Tuy nhiên, có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng trên Trài đất ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng, trong đó rừng nhiệt đới bị suy giảm với tốc độ lớn nhất, đó là do áp
Trang 1ĐỖ NGỌC SƠN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN
LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI HUYỆN THANH SƠN,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp mang tên
“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên rừng tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác dưới mọi hình thức
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bảo vệ Luận văn về lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Đỗ Ngọc Sơn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Lâm nghiệp, bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các phòng, khoa thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp và các thầy cô giáo đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên
cứu khoa học này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đồng Thanh
Hải, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện
đề tài
Tuy nhiên, điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, chuyên đề nghiên cứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để
bài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Đỗ Ngọc Sơn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CAC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái niệm tài nguyên rừng và quản lý tài nguyên rừng 4
1.2 Quản lý bảo vệ rừng trên thế giới 5
1.3 Quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam 9
1.3.1 Hiện trạng công tác quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam 9
1.4 Các văn bản của Nhà nước 14
1.5 Công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 21
1.5.1.Công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 21
1.5.2.Diện tích rừng tỉnh Phú Thọ 23
1.5.3.Những thay đổi về mặt chính sách tác động đến công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ qua các thời kỳ 24
1.5.4.Thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở Phú Thọ 25
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ 26
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 26
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 26
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 26
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
Trang 52.2.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp luận 27
2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 27
2.4.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA - Rapid Rural Appraisal) 27
2.4.4 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA - Participatory Rural Appraisal) 29
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 31
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 32 3.1 Đặc Điểm Tự Nhiên 32
3.2 Đặc điểm kinh tế 34
3.2.1 Tình hình phát triển các ngành kinh tế 34
3.2.2 Dân số, lao động 35
3.2.3 Kinh Tế 35
3.3 Văn hóa xã hội 42
3.3.1 Giáo dục - đào tạo 42
3.3.2 Y tế, Dân số kế hoạch hoá gia đình và công tác từ thiện nhân đạo 43
3.3.3 Hoạt động văn hoá - Thông tin - Thể thao 44
3.3.4 Dân tộc - Tôn giáo 45
3.3.5 Lao động, việc làm, chính sách xã hội và giảm nghèo 46
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Đặc điểm hiện trạng, phân bố tài nguyên rừng tại KVNC 47
4.1.1 Hiện trạng rừng huyện Thanh Sơn – Tỉnh Phú Thọ 47
4.1.2 Phân bố tài nguyên rừng tại huyện Thanh Sơn – Tỉnh Phú Thọ 49
4.2 Thực trạng quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 55
4.2.1 Cơ cấu tổ chức lực lượng về QLBVR 55
Trang 64.2.2 Thực trạng công tác QLBVR ở huyện Thanh Sơn 59
4.2.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức,hạn chế của người dân trong công tác quản lí tài nguyên rừng 71
4.2.4 Những mối đe dọa trong QLBVR ở Thanh Sơn 76
4.2.5 Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 81
4.2.6 Quản lý rừng cộng đồng ở Phú Thọ 83
4.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài nguyên rừng tại KVNC 87
4.3.1 Nhân tố chủ quan 87
4.3.2 Nhân tố khách quan 89
4.4 Các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng tại KVNC 98
4.4.1 Giải pháp chỉ đạo thực hiện 101
4.4.2 Giải pháp cụ thể cho công tác quản lý và phát triển rừng 104
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Sơ đồ phân tích SWOT 30
Bảng 4.1 Diện Tích Rừng Và Đất Lâm Nghiệp Phân Theo Loại Chủ Quản Lý 50 Bảng 4.2 Phân bố rừng trong từng xã 54
Bảng 4.3: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền từ năm 2014 - 2018 63
Bảng 4.4 Số vụ cháy rừng và mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra tại địa bàn 67 Bảng 4.5 Đối tượng khi tham gia chữa cháy rừng khi có cháy rừng 68
Bảng 4.6: Hệ thống công trình và dụng cụ BVR trên địa bàn 69
Bảng 4.7 Phân tích SWOT 72
Bảng 4.8 Nguy cơ, mối đe dọa trong QLBVR trên địa bàn 76
Bảng 4.9: Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 81
Trang 9DANH MỤC CAC HÌNH
