TỔNG QUAN
Đặc điểm giải phẫu, sinh lý khớp gối
Khớp gối là một khớp phức hợp có bao hoạt dịch rất rộng, dễ bị sưng và phồng to lại ở nông nên dễ bị va chạm và tổn thương
- Giữa xương đùi và xương chày (thuộc loại khớp lồi cầu)
- Giữa xương đùi và xương bánh chè (thuộc loại khớp phẳng)
Đầu dưới xương đùi có hai lồi cầu: lồi cầu trong và lồi cầu ngoài, khớp với hai mặt khớp lõm của đầu trên xương chày Lồi cầu trong hẹp hơn nhưng dài hơn lồi cầu ngoài Phía trước, hai lồi cầu dính với nhau tạo thành diện bánh chè, trong khi phía sau, chúng tách xa nhau bởi hố gian lồi cầu.
Đầu trên xương chày có hai lồi cầu giúp đỡ xương đùi thông qua hai diện khớp, trong đó diện ngoài rộng và nông hơn Giữa hai diện khớp, lồi gian lồi cầu chia khoang gian lồi cầu thành vùng gian lồi cầu trước và sau.
- Sụn chêm: 2 sụn chêm nằm trên 2 mặt khớp của xương chày làm cho mặt khớp sâu hơn và rộng hơn, sụn ngoài hình chữ O, sụn trong hình chữ C
- Xương bánh chè: mặt sau xương bánh chè tiếp khớp với ròng rọc xương đùi, đỉnh xương bánh chè là mốc xác định khe khớp gối [15]
+ Phía xương đùi: bám vào một đường viền trên diện ròng rọc, trên hai lồi cầu và hố gian lồi cầu
+ Phía xương chày: bám dưới hai diện khớp
+ Phía trước: bám vào các bờ của xương bánh chè
+ Phần giữa xương đùi và xương chày bao xơ dính vào sụn chêm chia khớp làm 2 tầng
Bao hoạt dịch là lớp màng bao phủ mặt trong của bao xơ, nằm ở phía sau dây chằng chéo trước và phía trước tạo thành một túi cùng sau cơ tứ đầu đùi.
Hình 1.1: Bao hoạt dịch khớp gối [54]
* Các dây chằng: Có 5 hệ thống dây chằng
+ Dây chằng bên chày đi từ củ bên lồi cầu trong xương đùi xuống dưới và ra trước bám vào đầu trên xương chày
+ Dây chằng bên mác đi từ củ bên lồi cầu ngoài xương đùi xuống dưới và ra sau bám vào chỏm xương mác
+ Mạc giữ bánh chè trong
+ Mạc giữ bánh chè ngoài
+ Ngoài ra còn có gân cơ tứ đầu đùi, cơ may và cơ căng mạc đùi tăng cường
Dây chằng khoeo chéo là một cấu trúc quan trọng, nằm ở vị trí chẽ quặt ngược của gân cơ bán mạc, có hướng đi từ trong ra ngoài và lên trên, bám vào vỏ lồi cầu ngoài của xương đùi.
+ Dây chằng khoeo cung đi từ chỏm xương mác tỏa thành 2 bó bám vào xương chày và xương đùi, tạo thành một vành cung có cơ khoeo đi qua
- Các dây chằng bắt chéo ở hố gian lồi cầu:
+ Dây chằng chéo trước đi từ trong lồi cầu ngoài xương đùi tới diện gian lồi cầu trước xương chày
+ Dây chằng chéo sau đi từ ngoài lồi cầu trong xương đùi tới diện gian lồi cầu sau xương chày
+ Hai dây chằng bắt chéo thành hình chữ X, rất chắc giữ cho khớp gối không bị trật theo chiều trước sau
- Các dây chằng sụn chêm:
+ Dây chằng ngang gối nối 2 sừng trước của sụn chêm với nhau
Dây chằng chêm đùi trước là một phần của dây chằng chéo trước, kết nối từ lồi cầu ngoài xương đùi đến sừng trước của sụn chêm trong.
+ Dây chằng chêm đùi sau là một số sợi của dây chằng bắt chéo sau đi từ lồi cầu trong xương đùi tới bám vào sụn chêm ngoài
Hình 1.2: Khớp gối mặt khớp và các dây chằng chéo, bên [54]
1.1.2 Chức năng của khớp gối [28]
- Chức năng chính của khớp gối là nâng đỡ cơ tể ở tư thế thẳng và đảm nhận sự chuyển động của cẳng chân
- Gấp và duỗi cẳng chân (theo trục ngang: khớp gối gấp tối đa là 135 0 và duỗi là 0 0 )
- Xoay vào trong và xoay ra ngoài rất ít quanh trục thẳng đứng.
Bệnh nguyên và bệnh sinh thoái hóa khớp gối
Thoái hóa khớp là kết quả của sự mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp và hủy hoại sụn cũng như xương dưới sụn, ảnh hưởng đến cột sống và đĩa đệm Nhiều yếu tố như di truyền, phát triển, chuyển hóa và chấn thương có thể khởi đầu cho sự mất cân bằng này Tình trạng thoái hóa khớp tác động đến tất cả các mô của khớp động, dẫn đến những thay đổi về hình thái, sinh hóa, phân tử và cơ sinh học, gây ra các vấn đề như nhuyễn hóa, nứt loét, mất sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn, hình thành gai xương và hốc xương dưới sụn.
Trong thoái hóa khớp, sụn khớp trở nên vàng nhạt, mờ đục, khô, mềm và mất đàn hồi, dẫn đến tình trạng mỏng và nứt rạn, với một số khu vực bộc lộ xương bên dưới Vết loét có thể xuất hiện ở phần diềm xương tiếp giáp giữa sụn và màng hoạt dịch, kèm theo sự hình thành gai xương Về vi thể, các sợi collagen bị đứt gẫy, tế bào sụn thưa thớt, chất cơ bản mất tính đàn hồi, và lượng mucopolysaccharid cũng giảm rõ rệt Phần xương dưới sụn dày lên, một số bị gãy, tạo thành các hốc nhỏ chứa dịch hoạt dịch, trong khi màng hoạt dịch của khớp xơ hóa và xung huyết Những tổn thương này giải thích các dấu hiệu trên x-quang và lâm sàng.
- Tên gọi của bệnh lý: tùy theo từng nước
+ Viêm khớp thoái hóa (Osteoarthritis) [42]
+ Thoái hóa khớp (Athrose, Athrosis) [62]
+ Bệnh viêm thoái hóa khớp (Rheumatism degenerative) [66]
- Trong các tên gọi trên Thoái hóa khớp được nhiều nước quen dùng trong đó có Việt Nam
1.2.2 Phân loại bệnh thoái hóa khớp
Năm 1984, Altman và cộng sự đề nghị xếp loại các bệnh thoái hóa khớp thành 2 loại: Thoái hóa khớp gối nguyên phát và thoái hóa khớp gối thứ phát [42]
* Thoái hóa khớp gối nguyên phát
Lão hóa, đặc biệt ở những người trên 50 tuổi, là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi trong khớp Quá trình này xảy ra do lượng máu cung cấp cho vùng khớp giảm, ảnh hưởng đến sự nuôi dưỡng sụn và làm thay đổi cách phân bố lực tại khớp, từ đó thúc đẩy quá trình thoái hóa.
Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong bệnh thoái hóa khớp, đặc biệt là hàm lượng collagen và khả năng tổng hợp proteoglycan (PG) của sụn Nghiên cứu của Đoàn Văn Đệ đã chỉ ra rằng sự đa dạng gen collagen typ 1-2 trong một gia đình có liên quan đến bệnh thoái hóa khớp giai đoạn sớm, cho thấy mối liên hệ giữa di truyền và cơ chế bệnh sinh của tình trạng này.
* Thoái hóa khớp gối thứ phát
- Sau chấn thương: Gãy trên lồi cầu - liên lồi cầu đùi, can lệch, tổn thương sụn chêm, vi chấn thương liên tiếp, biến dạng trục
- Bệnh lý xương sụn: hoại tử xương, hủy hoại sụn do viêm, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp nhiễm khuẩn, bệnh Paget
- Bệnh khớp vi thể: Gout mạn tính, canxi hóa sụn khớp
- Bệnh nội tiết: Đái tháo đường, cường giáp, cường cận giáp
- Bệnh khớp do chuyển hóa: Alcaptol niệu, bệnh nhiễm sắc tố
1.2.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Tổn thương cơ bản trong thoái hóa khớp xảy ra ở sụn khớp Có 2 giả thuyết được đưa ra:
Thuyết cơ học cho thấy rằng, dưới tác động của các lực cơ học, các vi chấn thương xuất hiện, làm suy yếu cấu trúc collagen và dẫn đến hư hỏng các proteoglycan trong tổ chức sụn khớp.
- Thuyết tế bào: tế bào sụn bị cứng lại do tăng áp lực, giải phóng các enzym tiêu protein, enzym này làm hủy hoại dần các chất cơ bản
* Cơ chế quá trình thoái hóa
Mặc dù thoái hóa khớp là một quá trình tự nhiên, nhưng vẫn diễn ra hiện tượng viêm, gây đau và giảm khả năng vận động ở các khớp bị ảnh hưởng Sự gia tăng số lượng tế bào trong dịch khớp và viêm màng hoạt dịch thường không rõ ràng về mặt tổ chức học Nguyên nhân chính có thể là do phản ứng của màng hoạt dịch đối với các sản phẩm thoái hóa của sụn và các mảnh sụn xương bị bong ra.
* Cơ chế gây đau khớp trong thoái hóa khớp gối
Trong thoái hóa khớp gối, đau là triệu chứng chính khiến bệnh nhân tìm đến bác sĩ Do sụn khớp không có hệ thần kinh, nên cơn đau có thể xuất phát từ nhiều cơ chế khác nhau.
- Do kích thích của các vết nứt nhỏ ở vùng đầu xương dưới sụn
- Mọc gai xương làm kéo căng các đầu mút thần kinh ở đầu xương
- Sự co kéo của dây chằng trong khớp
- Viêm bao khớp hoặc bao khớp bị căng phồng do phù nề quanh khớp
- Các cơ bị co thắt
* Nguyên nhân gây viêm khớp trong thoái hóa khớp
Thoái hóa khớp là một loại bệnh không do viêm, tuy nhiên, hiện tượng viêm vẫn có thể xảy ra trong lâm sàng Nguyên nhân gây viêm có thể là do các mảnh sụn vỡ hoặc hoại tử, trở thành vật lạ trong khớp, dẫn đến phản ứng viêm thứ phát của màng hoạt dịch.
Tổn thương màng hoạt dịch trong thoái hóa khớp thường không nghiêm trọng như tổn thương xảy ra trong các loại viêm khớp khác, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp hay viêm màng hoạt dịch thể lông nốt.
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thoái hóa khớp
Tần suất thoái hóa khớp gia tăng theo độ tuổi, với nhóm tuổi thường gặp từ 45 đến 65 Đáng chú ý, 90% người ở độ tuổi 40 đã bắt đầu xuất hiện những biến đổi ở đầu xương và sụn khớp, mặc dù chưa có biểu hiện lâm sàng rõ ràng.
Cân nặng có mối liên hệ chặt chẽ với bệnh thoái hóa khớp gối, với việc tăng cân tỷ lệ thuận với sự gia tăng triệu chứng bệnh Giảm 5 kg trọng lượng có thể giúp giảm tới 50% tình trạng thoái hóa khớp gối Đặc biệt, nguy cơ thoái hóa khớp gối ở người béo phì cao gấp 7 lần so với những người có cân nặng bình thường.
Chấn thương cơ học mạnh có thể gây rạn nứt bề mặt sụn, dẫn đến bệnh thoái hóa khớp Ngoài ra, những vi chấn thương lặp đi lặp lại do công việc hoặc thể thao cũng là yếu tố nguy cơ đáng kể gây thoái hóa khớp.
- Yếu tố giới: dưới 55 tuổi thoái hóa khớp ở nam bằng nữ, trên 55 tuổi nữ nhiều hơn nam
Mãn kinh là giai đoạn mà tỷ lệ thoái hóa khớp tăng cao, đặc biệt liên quan đến tiền sử cắt bỏ buồng trứng Nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng sự suy giảm hormone sinh dục nữ có tác động tiêu cực đến các tế bào sụn, làm gia tăng nguy cơ thoái hóa khớp ở phụ nữ sau mãn kinh.
Mật độ xương có mối liên hệ chặt chẽ với sức khỏe của khớp; khi khối lượng xương tăng lên, nguy cơ thoái hóa khớp cũng gia tăng Ngược lại, sự giảm khối lượng xương lại đóng vai trò bảo vệ cho sụn khớp, giúp duy trì chức năng vận động tốt hơn.
- Yếu tố di truyền: những yếu tố như hàm lượng collagen và khả năng tổng hợp proteoglycan của sụn mang tính di truyền.
Triệu chứng và chẩn đoán thoái hóa khớp gối
1.3.1 Các triệu chứng lâm sàng giúp chẩn đoán thoái hóa khớp gối
Triệu chứng đau khớp gối có thể xuất hiện ở một bên hoặc cả hai bên, thường cảm nhận ở mặt trước hoặc bên trong gối Cơn đau tăng lên khi di chuyển, đặc biệt là khi đi lại, lên xuống dốc hoặc ngồi xổm Ngoài ra, người bệnh có thể thấy dấu hiệu phá gỉ khớp và thường cảm thấy đau cả hai bên gối khi khởi động.
Hạn chế vận động không đi bộ xa được vì đau, Có tiếng lạo xạo trong khớp khi cử động, trường hợp hạn chế nhiều phải chống gậy
+ Đa số không thay đổi hình thái của khớp, khớp không sưng, nhiệt độ da vùng khớp bình thường hoặc ấm lên không đáng kể
Một số bệnh nhân có thể gặp tình trạng khớp sưng to, với sự phì đại xương và mỡ xung quanh khớp, kèm theo hiện tượng nước tích tụ (dấu hiệu bập bềnh xương bánh chè) Trong một số trường hợp, có thể xuất hiện thoát vị hoạt dịch ở vùng khoeo (kén Baker) Tuy nhiên, không bao giờ xuất hiện dấu hiệu viêm nặng như sưng to, nóng đỏ.
+ Hạn chế tầm vận động nhất là gấp
+ Tìm điểm đau nhất là ở khe khớp, bánh chè - ròng rọc, chày - ròng rọc, gõ mạnh vào xương bánh chè đau
+ Dấu hiệu bào gỗ: di động bánh chè trên ròng rọc như kiểu bào gỗ thấy tiếng lạo xạo
+ Teo cơ: tổn thương kéo dài co teo cơ ở đùi
Đau khớp gối là triệu chứng lâm sàng chính, thường xuất hiện ở một bên và tăng cường khi vận động, trong khi đó sẽ giảm khi nghỉ ngơi.
