- Về phương pháp tiếp cận trong phân loại, phân chia làm cơ sở cho việc xâydựng các khu rừng bảo vệ cũng được quan tâm nhiều, năm 1994, IUCN xây dựng bộtiêu chuẩn phân hạng các khu bảo t
Trang 1Trường đại học lâm nghiệp
đỗ văn nhân
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch 3 loại
rừng tại huyện mang yang - tỉnh gia lai
chuyên ngành: lâm học
mã số: 60.62.60.
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà tây - 2007
Trang 2Trường đại học lâm nghiệp
đỗ văn nhân
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch 3 loại
rừng tại huyện mang yang - tỉnh gia lai
Trang 4Mở đầu
Rừng và đất rừng Việt Nam chiếm trên 1/2 tổng diện tích tự nhiên toàn quốc,
nó có ý nhĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, kinh tế, xãhội và an ninh quốc phòng Rừng phân bố trên những điều kiện tự nhiên và kinh tế -xã hội rất khác nhau như:
Về mặt tự nhiên, rừng Việt Nam phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau,
có những vùng là đồi thấp trên độ cao khoảng 50 m, song có những vùng ở độ caotrên 3.000 m Độ dốc biến đổi rất lớn, có nơi tới 50 - 60 độ Tương tự như vậy,lượng mưa cũng không đồng nhất, có nơi trung bình chỉ 600 mm, song cũng cónhững nơi lên trên 3.500 mm Vì phân bố trên những điều kiện tự nhiên như vậy màvai trò bảo vệ xói mòn đất, vai trò sinh thuỷ và điều chỉnh dòng chảy của rừng là vôcùng to lớn
Rừng Việt Nam còn là nơi kết hợp của các luồng động thực vật di cư và bản
địa tạo cho nước ta là nước có mức độ đa dạng sinh học hàng thứ 16 trên thế giới [6]với nhiều loài đặc hữu, quý, hiếm và kinh tế cao Do vậy rừng Việt Nam còn có giátrị bảo tồn đa dạng sinh học rất cao Đây là cái nôic hứa đựng nguồn gen quý chohiện tại và các thế hệ mai sau
Đây cũng là nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số với khoảng 25 triệu dân [24]với các phong tục tập quán đặc sắc mà hàng ngày cuộc sống của họ phụ thuộc vàorừng Do vậy, chức năng xã hội của rừng có một ý nghĩa sâu sắc, gián tiếp ảnhhưởng đến an ninh, quốc phòng quốc gia
Bên cạnh đó, hàng hoá lâm sản từ rừng cũng là một nguồn lực to lớn để đápứng cho yêu cầu cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như chonhu cầu sinh sống của người dân
Do sự phân bố của rừng trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhaunên vai trò bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và vai trò kinh tế xã hội củarừng cũng không đồng nhất ở mọi nơi Những nơi rừng ở độ cao, dốc, lượng mưa,
Trang 5đất đai có kết cấu thấp, tầng mỏng thì yêu cầu phòng hộ cần được ưu tiên hàng đầu.Ngược lại, rừng bằng phẳng, phân bố trên độ cao, độ dốc thấp ít ảnh hưởng đến chứcnăng phòng hộ bảo vệ môi trường thì vai trò sản xuất cần được ưu tiên Quy hoạchlợi dụng tài nguyên rừng một cách hợp lý, dựa trên những cơ sở khoa học và phùhợp với điều kiện thực tiễn là nền tảng của việc quản lý và phát triển rừng bền vững
Tây Nguyên là một trong những vùng tập trung nhiều đất lâm nghiệp nhấttrên cả nước, chiếm 22,2% Tài nguyên thực động vật rừng khá phong phú, trữ lượngrừng khá cao, đặc biệt Tây Nguyên còn được coi là mái nhà của ba nước ĐôngDương nên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn Tuynhiên, hiện tại nơi đây tài nguyên rừng đang bị suy thoái mạnh mẽ trước sức ép từnhiều phía, diện tích rừng tự nhiên hàng năm giảm trên 45.000 ha trong giai đoạn1992-2004, diện tích rừng trồng tăng không đáng kể [30] Nhiều diện tích rừng tựnhiên có chất lượng kém, hiệu quả kinh tế cũng như môi trường thấp vẫn chưa cógiải pháp để nâng cao giá trị sử dụng đất, tạo việc làm cho gần 2 triệu người dân vàsản phẩm cho xã hội Đặc biệt là trước trình độ quản lý, sử dụng, phát triển rừng yếukém cũng như yêu cầu mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
Trước tình hình đó mà việc phát triển, sử dụng tài nguyên rừng một cách cócơ sở khoa học, hợp lý, bền vững phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương nhằmphát huy một cách tối đa chức năng của từng loại rừng là đòi hỏi cấp bách của côngtác quy hoạch, cụ thể là công tác quy hoạch phân chia, phân cấp 3 loại rừng phảidựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như việc tổ chức quản lý, sử dụng và pháttriển 3 loại rừng
Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên, đề tài “ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch 3 loại rừng tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai” sẽ góp phần
hoàn thiện các nguyên tắc, quan điểm, trình tự, phương pháp và các tiêu chí, chỉ tiêuphân chia, quy hoạch 3 loại rừng ở Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung
Trang 6Chương 1
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Về phân chia, phân loại rừng đặc dụng
- Việc giành các khu rừng tự nhiên để thành lập các khu vực bảo vệ thiênnhiên với các mức độ khác nhau đã được con người quan tâm từ lâu đời Đầu tiên làviệc thành lập VQG Yellowstone ở Mỹ (năm 1872), VQG ở Singapor (năm 1883),Australia (năm 1887), Nam Phi (năm 1897) Cho đến năm 1967 toàn thế giới đã có
1204 VQG và khu dự trữ thiên nhiên, năm 1990 số lượng các khu bảo vệ thiên nhiên
là 4545 (IUCN, 1990)
- Về phương pháp tiếp cận trong phân loại, phân chia làm cơ sở cho việc xâydựng các khu rừng bảo vệ cũng được quan tâm nhiều, năm 1994, IUCN xây dựng bộtiêu chuẩn phân hạng các khu bảo tồn, gồm:
+ Vườn quốc gia (National Park) (VQG);
+ Khu bảo tồn thiên nhiên (Nature Reserve) (KBTTN);
+ Khu bảo tồn loài và hệ sinh thái (Spciese/Habitat Protected areas);
+ Khu bảo tồn sinh cảnh (Protected Landscape)
Nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng các khu bảo tồn, Ngân hàng Thế giới vàQuỹ động vật hoang dã Mỹ đã chia thành các vùng sinh thái trên phạm vi toàn cầu,theo đó Việt Nam có 15 vùng sinh thái khác nhau[25]
Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) đề xuất dùng các loài chim đặc hữulàm chỉ thị cho đa dạng sinh học[25]
1.1.2 Về phân chia, phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn
Công tác phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn ở ngoài nước đã được chú ýcũng từ khá lâu Khởi đầu là các nghiên cứu về xói mòn đất, tiêu biểu như:
- Wischmeier W.H và Smith D.D (1978) [35] khi nghiên cứu về lượng đấtmất do mưa đã xây dựng được phương trình dự báo lượng đất xói mòn như sau:
Trang 7A = 2,47.R.K.LS.C.PTrong đó: A = Lượng đất xói mòn (tấn/ha/năm)
2,47 = hệ số chuyển đổi từ acre sang hecta
+ Với hệ số xói mòn đất (K): Đất có hệ số xói mòn cao thì dễ bị xói mòn hơn
là đất có hệ số xói mòn thấp khi cùng chịu cường độ mưa như nhau Hay nói cáchkhác hệ số K xác định mức độ bền vững một cách tương đối của các loại đất khácnhau đối với xói mòn Qua nghiên cứu cho thấy K phụ thuộc vào bản chất của đất,tức phụ thuộc một cách tổng hợp vào những phần tử cấu thành nên đất như thànhphần cơ giới, kết cấu bền vững trong nước, khả năng thấm nước, hàm lượng chất hữucơ, độ ẩm tự nhiên, độ xốp, Hai tác giả đã đưa ra toán đồ xác định hệ số xói mòncủa đất bằng hệ số K Toán đồ này được cấu tạo bởi 5 thông số cơ bản sau đây:
Tỷ lệ % hạt bụi và hạt cát mịn có kích thước 0,05 - 0,1 mm;
Tỷ lệ % hạt cát có kích thước 0,1 - 2,0 mm;
Tỷ lệ % chất hữu cơ;
Tỷ lệ % hạt phân tán và hạt kết bền trong nước;
Tốc độ thấm nước của đất
+ Với hệ số địa hình (LS): Yếu tố địa hình gồm độ dốc và chiều dài sườn dốc.Chiều dài sườn dốc được tính bằng khoảng cách từ điểm bắt nguồn dòng chảy mặt
đến điểm diễn ra sự lắng đọng bùn cát hoặc tới điểm tiếp xúc với lòng dẫn nào đó.Trong thực tế mối liên hệ giữa độ dốc và chiều dài sườn dốc là rất chặt chẽ nên hai
hệ số này có thể tính gộp và xây dựng một chuyên đề duy nhất để đánh giá ảnhhưởng của nó đến xói mòn đất
Trang 8+ Với hệ số thực bì (C): Thực bì có vai trò quan trọng trong bảo vệ đất, chốngxói mòn Khả năng chống xói mòn của thực bì phụ thuộc vào độ che phủ, loài cây,tầng thứ, cấu tạo tán lá, vỏ cây, hệ rễ, … Hệ số C biểu diễn cho sự ảnh hưởng củaloại cây trồng, phương thúc canh tác…