Hinh 3.1 Vị trí địa lý huyện Thanh Sơn 32Hình 4.1 Bản đồ hiện trạng rừng huyệnThanh Sơn 47Hình 4.2 Sơ đồ về cơ cấu tổ chức lực lượng QLBVR huyện Thanh Sơn 56Hình 4.3 Sơ đồ mối quan hệ giữa các đơn vị trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại địa phương 61Hình 4.4 Hội nghị tuyên truyền, phổ biến giáo dục về lâm nghiệp cho người dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn 62Hình 4.5 Diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng cấp huyện năm 2018 65Hình 4.6 Định hướng chính sách hỗ trợ QLRCĐ 101
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 4.1 Diện tích rừng của huyện Thanh Sơn 48Biểu 4.2 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện Thanh Sơn 48Biểu 4.3 Diện tích rừng của các xã trong huyện Thanh Sơn 53
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với chúng ta Rừng là
hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, đặc biệt là rừng nhiệt đới ẩm Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước Ngoài những ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên, đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố đất đai, khí hậu Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, cung cấp oxy cho con người và động vật, duy trì tính ổn định và độ phì nhiêu của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn rửa trôi, xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước Ở Việt Nam ngoài những chức năng trên rừng còn mang các ý nghĩa lịch sử, văn hóa và tâm linh của nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau
Tuy nhiên, có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng trên Trài đất ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng, trong đó rừng nhiệt đới bị suy giảm với tốc độ lớn nhất, đó là do áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu, vùng xa còn thấp kiến thức bản địa chưa được phát huy, hoạt động khuyến nông khuyến lâm chưa phát triển, chính sách của Nhà nước về quản lý rừng còn nhiều bất cập, cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều sự thay đổi… Vì vậy vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Một trong những đòi hỏi để thực hiện thành công nhiệm vụ này là phải có những cơ chế phù hợp thu hút sự tham gia tích cực của người dân vào công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng
Trang 11Thanh Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Phú Thọ Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 62.110,40 ha, trong đó có 43.132,8 ha đất quy hoạch lâm nghiệp-chiếm tỷ lệ 69,40% so với tổng diện tích tự nhiên Trong số diện tích đất lâm nghiệp có diện tích rừng quy hoạch rừng phòng hộ là 11.660,8 ha; diện tích rừng quy hoạch rừng sản xuất là 31.472,0 ha Dân số là trên 12 vạn người (số liệu tính đến 31/12/2014) Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính trực thuộc huyện, gồm 22 xã và 01 thị trấn với 285 khu dân cư trong đó có: 08 xã đặc biệt khó khăn trong chương trình 135 của Chính Phủ;
06 xã thuộc CT 229 và 9 xã, thị trấn miền núi Toàn huyện có 16 dân tộc, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 48%, dân tộc Kinh chiếm 51,7% còn lại
là các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Hoa, Thổ, Hmông, Khơme, Giáy, Cờ lao, Sán Chày, Sán Dìu, Sán Chi, Cao Lan Đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán du canh du cư, canh tác nương rẫy đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng Mặt khác, trong thời gian qua tình hình giá đất tại huyện Thanh Sơn biến động bất thường, tình trạng bao chiếm, lấn chiếm đất rừng; sang bán, chuyển nhượng trái phép đất rừng từng lúc, từng nơi diễn ra với hình thức tinh vi, phức tạp, một số người dân lợi dụng việc quy hoạch định hướng điều chỉnh ranh giới huyện theo Quyết định 633/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để lấn, chiếm, khai phá rừng trái phép, tình trạng săn bắt động vật hoang dã quý hiếm, khai thác lâm sản vẫn còn xảy ra làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng Bên cạnh đó, công tác xử lý vi phạm còn nhiều bất cập, thực thi pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả chưa cao, chưa giáo dục được đông đảo quần chúng nhân dân trong khu vực lân cận Để chấn chỉnh công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, từ trung ương tới tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo: Chỉ thị 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08/8/2017 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính
Trang 12phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Tỉnh Phú Thọ cũng như huyện Thanh Sơn cũng ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng Từ khi có các văn bản chỉ đạo từ trung ương tới tỉnh, huyện, đã có những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn huyện Thanh Sơn nhưng chưa đạt kết quả cao Để tổng kết giữa lý luận và thực tiễn công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác trên địa bàn, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng
và đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên rừng tại huyện Thanh Sơn, tỉnh
Phú Thọ”.