1.3.2 Các phương pháp thăm dò hình ảnh để chẩn đoán thoái hóa khớp gối
Chụp X-quang khớp gối là phương pháp chẩn đoán thoái hóa khớp gối hiệu quả nhờ vào kỹ thuật đơn giản và chi phí thấp, phù hợp với các cơ sở y tế cơ sở Phương pháp này cho phép đánh giá trực tiếp tình trạng sụn khớp thông qua việc đo chiều cao khe khớp và nhận diện sự thay đổi ở các đầu xương.
Gai xương xuất hiện tại vị trí tiếp giáp giữa xương và sụn, với hình dáng thô và đặc Chúng có thể rơi ra và nằm trong khớp hoặc ở các mô mềm bên trong khớp.
- Hẹp khe khớp không đều và không hoàn toàn
- Đặc xương dưới sụn Phần xương đặc có thể thấy một số hốc nhỏ sáng hơn
Dựa vào xquang Kellgren và Lawrence, phân loại thoái hóa khớp như sau [66]:
- Giai đoạn 1: Gai xương nhỏ hoặc nghi ngờ có gai xương
- Giai đoạn 2: Gai xương rõ
- Giai đoạn 3: Hẹp khe khớp vừa
- Giai đoạn 4: Hẹp khe khớp nhiều kèm đặc xương dưới sụn
* Chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner): phát hiện được những tổn thương nhỏ của sụn khớp và phần xương dưới sụn giai đoạn sớm
Chụp Cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp tiên tiến cho phép quan sát hình ảnh khớp trong không gian ba chiều, giúp phát hiện sớm các tổn thương sụn khớp, dây chằng và màng hoạt dịch.
Nội soi khớp là phương pháp chẩn đoán hiệu quả nhất, cho phép quan sát trực tiếp vị trí và mức độ tổn thương của sụn khớp Nghiên cứu cho thấy nội soi khớp vượt trội hơn so với x-quang và có khả năng kết hợp sinh thiết màng hoạt dịch để xét nghiệm tế bào, giúp phân biệt với các bệnh lý khác Bên cạnh đó, nội soi cũng được áp dụng trong điều trị thoái hóa khớp gối.
Siêu âm khớp gối là phương pháp chẩn đoán hiệu quả cho các bệnh lý liên quan đến khớp gối, giúp phát hiện thoái hóa khớp và các vấn đề khác như bệnh lý gân, mạch máu và thần kinh Do khớp gối có cấu trúc phức tạp, người thực hiện siêu âm cần có kiến thức vững về giải phẫu và kỹ thuật siêu âm để xác định chính xác vị trí tổn thương.
1.3.3 Chẩn đoán thoái hóa khớp gối
Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp gối: Có nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp gối Dưới đây là một vài tiêu chuẩn chính:
1 Hạn chế hoặc đau khi cố gấp hoặc cố duỗi khớp gối
2 Hẹp khe khớp đùi - chày hoặc đùi - bánh chè
3 Gai xương hoặc đặc xương dưới sụn và các hốc xương
Nhằm mục đích sàng lọc: cần yếu tố 1 và 3
Nhằm mục đích chẩn đoán : cần có cả 3 yếu tố 1, 2 và 3
- Tiêu chuẩn theo ACR 1991(American College of Rheumatology) [44]
2 Có gai xương ở rìa xương (xquang)
3 Dịch khớp là dịch thoái hóa
6 Lục khục khi cử động
Chẩn đoán xác định khi có yếu tố 1, 2 hoặc 1, 3, 5, 6 hoặc 1, 4, 5, 6 tiêu chuẩn này đạt độ nhạy 88%
Trong các tiêu chuẩn trên tiêu chuẩn ACR năm 1991 phù hợp nhất ở điều kiện Việt Nam [1].
Các phương pháp điều trị thoái hóa khớp gối
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị nào có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp gối Mục tiêu của việc điều trị là giảm đau cho bệnh nhân và duy trì khả năng vận động của khớp Các phương pháp điều trị sẽ khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, và có thể kết hợp nhiều phương pháp để đạt hiệu quả tốt nhất.
Thuốc kháng viêm có tác dụng giảm viêm, sưng và đau cho bệnh nhân Tuy nhiên, người dùng cần lưu ý đến các tác dụng phụ có thể xảy ra đối với hệ tiêu hóa, do đó việc theo dõi phản ứng của thuốc là rất quan trọng.
Thuốc bổ sung sụn như glucosamine và chondroitin chưa có bằng chứng rõ ràng về việc cải thiện lớp sụn bị bào mòn, nhưng nhiều người bệnh đã báo cáo hiệu quả giảm đau khi sử dụng những loại thuốc này.
Tiêm thuốc corticoid có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm đau, nhưng cần thận trọng do nguy cơ nhiễm trùng khớp gối cao Một khi khớp gối đã bị nhiễm trùng, việc điều trị trở nên rất khó khăn.
Tiêm thuốc acid hyaluronic có tác dụng giảm đau trong vài tháng, nhưng hiệu quả chỉ rõ rệt trong giai đoạn đầu Cần thận trọng do nguy cơ nhiễm trùng khi thực hiện tiêm.
+ Điều trị vật lý trị liệu kết hợp tập vận động khớp: sóng ngắn, điện phân , paraphin, siêu âm, vận động trị liệu
1.4.1 Điều trị thoái hóa khớp gối bằng phương pháp sóng ngắn [8], [26],
Sóng ngắn trị liệu là một phương pháp điều trị trong vật lý trị liệu, sử dụng bức xạ điện từ có bước sóng tính bằng mét, thường được gọi là sóng ngắn, sóng radio hoặc điện trường cao tần Bước sóng trong điều trị thông thường nằm trong khoảng từ 11m (tần số 27,12 MHz) đến 22m (tần số 13,56 MHz), được quy ước để tránh hiện tượng giao thoa và nhiễu với sóng radio, ti vi, và thông tin Hiện nay, hầu hết các máy sóng ngắn trị liệu sử dụng bước sóng 11,2m.
Sóng ngắn được tạo ra khi dòng điện siêu cao tần chạy qua các điện cực kim loại, bao gồm điện cực dạng tụ điện hoặc điện cực cảm ứng Những điện cực này phát ra bức xạ điện từ với tần số tương ứng với tần số của dòng điện trong mạch.
Sóng ngắn có các tác dụng sau:
Khi cơ thể hoặc các vật dẫn điện được đặt trong điện từ trường của dòng điện cao tần, các phân tử lưỡng cực, như phân tử nước, sẽ xoay theo sự đảo chiều của dòng điện với tần số cao Sự chuyển động này tạo ra động năng, chuyển hóa thành nhiệt năng, làm nóng tổ chức cơ thể.
Khác với các phương pháp nhiệt bề mặt chỉ tác động nhiệt ở mức nông, nhiệt do sóng ngắn tạo ra là nhiệt sâu hay nhiệt khối, còn được gọi là nội nhiệt, là năng lượng lý học truyền theo ba chiều trong khối tổ chức, chuyển đổi thành nhiệt Nhiệt khối mang lại cảm giác dễ chịu hơn cho cơ thể so với nhiệt bề mặt Khả năng sinh nhiệt của tổ chức dưới tác động của sóng ngắn phụ thuộc vào hằng số điện môi và dung kháng của tổ chức Tổ chức có nhiều nước và điện giải sẽ có khả năng sinh nhiệt cao hơn, trong khi tổ chức có hàm lượng nước và điện giải thấp sẽ có khả năng sinh nhiệt kém.