+ Với hệ số bảo vệ đất (P): ở đây tác giả đưa hệ số này vào phương trình đểbiểu thị tác dụng của các biện pháp chống xói mòn khác nhau trên sườn dốc P là tỷ
số giữa lượng đất xói mòn trên ruộng trồng cây có áp dụng các biện pháp chống xóimòn đất trên ruộng không thực hiện các biện pháp nêu trên Như vậy, P cao nhất = 1khi trong điều kiện canh tác không áp dụng các biện pháp chống xói mòn đất, P < 1khi thực hiện các biện pháp đó
- Vào cuối những năm 1980, ở Thái Lan sử dụng phương trình hồi quy toánhọc đa nhân tố để phân cấp phòng hộ [34], phương trình có dạng:
Phương trình tính theo phương pháp raster: Theo phương pháp này đầu nguồn
được chia thành những ô vuông với ô kích thước 1 km2 Các biến số được xem xéttrong mỗi ô vuông và được gán cho mỗi giá trị trên cơ sở từ bản đồ địa hình tỷ lệ1/50.000 Từ các giá trị của biến số này, trị số phân cấp đầu nguồn được tính toántheo mô hình trên Phương pháp raster có nhược điểm là không xác định được vềmặt địa lý và không linh hoạt, không thể sử dụng tách biệt từng lớp bản đồ của mỗibiến số Diện tích 1 km2 là quá lớn cho một đơn vị đầu nguồn nên tính đồng nhấtkhông cao
Kết quả là 5 lớp của vùng đầu nguồn được xây dựng Thái Lan để phát triểncác dự án quản lý đất cho tài nguyên nước, lâm và nông nghiệp, từ vùng cao xuốngvùng thấp, bao gồm:
Trang 9+ Lớp đầu nguồn 1: Rừng phòng hộ, bảo tồn và đầu nguồn nước
+ Lớp đầu nguồn 2: Rừng sản xuất
+ Lớp đầu nguồn 3: Vườn cây ăn quả và rừng sản xuất
+ Lớp đầu nguồn 4: Nông nghiệp vùng cao
+ Lớp đầu nguồn 5: Nông nghiệp vùng thấp
- Năm 1989, dự án thực hiện tại Lào và Việt Nam (Campuchia tham gia saunày) cũng sử dụng phương pháp phân cấp đầu nguồn được sử dụng ở Thái Lan,nhưng vì không có tài liệu về đất, địa hình và thảm thực vật rừng nên chỉ đưa 3 tiêuchí là độ dốc, dạng đất và độ cao vào để tính toán[34] Phương pháp tính toán giốngphương pháp ở Thái Lan Phương trình như sau:
Phương pháp này có ưu điểm là thay vì việc sử dụng các đơn vị đầu nguồnhình vuông, một vùng với các giá trị biến số đồng nhất được xác định và vẽ ranhgiới lên bản đồ địa hình Các giá trị của các biến số độ dốc, dạng đất, độ cao đượcchia thành một số cấp nhất định Để đáp ứng được yêu cầu xây dựng bản đồ cũngnhư giảm được số lượng công việc, đầu tiên các giá trị của biến số được chia thànhmột số cấp như sau:
Trang 10+ Dạng đất: Được gán giá trị riêng theo thứ tự từ 1 đến 21, giá trị dạng đất
được ước đoán từ các đường đồng mức trên cơ sở hình dạng và mật độ giữa các
đường đồng mức
Khi các biến số được xác định cho một vùng và đưa vào bản đồ, chúng phải
được phối hợp bởi mô hình phân cấp nêu trên
1.2 ở Việt Nam
1.2.1 Về phân chia rừng đặc dụng
Việt Nam vốn là một đất nước có nguồn tài nguyên rừng giàu có và tính đadạng sinh học cao, được xếp là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất thế giới[22] Vì vậy từ trước tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về cơ sở để phân chia, phânloại loại rừng này, dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:
- Vũ Dũng, 1987 [9]trong đề tài “ Xác định hệ thống các khu rừng để bảo vệcác loài động thực vật quý hiếm ở Tây Nguyên” đã sử dụng bộ tiêu chuẩn xếp hạngcủa IUCN, tập trung chọn các loài động thực vật thuộc nhóm rất nguy cấp (E) vànhóm nguy cấp (V) làm đối tượng ưu tiên bảo vệ Đề tài tiến hành xây dựng bản đồvùng phân bố của từng loài, sau đó xác định các ranh giới khu rừng bảo vệ theophương pháp diện tích tối thiểu của tác giả Iuri Iazan Theo phương pháp này, cần vẽsơ đồ phân bố các loài động thực vật quý hiếm và các đối tượng cần bảo vệ lên giấycan cùng tỷ lệ Khi đặt các bản đồ chồng lên nhau, diện tích nhỏ nhất mà xếp đượcnhiều khu phân bố nhất sẽ được coi là diện tích tối thiểu của khu rừng cần bảo vệ.Kết quả thu được gồm 8 khu rừng cấm cấp nhà nước và 5 khu rừng cấm cấp tỉnh
- Việc phân các vùng địa sinh học trên phạm vi lớn tại Việt Nam thường dựatrên các yếu tố như: Yếu tố địa hình, địa mạo; khí hậu và trên cơ sở sự khác nhau về
tổ hợp loài và các giới hạn phân bố các loài chỉ thị [21], chia Việt Nam thành 9 đơn
vị địa sinh học sau:
+ Đông Bắc Việt Nam;
+ Hoàng Liên Sơn (Bắc của Trung tâm Đông Dương);
+ Nam Trung tâm Đông Dương;
+ Đồng bằng sông Hồng;
Trang 11- Lê Trọng Trãi (1997) [25] đã đưa ra đề xuất về việc xây dựng các chỉ tiêu
ưu tiên và tiếp cận tới các phương pháp cụ thể cho việc xây dựng 4 loại khu bảo tồntheo hệ thống phân loại mới của IUCN năm 1994 (gồm: VQG, KBTTN, Khu bảotồn loài và hệ sinh thái và Khu bảo tồn sinh cảnh) Tác giả đề xuất các chỉ tiêu ưutiên và các phương pháp tiếp cận sau:
+ 3 chỉ tiêu ưu tiên gồm: Chỉ tiêu ưu tiên về sinh học, giá trị sử dụng (về kinh
tế và xã hội) và tính khả thi (khu vực có tính khả thi hay không) Cụ thể:
Xây dựng các ưu tiên về đa dạng sinh học
Mục tiêu hàng đầu của khu bảo tồn thiên nhiên là bảo tồn các giá trị về đadạng sinh học Đa dạng sinh học có rất nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thểhiểu: Đa dạng sinh học là tổng số các dạng sống có trên trái đất, đó là sự đa dạng vềgen (di truyền), các loài và các hệ sinh thái (các tiến trình sinh thái và sự tác độngqua lại giữa các hệ sinh thái đó) Đa dạng sinh học được đánh giá trong 3 khía cạnhsau:
(i) Tính đại diện
(ii) Tính độc đáo
(iii) Tính phong phú
Xây dựng các ưu tiên về giá trị nhiều mặt
Ngoài các giá trị về đa dạng sinh học, khu bảo tồn thiên bất kỳ nào cũng phải
được xem xét các giá trị thực tại và giá trị tiềm năng về các mặt kinh tế, sự đa dạng
về văn hoá, giá trị du lịch, giải trí, nghiên cứu khoa học và cảnh quan
Tính khả thi
Trong quá trình xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên, phải quan tâm đến tínhkhả thi của khu, nó phụ thuộc vào các yếu tố như:
Trang 12(i) Mức độ đe doạ (hay sức ép) tới KBTTN gồm mật độ dân cư, sức épsăn bắn ;
(ii) Quy mô và phạm vi của KBTTN;
+ Các phương pháp tiếp cận, gồm:
Phương pháp tiếp cận loài
Việc mô tả, đánh giá về đa dạng sinh học của khu vực được ưu tiên hàng đầucho giai đoạn xây dựng dự án Mức độ hiểu biết về khu hệ động thực vật Việt Nam
đến nay vẫn chưa đầy đủ Có thể chia mức độ hiểu biết thành 2 cấp:
(i) Hiểu biết khá đầy đủ có thể là: Chim, các loài linh trưởng, một số loàithú đặc biệt thuộc bộ móng guốc
(ii) Hiểu biết chưa đầy đủ: Các loài ếch nhái, nhiều loài bò sát, các loàidơi, các loài côn trùng
Để có được đầy đủ số lượng các loài ở Việt Nam sẽ mất rất nhiều thời gian,công sức (đôi khi không thể làm được) cho công tác khảo sát, đánh giá Cho nên
phương pháp lựa chọn các loài chỉ thị để lựa chọn các KBTTN được áp dụng Các
loài chỉ thị bao gồm các loài đặc hữu, các loài đang bị đe doạ ở mức độ quốc gia vàquốc tế Các loài chỉ thị là các loài thuộc các bậc phân loại khác nhau, đã được hiểubiết đầy đủ, đã ổn định về mặt phân loại học và phân bố của chúng đã được biếtchính xác
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Các hệ sinh thái bao gồm các vùng sinh học (Biological zones) và các vùng địa
lý sinh học (Biogeographycal zones) Hiện tại có một số phương pháp phân chia mộtlãnh thổ một nước thành các vùng sinh thái khác nhau:
(i) Các đơn vị sinh học (Biounits) được áp dụng trong hệ thông quản lýthông tin về sinh học (chương trình này đang được Viện ĐTQHR ứng dụng trongviệc quản lý số liệu hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam)
Trang 13(ii) Các vùng sinh thái (Ecoregions) do Ngân hàng thế giới và Quỹ độngvật hoang dã Mỹ đề xuất Dựa theo phương pháp này thì Việt Nam có 15 vùng sinhthái khác nhau, trên cơ sở chồng ghép với hệ thống các KBTTN chúng ta dễ dàngnhận thấy sự cần thiết và thiếu hụt của các KBTTN ở vùng sinh thái đó Tuy nhiên,cần xem xét cùng với bản đồ hiện trạng rừng và các loài chỉ thị.