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm tài nguyên rừng và quản lý tài nguyên rừng
a Khái niệm tài nguyên rừng:
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống Tài nguyên thiên nhiên từ rừng được hiểu như là nguồn vật chất hữu ích có sẵn trong tự nhiên để cung cấp cho nhu cầu kinh tế,
xã hội của loài người và sinh vật
Tài nguyên thiên nhiên được phân loại thành:
- Tài nguyên không tái tạo là nguồn tài nguyên khi khai thác và sử dụng
sẽ bị cạn kiệt dần và không khôi phục lại trạng thái ban đầu như tài nguyên khoáng sản
- Tài nguyên tái tạo là nguồn tài nguyên sau khi sử dụng có thể tái sinh
và có thể ngày càng phong phú hơn nếu được sử dụng hợp lí, quản lí tốt như tài nguyên đất, tài nguyên rừng
Có thể hiểu tài nguyên rừng là mội loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng (gọi chung là quần xã sinh vật) Tài nguyên rừng có thể chia thành các nhóm sau: Tài nguyên gỗ, tài nguyên đa dạng sinh học, tài nguyên đất, tài nguyên nước Ngoài ra, rừng còn cung cấp cho con người lượng oxy dồi dào , rừng điều hòa nước, chống xói mòn, giảm thiểu ô nhiễm, cân bằng khí cacbon
b Khái niệm quản lý tài nguyên rừng:
Theo từ điển Tiếng việt thì quản lý là trông coi và giữ gìn; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định Theo khái niệm
Trang 14chung thì quản lý là làm cho công việc của bộ phận được thực hiện thông qua hoạt động của người khác
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất về quản lý tài nguyên rừng là tổng hợp các hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhằm sắp xếp, tổ chức
để để giữ gìn và phát triển bền vững tài nguyên rừng
1.2 Quản lý bảo vệ rừng trên thế giới
Nhiều nhà khoa học nước ngoài đi sâu nghiên cứu cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng Điển hình, Baur (1962) [7], Odum (1971) [8] các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sinh thái nói chung và cơ sở sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng Các nghiên cứu đã nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng, đặc biệt là qua các nghiên cứu đã làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, đây
là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học Richards (1959) [5] đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu
có tổ thành loài cây đơn giản, trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn
ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Việc mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây với phân bố số cây theo cỡ đường kính được nhiều tác giả quan tâm, kiểu cấu trúc này thường được biểu diễn dưới dạng toán học với nhiều dạng phân
bố khác nhau Nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, Meyer, Poisson
Cũng từ phương pháp định lượng, nhiều tác giả đã xây dựng cấu trúc vốn rừng và nêu lên nguồn gốc sinh thái của nó
Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái cực kỳ phức tạp bao gồm nhiều thành phần với các quy luật sắp xếp khác nhau trong không gian và thời gian Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng, mà tiêu biểu là Baur (1962) [7], các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sinh thái nói chung và cơ sở
Trang 15sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng Các nghiên cứu đã nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng, đặc biệt là qua các nghiên cứu đã làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, đây là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học
Vào cuối thế kỷ XX, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con người mới nhận thức được rằng, tài nguyên rừng là có hạn và cần được bảo vệ Nếu theo đà mỗi năm mất khoảng 15 triệu ha như số liệu thống
kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng nhiệt đới sẽ hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ phải chịu những thảm họa khôn lường về kinh tế, xã hội, môi trường [10]
Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều
tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều Công ước bảo vệ