Sóng ngắn có tác dụng làm tăng nhiệt độ, từ đó kích thích các phản ứng hóa học và tăng cường quá trình chuyển hóa Theo định luật Vant Hoff, khi nhiệt độ tăng lên 1 độ C, tỷ lệ chuyển hóa có thể tăng lên tới 13%.
Sóng ngắn có khả năng tăng nhiệt độ nội tổ chức, tạo ra hiệu ứng sinh học, từ đó mang lại nhiều tác dụng điều trị hiệu quả.
Nhiệt sóng ngắn có tác dụng giảm đau hiệu quả bằng cách ức chế các sợi dẫn truyền cảm giác đau và tác động lên các hạch giao cảm cổ và thắt lưng, giúp làm dịu căng thẳng của hệ thần kinh thực vật Ngoài ra, việc tăng tuần hoàn cục bộ giúp thải trừ các sản phẩm chuyển hóa và tái hấp thu dịch tiết bị tích tụ, đồng thời làm giãn và giảm trương lực cơ vân, từ đó góp phần giảm đau ở nội tạng.
Sóng ngắn có tác dụng chống viêm hiệu quả bằng cách kích thích sự gia tăng bạch cầu tại vùng tổ chức viêm, đồng thời cải thiện khả năng di chuyển và thực bào của các tế bào miễn dịch.
Liều điều trị nhiệt khối có tác dụng giãn mạch, giúp giảm ứ đọng và tăng cường lưu lượng máu Tuy nhiên, khi sử dụng liều mạnh và kéo dài thời gian, có thể gây co mạch, thậm chí làm tăng nguy cơ tắc mạch.
Sóng ngắn kết hợp với liệu pháp vận động có tác dụng tích cực lên hệ thần kinh vận động, giúp tăng cường nhanh chóng sự dẫn truyền thần kinh Điều này hỗ trợ hiệu quả cho quá trình phục hồi chức năng.
Các phương pháp điều trị bằng sóng ngắn
Phương pháp dùng điện cực tụ:
- Đặt 2 điện cực đối diện:
Tình hình nghiên cứu về điều trị thoái hóa khớp gối trên Thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình nghiên cứu về điều trị thoái hóa khớp gối trên thế giới
Trên toàn cầu, nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, đặc điểm lâm sàng và các phương pháp điều trị thoái hóa khớp gối.
Alman R và cộng sự (1986) đã đề xuất một phương pháp phân loại bệnh thoái hóa khớp thành nguyên phát và thứ phát, dựa trên sự xác định các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ Tác giả đã xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thoái hóa khớp gối và khớp háng dựa vào triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm Những tiêu chuẩn này đã được Hội thấp khớp học của Mỹ thông qua.
Lequesne M., (1994) đề nghị tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thoái hóa khớp háng, khớp gối và phân loai mức độ tổn thương của thoái hóa khớp dựa vào xquang
1.5.2 Tình hình nghiên cứu về điều trị thoái hóa khớp gối ở Việt Nam Ở Việt Nam còn ít nghiên cứu về thoái hóa khớp gối Có hai hướng nghiên cứu chính là nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nghiên cứu về phương pháp điều trị bệnh
Nghiên cứu của Nguyễn Mai Hồng (2001) đã chỉ ra giá trị của nội soi trong việc chẩn đoán và điều trị thoái hóa khớp gối, xác định rõ vị trí và mức độ tổn thương của sụn khớp cũng như màng hoạt dịch.
Nghiên cứu của Phạm Cẩm Hưng (2004) cho thấy việc kết hợp nhiệt trị liệu và vận động trị liệu trong điều trị thoái hóa khớp gối mang lại hiệu quả cao, với hơn 80% bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt về giảm đau và chức năng khớp gối.
Nguyễn Thị Ái (2006) đã tiến hành nghiên cứu về các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong chẩn đoán bệnh thoái hóa khớp gối Nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ACR 1991, phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.
Trần Thị Ái Nhung (2012) đã nghiên cứu hiệu quả của liệu pháp tiêm Sodium hyaluronic (Hyalgan) nội khớp kết hợp với các phương pháp vật lý trị liệu trong điều trị thoái hóa khớp gối Kết quả cho thấy phương pháp này mang lại hiệu quả khả quan, ít tác dụng phụ, đồng thời cải thiện chức năng vận động, giảm đau và tăng biên độ vận động khớp gối.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong bài viết này là bệnh nhân bị chẩn đoán thoái hóa khớp gối nguyên phát, đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
Chúng tôi chọn những khớp gối của bệnh nhân được chẩn đoán xác định thoái hoá khớp gối nguyên phát theo tiêu chuẩn ACR - 1991:
2 Gai xương ở rìa khớp (xquang)
3 Dịch khớp là dịch thoái hóa
6 Lạo xạo khi cử động
Chẩn đoán xác định khi có yếu tố 1, 2 hoặc 1, 4, 5, 6
- Chọn những khớp gối thoái hóa giai đoạn 1, 2, 3 trên xquang Kellgren và Lawrence phân loại thoái hóa khớp như sau [66]:
+ Giai đoạn 1: Gai xương nhỏ hoặc nghi ngờ có gai xương
+ Giai đoạn 2: Gai xương rõ
+ Giai đoạn 3: Hẹp khe khớp vừa
- Bệnh nhân tự nguyện tham gia đầy đủ quá trình nghiên cứu
- Bệnh nhân có bệnh án nghiên cứu và được chụp xquang khớp gối thẳng, nghiêng
- Các xét nghiệm cơ bản: Công thức máu, điện tim, nước tiểu 10 thông số bình thường
Chúng tôi loại trừ những khớp gối của bệnh nhân:
- Thoái hóa khớp gối thứ phát
- Những khớp gối thoái hóa giai đoạn 4
- Viêm khớp dạng thấp và các bệnh khớp khác
- Có mang máy tạo nhịp
- Các chống chỉ định khác của sóng ngắn: Có vật kim loại trong cơ thể (đóng đinh nội tủy, nẹp vít, mảnh kim khí)
- Những bệnh nhân không tự nguyện tham gia.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8 / 2014 đến tháng 6 / 2015
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên.
Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng 2 phương pháp như sau:
- Phương pháp nghiên cứu mô tả
- Phương pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng có so sánh đối chứng
2.3.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
- Cỡ mẫu toàn bộ, chọn chủ đích 60 bệnh nhân với tổng số khớp thỏa mãn điều kiện của tiêu chuẩn nghiên cứu
- Kỹ thuật chọn mẫu: Thuận tiện theo thời gian
Chúng tôi thực hiện việc chia nhóm ngẫu nhiên thành hai nhóm theo phương pháp đánh số chẵn, lẻ, trong đó các số chẵn được ghép vào nhóm 1 (nhóm nghiên cứu) và số lẻ vào nhóm 2 (nhóm chứng), với tổng số bệnh nhân ở cả hai nhóm đều bằng 30 Các bệnh nhân trong hai nhóm được đảm bảo tương đồng về số khớp, độ tuổi, giới tính và giai đoạn thoái hóa.
+ Nhóm nghiên cứu (30 bệnh nhân) được điều trị nội khoa, đắp parafin và sóng ngắn;
+ Nhóm chứng (30 bệnh nhân) được điều trị nội khoa, đắp parafin.