- Phân chia hệ thống khu bảo tồn theo tiêu chí cụ thể, cập nhật với quy địnhquốc tế cũng được nghiên cứu, điều chỉnh Từ bộ tiêu chuẩn xếp hạng khu bảo tồnquốc tế IUCN 1994, Việt Nam cũng đã áp dụng, Chiến lược quản lý hệ thốngKBTTN đến năm 2010 chia khu bảo tồn thành 4 loại [22]:
Vườn quốc gia;
Khu bảo tồn thiên nhiên;
Khu bảo tồn Loài và Nơi cư trú;
Khu bảo tồn cảnh quan
Các mục tiêu, tiêu chí xác định cho từng khu đã được cụ thể, chi tiết hoá
- Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004), Điều 4 quy định về phân loại rừng,trong đó rừng đặc dụng (RĐD) gồm:
1 Vườn quốc gia;
2 Khu bảo tồn thiên nhiên, gồm khu dự trữ thiên nhiên (KDTTN) và Khu bảotồn loại - sinh cảnh (KBTL-SC);
3 Khu bảo vệ cảnh quan môi trường (KBVCQMT) gồm khu rừng di tích lịch
sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh
4 Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học (KRNC-TNKH)
Như vậy, Luật bảo vệ và phát triển rừng đã gộp 2 loại là KBTTN và Khu bảotồn Loài, Nơi cư trú quy định tại Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiênnhiên đến năm 2010 thành KBTTN trong đó Khu dự trữ thiên nhiên tương tự nhưKBTTN theo Chiến lược và thêm KRNC-TNKH Điều này đã cho thấy tính đầy đủ,bao hàm của văn bản pháp lý này
- Bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng (ban hành kèm theo Quyết
định số 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ NN&PTNT) quy định về tiêu
Trang 14chí phân loại cho các loại rừng đặc dụng gồm VQG, KBTTN và Khu BVCQMT(không gồm KRNC-TNKH) áp dụng cho đất lâm nghiệp Các tiêu chí tập trung vàocác tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại RĐD là:
+ Giá trị, ý nghĩa của hệ sinh thái;
+ Quy định về số loài đặc hữu, loài ghi trong sách đỏ Việt Nam;
+ Quy định về diện tích tối thiểu đảm bảo mục tiêu bảo tồn;
+ Quy định về tỷ lệ đất nông nghiệp và thổ cư trong KRĐD
Đây là các tiêu chí cụ thể nhất, chi tiết nhất và đầy đủ nhất cho đến nay phục
vụ cho công tác quy hoạch, xây dựng RĐD
Từ trên thấy rằng, các tiêu chí và phương pháp phân loại rừng đặc dụng ngàycàng đầy đủ và hoàn thiện, thể hiện tính chuyên sâu và là cơ sở pháp lý cho việc quyhoạch hệ thống RĐD, đảm bảo đúng chức năng là duy trì, bảo tồn, phát triển ĐDSH
ở Việt Nam
1.2.2 Về phân cấp, phân chia rừng phòng
1.2.2.1 Về phân cấp, phân chia rừng phòng hộ đầu nguồn
- Phương pháp phân cấp do Viện ĐTQHR đề xuất và áp dụng trong Chương trình 327
Phương pháp này đã được ứng dụng để xây dựng lâm phận phòng hộ quốc gia
và bổ sung các dự án thuộc Chương trình 327 Qua trình phân cấp xung yếu đượcchia làm 3 bước:
Bước 1: Đánh giá tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng quan trọng và quyết định
đến mức xung yếu thông qua mô hình định lượng:
PH1 = DELTA H^0,5 x DOC^ 0,75 x MUA^1,5 (1)
Trong đó:
DELTA H là độ chênh cao địa hình trong mỗi lưu vực cấp 3, là hiệu số giữa
độ cao tại điểm đang xét với độ cao thấp nhất trong lưu vực cấp 3
DOC là độ dốc trung bình của bề mặt địa hình tại điểm đang xét
Trang 15MUA là lượng mưa trung bình năm (mm) tại điểm đang xét.
Mô hình này được xử lý trên phạm vi toàn lãnh thổ theo lưới ô vuông, mỗi ôvuông tương ứng với 50m x 50m (1/4 ha) trên thực địa Mỗi điểm đầu nguồn nhưvậy có một giá trị PH1
Bước 2: Căn cứ vào các yếu tố bổ sung ngoài 3 yếu tố trên để chỉnh cấp chomỗi yếu tố, ví dụ:
+ Nằm ở nhóm đất dễ xói mòn, tăng 1 cấp
+ Nằm ở vùng đất mỏng, tăng 1 cấp
Bước 3: Phân tổ với cự ly thích hợp Các bước xử lý bao gồm:
+ Từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/ 50.000 với các lớp đồng mức chính, nội suy bản
đồ độ cao 3 chiều, bản đồ độ dốc trung bình
+ Chồng xếp bản đồ lưu vực cấp 3, tỷ lệ 1/50.000 có độ cao xâm thực cơ sởvới bản đồ độ cao 3 chiều, tạo ra bản đồ 3 chiều về độ chênh cao tương đối
+ Từ bản đồ đất 1/500.000, gộp nhóm đất tạo ra bản đồ 2 nhóm đất theo đặctính chịu xói mòn và bản đồ 2 nhóm đất theo độ dày tầng đất
+ Với 3 bản đồ: bản đồ 3 chiều cao về độ chênh cao tương đối, bản đồ độ dốctrung bình, bản đồ lượng mưa trung bình năm 1/1.000.000, xử lý theo mô hình (1)
để tạo ra bản đồ độ đo phòng hộ Y (ĐĐPH 1)
+ Từ bản đồ ĐĐPH1 phân tổ theo cự ly thích hợp, tạo ra bản đồ phân cấpphòng hộ 2 (PCPH2) Sau khi xếp tổ Y sẽ nằm trong phạm vi một số tổ nhất địnhtuỳ thuộc vào cự ly tổ lựa chọn
- Phương pháp phân cấp xung yếu đầu nguồn do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đề xuất và áp dụng
Phương pháp này được GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, cố PGS Vũ ĐìnhPhương, GS.TS Nguyễn Xuân Quát phát triển và ứng dụng vào đầu những năm
1990 khi tiến hành các nghiên cứu khả thi cho các lưu vực phòng hộ của các lưu vực
Trang 16sông và các nhà máy thuỷ lợi, thuỷ điện phía Nam Việt Nam như Dầu Tiếng, ThácMơ,
Phương pháp phân cấp này dựa trên việc cho điểm các nhân tố ảnh hưởng tớixói mòn đất và dòng chảy, thang điểm cho từng nhân tố có thể dao động từ 1 đến 10hoặc hơn Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng tới mức xung yếu đầu nguồn gồm:
+ Độ cao tuyệt đối;
+ Độ dốc;
+ Chiều dài sườn dốc;
+ Lượng mưa bình quân năm;
+ Thảm thực vật;
Khi xuất hiện nhân tố chủ đạo (có ảnh hưởng lớn nhất) thang điểm của nhân
tố này sẽ được nhân với hệ số lớn hơn 1 tuỳ mức độ có thể chọn 1,2; 2,0; Điểm
đánh giá năng lực phòng hộ của các kiểu thảm thực vật là điểm âm (-), khi có rừng
tự nhiên 3 tầng với độ tàn che > 0,7 sẽ đạt trị số tối đa và bằng 100% điểm dươngcủa tổng số điểm xung yếu tự nhiên cao nhất Thang điểm âm các kiểu thảm thựcvật khác sẽ tính bằng 90%, 80%, 70%, của rừng 3 tầng nói trên
Các bước tiến hành phân cấp như sau:
Bước 1: Chia vùng đầu nguồn thành mạng lưới các ô vuông diện tích 1 km X
1 km hoặc 0,5 km X 0,5 km gọi là đơn vị đầu nguồn
Bước 2: Xem xét các nhân tố ảnh hưởng chính và xây dựng thang điểm chotừng nhân tố để đưa vào đánh giá
Bước 3: Trên mỗi diện tích ô vuông tiến hành cho điểm đối với từng nhân tố
ảnh hưởng rồi tính tổng điểm của các nhân tố đó Công việc thực hiện cho tất cả đơn
vị đầu nguồn
Bước 4: Căn cứ vào tổng số điểm thu được trên các ô vuông của toàn bộ vùng
đầu nguồn sẽ chia ra 3 - 5 cấp xung yếu khác nhau được thể hiên trên bản đồ với cácmàu sắc khác nhau Những vùng có số điểm cao sẽ có mức xung yếu cao hơn vùng
có số điểm thấp
Trang 17- Phương pháp phân cấp xung yếu đầu nguồn do Uỷ ban sông Mê Kông áp dụng
Như phần tổng quan nghiên cứu trên thế giới (mục 1.1.2) đã đề cập, phươngpháp phân cấp xung yếu đầu nguồn do Uỷ ban sông Mê Kông áp dụng tại 3 nước làLào, Việt Nam và Campuchia từ năm 1990 Gồm 2 phương pháp ban đầu là phươngpháp raster và sau đó là phương pháp vùng
- Biện pháp phân cấp phòng hộ và phân chia 3 loại rừng các tiểu dự án khu vực lâm nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn 4 tỉnh Viêt Nam
Dự án được tiến hành để xây dựng quy hoạch quản lý rừng đầu nguồn chocác tiêu dự án (cấp xã) trên vùng đầu nguồn 3 con sông lớn thuộc 4 tỉnh Thanh Hoá,Quảng Trị, Gia Lai và Phú Yên[3]
+ Về phân cấp rừng phòng hộ
