khi đó nhu cầu của thị trường tiêu dùng được thay đổi một cách nhanh chóng Cơ hội xuất khẩu xuất hiện rất nhanh và bão hòa cũng rất nhanh Do đó trong SXHXK với bối cảnh quốc tế hiện nay, khi cơ hội xuất khẩu xuất hiện, càng đòi hỏi phải tăng nhanh quy mô sản xuất và bổ sung các nguồn lực cần thiết Nếu một công ty của một quốc gia tự đầu tư toàn bộ từ đầu thì mức độ đầu tư sẽ rất lớn sẽ không có hiệu quả:

thứ nhất là không huy động kịp các nguồn lực cần thiết để thực hiện; thứ hai

thời gian đầu tư sẽ kéo dài không dành được cơ hội xuất khẩu; thứ ba là vấp

Trang 37

phải sự cạnh tranh của các công ty và các bạn hàng trên thị trường tiêu thụ hoặc của các nước trong khu vực Vì vậy, các hình thức LD, nhất là LDVNN

là con đường có hiệu quả trong việc tăng nhanh quy mô sản xuất hàng xuất khẩu và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ

Ví dụ: Công ty Renoult, Volvo và Peugeot là những công ty hàng đầu thế giới về lĩnh vực sản xuất xe hơi du lịch, khi nhu cầu loại xe này tăng nhanh, để có đủ động cơ cung cấp cho cả ba công ty này mà tiết kiệm được chi phí đầu tư của mỗi công ty, ba công ty này đã LD với nhau thành lập nhà máy LD chế tạo động cơ, nhờ việc sản xuất động cơ cho cả ba công ty này mà nhà máy đã mở rộng được quy mô sản xuất và mỗi công ty nhận được các động

cơ có chi phí chế tạo thấp hơn chi phí các động cơ do công ty này tự chế tạo

Các nguồn lực ở đây không chỉ là những nguồn lực vật chất như tiền vốn, tài sản, thiết bị máy móc mà còn là những nguồn lực phi vật chất như trí tuệ, kiến thức, kinh nghiệm Đây là những nguồn lực vô cùng quý báu, việc tích lũy và bổ sung nó mất rất nhiều thời gian Ví dụ để ra đời một loại máy tính mới, ba công ty máy tính của Pháp, Anh, Đức đã thành lập một công ty

LD nghiên cứu và phát triển ở Muynich (ECRC) năm 1984 [52, tr 19-20] Một

số chuyên gia của ba công ty này cùng đến Muynich để hợp tác nghiên cứu

1.3.2.2 LDVNN là phương tiện để thâm nhập và mở rộng thị trường "đầu vào" và thị trường "đầu ra" cho SXHXK

Đối với thị trường đầu vào

Do nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới ngày càng cạn kiệt làm cho nguồn nguyên liệu khan hiếm và chi phí sản xuất tăng Nhiều dự báo gần

đây cho biết các nguồn dự trữ tài nguyên dầu mỏ, khí đốt, quặng kim loại, than của trái đất chỉ đủ cho nhân loại khai thác trên dưới một thế kỷ với tốc

độ tăng trưởng 5% năm Do các nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm, nên giá thành của chúng ngày càng tăng, làm tăng chi phí sản xuất Chỉ tính riêng

Trang 38

29 nước công nghiệp phát triển hiện nay, giá thành công nghiệp đã tăng từ

7 - 10% mà nguyên nhân chủ yếu là sự gia tăng của nguyên vật liệu

Hơn nữa là ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay, với mục đích phát triển bền vững, yêu cầu bảo vệ các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái rất cao nên các công ty đa quốc gia tăng cường tìm kiếm các nguồn nguyên liệu ở các nước đang phát triển là những nước có nguồn nguyên liệu đang còn tiềm tàng Nhưng việc mua hoặc khai thác nguyên liệu thô để chuyển sang các nước khác hoặc chuyển về chính quốc để sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu sẽ gặp phải những khó khăn sau:

Một là, sẽ vấp phải chính sách bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ

nguồn nguyên liệu của nước chủ nhà Phải chịu thuế xuất khẩu cao đối với hàng nguyên liệu

Hai là, sự phản đối của dân chúng và các công ty của quốc gia có

nguồn nguyên liệu

Ba là, khối lượng vận chuyển rất cồng kềnh, chi phí giao nhận, vận

chuyển, bảo quản lớn nên không có hiệu quả

Để vượt qua những khó khăn trên, phương thức có hiệu quả nhất là

tiến hành thành lập các công ty LD tại các nước có nguồn tài nguyên Phía

các công ty đa quốc gia sẽ cung cấp các dây chuyền thiết bị để khai thác và chế biến đồng thời tham gia phần lớn vào quá trình quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh Sản phẩm sản xuất ra có thể tiêu thụ tại chỗ hoặc xuất khẩu sang các nước khác và có thể xuất khẩu trở lại chính quốc Ví dụ: Công ty Thép Bethlehem của Mỹ sở hữu 49% liên doanh khai thác mỏ quặng ở Braxin; Liên doanh khai thác đồng thuộc tập đoàn Nicken quốc tế; Tập đoàn cao su Hoa Kỳ ở Sumatra