Các chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu nghiên cứu được áp dụng cho tất cả bệnh nhân, bao gồm việc đánh giá trước điều trị, sau 10 ngày điều trị và sau khi kết thúc điều trị.
- Thời gian mắc bệnh thoái hóa khớp gối
- Tiền sử mắc bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp
- Các đặc điểm chung: đo chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể (BMI)
- Số khớp gối bị tổn thương
- Đánh giá khớp gối 60 bệnh nhân của 2 nhóm nghiên cứu trước điều trị và sau 10 ngày, 20 ngày điều trị:
+ Về mức độ cải thiện đau
+ Đánh giá sự tiến bộ về tầm vận động khớp
+ Về ảnh hưởng của đau với chức năng sinh hoạt
+ Đánh giá kết quả điều trị của nhóm NC và nhóm chứng
+ Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị của 2 nhóm
- Kết quả chụp xquang quy ước 2 khớp gối tư thế thẳng, nghiêng
- Kết quả siêu âm khớp gối
- Kết quả xét nghiệm: Công thức máu, điện tim, nước tiểu 10 thông số.
Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đã được tiến hành khám lâm sàng kỹ lưỡng, bao gồm việc thu thập tiền sử bệnh và các yếu tố liên quan Đồng thời, việc chỉ định và chống chỉ định điều trị được thực hiện theo mẫu bệnh án nghiên cứu đã được chuẩn bị trước.
- Trực tiếp thăm khám, đo tầm vận động khớp cho tất cả bệnh nhân trước điều trị, sau điều trị 10 ngày và sau điều trị 20 ngày
- Quan sát, đánh giá và tham khảo tất cả kết quả chụp xquang, kết quả siêu âm khớp gối
Các kết quả được ghi vào bệnh án nghiên cứu thống nhất
* Đo chiều cao, cân nặng, tính chỉ số BMI
Cân bàn TZ 120 Heath Scale Trung Quốc được trang bị thước đo chiều cao, lý tưởng cho việc cân đo Để đạt được kết quả chính xác, bệnh nhân nên thực hiện vào buổi sáng, nhịn ăn sáng, mặc quần áo mỏng và cởi bỏ giày dép, với độ chính xác lên đến 0,1kg.
Để đo chiều cao, bệnh nhân cần đứng thẳng theo tư thế nghiêm, với bốn điểm tiếp xúc là chẩm, lưng, mông và gót chân sát thước đo Hạ thước đo xuống cho đến khi chạm vào đỉnh đầu, sau đó dừng lại và đọc kết quả Chiều cao được tính bằng mét (m) và độ chính xác đo được là 0,5 cm.
Đo cân nặng là một phần quan trọng trong quá trình kiểm tra sức khỏe, trong đó bệnh nhân sẽ được đo cân nặng và chiều cao trên bàn cân SMIC Kết quả được ghi nhận bằng đơn vị kg và có độ chính xác đến 0,1 kg.
- Tính chỉ số khối cơ thể (BMI) theo công thức: h 2
Trong đó: P: cân nặng (kg); h: chiều cao (m)
Bảng 2.1 Đánh giá chỉ số BMI cho người châu Á trưởng thành
* Đ ánh giá mứ c đ ộ đ au trư ớ c đ iề u trị , sau 10 ngày và sau 20 ngày đ iề u trị :
- Đánh giá dựa vào thang nhìn VAS
Bệnh nhân sẽ sử dụng thang đo đau để xác định mức độ đau của mình, với quy ước rằng mức 0 biểu thị không đau và mức 10 là đau dữ dội không thể chịu đựng Các điểm trên thang đo từ 0 đến 10 giúp bệnh nhân dễ dàng lựa chọn khoảng phù hợp nhất với cảm giác đau của họ.
Không đau Đau nhẹ Đau vừa Đau nhiều Đau dữ dội
Bảng 2.2 Phân loại mức độ đau và cách cho điểm dựa vào thang nhìn VAS
Phân loại Mức độ đau Thang điểm
* Đánh giá sự tiến bộ về tầm vận động khớp trước điều trị, sau 10 ngày và sau 20 ngày điều trị:
Đo tầm vận động khớp gối bằng thước đo tầm vận động rất quan trọng, vì khớp gối có hai tư thế cử động chính là gập và duỗi Để đo tầm vận động khớp gối gấp, bệnh nhân cần nằm sấp với chân duỗi thẳng, và xác định ba điểm cố định để đảm bảo kết quả chính xác.
+ Điểm tựa: mỏm trên lồi cầu ngoài xương đùi
+ Nhánh cố định: mấu chuyển lớn xương đùi
+ Nhánh di động: mắt cá ngoài
Số đo bình thường từ 0- 135°
Hình 2.1 Hình ảnh đo tầm vận động khớp gối
Bảng 2.3 Đánh giá sự tiến bộ về tầm vận động khớp
Mức độ Tầm vận động khớp gối gấp Điểm
* Đánh giá sự phục hồi chức năng vận động trước điều trị, sau 10 ngày và sau 20 ngày điều trị:
Bảng 2.4 Đánh giá chức năng theo chỉ số Womac của chi dưới (Tổng điểm tối đa là 50 điểm)
Khả năng thực hiện Mức độ Điểm
5 Cúi người về phía trước
9 Ngồi hoặc đứng dậy từ toilet
10 Duy trì công việc nhà
Rất khó thực hiên 2 Không thực hiện được 1
Bảng 2.5 Đánh giá sự cải thiện chức năng sinh hoạt theo thang điểm Womac
Kết quả điều trị Điểm
- Chụp xquang quy ước 2 khớp gối tư thế thẳng, nghiêng, ở tất cả các bệnh nhân nghiên cứu
- Làm các xét nghiệm: Công thức máu, điện tim, nước tiểu toàn phần
Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
2.6.1 Kỹ thuật và liệu trình sóng ngắn
* Chuẩn bị máy: Máy sóng ngắn shortwave 100
- Kiểm tra nguồn điện áp phù hợp với nguồn điện sử dụng áp của máy
- Kết nối 2 điện cực tụ 120 mm
- Kết nối cáp giữa điện cực với cổng đầu ra trên thân máy
- Kết nối nguồn của máy với dây nối đất
- Trước khi tiến hành điều trị, giải thích rõ cảm giác nóng ấm khi điều trị
- Bộc lộ vùng đầu gối, tránh quần áo ẩm làm trở ngại năng lượng vào cơ thể
- Lau khô da nếu có mồ hôi, để năng lượng sẽ được truyền vào sâu bên trong cơ thể nhiều hơn, giảm được công suất phát liều
- Tháo bỏ đồ vật kim loại
- Người bệnh ngồi ghế gỗ ở tư thế thoải mái
Dặn bệnh nhân nếu có cảm giác ấm nóng cần báo ngay để kiểm tra và giải quyết kịp thời
- Đọc phiếu chỉ định điều trị
- Chọn điện cực tụ điện 120mm
- Đặt hai điện cực đối diện nhau
- Khoảng cách từ điện cực đến da vùng gối 2- 4 cm
- Bật máy để máy hoạt động
- Điều chỉnh liều điều trị: Tùy từng bệnh nhân và tình trạng đau của khớp gối, chúng tôi sử dụng liều 40W
- Thời gian điều trị:15 phút
- Thử nguồn phát sóng bằng đèn hiển thị (đèn phát sáng)
- Hỏi cảm giác nóng ấm của bệnh nhân
- Hết giờ điều trị máy tự tắt, bỏ điện cực ra
- Ghi kết quả vào phiếu điều trị
* Thời gian điều trị: 15 phút / ngày x 20 ngày
Hình 2.2 Hình ảnh bệnh nhân điều trị bằng phương pháp sóng ngắn
2.6.2 Kỹ thuật điều trị đắp Parafin [8], [11]
- Làm nóng chảy parafin bằng lò điện nhiệt độ 77 0 C
Đổ parafin nóng chảy vào khay men có kích thước 20 x 30cm và độ dày 3cm, sau đó để nguội tự nhiên cho đến khi parafin đông mềm đều và không còn lỏng, đạt nhiệt độ khoảng 50-55°C Cuối cùng, ủ parafin trong chăn hoặc tủ nhiệt để tiến hành điều trị.