Các tiêu chí được lựa chọn là độ cao, độ cao, lượng mưa và loại đất Hai tiêuchí độ cao và độ dốc được gộp ghép theo kiểu địa hình là vùng núi, vùng đồi cao vàvùng đồi thấp Mỗi tiêu chí chia 3 cấp tương đối là rất nguy hại, nguy hại và ít nguyhại để chồng xếp Chồng xếp 4 nhân tố trên được bản đồ PCPH xã Bản đồ thànhquả chia 3 cấp là rất xung yếu, xung yếu và ít xung yếu
+ Về phân chia 3 loại rừng:
Phân chia rừng đặc dụng: Chỉ là việc kế thừa và công nhận diện tích rừng đặcdụng của xã (tiểu dự án)
Phân chia rừng phòng hộ và sản xuất: Dựa theo bản đồ PCPH chia ra:
Rừng phòng hộ: gồm cấp RXY và XY;
Rừng sản xuất thuộc cấp IXY
- Hoàng Sỹ Động (2002), [10] đã sử dụng các nhân tố tham gia là độ dốc, độcao, dạng đất, đất và địa chất (ký hiệu lần lượt từ x1 đến x5) để tiến hành phân cấp
đầu nguồn vùng Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Phương trình theo dạng phương trình
Trang 18nguyên thuỷ của phương trình của Uỷ ban sông Mê Kông (áp dụng ở 3 nước Lào,Việt Nam và Campuchia), kết quả thu được là:
Cấp II Rừng sản xuất
Cấp III: Vườn cây ăn quả và rừng sản xuất
Cấp IV: Nông nghiệp vùng cao
- Biện pháp kỹ thuật xác định lâm phận phòng hộ cấp tỉnh của Bộ NN&PTNT
Phương pháp này dựa trên bản tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ [5], diện tíchtiến hành là trên diện tích đất lâm nghiệp (gồm đất có rừng và chưa có rừng quyhoạch cho mục đích lâm nghiệp) Các tiêu chí được chọn là các tiêu chí có ảnhhưởng đến xói mòn đất và dòng chảy đó là:
Bước 1: Xây dựng các bản đồ đơn tính cho 4 tiêu chí nêu trên Hai bản đồ là
độ dốc và đai cao được nội suy từ bản đồ địa hình (bản đồ tỷ lệ 1/50.000, khoảng
Trang 19cách giữa 2 đường đồng mức kề nhau là 20 m) thông qua mô hình DTM Lưới ô chobản đồ có thể là 10 m X 10 m hoặc hơn Sau đó chuyển bản đồ 2 nhân tố này từdạng raster sang dạng vùng để chồng xếp với 2 nhân tố còn lại.
Bước 2: Chồng xếp các bản đồ đơn tính nêu trên bằng phần mền ARCVIEW,kết quả được bản đồ tổng điểm
Bước 3: Xác định diện tích lâm phận phòng hộ đầu nguồn lý thuyết của tỉnh,bằng cách phân ngưỡng điểm thành 3 cấp là RXY, XY và IXY
Bước 4: Xác định các khu PHĐN tỉnh theo khoảnh
Bước 5: Xác định vùng phòng hộ đầu nguồn, vùng sản xuất lâm nghiệp bằngcách lấy vùng RXY và XY là vùng PHĐN, vùng IXY là vùng sản xuất
Bước 6: Kiểm tra, điều chỉnh ở hiện trường
Bước 7: Xây dựng bản đồ thành quả và tính toán số liệu
Biện pháp này ra đời trong hoàn cảnh là sau khi các địa phương thực hiệnQH3LR bằng các phương pháp nêu trên dẫn đến diện tích rừng phòng hộ quá lớn(trên 9 triệu ha cho toàn quốc) nên nhà nước khống chế diện tích PHĐN lại cònkhoảng 5,6 triệu ha (do một số nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân nhà nướcthiếu kinh phí đầu tư, đầu tư cho rừng phòng hộ dàn trải, không đúng trọng tâm) Từnguyên nhân này, tuy tiến hành phân cấp nhưng diện tích rừng phòng hộ cho mộttỉnh đã bị khống chế từ trên xuống nên việc phân cấp chỉ có ý nghĩa là lấy một phầndiện tích có tổng điểm từ trên xuống, đến một diện tích ấn định cho 1 tỉnh thì dừnglại (cho phép chênh lệch 10%), diện tích này là diện tích PHĐN của tỉnh Như vậycòn nhiều diện tích ở vùng XY vẫn bị để là rừng sản xuất Việc phân ra 3 cấp xungyếu là ít có ý nghĩa
Điểm qua một số phương pháp phân cấp xung yếu đầu nguồn áp dụng ở ViệtNam trên đây cho thấy, mỗi phương pháp đều có thế mạnh và tồn tại riêng Tuy vậycũng có thể nhận thấy một số điểm chung của các phương pháp như sau:
Điểm chung của các phương pháp
Trang 20(i) Các phương pháp phân cấp đầu nguồn đều dựa trên cơ sở đánh giá ảnhhưởng của các nhân tố tới xói mòn đất và điều tiết nước, chủ yếu là các nhân tố tựnhiên.
(ii) Phương pháp chính được sử dụng để tính toán mức độ ảnh hưởng tổnghợp các nhân tố tới PHĐN là chồng ghép các bản đồ đơn nhân tố Việc chồng ghépcác bản đồ có thể được tiến hành bằng phương pháp thủ công hoặc trên máy vi tínhvới sự trợ giúp của công nghệ GIS
(iii) Các phương pháp PCPH đều chia đầu nguồn thành những đơn vị nhỏ để
xử lý và tính toán, thường là những lưới ô vuông có diện tích 1 km2 (có thể to hoặcnhỏ hơn tuỳ theo độ chính xác yêu cầu) hoặc những vùng có các điều kiện tương đối
đồng nhất
(iv) Các phương pháp đều sử dụng các mô hình định lượng để phân cấp đầunguồn dựa trên cơ sở phân chia thang điểm các nhân tố ảnh hưởng
Điểm khác biệt của các phương pháp
(i) Các phương pháp sử dụng các nhân tố ảnh hưởng khác nhau, ví dụ: Viện
ĐTQHR và Phương pháp dùng cho dự án khu vục lâm nghiệp thì sử dụng 4 nhân tố(độ cao, độ dốc, mưa và đất), phương pháp sông Mê Kông sử dụng 3 nhân tố ( độ
đốc, dạng đất và độ cao), phương pháp do Viện KHLN Việt Nam và của tác giảHoàng Sỹ Động đề xuất, áp dụng thì sử dụng nhiều nhân tố hơn, đặc biệt phươngpháp của Viện KHLN sử dụng nhân tố thảm thực vật
(ii) Nội dung phân cấp của các phương pháp có khác nhau Phương phápsông Mê kông thực chất đi sâu vào phân chia tiềm năng sử dụng đất đầu nguồn;phương pháp Viện ĐTQHR đi vào phân cấp xung yếu tự nhiên; phương pháp phâncấp do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đề xuất có thể áp dụng phân cấp xungyếu tự nhiên và hiện thời
(iii) Phương pháp sông Mê kông và Viện Điều tra Quy hoạch rừng đề xuất sửdụng mô hình toán học để phân cấp, trong đó các tham số của mô hình phân cấp doViện ĐTQHR là cố định và không thay đổi đối với các đầu nguồn khác nhau, các
Trang 21tham số mô hình phân cấp sông Mê Kông thay đổi tuỳ theo đặc điểm từng đầunguồn; còn phương pháp do Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam và của BộNN&PTNT đề xuất thì dùng phương pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng với các
hệ số khác nhau cho các nhân tố chủ đạo
1.2.2.1 Về phân cấp, phân chia rừng phòng hộ bảo vệ môi trường
Về lĩnh vực này, cho đến nay vẫn còn là một khoảng trống, chưa có nhiềunghiên cứu Trong bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ [5] quy địnhnhư sau:
- Rừng PHBVMT nhằm điều hoà khí hậu, chống ô nhiễm ở khu đông dân cư,các đô thị và các khu công nghiệp, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi
- Rừng PHBVMT là hệ thống các đai rừng, dải rừng và hệ thống cây xanhxen kẽ các khu dân cư, khu công nghiệp, khu du lịch bảo đảm chống ô nhiễm khôngkhí, tạo môi trường trong sạch, tạo cảnh quan kết hợp với vui chơi giải trí, thamquan du lịch Hoặc những dải rừng dọc theo đường quốc lộ, nhằm chống tiếng ồn vàkhói bụi, tuỳ thuộc vào loại đường mà đai rừng phòng hộ mỗi bên giao động từ 10 -
50 m
- Rừng PHBVMT được xác định cho từng công trình cụ thể và do các địaphương quyết định tuỳ thuộc vào nhu cầu của từng địa phương, từng công trình códiện tích bình quân đầu người khoảng 20 m2
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng hướng dẫn để áp dụng cho việc phân cấprừng PHBVMT Tuy nhiên thực tế thường khó áp dụng vì những vùng đông dân cư,khu công nghiệp, đường giao thông thường thiếu đất cho mục tiêu này và cũngkhông nhiều địa phương quan tâm
1.2.3 Về công tác quy hoạch rừng sản xuất
Thường sau khi đã xác định cho diện tích rừng đặc dụng và phòng hộ vớinguyên tắc là diện tích đất lâm nghiệp thuộc 2 cấp RXY và XY được lấy cho đốitượng đất rừng phòng hộ, diện tích đất lâm nghiệp thuộc cấp IXY lấy là đất rừng sản
Trang 22xuất, trong đó có cân nhắc đến nhu cầu sử dụng lâm sản của nền kinh tế quốc giacũng như của người dân địa phương.
