MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 I. Lí do chọn đề tài 1 II. Mục đích nghiên cứu 1 III. Nhiệm vụ nghiên cứu 1 IV. Đối tượng nghiên cứu 1 V. Điểm mới của đề tài 2 PHẦN II. NỘI DUNG 3 I. Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu 3 I.1. Cơ sở lí luận 3 I.2. Thực trạng của vấn đề hình thành kĩ năng tự học, tự kiểm tra của học sinh trong dạy học hóa học ở trường phổ thông 6 II. Tổ chức học sinh làm việc độc lập để hình thành kĩ năng tự học và tự kiểm tra 9 III. Kết quả nghiên cứu 19 PHẦN III. KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 26 DANH MỤC HÌNH, BẢNG Hình Hình 1. Mô hình tự học ......................................................................................... 5 Hình 2: Mối quan hệ giữa khái niệm tự học và làm việc độc lập ......................... 9 Hình 3: Cấu trúc nội dung làm việc độc lập của học sinh .................................. 10 Hình 4: Biểu đồ tỉ lệ học sinh nắm vững kĩ năng môn học (hóa học) ................ 20 Bảng Bảng 1. Tỉ lệ % học sinh nắm vững kĩ năng môn học (Hóa học) ....................... 19 Bảng 2: Phân tích kết quả nắm vững kĩ năng môn học của học sinh ................. 20 Bảng 3: Bảng phân phối T Student (T test 2 mẫu độc lập) ............................... 21 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn đề tài Sự phát triển của nền kinh tế và xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đã đặt ra những yêu cầu mới cho nền giáo dục nói chung và đòi hỏi sự cải cách nghiêm túc trong dạy học hóa học nói riêng với mục đích hình thành hoạt động nhận thức và chủ động sáng tạo của học sinh. Vì vậy, trong thời điểm hiện tại, vấn đề hình thành kĩ năng tự học và tự kiểm tra đang trở nên vô cùng cấp thiết. Điều này đòi hỏi các nhà sư phạm phải có những nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp để nâng cao hiệu quả quá trình học tập của học sinh. Hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng tự học và tự kiểm tra sẽ góp phần hình thành tính cách và khả năng tự giáo dục của học sinh trong suốt cuộc đời. Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục của Việt Nam đã có nhiều đổi mới về nội dung chương trình cũng như công nghệ dạy học. Tuy nhiên thực tế vẫn cho thấy rằng không phải tất cả giáo viên đều thấy được sự cần thiết của việc sử dụng các phương pháp giảng dạy làm tăng tính tích cực nhận thức, kích thích sáng tạo và hình thành kĩ năng làm việc độc lập của học sinh. Rõ ràng, với yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì mỗi học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp để tồn tại và phát triển trong công việc cần phải liên tục tự nâng cao kiến thức của chính họ. Vì vậy, tự học tự giáo dục vừa là mục tiêu của giáo dục, vừa là yếu tố cần thiết để phát triển nhân cách của cá nhân. Từ những yếu tố đó, tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình là “Hình thành và phát triển kĩ năng tự học, tự kiểm tra của học sinh trong dạy học hóa học”. II. Mục đích nghiên cứu Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng tự học, tự kiểm tra. III. Nhiệm vụ nghiên cứu Phân tích các tài liệu về tâm lí học sư phạm và phương pháp giảng dạy để hiểu về tự học và xác định cấu trúc của nó. Phát triển khái niệm kĩ năng tự học và tự kiểm tra trong hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông. Giới thiệu phương pháp tổ chức học sinh làm việc độc lập với hệ thống bài tập hóa học để hình thành kĩ năng tự học, tự kiểm tra. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của phương pháp được đề xuất. IV. Đối tượng nghiên cứu Hệ thống bài tập hóa học để hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng tự học và tự kiểm tra. V. Điểm mới của đề tài Xây dựng mô hình phương pháp dạy học nhằm hình thành và phát triển kĩ năng tự học và tự kiểm tra của học sinh trên bài học hóa học, cung cấp kiến thức môn học bằng hệ thống bài tập hóa học và phương pháp tổ chức dạy học trên cơ sở làm việc độc lập. PHẦN II. NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu I.1. Cơ sở lí luận Ngay từ cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc như Socrates (470 399 TCN), Khổng Tử (551 479 TCN) đã đề cập đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19 nhiều nhà giáo dục lớn như J.A. Comensky (1592 1670); Jean Jacques Rousseau (1712 1778); J.H. Pestalozzi (1746 1827); A. Diesterweg (1790 1866) trong các công trình nghiên cứu của mình về giáo dục phát triển trí tuệ đều đặc biệt nhấn mạnh: Muốn phát triển trí tuệ bắt buộc người học phải phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo để tự mình giành lấy tri thức. Muốn vậy phải tăng cường khuyến khích người học tự khám phá, tự tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập. Nhà giáo dục Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục cho cuộc sống sáng tạo” đã nhấn mạnh rằng: chuyển giao kiến thức đơn giản không bao giờ là mục tiêu của giáo dục. Giáo dục cần được xem xét là một quá trình giáo dục độc lập mà động lực của nó là khuyến khích người học tạo ra các giá trị cho hạnh phúc của bản thân và xã hội. Kết quả của quá trình giáo dục phụ thuộc vào sự nỗ lực của học sinh. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi các giáo viên phải hướng dẫn hiệu quả học sinh trong quá trình giáo dục, không chỉ đơn giản là truyền tải kiến thức 6. Từ những nền tảng nghiên cứu này, các nhà giáo dục học thế kỷ 20 đã không ngừng nghiên cứu và bổ sung những lý thuyết mới mẻ, cụ thể hơn về vai trò của tự học và cách thức hình thành kĩ năng tự học cho người học. Ở các nước châu Âu, hướng chính của việc cải thiện hệ thống giáo dục là cải thiện việc quản lí quá trình học tập. Trong nhiều tổ chức giáo dục đại học và ở các trường phổ thông, học sinh được giảm tải ở các giờ học và sẽ sử dụng thời gian rảnh dành cho việc tự học 8, 9, 11, 13. Ở Việt Nam, vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng, vừa là tấm gương về tinh thần và phương pháp tự học. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phương pháp dạy và học có h
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC, TỰ KIỂM TRA CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
Trang 2Bảng 3: Bảng phân phối T Student (T- test 2 mẫu độc lập)
21
Trang 3PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí do chọn đề tài
Sự phát triển của nền kinh tế và xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đã đặt
ra những yêu cầu mới cho nền giáo dục nói chung và đòi hỏi sự cải cách nghiêmtúc trong dạy học hóa học nói riêng với mục đích hình thành hoạt động nhậnthức và chủ động sáng tạo của học sinh Vì vậy, trong thời điểm hiện tại, vấn đềhình thành kĩ năng tự học và tự kiểm tra đang trở nên vô cùng cấp thiết Điềunày đòi hỏi các nhà sư phạm phải có những nghiên cứu và áp dụng các phươngpháp dạy học phù hợp để nâng cao hiệu quả quá trình học tập của học sinh Hìnhthành và phát triển ở học sinh kĩ năng tự học và tự kiểm tra sẽ góp phần hìnhthành tính cách và khả năng tự giáo dục của học sinh trong suốt cuộc đời
Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục của Việt Nam đã có nhiềuđổi mới về nội dung chương trình cũng như công nghệ dạy học Tuy nhiên thực
tế vẫn cho thấy rằng không phải tất cả giáo viên đều thấy được sự cần thiết củaviệc sử dụng các phương pháp giảng dạy làm tăng tính tích cực nhận thức, kíchthích sáng tạo và hình thành kĩ năng làm việc độc lập của học sinh Rõ ràng, vớiyêu cầu ngày càng cao của xã hội thì mỗi học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp
để tồn tại và phát triển trong công việc cần phải liên tục tự nâng cao kiến thứccủa chính họ Vì vậy, tự học - tự giáo dục vừa là mục tiêu của giáo dục, vừa làyếu tố cần thiết để phát triển nhân cách của cá nhân Từ những yếu tố đó, tôi đã
chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình là “Hình thành và phát triển kĩ