- Tách miếng parafin đó ra, đắp trực tiếp lên da vùng đầu gối, lót một lớp nylon rồi phủ chăn ra ngoài để giữ nhiệt
- Thời gian điều trị mỗi ngày một lần 20 phút x 20 ngày
2.6.3 Dùng thuốc theo bậc thang của Tổ chức Y tế Thế giới
Meloxicam 7,5mg / ngày, uống 8h sau ăn, trong 5 ngày
Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu bệnh án nghiên cứu
- Sử dụng cân TZ 120 Heath Scale do Trung Quốc sản xuất có kèm theo thước đo chiều cao, cân chính xác đến 0,1kg, chiều cao chính xác đến 1cm
Thang nhìn VAS là một công cụ đánh giá mức độ đau, với chiều dài 10cm được đánh số từ 0 (không đau) đến 10 (đau dữ dội) Bệnh nhân sẽ tự đánh giá cơn đau của mình bằng cách chỉ ra điểm số tương ứng trên thang này Các điểm số từ 0 đến 10 giúp xác định mức độ đau một cách rõ ràng và chính xác.
Không đau Đau nhẹ Đau vừa Đau nhiều Đau dữ dội
- Thước đo tầm vận động khớp
Gốc thước là một mặt phẳng hình tròn, chia độ từ 0 - 360 0 , một cành di động và một cành cố định, dài 30 cm
Hình 2.3 Thước đo tầm vận động khớp
Màn hình LCD của máy sóng ngắn
Hình 2.4 Màn hình LCD của máy sóng ngắn shortwave 100
Máy sóng ngắn shortwave 100 do hãng DJO của USA sản xuất năm 2013
2 Khóa cánh tay với điện cực
9 Các kết nối điện cực
11 Bánh xe không có khóa
12 Hộp kết nối IEC cho dây nguồn
Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm y học SPSS 19.0
Sử dụng thuật toán thống kê để xử lý và phân tích số liệu
- Tính tỉ lê %, giá trị trung bình
- So sánh các tỉ lệ (Text X 2 )
- p> 0,05: khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 95%
- p< 0,05%: khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 95%.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Ban giám đốc bệnh viện
Bệnh nhân và người nhà được thông tin rõ ràng về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, đồng thời đồng ý và tự nguyện tham gia Trong suốt quá trình nghiên cứu, bệnh nhân có quyền rút lui nếu không còn muốn tham gia.
- Các thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp được đảm bảo giữ bí mật
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho bệnh nhân, đồng thời đảm bảo không ảnh hưởng đến quyền lợi khác của người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh.
(đặc điểm lâm sàng, giai đoạn xquang)
(57 khớp) Thuốc + Parafin Đánh giá mức cải thiện đau
Đánh giá sự tiến bộ về tầm vận động khớp và mức cải thiện chức năng sinh hoạt thông qua chỉ số VAS và Womac là rất quan trọng Các chỉ số này giúp xác định những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) được trình bày dưới các đặc điểm về tuổi, giới, nghề nghiệp, chỉ số BMI cơ thể
Bảng 3.1 Phân bố ĐTNC theo giới ở 2 nhóm
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân nữ và nam tương đương nhau với tỷ lệ nữ/nam là 1,07/1 Cụ thể, trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 53,3% và nam 46,7%, trong khi nhóm chứng có tỷ lệ nam nữ bằng nhau, đều là 50% Sự khác biệt giữa hai nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.2 Phân bố ĐTNC theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi Nhóm NC (n0) Nhóm chứng (n0) n % n % p
- Bảng 3.2 cho thấy: phần lớn ĐTNC tuổi ≥ 70 ở cả 2 nhóm, nhóm NC (43,4%) và nhóm chứng (53,4%)
- Độ tuổi trung bình ở nhóm NC là 68,6 tuổi, nhóm chứng là 68,1 tuổi
Sự khác biệt về tuổi giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Nhóm chứng Nhóm nghiên cứu
Gầy Bình thường Thừa cân
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tại bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên với 60 bệnh nhân cho thấy phần lớn đối tượng nghiên cứu có chỉ số BMI trong giới hạn bình thường, cụ thể nhóm nghiên cứu chiếm 43,3% và nhóm chứng chiếm 56,7%.
- Bệnh nhân thừa cân ở nhóm NC là 33,4%, cao hơn so với nhóm chứng (13,3%)
Bảng 3.3 Bệnh kèm theo của 2 nhóm đối tượng nghiên cứu
Nhóm BN Bệnh lý kèm theo
Tăng huyết áp 12 38,7 13 43,3 Đái tháo đường 0 0 1 3,3
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 22 người không mắc bệnh kèm theo
(38,7 % ở nhóm NC và 43,3 % ở nhóm chứng) Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.4 Đặc điểm về thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.4 cho thấy rằng đa số bệnh nhân ĐTNC có thời gian mắc bệnh dưới 10 năm, với tỷ lệ 76,7% ở nhóm nghiên cứu và 73,4% ở nhóm chứng Tuy nhiên, sự khác biệt về thời gian mắc bệnh giữa hai nhóm này không đạt ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
Bảng 3.5 Số khớp bị tổn thương của 2 nhóm đối tượng nghiên cứu
Số bệnh nhân Số khớp % Số bệnh nhân Số khớp %
Bảng 3.5 chỉ ra rằng đa số bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu (ĐTNC) bị tổn thương cả hai khớp, với tỷ lệ 93,3%, trong khi nhóm chứng có tỷ lệ 90,0% Tuy nhiên, sự khác biệt về số lượng khớp bị tổn thương giữa hai nhóm không đạt ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
Bảng 3.6 Mức độ đau theo thang điểm VAS và tầm vận động ở lần khám đầu tiên (T0)
Khớp gối % Khớp gối % VAS
>0,05 Đau nhẹ (1-3 điểm) 4 6,9 3 5,3 Đau vừa (4-6 điểm) 10 17,2 4 7,0 Đau nặng (7-10 điểm) 44 75,9 50 87,7
- Trong lần khám đầu tiên (T0), phần lớn bệnh nhân bị đau nặng chiếm tỉ lệ 75,9% ở nhóm NC và 87,7 % ở nhóm chứng, đau nhẹ chiếm tỷ lệ
< 7%, không có bệnh nhân nào không đau Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê với p >0,05
Tầm vận động khớp gối ở thời điểm (T0) chủ yếu nằm ở mức độ trung bình và kém, với tỷ lệ 89,7% ở nhóm nghiên cứu (NC) và 80,7% ở nhóm chứng Chỉ có 10,3% ở nhóm NC và 19,3% ở nhóm chứng đạt mức độ vận động khá và tốt.
Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.7 Chức năng sinh hoạt ở lần khám đầu tiên (T0) của 2 nhóm theo thang điểm Womac
(20 - 29 điểm) 44 75,9 38 66,7 Ảnh hưởng rất nhiều
- Trước điều trị (T0), ĐTNC có chức năng sinh hoạt bị ảnh hưởng nhiều chiếm tỉ lệ cao nhất (75,9% ở nhóm NC và 66,7% ở nhóm chứng)
- Ảnh hưởng rất nhiều là 10,3% ở nhóm NC và 15,8% ở nhóm chứng
- Không ảnh hưởng tới chức năng sinh hoạt chiếm tỉ lệ thấp: 5,2% ở nhóm NC và 3,5% ở nhóm chứng
Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.8 Phân loại tổn thương khớp gối trên xquang theo Kellgren và
Lawrence ở lần khám đầu tiên (T0)
- Tổn thương khớp gối trên xquang ở (T0) cho thấy phần lớn bệnh nhân tổn thương khớp giai đoạn II, III trong đó, giai đoạn III chiếm tỉ lệ cao nhất
(53,4% ở nhóm NC và 56,1% ở nhóm chứng) Không có bệnh nhân tổn thương giai đoạn IV trong nghiên cứu này
Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Đánh giá kết quả điều trị
3.2.1 Đánh giá kết quả sau 10 ngày (T10) và sau 20 ngày điều trị (T20) Bảng 3.9 Đánh giá kết quả giảm đau khớp gối theo thang điểm VAS của 2 nhóm
- Điểm VAS trung bình lần khám đầu (T0) ở 2 nhóm là tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 10 ngày điều trị (T10) điểm VAS trung bình của 2 nhóm đều giảm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
- Sau 20 ngày điều trị (T20) điểm VAS trung bình của 2 nhóm giảm nhiều, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 (hơn thời điểm T10)
Mức chênh điểm VAS trung bình giữa T10 và T0 ở nhóm nghiên cứu (2,53 ± 1,4) cao hơn so với nhóm chứng (2,03 ± 0,8) Tương tự, mức chênh điểm VAS giữa T20 và T0 ở nhóm nghiên cứu (6,12 ± 2,3) cũng vượt trội so với nhóm chứng (4,70 ± 1,8) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
Nhóm chứng Nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3.2 So sánh giá trị trung bình thang điểm VAS của 2 nhóm
- Điểm VAS trung bình lần khám đầu (T0) ở 2 nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
- Sau 10 ngày điều trị (T10) điểm VAS trung bình của nhóm NC giảm tốt hơn nhóm chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
- Sau 20 ngày điều trị (T20) điểm VAS trung bình của 2 nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 (hơn thời điểm T10)
- Mức chênh điểm VAS trung bình T10 - T0 và T20 - T0 ở 2 nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01
Bảng 3.10 Đánh giá mức độ giảm đau của 2 nhóm trước và sau 20 ngày điều trị theo thang điểm VAS
Sau 20 ngày điều trị (T20) Nhóm p
Trước khi điều trị (T0), tỷ lệ bệnh nhân trải qua đau nặng là rất cao, với 75,9% ở nhóm nghiên cứu và 87,7% ở nhóm chứng, trong khi không có bệnh nhân nào không đau Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p > 0,05.
Sau 20 ngày điều trị, nhóm NC cho thấy mức giảm đau rõ rệt hơn so với nhóm chứng, với tỷ lệ không còn đau ở nhóm NC đạt 51,7%, trong khi nhóm chứng chỉ có 14,0% Không có bệnh nhân nào còn đau mức nặng ở cả hai nhóm, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
Bảng 3.11 Đánh giá kết quả điều trị về tầm vận động khớp gối ở 2 nhóm
Nhóm chứng (n = 57 khớp) p T0 ( X ± SD) 65,36 ± 22,7 72,07 ± 2,4 >0,05 T10 ( X ± SD) 81,07 ± 27,1 84,12 ± 25,3 >0,05 T20 ( X ± SD) 104,98 ± 19,2 96,35 ± 23,1 0,05
- Sau 10 ngày điều trị (T10): TVĐ trung bình của 2 nhóm đều tăng lên Mức chênh T10 - T0 ở nhóm NC (15,70 ± 14,1) cao hơn nhóm chứng (14,77 ± 12,1), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Sau 20 ngày điều trị, nhóm nghiên cứu (NC) có chỉ số TVĐ trung bình đạt 104,98 ± 19,2, cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng với chỉ số 96,35 ± 23,1 Mức chênh lệch TVĐ trung bình giữa thời điểm T20 và T0 ở nhóm NC là 39,62 ± 21,2, vượt trội so với nhóm chứng với 24,28 ± 19,6 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
Bảng 3.12 Đánh giá mức độ tầm vận động khớp gối của 2 nhóm trước điều trị (T0) và sau 20 ngày điều trị (T20)
Sau 20 ngày điều trị (T20) Nhóm p
Trước khi điều trị (T0), phần lớn bệnh nhân ĐTNC có tình trạng TVĐ kém, với tỷ lệ 50,0% ở nhóm nghiên cứu và 42,1% ở nhóm chứng Ngược lại, tỷ lệ TVĐ tốt rất thấp, chỉ đạt 3,4% ở nhóm nghiên cứu và 5,3% ở nhóm chứng Sự khác biệt giữa hai nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Sau 20 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng vận động tốt ở nhóm nghiên cứu tăng 24,1%, cao hơn so với 17,5% ở nhóm chứng Đồng thời, tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng vận động kém giảm xuống 0% ở nhóm nghiên cứu, trong khi nhóm chứng còn 14% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.13 Đánh giá kết quả điều trị qua chức năng sinh hoạt (theo thang điểm Womac) ở 2 nhóm
Thời gian đánh giá Nhóm NC
Nhóm chứng (nW khớp) p T0 ( X ± SD) 25,10 ± 5,9 24,74 ± 5,9 >0,05 T10 ( X ± SD) 31,72 ± 7,8 30,11 ± 7,9 >0,05 T20 ( X ± SD) 36,69 ± 5,7 30,21 ± 7,8 0,05
Sau 10 ngày điều trị, điểm Womac trung bình của cả hai nhóm đều tăng Mức chênh lệch giữa T10 và T0 ở nhóm NC đạt 6,63 ± 5,8, cao hơn so với nhóm chứng là 5,38 ± 4,5, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
- Sau 20 ngày điều trị (T20): Điểm Womac trung bình của nhóm
NC (36,69 ± 5,7) tăng nhiều hơn hẳn so với nhóm chứng (30,21 ± 7,8) Mức chênh T20 - T0 ở nhóm NC (11,60 ± 7,4) cao hơn hẳn nhóm chứng (5,49 ± 4,6), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Bảng 3.14 Đánh giá sự cải thiện chức năng sinh hoạt của 2 nhóm trước điều trị (T0) và sau 20 ngày điều trị (T20) theo thang điểm Womac
Sau 20 ngày điều trị (T20) p Nhóm
Trước khi điều trị (T0), phần lớn bệnh nhân ĐTNC gặp khó khăn trong sinh hoạt, với tỉ lệ ảnh hưởng cao là 75,9% ở nhóm nghiên cứu và 66,7% ở nhóm chứng Tỉ lệ bệnh nhân có chức năng sinh hoạt bị ảnh hưởng ở mức trung bình là 8,6% trong nhóm nghiên cứu và 14,0% ở nhóm chứng Sự khác biệt giữa hai nhóm không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Sau 20 ngày điều trị, tỉ lệ bệnh nhân có chức năng sinh hoạt bị ảnh hưởng ở nhóm NC giảm xuống còn 10,3%, trong khi ở nhóm chứng giảm ít hơn, chỉ còn 42,1% Đồng thời, tỉ lệ bệnh nhân có chức năng sinh hoạt bị ảnh hưởng ở mức trung bình tại nhóm NC tăng lên 74,1%, cao hơn đáng kể so với nhóm chứng là 40,4% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sau 20 ngày điều trị ở nhóm nghiên cứu