Như vậy, khi đã xây dựng, quy hoạch cho 2 đối tượng rừng nói trên cũngchính là đã quy hoạch cho rừng sản xuất Theo nguyên tắc quy hoạch, rừng đặcdụng thường chiếm một tỷ lệ không lớn, rừng phòng hộ phân bố ở những vị trí có độcao, độ dốc lớn, có tiềm năng xói mòn cao Còn lại diện tích đất lâm nghiệp sảnxuất nhìn chung tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc kinh doanh lợi dụng rừng
Một số nghiên cứu tiêu biểu về phân loại thảm thực vật phục vụ sản xuất lâmnghiệp là:
- Phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978)[27]:
Tác giả nghiên cứu trên cơ sở các nhân tố sinh thái phát sinh hệ sinh thái rừng
tự nhiên Việt Nam là:
(i) Nhóm nhân tố địa lý - địa hình;
(ii) Nhóm nhân tố khí hậu - thuỷ văn;
(iii) Nhóm nhân tố đá mẹ - thổ những;
(iv) Nhóm nhân tố khu hệ thực vật; và
(v) Nhóm nhân tố sinh vật và con người
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích 5 nhóm nhân tố trên, tác giả đã phân loạithảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật rừng (hệ sinh thái rừng)chính, gồm:
(i) Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới;
(ii) Kiểu rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới
(iii) Kiểu rừng rụng lá ẩm nhiệt đới;
(iv) Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới;
(v) Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới;
(vi) Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới;
(vii)Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới;
(viii)Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới;
(ix)Kiểu truông bụi cây gai hạn nhiệt đới;
(x)Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp;
Trang 23(xi)Kiểu rừng kín cây lá kim mưa ẩm ôn đới;
(xii) Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp;
(xiii) Kiểu rừng khô vùng cao;
(xiv) Kiểu rừng lạnh vùng cao
Đây là những tài liệu ban đầu rất quan trọng cho việc phân loại thảm thực vậtrừng, tuy nhiên đối với sản xuất thì chưa đáp ứng được vì tính khái quát lớn, không
cụ thể, chi tiết để thực thi sản xuất được
- Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng (QPN 6-84) quy định về phân kiểu trạng thái thục bì (tạm thời)
Dựa trên cơ sở phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng, rừng và đấtrừng được phân chia thành các kiểu và kiểu phụ như: Rừng gỗ lá rộng thường xanh,rừng gỗ lá rộng nửa rụng lá, rừng gỗ lá rộng rụng lá, rừng gỗ lá kim , rừng ngậpmặn, rừng tre nứa, rừng trồng và đất không có rừng Sau đó tuỳ theo đặc điểm cấutrúc thực bì mà phân ra kiểu trạng thái rừng theo quy định dưới đây [4]:
+ Đối với kiểu rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá áp dụng hệ thốngphân chia theo bốn nhóm trạng thái I, II, III, IV như sau:
Nhóm trạng thái I: Nhóm chưa có rừng
Nhóm không có rừng hoặc hiện tại chưa thành rừng, chỉ có cỏ, cây bụi hoặccây gỗ, tre mọc rải rác có độ che phủ dưới 0,3 Tuỳ theo hiện trạng, nhóm này đượcchia thành:
(i) Kiểu IA: Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cỏ, lau lách hoặc chuốirừng
(ii) Kiểu IB: Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cây bụi, cũng có thể cómột số cây gỗ, tre mọc rải rác
(iii) Kiểu IC: Kiểu này được đặc trừng bởi cây thân gỗ tái sinh với số lượng
đáng kể nằm trong hai kiểu trên Chỉ được xếp vào kiểu này khi số lượng cây táisinh có chiều cao trên 1 mét đạt từ 1.000 cây/ha trở lên
Nhóm trạng thái II: Nhóm rừng phục hồi
Kiểu rừng cây phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ, tuỳ theo hiệntrạng và nguồn gốc mà chia ra:
Trang 24(i) Kiểu IIA: Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong,
ưa sáng, mọc nhanh, đều tuổi, một tầng
(ii) Kiểu IIB: Kiểu rừng phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn kiểu này baogồm những quần thụ non với những loài cây tương đối ưa sáng, thành phần phức tạp,
đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng Vượt lên khỏi tán rừng kiêủ này có thể còn sót lạimột số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể
Chỉ được xếp vào kiểu này những quần thụ mà đường kính phổ biến khôngvượt quá 20 cm
Nhóm trạng thái III: Nhóm rừng thứ sinh đã bị tác động
Các quần thụ đã chịu tác động khai phá của con người ở nhiều mức độ khácnhau làm cho kết cấu ổn định của rừng ít nhiều đã có sự thay đổi khác nhau, tuỳtheo mức độ tác động và khả năng cung cấp lâm sản mà nhóm này có thể được chia
ra hai kiểu:
(i) Kiểu IIIA: Đặc trưng bởi những quần thụ đã bị khai thác nhiều, khả năngkhai thác hiện tại bị hạn chế Cấu trúc ổn định của rừng bị thay đổi hoàn toàn hoặcthay đổi về cơ bản Kiểu này được chia thành 3 kiểu phụ:
* Kiểu phụ IIIA1: Rừng đã bị khai thác kiệt quệ, tán rừng bị phá vỡ từngmảng lớn, tầng trên có thể còn xót lại một số cây cao to nhưng phẩm chất xấu, nhiềudây leo bụi dậm, tre nứa xâm lấn Tuỳ theo tình hình tái sinh mà chia ra:
IIIA1.1: Thiếu tái sinh
IIIA1.2: Đủ tái sinh
* Kiểu phụ IIIA2: Rừng đã bị khai thác quá mức nhưng đã có thời gian phụchồi tốt, đặc trưng của kiểu này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế sinhthái với lớp cây đại bộ phận có đường kính 20 -30 cm Rừng có 2 tầng trở lên
* Kiểu phụ IIIA3: Rừng đã bị khai thác vừa phải hoặc phát triển từ IIIA2 lên.Quần thụ tương đối khép tán với 2 hoặc nhiều tầng
(ii) Kiểu IIIB: Đặc trưng bởi những quần thụ đã bị chặt chọn lấy ra một ít gỗtốt, gỗ quý nhưng chưa làm thay đổi đáng kể về kết cấu ổn định của rừng, khả năngcung cấp của rừng còn nhiều, rừng giàu về trữ lượng với thành phần cây gỗ lớn cao
Trang 25 Nhóm trạng thái IV: Nhóm rừng nguyên sinh, rừng ổn định
Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh thành thục cho đến nay chưa được khai thác
sử dụng Rừng có cấu trúc ổn định, nhiều tầng, nhiều cấp kính nhưng đôi khi thiếutầng giữa và tầng dưới Nhóm này có hai kiểu:
(i) Kiểu IVA: Rừng nguyên sinh
(ii) Kiểu IV B: Rừng thứ sinh phục hồi
Khi áp dụng bảng phân loại này vào từng vùng phải căn cứ vào đặc trưng củacác trạng thái rừng mà xác định các chỉ tiêu định lượng về diện ngang hay trữ lượng,
độ tàn che
+ Đối với các kiểu rừng lá rộng rụng lá
Việc phân loại trạng thái rừng lá rộng rụng lá tạm thời dựa vào cấu trúc hiệntại, mức độ tác động và khả năng khai thác gỗ để chia ra các kiểu sau:
Kiểu R1: Trảng cỏ và cây bụi
Kiểu RII: Rừng non mới tái sinh phục hồi và chưa ổn định
Kiểu RIII: Rừng bị tác động mạnh, cấu trúc ổn định của rừng đã bịphá vỡ, khả năng khai thác gỗ lớn không còn hoặc không đáng kể, tuỳ theo mức độphá hoại mà chia ra:
* Kiểu phụ RIIIA: Rừng bị phá hoại mạnh, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn,rừng có trữ lượng thấp, G/ha < 10 m2 Đại bộ phận cây có đường kính nhỏ (D<24cm), rải rác còn một số cây to (D>30 cm) nhưng cong queo, sâu bệnh Tuỳ theotình hình phá hoại mà chia ra:
Kiểu rừng RIIIA1: Rừng có trữ lượng thấp, phát triển trên lập địa xấu, trơ sỏi
đá Đại bộ phận cây có đường kính nhỏ (D<24 cm)và chiều cao thấp (H< 10 m) Tổthành chủ yếu là những loài cây có khả năng chịu lửa cao, tái sinh chồi mạnh như
Cà Chắc, Cẩm liên, Chiêu liêu đen Lớp thực bì dưới rừng bị huỷ hoại bởi nhiêu đợtlửa rừng thường xuyên
Kiểu rừng RIIIA2: Gồm những lâm phần có trữ lượng cao hơn RIIIA1 đượchình thành do khai thác quá mức Hầu hết cây mục đích có đường kính lớn (D>30
Trang 26cm) đã bị lấy đi, để lại những cây cong queo, sâu bệnh và tạo ra nhiều khoảng trốngtrong rừng.