và phát triển rừng, trong đó có chiến lược bảo tồn quốc tế (1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức gỗ quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển (UNCED tại Rio de janeiro năm 1992), Công ước về buôn bán các loài động thực vật quí hiếm (CITES), Công ước về ĐDSH (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hóa (CCD, 1996), Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) Những năm gần đây nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và quốc gia về QLRBV đã liên tục được tổ chức [10]
Hiện nay, trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia (Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia…) và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức
gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C) đã được công nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản
lý rừng và xét cấp chứng chỉ QLRBV cho các chủ rừng [11]
Trang 16Lịch sử quản lý rừng nhiệt đới được phát triển từ những năm đầu của thế
kỷ 19 ở Ấn Độ, Mianma và nhanh chóng lan rộng sang nhiều khu vực ở châu Phi Khởi đầu, hoạt động quản lý được thực hiện nhằm bảo vệ có hệ thống các nguồn tài nguyên gỗ Ở giai đoạn sau này, các hoạt động quản lý được đa dạng hóa như: chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp (các hệ thống chuyển đổi), tác động nhằm tạo ra rừng tự nhiên có năng suất cao hơn (các hệ thống chặt trắng), hoặc giảm thiểu tác động và sử dụng tái sinh tự nhiên để tạo ra các lâm phần có mục tiêu lấy gỗ (các hệ thống tái sinh tự nhiên) Ngoài ra, quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi bằng việc phục hồi lại rừng trên đất đã bị thoái hóa (các hệ thống phục hồi)
- Các hệ thống chuyển đổi rừng: Chặt trắng và trồng lại rừng bằng các loài gỗ cứng, thông, bạch đàn…hay thay bằng nông nghiệp du canh là đặc điểm chính của các hệ thống này Việc thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng công nghiệp thường được sử dụng nhằm làm tăng năng suất và đơn giản hóa công tác quản lý Hệ thống này không được áp dụng trên diện rộng ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, ở những khu vực đất đai canh tác nông nghiệp có năng suất thấp thì việc chuyển đổi thành rừng trồng công nghiệp là hợp lý và có triển vọng
+ Các hệ thống chặt cải thiện:
Các hệ thống chặt trắng bao gồm việc biến đổi triệt để các lâm phần gỗ để sau đó được lâm phần có nhiều các cây gỗ có giá trị thương mại hơn Các loài không có giá trị thương mại có thể bị chặt, ken hoặc dùng thuốc để diệt nhằm tạo ra lâm phần mà các loài cây có giá trị thương mại chiếm ưu thế Các hệ thống này đòi hỏi lâm phần phải có đủ cây con thuộc loài có giá trị và có đủ cây gieo giống Hệ thống này đòi hỏi chu kỳ kinh doanh dài (có thể đến 70 năm) dẫn đến việc thay thế nó bằng các hệ thống khai thác theo luân kỳ đang
được áp dụng ở hầu hết các vùng nhiệt đới
+ Các hệ thống chặt thúc đẩy tái sinh tự nhiên
Trang 17Những hệ thống “chặt chọn” hoặc “chặt luân phiên” nhằm cố gắng giảm thiểu những tác động không có lợi đối với những cây có giá trị thương mại và bảo vệ sự sinh trưởng của chúng Quá trình tái sinh có thể coi là diễn ra hoàn toàn tự nhiên mà không đòi hỏi những tác động đáng kể nào của con người Mục tiêu đặt ra là đạt được lâm phần sau khai thác mà kích cỡ và mật độ của
lỗ trống được tạo ra không làm thay đổi kiểu tái sinh và số lượng cây con của các loài có giá trị thương mại, những loài này được tạo ra sẽ đạt được ở luân kỳ hai (trong khoảng thời gian 20-30 năm sau) Hiệu quả kinh tế của các mô hình này không chắc chắn bởi vì nguồn vốn thu được từ các hoạt động khai thác đầu tiên thấp hơn các hệ thống theo luân kỳ Mặt khác, chi phí quản lý dài hạn lại thấp hơn
Các hệ thống tác động tối thiểu tạo ra những cơ hội tốt nhất cho các mục tiêu quản lý hướng tới bảo tồn Tuy nhiên, như đã chỉ ra bởi Whitmore (1990), mặc dù phương pháp này là tốt về mặt lý thuyết và có triển vọng thực tiễn nhưng không có một bằng chứng cụ thể về tính bền vững nào của hệ thống này trong thời gian dài