năng tự học, tự kiểm tra của học sinh trong dạy học hóa học”
II Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm hình thành và phát triển ở họcsinh kĩ năng tự học, tự kiểm tra
III Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các tài liệu về tâm lí học sư phạm và phương pháp giảng dạy để hiểu
Trang 4IV Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống bài tập hóa học để hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng tựhọc và tự kiểm tra
V Điểm mới của đề tài
Xây dựng mô hình phương pháp dạy học nhằm hình thành và phát triển kĩ năng tự học và tự kiểm tra của học sinh trên bài học hóa học, cung cấp kiến thức môn học bằng hệ thống bài tập hóa học và phương pháp tổ chức dạy học trên cơ
sở làm việc độc lập
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu
I.1 Cơ sở lí luận
Ngay từ cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc như Socrates (470 - 399 TCN),Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã đề cập đến tầm quan trọng to lớn của việc pháthuy tính tích cực, chủ động của học sinh
Từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19 nhiều nhà giáo dục lớn như J.A Comensky(1592 - 1670); Jean - Jacques Rousseau (1712 - 1778); J.H Pestalozzi (1746 -1827); A Diesterweg (1790 - 1866) trong các công trình nghiên cứu của mình vềgiáo dục phát triển trí tuệ đều đặc biệt nhấn mạnh: Muốn phát triển trí tuệ bắtbuộc người học phải phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo để tự mình giànhlấy tri thức Muốn vậy phải tăng cường khuyến khích người học tự khám phá, tựtìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập
Nhà giáo dục Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dụccho cuộc sống sáng tạo” đã nhấn mạnh rằng: chuyển giao kiến thức đơn giảnkhông bao giờ là mục tiêu của giáo dục Giáo dục cần được xem xét là một quátrình giáo dục độc lập mà động lực của nó là khuyến khích người học tạo ra cácgiá trị cho hạnh phúc của bản thân và xã hội Kết quả của quá trình giáo dục phụthuộc vào sự nỗ lực của học sinh Tuy nhiên, điều này đòi hỏi các giáo viên phảihướng dẫn hiệu quả học sinh trong quá trình giáo dục, không chỉ đơn giản làtruyền tải kiến thức [6]
Từ những nền tảng nghiên cứu này, các nhà giáo dục học thế kỷ 20 đãkhông ngừng nghiên cứu và bổ sung những lý thuyết mới mẻ, cụ thể hơn về vaitrò của tự học và cách thức hình thành kĩ năng tự học cho người học
Ở các nước châu Âu, hướng chính của việc cải thiện hệ thống giáo dục là cải thiện việc quản lí quá trình học tập Trong nhiều tổ chức giáo dục đại học và
ở các trường phổ thông, học sinh được giảm tải ở các giờ học và sẽ sử dụng thời gian rảnh dành cho việc tự học [8], [9], [11], [13]
Ở Việt Nam, vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêmtúc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà chủ tịch Hồ ChíMinh vừa là người khởi xướng, vừa là tấm gương về tinh thần và phương pháp
tự học Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phương pháp dạy và học có hiệu quảnhất là phải có tính sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, đòi hỏi cảngười dạy và người học phải áp dụng vào thực tế một cách linh hoạt Phải lấy tựhọc làm nòng cốt, phải nâng cao hướng dẫn việc tự học, phát huy tích cực, chủ
Trang 6động của người học Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh vềphương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệmsâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người chođến nay vẫn còn nguyên giá trị
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là một trong những nhà nghiên cứu về tự họcnổi bật nhất Hàng loạt cuốn sách, công trình nghiên cứu của ông đã ra đời đểthuyết phục giáo viên ở các cấp học, bậc học thay đổi cách dạy của mình nhằmphát triển khả năng tự học cho học sinh ở mức độ tối đa, như: “Xã hội học tập -học suốt đời và các kĩ năng tự học” [3], “Quá trình dạy tự học” [1], “Học và dạycách học” [2] Trong tác phẩm: “Học và dạy cách học” ông đã đề cập đến vai tròcủa người học, người dạy, mô hình tự học Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng
“Cốt lõi của học là tự học Hễ có học là có tự học, vì không ai có thể học hộngười khác được Nhiệm vụ của chúng ta là biến quá trình dạy học thành quátrình tự học, tức là khéo léo kết hợp quá trình dạy học của thầy với quá trình tựhọc của trò thành một quá trình thống nhất biện chứng” [2, tr.60-66]
Bàn về khái niệm tự học, V.S Bezrukova cho rằng: “Tự học là quá trìnhmột người trực tiếp nhận được kinh nghiệm của các thế hệ thông qua mongmuốn của bản thân và phương tiện do mình lựa chọn [10, tr.15] Theo T.E.Kirikovich [12], tự học được hiểu là quá trình tiếp thu kinh nghiệm của hoạtđộng cá nhân, được nhận thức và điều khiển bởi học sinh theo hướng phát triểnnăng lực và nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Theo kết quả nghiên cứu của tôi, tự học là hoạt động học tập và nhận thức
có hệ thống, có mục đích rõ rệt của học sinh nhằm giải quyết các nhiệm vụ nhận thức một cách độc lập bằng các phương tiện được lựa chọn độc lập với mục đích hình thành và phát triển kiến thức, kĩ năng của cá nhân dưới sự điều chỉnh của giáo viên Trong cấu trúc của tự học gồm ba thành phần cơ bản sau:
1) Thành phần động lực - đó chính là nhu cầu bên trong của mỗi học sinh trong
việc chiếm lĩnh kiến thức mới và hiểu sự cần thiết của việc hoàn thiện kiến thứcthông qua quá trình nhận thức có hệ thống
2) Thành phần nhận thức - là những kiến thức, kĩ năng về môn học được cá nhân
lĩnh hội và khả năng áp dụng kiến thức đó trong việc giải quyết các vấn đề nhậnthức
3) Thành phần tổ chức - bao gồm tổ chức quá trình tự học dựa trên cơ sở làm việc
với các nguồn thông tin (tài liệu giấy, thông tin tìm kiếm trên mạng, v.v ), lập
kế hoạch hoạt động, tự kiểm tra, tự đánh giá và tự phân tích kết quả của côngviệc
Trang 7Hình 1 Mô hình tự học
Như vậy, tự học còn giúp học sinh liên kết các kiến thức liên quan đểhướng đến những cách giải quyết vấn đề một cách độc đáo, đến sự sáng tạo và tựhoàn thiện cá nhân trên cơ sở tự kiểm tra
Đối với học sinh trung học phổ thông, việc đánh giá bản thân bởi nhữngngười khác, bạn bè, phụ huynh và giáo viên vô cùng quan trọng Vì lí do này,trước khi đưa kết quả công việc của mình cho mọi người xem xét, học sinhthường tìm cách tự mình phân tích kết quả, để không cảm thấy thất vọng vớiđánh giá của người khác Như vậy, học sinh đã thể hiện được kĩ năng tự kiểm trađối với hoạt động học tập của mình Do đó, giáo viên cần tiến hành công việc cómục đích rõ ràng để hình thành và phát triển kĩ năng tự kiểm tra của học sinhtrong các hoạt động học tập
Ở Nga, vấn đề tự kiểm tra được trình bày nhiều trong các tài liệu vềphương pháp tâm lí - sư phạm Ở Việt Nam, có khá ít công trình khoa học dànhcho việc hình thành kĩ năng tự kiểm tra của học sinh trung học phổ thông Hìnhthành kĩ năng tự kiểm tra ở học sinh trung học phổ thông ở Việt Nam là nhiệm
vụ quan trọng của giáo viên, bởi vì sự chuyển từ đánh giá sang tự đánh giá, từ
Trang 8kiểm tra sang tự kiểm tra cho phép học sinh chuyển từ đối tượng của quá trìnhhọc tập thành chủ thể của quá trình học tập
Phương pháp tự kiểm tra được hình thành ở học sinh trung học phổ thông,bảo đảm cho học sinh thích nghi nhanh chóng khi bước vào giảng đường đạihọc Trong nghiên cứu của tôi, tự kiểm tra rất quan trọng bởi vì nó là một thànhphần cấu trúc của tự học, một phần không thể tách rời trong quá trình giáo dụchọc sinh
I.2 Thực trạng của vấn đề hình thành kĩ năng tự học, tự kiểm tra của học sinh trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
Để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và đánh giá thực trạng của vấn đềnghiên cứu tôi đã thực hiện một khảo sát tại trường THPT Cờ Đỏ, THPT TháiHòa, THPT Tây Hiếu, THPT 1-5 và một số trường THPT khác trên địa bàn tỉnhNghệ An Tổng số người tham gia là 560 học sinh và 30 giáo viên với hình thứctrả lời phiếu khảo sát
* Kết quả khảo sát đối với học sinh:
Câu 1: Để chuẩn bị cho một bài học hóa học, em thường:
Học bài cũ và nghiên cứu
trước bài mới theo nội dung
hướng dẫn của giáo viên
Câu 3: Thái độ của học sinh đối với các giờ bài tập hóa học:
Trang 9Câu 6: Khó khăn mà em gặp phải khi tự học:
Học theo nội dung câu hỏi, bài
Câu 8: Theo em để học tập môn hóa học có hiệu quả cần phải:
Tự học với sự hướng dẫn của
* Kết quả điều tra đối với giáo viên:
Câu 1: Sự cần thiết sử dụng thêm hệ thống bài tập để nâng cao kết quả học tậpcủa học sinh:
Trang 10Câu 3: Hình thức thiết kế hệ thống bài tập:
Giáo viên giải bài mẫu, học
sinh về nhà làm bài tập tương
Giáo viên giải bài mẫu, học
sinh về nhà làm bài tập tương
Câu 5: Những khó khăn mà giáo viên gặp phải trong khi sử dụng bài tập hóahọc:
Trang 11là cơ sở lý luận quan trọng của đề tài
II Tổ chức học sinh làm việc độc lập để hình thành kĩ năng tự học và tự kiểm tra
Làm việc độc lập là quá trình học sinh thực hiện các hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc dưới bản hướng dẫn gồm các nhiệm vụ học tập
đa dạng với mục đích nắm vững kiến thức, phát triển kĩ năng, lĩnh hội được kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và trau dồi nhân cách, hành vi của bản thân
Làm việc độc lập đóng vai trò là một thành phần của tự học Quá trình tựhọc được thực hiện trong quá trình làm việc độc lập của học sinh Nếu tự họcđược coi là mục tiêu và kết quả của hoạt động, thì làm việc độc lập là phươngtiện để đạt được kết quả này
Trang 12Hình 2: Mối quan hệ giữa khái niệm tự học và làm việc độc lập
Nội dung của làm việc độc lập trong điều kiện hình thành kĩ năng tự học
và tự kiểm tra được phản ánh qua sơ đồ sau:
Hình 3: Cấu trúc nội dung làm việc độc lập của học sinh
Trang 13Phần A bao gồm các nhiệm vụ liên quan đến sự hình thành ban đầu củakiến thức mới hoặc nhớ lại tài liệu học tập lí thuyết ở mức độ tái hiện (địnhnghĩa, sơ đồ, phân loại) Đây là những kiến thức cần được nắm vững, vì vậynhiệm vụ này là bắt buộc đối với mỗi học sinh Phần B và C bao gồm các nhiệm
vụ ở các mức độ khó khác nhau Học sinh được lựa chọn bài tập theo khả năngcủa mình, cũng như lựa chọn phương pháp để giải chúng
Phương pháp này bao gồm các thành phần sau:
1 Kiểm tra ban đầu mức độ lĩnh hội kiến thức môn học và kĩ năng tự học.Cách làm này cho phép xác định một số đặc điểm cá nhân về sự phát triểncủa học sinh để có thể phân thành các nhóm
2 Tổ chức hoạt động của học sinh để nắm vững và củng cố kiến thức
3 Kiểm tra việc tiếp thu kiến thức từ tài liệu học tập và hình thành kĩ năng
4 Tìm ra nguyên nhân thất bại nếu hầu hết học sinh gặp khó khăn trong việcnắm vững tài liệu học tập
5 Tổ chức công tác khắc phục
6 Kiểm tra kết quả của việc khắc phục
Để cụ thể hóa quá trình tổ chức làm việc độc lập cho học sinh, dưới đâychúng tôi xây dựng các nhiệm vụ và bài tập được sử dụng trong bài giảng axitsunfuric thuộc chương trình lớp 10 Bắt đầu bài học, giáo viên yêu cầu học sinhđọc bài khóa sách giáo khoa hoặc giáo viên chuẩn bị bảng tóm tắt nội dung cơbản của bài học và treo lên bảng để học sinh theo dõi Sau khi nghiên cứu những
lý thuyết cơ bản, học sinh độc lập thực hiện các bài tập:
Độ tan trong nước
2 Cho các chất: natri clorua, natri cacbonat, natri hiđroxit, oxit silic, oxit kẽm,kẽm, đồng (II) hiđroxit, đồng Chất nào trong các chất trên tác dụng được vớiaxit sunfuric loãng Viết các phương trình phản ứng xảy ra
Trang 143 Cân bằng các phương trình phản ứng sau, cho biết vai trò của các chất tham giaphản ứng:
5 Có hiện tượng gì xảy ra, nếu để ống nghiệm đựng đầy axit sunfuric đặc trongkhông khí một vài ngày? Giải thích
6 Hòa tan hoàn toàn 15,35 gam hỗn hợp gồm Zn, Fe trong lượng dư dung
dịch axit H2SO4 đặc, nóng thu được 6,72 lít khí SO2 (đktc) Tính khối lượng mỗikim loại trong hỗn hợp
Sau khi học sinh hoàn thành quá trình làm việc độc lập của mình, giáoviên tổ chức cho học sinh thảo luận với các câu hỏi sau:
* Axit sunfuric có những tính chất vật lý gì?