* Kiểu phụ RIIIB: Rừng có trữ lượng trung bình, G/ha > 10 m2 nhưng diệnngang của những cây có D>30 cm nhỏ hơn 5 m2 Cấu trúc tán rừng không liên tục,thiếu lớp cây tương lai (cây ở cỡ 20 – 30 cm), những cây còn lại hầu hết cong queo,sâu bệnh
Kiểu RIV: Rừng có cấu trúc tương đối ổn định, tán đều, được coi làrừng giàu trữ lượng, G/ha >10 m2 và G/ha của những cây có D≥ 30 cm >5 m2
+ Đối với rừng tre nứa phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ+ Đối với rừng trồng phân chia theo loài cây và cấp tuổi
Từ trên có thể thấy rằng, bảng phân loại nêu trên là tương đối chi tiết, thời gianqua là tiêu chuẩn phân chia trạng thái rừng trên toàn quốc Tuy nhiên khi tiến hànhcải tạo rừng tự nhiên để nâng cao chất lượng rừng, nếu căn cứ vào các tiêu chí địnhlượng trạng thái trên sẽ không phân loại được đối tượng rừng cho mục đích này nêncần có bảng phân loại chi tiết hơn, cụ thể hơn trên có sở định lượng cho từng vùng,
đặc biệt đi sâu vào các trạng thái rừng non (IIA, IIB, RII), nghèo (IIIA1, RIIIA1)
Trang 27Chương 2
Mục tiêu, phạm vi và đối tượng, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tạo cơ sở khoa học cho việc quản lý, sửdụng rừng bền vững, phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá của một
địa bàn cụ thể thông qua việc phân cấp, phân chia, quy hoạch 3 loại rừng Vì vậy,mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt ra là:
2.1.1 Về lý luận
Trên cơ sở phân tích và đánh giá các cơ sở lý luận và thực tiễn, những ưu
điểm và tồn tại hiện nay của QH3LR, xu hướng phát triển 3 loại rừng, tiến hành xác
định rõ các bộ phận cấu thành, trình tự, tiêu chỉ, chỉ tiêu và phương pháp phân cấp,QH3LR cấp vĩ mô phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá của một
địa bàn cụ thể
2.1.2 Về thực tiễn
Đề tài xây dựng được phương án QH3LR huyện Mang Yang, tỉnh Gia Laitrên cơ sở vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn, trình tự, phương pháp đã nghiên cứutại vùng nghiên cứu
2.2 phạm vi và Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là các cơ sở lý luận và thực tiễn, trình tự, phương phápquy hoạch 3 loại rừng, từ đó áp dụng các cơ sở này để xây dựng phương án quyhoạch 3 loại rừng tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch 3 loại rừng
- Quy hoạch 3 loại rừng trong hệ thống quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch
sử dụng đất cấp vĩ mô;
- Quan điểm hệ thống trong quy hoạch 3 loại rừng;
Trang 28- Quan điểm phát triển tổng hợp, bền vững tài nguyên rừng trong quy hoạch 3loại rừng;
- Yếu tố kinh tế thị trường trong quy hoạch 3 loại rừng;
- Các chính sách, quy định có liên quan của nhà nước về quy hoạch 3 loạirừng
2.3.2 Xác định trình tự và phương pháp quy hoạch 3 loại rừng
2.3.2.1 Xác định trình tự quy hoạch 3 loại rừng
2.3.2.2 Phương pháp quy hoạch 3 loại rừng
- Phương pháp quy hoạch rừng phòng hộ: Xác định tiêu chí, cho điểm, phâncấp và chồng xếp
- Phương pháp quy hoạch rừng đặc dụng: Xác định tiêu chí, chồng xếp
- Phương pháp quy hoạch rừng sản xuất: Xác định tiêu chí, cho điểm, phâncấp và chồng xếp
2.3.2.3 Tổng hợp quy hoạch 3 loại rừng
2.3.3 Xây dựng phương án quy hoạch 3 loại rừng tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai
2.3.2.1 Đánh giá điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu
- Đánh giá các điều kiện tự nhiên;
- Đánh giá điều kiện KTXH, thực trạng CSHT;
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và thực trạng sản xuấtngành lâm nghiệp;
- Xác định các nhu cầu cơ bản: về phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học, vềlâm sản các loại
2.3.2.2 Phân cấp phòng hộ đầu nguồn lý thuyết
- Nguyên tắc phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn lý thuyết;
- Các tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn lý thuyết;
Trang 29- Kết quả phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn lý thuyết.
2.3.2.3 Quy hoạch rừng đặc dụng
- Nguyên tắc quy hoạch rừng đặc dụng;
- Các tiêu chí quy hoạch rừng đặc dụng;
- Kết quả quy hoạch rừng đặc dụng;
- Giải pháp thực hiện
2.3.2.4 Quy hoạch rừng phòng hộ
- Nguyên tắc quy hoạch rừng phòng hộ;
- Các tiêu chí quy hoạch rừng phòng hộ;
- Kết quả quy hoạch rừng phòng hộ;
- Giải pháp thực hiện
2.3.2.5 Quy hoạch rừng sản xuất
- Nguyên tắc quy hoạch rừng sản xuất;
- Các tiêu chí quy hoạch rừng sản xuất;
- Kết quả quy hoạch rừng sản xuất;
- Giải pháp thực hiện
2.3.2.6 Tổng hợp quy hoạch 3 loại rừng
2.3.2.7 Đề xuất các giải pháp phát triển 3 loại rừng
- Giải pháp phát triển rừng phòng hộ;
- Giải pháp phát triển rừng đặc dụng;
- Giải pháp phát triển rừng sản xuất
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu thể hiện qua biểu 2.1
Biểu 2.1: Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài
TT Nội dung Tài liệu thu thập, xây dựng Phương pháp thu thập số liệu
1 Điều tra, thu thập số liệu hiện trạng
a Điều kiện
tự nhiên
Vị trí địa lý, địa hình, đất
đai, khí hậu thuỷ văn Hiệntrạng các khu di tích, lịch
sử, các cảnh quan đẹp
-Thừa kế số liệu từ các cơ quan,ban ngành liên quan như sở TàiNguyên-Môi trường, SởNN&PTNT tỉnh Gia Lai, PhòngTài nguyên - Môi truờng, phòngKinh tế huyện Mang Yang
- Điều tra bổ sung thực địa bằngphương pháp phỏng vấn, khoanh
vẽ bổ sung
Trang 30b Hiện trạng kinh tế
-xã hội
-Dân số, dân tộc, lao động
- Tình hình kinh tế chungcủa vùng, thu nhập bìnhquân, đóng góp của kinh tếlâm nghiệp
-Thừa kế số liệu từ các ban ngành,các chương trình, dự án trên địabàn huyện
-Điều tra bổ sung theo phươngpháp điều tra nhanh nông thôn(PRA)
hệ động thực vật rừng
Phân bố động thực vật quýhiếm, đặc hữu
-Thừa kế số liệu từ chương trình
điều tra theo dõi diễn biến tàinguyên rừng toàn quốc giai đoạn1990-2005 của Phân viện ĐTQHRNam Trung bộ và Tây Nguyên vàcác công trình khác
-Điều tra, khoanh vẽ bổ sung ngoàithực địa
d Bản đồ các loại - Bản đồ đất, tỷ lệ
1/100.000
- Bản đồ mưa, tỷ lệ1/250.000
- Bản đồ nền địa hình, tỷ lệ1/50.000
- Hệ thống giao thông, tỷ lệ1/25.000…
-Thừa kế số liệu từ các ban ngành,chương trình có liên quan như SởTài Nguyên – Môi Trường, SởNN&PTNT tỉnh Gia Lai, cácPhòng, ban thuộc huyện MangYang
-Điều tra bổ sung ngoài thực địanhững nơi còn nghi ngờ
b Xác định trình tự,
phương pháp phân cấp,
QH3LR
- Phương pháp phân tích chuyêngia
c Xây dựng phương án
QH3LR huyện Mang
Yang
Phương án QH3LR huyệnMang Yang
-Phương pháp phân tích chuyêngia
- Điều chỉnh, bổ sung ngoài thực
-Phương pháp phân tích chuyêngia
e Xây dựng bản đồ Bản đồ các loại tỷ lệ
1/25.000
-Phương pháp phân tích chuyêngia
-Dùng phần mềm ArcView,Mapinfo, Microstation, Excell,
Trang 31Chương 3
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch 3 loại rừng
QH3LR là một loại quy hoạch chuyên ngành, nhiệm vụ chính là xác định quymô diện tích, cơ cấu, ranh giới 3 loại rừng hợp lý cho một khu vực lãnh thổ tạo cơ sở
đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên rừng và phát huy tối đa các nguồn lực tàinguyên hiện có Muốn vậy, QH3LR cần được xây dựng trên các cơ sở lý luận vàthực tiễn tin cậy, phù hợp Sau đây là một số nghiên cứu về vấn đề này:
3.1.1 Quy hoạch 3 loại rừng trong hệ thống quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô
- QHSDĐ cả nước bao gồm: Cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện (cấp vĩ mô),cấp xã, thôn/bản và cấp HGĐ (cấp vi mô), đây là các cấp quản lý theo lãnh thổ.Ngoài ra còn có QHSDĐ cho các đơn vị kinh doanh, các khu rừng đặc dụng, phònghộ… mà thường ở dưới dạng các dự án phát triển, dự án đầu tư, phương án sản xuấtkinh doanh, phương án điều chế… Trong phạm vi giới hạn đề tài này, chỉ xin giớithiệu QHSDĐ theo đơn vị quản lý lãnh thổ ở cấp vĩ mô
Cấp vĩ mô là cấp QHSDĐ mà các vấn đề được xem xét ở tầm bao quát, mangtính liên ngành và trên quy mô lớn Đây là cấp định hướng thống nhất cho các cấpQHSDĐ thấp hơn (cấp vi mô)
+ Cấp quốc gia: Gồm QHSDĐ cả nước và theo vùng lãnh thổ (liên tỉnh).