Đối với các nước đang phát triển, các hình thức LDVNN trong SXHXK

là một hình thức để tiếp cận với các loại vật tư, phụ tùng, linh kiện mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa có hiệu quả Từ đó các nước

Trang 39

đang phát triển có thể mở rộng năng lực khai thác các nguồn lực tài nguyên, tạo thêm việc làm cho người lao động, tận dụng và phát huy lợi thế của mình trong sản xuất kinh doanh nói chung cũng như trong SXHXK nói riêng Ví dụ: Các LD sản xuất hàng điện tử ở Malaysia, Singapore, Thái Lan hiện nay

đã phát triển rất mạnh, khối lượng hàng xuất khẩu rất lớn, nhưng các linh kiện bán dẫn vẫn do các đối tác LD phía Nhật Bản cung cấp, hoặc các LD sản xuất xe máy ở các nước này, tỷ lệ nội hóa các chi tiết là rất cao nhưng phần động cơ chủ yếu vẫn do các đối tác LD từ các hãng Honda, Suzuki (Nhật Bản) cung cấp

Đối với thị trường " đầu ra"

LDVNN là phương tiện vượt qua hàng rào thuế quan và phi thuế quan

để thâm nhập thị trường mới và phát triển quan hệ sang khu vực khác Đối

với các công ty đa quốc gia, các LD được xem như một công cụ có tính chất sống còn về mặt chiến lược để vượt qua các hàng rào thương mại và đầu tư cũng như hạn chế của Chính phủ để thâm nhập vào thị trường mới Ví dụ: năm 1888 một công ty của Mỹ đã đầu tư ra nước ngoài bằng hình thức LD để lắp ráp xe hơi ở Canađa, bởi vì ở đây thiết lập hàng rào thuế quan quá cao,

nên các công ty này phải xâm nhập thị trường bằng các hình thức LD LD

giữa công ty điện tử và điện thoại của Mỹ AT-T và công ty viễn thông của Anh là một ví dụ LD đó đã cho phép những người đặt mua báo dài hạn sử dụng điện thoại không có mã số bỏ túi để tiến hành các cuộc đàm thoại ngay khi trên đường Điều này đã tạo điều kiện cho AT-T thâm nhập vào thị trường điện thoại được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình chuyển giao công nghệ được đổi mới và bí quyết quản lý cho công ty viễn thông Anh [52, tr 14-15] Các LD lắp ráp xe du lịch, xe máy, sản xuất Bia ở các nước Đông Nam Á là những điển hình của việc tránh hàng rào thuế quan và thâm nhập thị trường

1.3.2.3 LDVNN là phương thức kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm xuất khẩu nhờ việc thâm nhập thị trường mới và thực hiện chuyển giao công nghệ (như phân tích ở phần 1.1.1)

Trang 40

Các LD sản xuất mì chính tại Việt Nam là những điển hình Công nghệ sản xuất mì chính tại Nhật đã có từ cuối thế kỷ XIX Mì chính là một loại gia vị công nghiệp được sản xuất từ mía hoặc sắn Nhưng hiện nay ở các nước phát triển, trong đó có Nhật đã hướng tới việc tiêu dùng các loại sản xuất gia vị có nguồn gốc tự nhiên, rất ít dùng mì chính Vì vậy, các công ty sản xuất mì chính của Nhật và một số nước khác đã tiến hành thành lập các xí nghiệp LD tại Việt Nam để chuyển giao công nghệ kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm do nhu cầu sử dụng mì chính vẫn còn phổ biến ở Việt Nam và tận dụng các yếu tố đầu vào thuận lợi như giá thu mua nguyên liệu rẻ, nhân công thấp, chính sách bảo hộ hàng công nghiệp địa phương Sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ ngay trên thị trường Việt Nam và các nước lân cận.

1.3.2.4 LDVNN trong SXHXK là một hình thức tham gia vào phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác hóa kinh tế

LDVNN trong SXHXK chính là hình thức kết hợp các nguồn lực, ưu thế của các bên và lợi thế so sánh của các nước có đối tác tham gia vào LD để tạo ra một sức mạnh chung nhằm tăng khối lượng, chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, đó chính là sự hợp tác sản xuất và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế

* Đối với các nước đang phát triển nhất là những nước đi sau, LDVNN trong SXHXK còn có những vai trò sau:

- Bổ sung các nguồn lực cần thiết để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu theo hướng CNH và HĐH Các nước đang phát

triển, trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế chưa có điều kiện để trang bị công nghệ hiện đại, trình độ kỹ thuật còn thấp, do đó các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô và sơ chế, hiệu quả thấp và kém ổn định Với các hình thức LDVNN, các nước đang phát triển tranh thủ được nguồn vốn và công nghệ của nước ngoài để đẩy mạnh chế biến hàng xuất khẩu và phát triển thêm các mặt hàng xuất khẩu mới trên cơ sở lợi thế của mình Vào những năm 70, trong tổng giá trị xuất khẩu hàng năm của