Bảng 3.15 Liên quan tuổi với kết quả điều trị theo thang điểm VAS
- Trước điều trị (T0): Điểm VAS trung bình của 3 nhóm tuổi tương đương nhau Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 10 ngày điều trị (T10): Điểm VAS trung bình của 3 nhóm tuổi đều giảm nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 20 ngày điều trị (T20): Điểm VAS trung bình của 3 nhóm tuổi giảm nhiều hơn nhưng sự khác biệt vẫn không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.16 Liên quan tuổi với kết quả điều trị theo thang điểm Womac
- Trước điều trị (T0): Điểm Womac trung bình của 3 nhóm tuổi tương đương nhau Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 10 ngày điều trị (T10): Điểm Womac trung bình của 3 nhóm tuổi đều tăng lên nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Sau 20 ngày điều trị, điểm Womac trung bình của ba nhóm tuổi đều tăng, với nhóm tuổi dưới 60 đạt mức cao nhất là 39,44 ± 6,9, trong khi nhóm tuổi từ 70 trở lên có điểm thấp nhất là 34,6 ± 6,1 Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm tuổi không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.17 Liên quan giới với kết quả điều trị theo thang điểm VAS
- Trước điều trị (T0): Điểm VAS trung bình của nam (7,88 ± 1,7), cao hơn điểm VAS trung bình của nữ (6,93 ± 2,1), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 10 ngày điều trị (T10): Điểm VAS trung bình của 2 giới giảm xuống tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 20 ngày điều trị (T20): Điểm VAS trung bình của nam và nữ giảm nhiều còn (1,31 ± 0,3) ở nam và (1,18 ± 0,3) ở nữ Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.18 Liên quan giới với kết quả điều trị theo thang điểm Womac
- Trước điều trị (T0): Điểm Womac trung bình của nam (27,07 ± 7,2) cao hơn điểm Womac trung bình của nữ (23,46 ± 4,1) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 10 ngày điều trị (T10): Điểm Womac trung bình của 2 giới tăng lên gần tương đương nhau (32,76 ± 6,4 ở nam và 30,83 ± 8,8 ở nữ) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Sau 20 ngày điều trị (T20): Điểm Womac trung bình của 2 giới tăng lên nhiều (37,91 ± 4,6 ở nam và 35,56 ± 6,5 ở nữ) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.19 Liên quan của thời gian mắc bệnh với kết quả điều trị theo thang điểm VAS
Trước khi điều trị (T0), điểm VAS trung bình giữa ba nhóm thời gian mắc bệnh không có sự chênh lệch lớn, trong đó nhóm mắc bệnh từ 5-10 năm có điểm thấp nhất là 6,54 ± 2,2, trong khi nhóm mắc bệnh trên 10 năm có điểm cao nhất là 8,25 ± 7,2 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Sau 10 ngày điều trị (T10): Điểm VAS trung bình của 3 nhóm thời gian mắc bệnh đều giảm gần tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Sau 20 ngày điều trị, điểm VAS trung bình của ba nhóm thời gian mắc bệnh đã giảm đáng kể, trong đó nhóm mắc bệnh từ 5-10 năm có điểm số thấp nhất là 0,55 ± 0,1, trong khi nhóm mắc bệnh trên 10 năm có điểm số cao nhất là 2,03 ± 0,6 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.20 Liên quan của thời gian mắc bệnh với kết quả điều trị theo thang điểm Womac
- Trước điều trị (T0): Điểm Womac trung bình của nhóm thời gian mắc bệnh 5-10 năm thấp nhất (24,11 ± 4,3), nhóm < 5 năm (25,92 ± 6,8) và nhóm
> 10 năm (25,66 ± 6,9) cao tương đương nhau Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Sau 10 ngày điều trị (T10), điểm Womac trung bình của ba nhóm có thời gian mắc bệnh đều tăng lên tương đương nhau, và sự khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Sau 20 ngày điều trị, điểm Womac trung bình của ba nhóm bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh đều tăng, với nhóm mắc bệnh trên 10 năm đạt điểm cao nhất là 37,53 ± 4,5 Nhóm dưới 5 năm có điểm số là 36,21 ± 5,9, tương đương với nhóm từ 5-10 năm có điểm 36,45 ± 6,4 Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.21 Liên quan các giai đoạn tổn thương khớp gối trên xquang đến kết quả điều trị theo thang điểm VAS
Trước khi điều trị (T0), điểm VAS trung bình của nhóm xquang giai đoạn I là thấp nhất, đạt 6,52 ± 0,7, trong khi giai đoạn II và III có điểm số gần tương đương Sự khác biệt giữa các giai đoạn không có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Sau 10 ngày điều trị (T10), điểm VAS trung bình của ba nhóm giai đoạn xquang đều giảm Giai đoạn I và II có mức giảm tương đương, trong khi giai đoạn III ghi nhận điểm VAS cao nhất là 5,13 ± 1,1 Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các giai đoạn không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Sau 20 ngày điều trị (T20), điểm VAS trung bình của nhóm 3 giảm đáng kể, với mức thấp nhất ghi nhận ở giai đoạn I (0,54 ± 0,5) và cao nhất ở giai đoạn III (1,83 ± 0,3) Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.22 Liên quan các giai đoạn tổn thương khớp gối trên xquang đến kết quả điều trị theo thang điểm Womac
- Trước điều trị (T0): Điểm Womac trung bình của nhóm xquang giai đoạn I cao nhất (27,05 ± 6,0), giai đoạn III thấp nhất (19,54 ± 2,1) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Sau 10 ngày điều trị (T10), điểm Womac trung bình của ba nhóm đều có xu hướng tăng, với giai đoạn I và II tăng cao gần tương đương nhau, trong khi giai đoạn III chỉ tăng nhẹ (20,00 ± 4,2) Sự khác biệt giữa các nhóm không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Sau 20 ngày điều trị, điểm Womac trung bình của ba nhóm tăng đáng kể Cụ thể, giai đoạn I đạt 37,59 ± 4,3 và giai đoạn II là 37,61 ± 5,6, trong khi giai đoạn III chỉ tăng lên 29,2 ± 4,2 Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.23 Phân tích mô hình hồi qui đa biến về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị theo thang điểm Womac ở nhóm nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng β t p KTC 95%
BMI - 0,04 - 0,18 > 005 - 0,04 - 0,04 Thời gian mắc bệnh - 0,006 - 0,29 > 005 - 0,04 - 0,03
Có bệnh Tăng huyết áp - 0,06 - 0,4 > 005 - 0,3 - 0,2 kèm theo Đái tháo đường 1,21 2,0 > 005 0,29 - 2,4
Nghiên cứu cho thấy các yếu tố như tuổi, giới, BMI, thời gian mắc bệnh và bệnh kèm theo không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả điều trị theo thang điểm Womac, với hệ số tương quan R = 0,34, R² = 0,129, R² hiệu chỉnh = -0,003 và mức ý nghĩa p > 0,05.