Nhìn chung QHSDĐ cấp quốc gia thường đề cập đến những nội dung lớn sau:
Nghiên cứu chiến lược ổn định và phát triển KTXH làm cơ sở xác địnhphương hướng, nhiệm vụ phát triển và QHSDĐ cho các ngành
QHSDĐ cho các ngành (trong đó có ngành lâm nghiệp) và toàn quốc
Điều chỉnh, bổ sung việc QHSDĐ cho trong giai đoạn, thời kỳ pháttriển KTXH của cả nước cho phù hợp với tình hình mới
+ Cấp tỉnh: Bao gồm:
Trang 32 Nghiên cứu phương hướng, nhiệm vụ phát triển KTXH của tỉnh và căn
cứ vào QHSDĐ toàn quốc để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển các ngànhtrong tỉnh
QHSDĐ cho các ngành trong tỉnh (trong đó có ngành lâm nghiệp)
Điều chỉnh, bổ sung việc QHSDĐ cho trong giai đoạn, thời kỳ pháttriển KTXH của tỉnh cho phù hợp với tình hình mới
+ Cấp huyện:
Nghiên cứu phương hướng, nhiệm vụ phát triển KTXH của huyện vàcăn cứ vào QHSDĐ tỉnh để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển các ngànhtrong huyện
QHSDĐ cho các ngành trong huyện (trong đó có ngành lâm nghiệp)
Điều chỉnh, bổ sung việc QHSDĐ cho trong giai đoạn, thời kỳ pháttriển KTXH của huyện cho phù hợp với tình hình mới
Có thể nói, nội dung của QHSDĐ các cấp nêu trên là tương tự, song mức độgiải quyết theo chiều sâu, chiều rộng của các nội dung có khác nhau theo các cấpbậc QHSDĐ Phạm vi đề cập của các nội dung trong QHSDĐ cấp vĩ mô có tính chất
định hướng, nguyên tắc và luôn gắn với ý đồ phát triển KTXH của các cấp quản lýlãnh thổ
Sau khi QHSDĐ cho các ngành thì mỗi ngành đều có phạm vi đất đai riêng,QH3LR trên cơ sở các yếu tố các nguồn lực về tự nhiên, tài nguyên, KTXH sẽ làcông việc đầu tiên của công tác xây dựng QHLN các cấp
- QHLN các cấp [33, tr 150-153] gồm các bước nội dung sau:
+ Xác định phương hướng, nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp của cấp
Trang 33- Kết quả của QH3LR là xác định được quy mô, diện tích, ranh giới 3 loạirừng hợp lý (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) cũng như phân cấp chi tiết theo các mụctiêu phát triển sâu hơn cho từng loại rừng (ví dụ rừng đặc dụng được phân cấp thànhcác phân khu như phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái vàphân khu dịch vụ hành chính và du lịch; rừng phòng hộ có phòng hộ đầu nguồn,phòng hộ bảo vệ môi trường, ) [23].
QH3LR là quy hoạch mang tính chuyên ngành, tuy nhiên, trong quá trìnhxây dựng quy hoạch, tính liên ngành luôn được xem xét, cân nhắc để đảm bảokhông mâu thuẫn giữa các ngành có sử dụng các nguồn tài nguyên như tài nguyên
đất, tài nguyên nước, thuỷ lợi, thuỷ điện, khoáng sản, dịch vụ, du lịch
Thực tiễn QHSDĐ, QHLN và QH3LR ở nước ta trong thời gian qua đã tiếnhành ở các cấp:
+ QHSDĐ, QHLN, QH3LR toàn quốc;
+ QHSDĐ, QHLN, QH3LR cấp vùng lãnh thổ;
+ QHSDĐ, QHLN, QH3LR cấp tỉnh;
+ QHSDĐ, QHLN, QH3LR cấp huyện;
+ QHSDĐ, QHLN, QH3LR (nếu có - thường rất ít) cấp xã
3.1.2 Quan điểm hệ thống trong quy hoạch 3 loại rừng
Lý thuyết hệ thống (của tác giả L.von bert tanlanfy) ngày càng được ứngdụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, giúp cho việc hiểu biết và giải thích các
sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, có thể coi đây là cơ sở để giải quyếtcác vấn đề phức tạp và tổng hợp
Hệ thống được định nghĩa như là một “tổng thể có trật tự của các yếu tố khácnhau có quan hệ và tác động qua lại” Như vậy, hệ thống có thể được xác định như
là “một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính, được liên kết bằng nhiều mốitương tác” [14] Nói cách khác, hệ thống được hiểu như là “một cơ cấu hoàn chỉnhgồm nhiều bộ phận chức năng tạo nên một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và hoạt
động theo những quy luật thống nhất tạo nên một chất lượng mới không giống tính
Trang 34chất của từng yếu tố hợp thành, và cũng không phải là con số cộng của của những
bộ phận đó” [14]
Hệ thống có thể được hiểu là một tập hợp các phần tử có quan hệ tương tác đểthực hiện một mục tiêu xác định Như vậy khi nói đến hệ thống cần phải nói đếnphần tử, tương tác và mục tiêu Một hệ thống được đặc trưng bởi các đặc điểmsau[36, tr 5.]:
- Hệ thống luôn có thể phân thành các phân hệ có đẳng cấp Mỗi phân hệ đặctrưng bởi một mục tiêu bộ phận Các mục tiêu bộ phận luôn mang tính độc lập tương
đối, nhưng tương tác để thực hiện mục tiêu tổng thể Đặc điểm này có thể biểu diễndưới dạng một sơ đồ hình “cây” Ví dụ về cấu trúc hệ thống tổ chức quản lý sửdụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam [15, tr.93] như hình 3.1
Hình 3.1 : Sơ đồ hình cây về hệ thống tổ chức quản lý đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Chính phủ
Các cơ quanthuộc CP,
Bộ TNMT
Bộ NN&PTNTCục Kiểm Lâm
Sở TNMT
PhòngTNMT
Phòng Kinh tếHat Kiểm lâm
Sở NN&PTNTChi cục KL
UBNDtỉnh
UBNDHuyện
UBNDxã
Các thànhphần kinh tế
Người Dân
Ban Nông
l âm xã
Ban QLRD xã
Trang 35- Hệ thống luôn được đặc trưng bởi tính “trồi”, là một thuộc tính không tồntại ở bất kỳ thành tố nào hoặc phân hệ nào của hệ thống Ví dụ, máy bay là một hệthống kỹ thuật, trong đó không một bộ phận nào có thể bay được, nhưng sự tươngtác giữa chúng đã làm cho hệ thống này bay được.
- Hành vi của hệ thống mang bản chất đa phương án Không bao giờ một hệthống chỉ vận động theo một phương án duy nhất Trong mọi tình huống đa phương
án, bao giờ cũng có thể chọn ra được một phương án tối ưu
- Động thái của hệ thống luôn mang tính đa mục tiêu Một số mục tiêu có thểxung đột Khi đó phải lựa chọn một chiến lược thoả hiệp Chẳng hạn, trong một hệthống sản xuất luôn tồn tại 4 mục tiêu: nhiều, nhanh, tốt, rẻ Hoàn toàn có thể có sự
xung đột giữa mục tiêunhiều và nhanh, giữa tốt và rẻ.