Ngày đăng: 18/02/2014, 12:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Đình Bách (1997), Phát triển các thành phần kinh tế và các tổ chức kinh doanh ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các thành phần kinh tế và các tổ chức kinh doanh ở nước ta hiện nay
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
2. Vũ Đình Bách (1998), Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sự thật
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
5. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1996) , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ Nghệ An (1991), Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII, Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII
Tác giả: Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ Nghệ An
Năm: 1991
7. Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ Nghệ An (1996), Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV, Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV
Tác giả: Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ Nghệ An
Năm: 1996
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Chiến lược phát triển (1995), Luận cứ cho việc đổi mới chính sách đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Chương trình NCKH cấp Nhà nước mã số KX- 03, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ cho việc đổi mới chính sách đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Chiến lược phát triển
Năm: 1995
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Chiến lược phát triển (2000), công nghiệp hóa và chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất khẩu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: công nghiệp hóa và chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất khẩu
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Chiến lược phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
10. Bộ Thương mại, Viện Nghiên cứu Thương mại (1999), Hồ sơ các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, lưu hành nội bộ
Tác giả: Bộ Thương mại, Viện Nghiên cứu Thương mại
Năm: 1999
11. Bộ Thương mại (2000), các văn bản pháp quy từ số 01/ tháng 01-2000 đến số 08 tháng 04-2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các văn bản pháp quy từ số 01/ tháng 01-2000 đến số 08 tháng 04-2000
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2000
12. Bộ Tài chính (1998), Lịch trình giảm thuế của Việt Nam để thực hiện khu mậu dịch tự do ASEAN - AFTA, Nxb Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch trình giảm thuế của Việt Nam để thực hiện khu mậu dịch tự do ASEAN - AFTA
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Bộ Tài chính
Năm: 1998
13. Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Trương Đình Chiến (1999), "Nhận thức về cơ hội liên doanh và chiến lược khai thác của các doanh nghiệp", Nghiên cứu kinh tế (251), tr. 3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về cơ hội liên doanh và chiến lược khai thác của các doanh nghiệp
Tác giả: Trương Đình Chiến
Năm: 1999
15. Lê Văn Châu (1995), Vốn nước ngoài và chiến lược phảt triển kinh tế của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn nước ngoài và chiến lược phảt triển kinh tế của Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
17. Công ty Liên doanh giày da Việt Đức (1998), Hợp đồng liên doanh, hợp đồng mua bán thiết bị, Hợp đồng chuyển giao công nghệ và bao tiêu sản phẩm xuất khẩu, Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng liên doanh, hợp đồng mua bán thiết bị, Hợp đồng chuyển giao công nghệ và bao tiêu sản phẩm xuất khẩu
Tác giả: Công ty Liên doanh giày da Việt Đức
Năm: 1998
18. Công ty Liên doanh mía đường Nghệ An - Tate & Lyle (1996), Báo cáo nghiên cứu khả thi và hợp đồng liên doanh, Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu khả thi và hợp đồng liên doanh
Tác giả: Công ty Liên doanh mía đường Nghệ An - Tate & Lyle
Năm: 1996
19. Công ty Bia Nasadeco (1997), Báo cáo nghiên cứu khả thi và hợp đồng liên doanh, Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu khả thi và hợp đồng liên doanh
Tác giả: Công ty Bia Nasadeco
Năm: 1997
20. Cục Thống kê Nghệ An (1999) Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 1998, Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 1998
21. Cục Thống kê Nghệ An, Số liệu kinh tế xã hội năm 1991 - 1998, Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu kinh tế xã hội năm 1991 - 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.2: Chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường quốc tế [100, tr. 82] - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
th ị 1.2: Chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường quốc tế [100, tr. 82] (Trang 16)
Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào và chảy ra trên thế giới - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào và chảy ra trên thế giới (Trang 36)
Sơ đồ 1.1 - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
Sơ đồ 1.1 (Trang 41)
Bảng 2.1: Diện tích, sản lượng một số sản phẩm xuất khẩu và cung cấp - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng một số sản phẩm xuất khẩu và cung cấp (Trang 67)
Bảng 2.2: Tình hình xuất khẩu của Nghệ An từ năm 1991-1998 Đơn vị: 1.000 USD - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
Bảng 2.2 Tình hình xuất khẩu của Nghệ An từ năm 1991-1998 Đơn vị: 1.000 USD (Trang 74)
Bảng 2.4: Cơ cấu các dự án đầu tư trực tiếp - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
Bảng 2.4 Cơ cấu các dự án đầu tư trực tiếp (Trang 103)
Bảng 2.5: Chi phí sản xuất của nhà máy đường Nghệ An - Tate & Lyle - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
Bảng 2.5 Chi phí sản xuất của nhà máy đường Nghệ An - Tate & Lyle (Trang 108)
Sơ đồ 3.1 tổng quát các yêu cầu về lựa chọn đối tác đầu tư và LD/ - Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An docx
Sơ đồ 3.1 tổng quát các yêu cầu về lựa chọn đối tác đầu tư và LD/ (Trang 173)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w