* Có thể sử dụng axit sunfuric đặc để làm khô những khí nào trong các khí sauđây: NH3, O2, CO2, H2S?
* Làm thế nào để pha loãng axit sunfuric đặc? Giải thích
* Trên một đĩa cân đặt cốc đựng axit sunfuric đặc, trên đĩa cân khác đặt quả cân đểthăng bằng Sau một thời gian cân có ở trạng thái thăng bằng không? Giải thích
* Axit sunfuric đặc phản ứng với những chất nào trong các chất sau: Cu,CuSO4.5H2O, Mg, FeO, Fe(OH)2, Fe2O3, Fe(OH)3, S, P Viết các phương trìnhphản ứng xảy ra
Như vậy, trong phần đầu của bài học, mỗi học sinh phải nỗ lực tự nghiêncứu và độc lập giải quyết các bài tập cụ thể Kết hợp giữa nghiên cứu sách giáokhoa với vận dụng những kiến thức đã được học về axit ở các lớp dưới, học sinhđiền vào bảng những kiến thức chung của axit sunfuric Những bài tập trongphần này không quá phức tạp so với những kiến thức đã có của học sinh Vì vậy
tổ chức cho học sinh làm việc độc lập là lựa chọn phù hợp Nếu không sẽ xảy ratình trạng một số học sinh không tích cực suy nghĩ và thụ động chờ sự giải quyếtcủa các bạn khác hoặc sự truyền thụ một chiều của giáo viên Quá trình làm việc
Trang 15Hệ thống bài tập hóa học để hình thành kĩ năng tự học, tự kiểm tra có thể đượcphân loại theo mục đích hình thành các kĩ năng khác nhau cho học sinh Dướiđây là hệ thống bài tập theo chủ đề Oxi - lưu huỳnh (chương trình lớp 10) vàNitơ - photpho (chương trình lớp 11)
Chủ đề: Oxi - lưu huỳnh
1 Bài tập với mục đích hình thành và đánh giá các kĩ năng, góp phần nắm vững kiến thức hệ thống
Bài tập 1: Hoàn thành các phương trình trong sơ đồ phản ứng sau:
Bài tập 2: Viết các phương trình phản ứng chứng minh SO2, SO3 là cácoxit axit
Bài tập 3: Chỉ dùng một thuốc thử duy nhất, trình bày phương pháp hóahọc nhận biết các dung dịch đựng trong các lọ mất nhãn sau: H2SO4, Na2SO4,HCl, Na2CO3?
Bài tập 4: Không dùng thêm bất kì thuốc thử nào, trình bày phương pháphóa học nhận biết các dung dịch đựng trong các lọ mất nhãn sau: NaCl, Na2CO3,
Na2SO4, HCl, Ba(NO3)2?
Bài tập 5: Chỉ dùng quỳ tím, trình bày phương pháp hóa học nhận biết cácdung dịch đựng trong các lọ mất nhãn sau: HCl, Na2SO4, NaCl, Ba(OH)2