- Mọi hệ thống, bất kể là hệ thống kỹ thuật, sinh học hay xã hội đều thốngnhất bởi tính điều khiển được và được biểu diễn dưới dạng một sơ đồ điều khiển họcnhư hình 3.2
Hình 3.2: Sơ đồ điều khiển học của hệ thống
Tất cả những thành phần ở bên ngoài hệ thống được coi là môi trường của hệthống và giữa chúng có mối liên hệ tương tác
Quan điểm hệ thống là sự khám phá đặc điểm của hệ thống đối tượng bằngcách nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tác động qua lại giữa các yếu tố
Đối tượng bị
điều khiển
Chủ thể
điều khiển Phản hồi
Điều khiển
Trang 36Do đó tiếp cận hệ thống là con đường nghiên cứu và xử lý đối với các phức hệ có tổchức theo quan điểm sau:
- Không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử mà trong mối quan hệ với cácphần tử khác và chú ý tới thuộc tính mới xuất hiện
- Nghiên cứu hệ thống trong mối tương tác với môi trường của nó
- Xác định rõ cấu trúc (thứ bậc) của hệ thống đang nghiên cứu
- Các hệ thống thường là hệ thống hữu đích, hoạt động của nó có thể điềukhiển được để đạt tới mục tiêu đã định, do đó cần kết hợp nhiều mục tiêu
- Kết hợp cấu trúc và hành vi của hệ thống vì hành vi phụ thuộc một cách tái
định hoặc ngẫu nhiên vào cấu trúc
- Nghiên cứu hệ thống phải trên nhiều góc độ do hệ thống có tính đa dạngcấu trúc (tính phức tạp)
Quan điểm hệ thống đã được nhiều nhà khoa học tiếp cận trong nghiên cứu tựnhiên và KTXH nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người
3.1.3 Quan điểm phát triển bền vững trong quy hoạch 3 loại rừng
a) Khái niệm về tính bền vững
“Phát triển phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho người trực tiếp tham gia sản xuất
và cho toàn dân, tài nguyên và môi trường cần phải được giữ gìn cho các thế hệ maisau” [10]
Hoặc “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiệntại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương laitrên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội
và bảo vệ môi trường” [16]
Quan điểm bền vững trong QH3LR thể hiện qua 4 mặt [15, tr 35]:
Trang 37Muốn vậy trong công tác xây dựng QH3LR cần đặc biệt quan tâm tới việcphân chia, phân loại một cách khoa học nhất, phù hợp nhất trên cơ sở căn cứ vào các
điều kiện hiện có Rừng phòng hộ có vai trò như một mái nhà, một lớp đệm cho hoạt
động sống và sản xuất Giá trị sinh thái, đa dạng sinh học sẽ mãi không còn tồn tạinữa nếu ta không chú trọng vào việc bảo tồn đa dạng sinh học, thậm chí ngay cảtrong sản xuất nếu ta không có ý thức bảo vệ đất, bố trí cây trồng phù hợp thì dinhdưỡng của đất cũng sẽ mất đi, đất dần dần sẽ suy thoái
Phát triển bền vững là hoạt động kinh tế đáp ứng các nhu cầu của hiện tại màkhông làm tổn hại đến khả năng của các hế hệ mai sau nhằm đảm bảo các nhu cầuriêng của người dân, lâm nghiệp bền vững là một bộ phận quan trọng trong pháttriển bền vững ở những vùng trung du và miền núi
Từ đó, tính bền vững trong sử dụng tài nguyên có thể hiểu ngắn gọn: Khaithác tài nguyên để nó phục vụ một cách chấp nhận trong hiện tại và nó có thể tái tạolại được
Môi trường Kinh
Trang 38Cuộc sống của người dân vùng trung du và miền núi gắn với các nguồn tàinguyên thiên nhiên như nước, không khí rừng và đặc biệt là đất đai Con người phảicanh tác trên đất đai thông qua các hệ thống nông lâm nghiệp tạo ra sản phẩm phục
vụ nhu cầu sinh sống, nghỉ ngơi của mình
Tuy nhiên, các hệ thống sử dụng đất bền vững chủ yếu dựa trên cơ sở sử dụng
đất phải duy trì được tính đa dạng và khả năng sinh lợi của các nguồn tài nguyên,phải đáp ứng nhu cầu hiện tại và duy trì khả năng cung cấp cho tương lai
Sử dụng đất phải đảm bảo khai thác được tiềm năng của nó, nhưng không làm
nó xấu đi, không làm tổn hại đến các nguồn tài nguyên khác mà phải cải thiện được
nó, không làm thoái hoá môi trường, không gây khó khăn cho những thế hệ mai sau
Đó có thể xem là một hệ thống sử dụng đất bền vững
Các đặc trưng của các hệ thống sử dụng đất bền vững:
- Giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra cho mọi người dân ở trong địa phương,trong thôn/bản, trong phạm vi cả nước và toàn cầu
- Tổng hợp được các kiến thức bản địa, các hiểu biết truyền thống với khoahọc hiện đại và vận dụng linh hoạt, phù hợp cho từng nơi
Trang 39- Coi các hệ thống thiên nhiên làm mẫu, từ đó tác động vào thiên nhiên đểxây dựng các mô hình canh tác bền vững thông qua kinh nghiệm tích luỹ được trongthực tế sản xuất.
- Tạo được các mô hình canh tác lâu bền bằng việc xây dựng phù hợp với
điều kiện sinh thái từng nơi
Nguyên tắc cơ bản của các hệ thống sử dụng đất bền vững:
- Tính đa ngành: Đa dạng hoá các loại hình sản xuất, các chế độ canh tác, cácchủng loại sản phẩm và các dạng hình sinh thái
- Liên ngành: Kết hợp được tính liên thông nhiều ngành như: nông nghiệp,lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, thông tin, tiếp thị…
- Ngăn ngừa các thảm họa môi trường, những rủi ro và nạn ô nhiễm, suythoái
- Sử dụng được các động thực vật hoang dã, các loài cây bản địa, các loài câyquý hiếm đa tác dụng
- Tận dụng được các tài nguyên đất, nước, năng lượng, sinh học làm cho nó
được bảo toàn, tái tạo, tự điều chỉnh và tự tái sinh
Các đặc trưng và tính chất của hệ thống cũng như các nguyên tắc cơ bản của
hệ thống sử dụng đất bền vững cũng cần được quán triệt một cách đầy đủ trongQH3LR, có nghĩa rằng QH3LR phải được thực hiện đứng trên quan điểm hệ thống
3.1.4 Yếu tố kinh tế thị trường trong quy hoạch 3 loại rừng
Hiện nay có nhiều khái niệm về thị trường được diễn đạt theo cách rộng, hẹpkhác nhau, ở đây xin nêu mấy khái niệm chủ yếu như sau:
“ Thị trường là một hình thức biểu hiện sự phân công lao động xã hội và do
đó có thể phát triển vô cùng tận ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hộithì ở đó và khi ấy có thị trường” [26, tr.8]
“ Thị trường là nơi, là địa điểm diễn ra các hoạt động chuyển nhượng, trao
đổi, mua bán hàng hoá và dịch vụ” [26, tr.8]
Trang 40Về kinh tế thị trường, “ Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ởtrình độ cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều
được tiền tệ hoá, các yếu tố sản xuất như vốn, tài sản, sức lao động, chất xám, cácsản phẩm và dịch vụ làm ra đều có giá, mà giá cả hình thành bởi tác động của quyluật cung cầu trên thị trường” [26, tr.9]
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi chủ thể kinh tế trong hoạt động kinh doanhtheo đuổi lợi nhuận của mình Do đó nói đến kinh tế thị trường cần phải bảo đảmnhững điều kiện cơ bản sau:
- Tính tự chủ cao của các chủ thể kinh tế Họ phải độc lập với nhau và có toànquyền quyết định trong mọi hoạt động kinh doanh của mình về sản xuất cái gì? sảnxuất như thế nào? sản xuất cho ai? …
- Người bán và người mua tự do giao dịch
- Mua bán theo giá cả thị trường
- Đảm bảo có đủ thông tin về thị trường
Hiện nay, quá trình sản xuất kinh doanh Nông - Lâm nghiệp nói chung đangvận động theo cơ chế thị trường, mà đặc trưng của nó là sản xuất hàng hoá và dịch
vụ theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường Do đó việc xác định phương hướng, quymô kinh doanh và mục tiêu kinh doanh hợp lý có ý nghĩa quan trọng và là điều kiệntiên quyết trong sản xuất kinh doanh
Việc xác định phương hướng gắn liền với việc xác định quy mô sản xuấthàng hoá và dịch vụ là những vấn đề lớn và có quan hệ chặt chẽ với nhau
Dựa vào sự phân tích khoa học về cung - cầu và các nguồn tài nguyên như tàinguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và CSHT xã hội của mỗi vùng để xác địnhphương hướng và quy mô sản xuất hàng hoá, dịch vụ lâm nghiệp cho các chủ thể lànhiệm vụ của QH3LR Trong đó phải trả lời được 4 vấn đề cơ bản là [26, tr.21]:
- Sản xuất và dịch vụ là cái gì?
- Sản xuất và dịch vụ như thế nào?
- Sản xuất và dịch vụ cho ai?