Theo A Ofosu-Asiedu (1997), các hệ thống quản lý rừng ở vùng nhiệt đới ẩm có thể gộp thành hai nhóm chính, nhóm các hệ thống hướng rừng về cấu trúc đơn giản hơn, rừng có xu hướng trở thành đồng tuổi hoặc cùng kích thước (monocyclic management systems) và nhóm các hệ thống quản lý có
Trang 18tính chu kỳ, thúc đẩy tái sinh tự nhiên nhằm tạo ra rừng có cấu trúc gần với tự nhiên (polycyclic management systems)
1.3 Quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam
1.3.1 Hiện trạng công tác quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam
* Hiện trạng rừng ở Việt Nam:
Theo Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN ngày 19/3/2019 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2018 như sau:
- Diện tích đất có rừng: 14.491.295 ha, trong đó:
+ Rừng tự nhiên: 10.255.525 ha
+ Rừng trồng: 4.235.770 ha
- Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là 13.785.642 ha, tỷ lệ che phủ là 41,65%
- Diên tích rừng phân theo chủ quản lý:
+ Ban quản lý rừng đặc dụng: 2.056.504 ha;
Trang 19nguồn nước, giảm tần suất và mức nguy hiểm của các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng
Trước đây do dân số còn ít nên việc quản lý bảo vệ rừng ít được chú trọng mà chỉ tập trung vào khai thác cũng như công tác quản lí chỉ phụ thuộc vào lực lượng Kiểm lâm Người dân tự do vào rừng lấy tất cả những gì từ rừng để phục vụ cho nhu cầu của mình mà gần như không có sự trở ngại nào
vì lực lượng Kiểm lâm mỏng, địa hình khó khăn, nhận thức của cộng đồng và người dân còn thấp Một thời gian dài, nhiều vùng rừng của nước ta đã bị khai thác một cách cạn kiệt Sự suy giảm tài nguyên rừng trong những năm gần đây chủ yếu là do dân số tăng nhanh, khai thác rừng không hợp lý và sự yếu kém trong công tác quản lý đã làm cho diện tích rừng của nước ta vẫn tiếp tục
bị phá hoại
Hiện nay dưới những tồn tại đó Chính Phủ, Nhà nước đã có những quy định, thể chế quản lí chặt chẽ cho cho tình trạng khai thác tài nguyên rừng được quy định trong Luật Lâm Nghiệp: 16/2017/QH14 ngày 15/11/2017 quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản và cơ chế xử phạt trong lĩnh vực lâm nghiệp quy định tại nghị định 35/2019/NĐ-CP Vai trò của nghành Kiểm Lâm nói riêng cũng như các ban nghành nói chung có cơ sở pháp lý để thực hiện tốt công tác quản lí bảo vệ rừng và phát triển rừng
* Khó khăn, thuận lợi trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam
- Thuận lợi:
+ Công tác quản lý bảo vệ rừng được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, các cấp bộ ngành từ Trung ương tới địa phương;
+ Hê thống văn bản quy phạm pháp luật về lâm nghiệp đã hoàn thiện, có
sự thống nhất chung trên toàn quốc
+ Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan đoàn thể ngày càng chặt chẽ, người dân đã hiểu vai trò và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ rừng
Trang 201.3.2 Các giải pháp quản lý rừng ở Việt Nam
a.Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo
vệ rừng:
- Xây dựng các chương trình về thông tin-giáo dục-truyền thông, phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng của các chủ rừng,chính quyền các cấp, các nghành và toàn xã hội
- Đổi mới phương pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận thông tin, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa Đưa kiến thức cơ bản về bảo vệ tài nguyên rừng vào chương trình giảng dạy ở cấp tiểu học và trung học In ấn phát hành các tài liệu tuyên truyền để phân phát cho cộng đồng, xây dựng các bảng tuyên truyền ở những khu vực công cộng, trên giao lộ, cửa rừng…
- Vận động các hộ gia đình sống trong và gần rừng kí cam kết bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện các quy ước bảo vệ rừng ở cấp xã
b Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các nghành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng:
- Chủ rừng phải chịu trách nhiệm bảo vệ rừng được nhà nước giao, cho thuê theo quy định hiện hành của pháp luật Những chủ rừng quản lý có trên 500ha rừng phải có lực lượng bảo vệ rừng của mình
- Xây dựng các chương trình, đề án bảo vệ rừng trên diện tích được giao, được thuê đảm bảo bố trí các nguồn lực không để rừng bị xâm hại trái pháp luật
Trang 21Đối với ủy ban các cấp:
- Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lí nhà nước về bảo vệ rừng theo quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng Tổ chức các lực lượng truy quét lâm tặc phá rừng tại địa phương Ngăn chặn kịp thời các trường hợp khai thác, phá rừng và lấn chiếm đất rừng Chỉ đạo xử lí nghiêm khắc các tổ chức,
cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và những người bao che tiếp tay cho những hành động đó Những địa phương để xảy ra tình trạng phá rừng trái phép thì Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và bị xử lý theo quy định
- Tổ chức khôi phục lại diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái quy định của pháp luật trong thời gian qua
- Tiến hành kiểm tra, cưỡng chế tất cả những người di cư tự do ra khỏi các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
- Hoàn thành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân còn sót hoặc chưa rõ ràng
Đối với lực lượng Công an:
Bộ Công an chỉ đạo công an các tỉnh, thành phố hỗ trợ và phối hợp thường xuyên với lực lượng kiểm lâm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo một cơ chế thống nhất; tổ chức điều tra nắm chắc các đối tượng phá rừng,kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép,đặc biệt phải triển khai các biện pháp kiên quyết trừng trị thich đáng; ngăn chặn triệt để tình trạng chống người thi hành công vụ; phối hợp với các lực lượng có liên quan truy quét bọn phá rừng và kiểm tra, kiểm soát lưu thông lâm sản rà soát và xử lý dứt điểm các vụ án hình sự tồn đọng trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Đối với lực lượng quân đội:
- Huy động các đơn vị quân đội ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ để tổ chức các đơn vị quân đội đóng quân, chốt giữ, xây dựng địa bàn quốc phòng an ninh
Trang 22gắn với bảo vệ rừng, bố trí lực lượng, phương tiện thường trực sẵn sàng tham gia các đợt truy quét chống chặt phá rừng
- Huy động các đơn vị quân đội tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng ở những khu vực rừng có nguy cơ cháy cao như: U Minh, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ Ủy ban nhân dân các tỉnh phải có phương án để huy động lực lượng quân đội đóng quân trên địa bàn bố trí lực lượng thường trực canh phòng và sẵn sàng chữa cháy rừng vào các tháng mùa khô cao điểm Quân đội phải chủ động phương án tăng cường lực lượng, huấn luyện và diễn tập tại các khu vực này, phải coi chống lửa rừng như chống giặc để bảo vệ địa bàn quốc phòng
- Huy động lực lượng quân đội tham gia trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng Mở rộng diện tích rừng giao cho quân đội (nhất là đồn biên phòng) tổ chức quản lý, bảo vệ,xây dựng các tuyến đường an ninh quốc phòng gắn với công tác bảo vệ rừng hai bên đường dọc tuyến biên giới, hải đảo và các khu vực rừng ở vùng sâu, vùng xa
Đối với các tổ chức xã hội:
Phối hợp với chính quyền các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình tuyên truyền, vận động và giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng cho các thành viên Phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ và phát triển rừng
c Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng Kiểm lâm:
- Đổi mới tổ chức lực lượng kiểm lâm theo Luật bảo vệ và phát triển rừng để kiểm lâm gắn với chính quyền,với người dân,với rừng Thực hiện chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương, tổ chức bảo vệ rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo đảm chấp hành pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng bố trí kiểm lâm địa bàn ở 100% các xã có rừng để tham mưu cho chính quyền cơ sở trong công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp, theo dõi chặt chẽ diễn biến rừng, kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ đầu những vụ vi
Trang 23phạm Từng bước tăng biên chế cho lực lượng kiểm lâm để đảm bảo định mức bình quân 1000ha có 1 biên chế kiểm lâm
- Tăng cường trang bị cho kiểm lâm gồm các phương tiện hoạt động phù hợp với địa bàn rừng núi, hệ thống thông tin liên lạc, thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng…
d Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trạng thiết bị bảo vệ rừng:
- Xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng( băng cản lửa, hồ chứa nước, đường tuần tra,…) ở các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, các vùng trọng điểm đã được xác định về phá rừng và cháy rừng
- Trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu công tác hiện trường cho các Hạt kiểm lâm trên toàn quốc, trước mắt đầu tư cho những hạt kiểm lâm ở những vùng trọng điểm
e Hợp tác quốc tế:
- Triển khai thực hiện tốt các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Thu hút các nguồn vốn ODA và các hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ rừng
- Xây dựng và thực hiện các thỏa thuận song phương về hợp tác bảo vệ rừng liền biên giới các nước Lào và Campuchia
1.4 Các văn bản của Nhà nước
Công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng, PCCCR ở Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang được Nhà nước đặc biệt quan tâm, ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng tàn phá rừng, cháy rừng, mất rừng Từ năm 2017 tới nay, hệ thống văn bản về quản lý bảo
vệ rừng đã có nhiều thay đổi
a) Về Luật:
Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi, năm 2004
Trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các vấn đề về quản lý rừng bền vững, đã được đề cập đến như:
Trang 24Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định
Luật Lâm nghiệp ban hành ngày 15/11/2017
+ Mở rộng phạm vi điều chỉnh, coi lâm nghiệp một ngành kinh tế - xã hội Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chỉ quy định đến hình thành rừng, tức là từ quản lý đến bảo vệ, phát triển rừng Luật Lâm nghiệp năm
2017 đã mở rộng đến các lĩnh vực chế biến và thương mại, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế Như vậy, Luật đã khẳng định lâm nghiệp là ngành kinh
tế - xã hội có liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp, từ quản lý, bảo
vệ, phát triển, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; khẳng định ngành Lâm nghiệp vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, vừa phát huy giá trị xã hội là thích ứng với biến đổi khí hậu với đòi hỏi phải quản lý bền vững Với những quy định của Luật Lâm nghiệp 2017, chúng ta có thể hiểu rằng: Lâm nghiệp là một ngành kinh tế - xã hội đặc thù, gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ liên quan đến rừng
+ Thay thế Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 4 cấp bằng quy hoạch lâm nghiệp quốc gia
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được lập ở 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và xã Luật Lâm nghiệp 2017 đã có thay đổi rất cơ bản là thay thế quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
+ Cấp bằng quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia để phù hợp với Luật Quy hoạch Khoản 2 – Điều 11 của Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định các nội dung quy hoạch lâm nghiệp, trong đó có các nội dung về định hướng phát triển 3 loại rừng, kết cấu hạ tầng lâm nghiệp và phát triển thị trường, vùng nguyên
Trang 25lệu, chế biến lâm sản Do đặc thù của ngành nên trong Luật Lâm nghiệp đã có các quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung quy hoạch; trách nhiệm lập, lấy
ý kiến, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp quốc gia Mặc
dù những nội dung này cũng đã dược quy định chung trong Luật Quy hoạch 2017 + Thay đổi về chế định sở hữu rừng
Nếu như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chỉ xác định quyền của Nhà nước đối với rừng Chủ rừng chỉ có quyền sử dụng, sở hữu rừng khi được Nhà nước trao và công nhận thì Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định hai nhóm hình thức sở hữu rừng là: Rừng sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và rừng sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư Theo đó, rừng trồng sản xuất được đầu tư từ các tổ chức, cá nhân, ai
là người đầu tư thì sẽ là chủ sở hữu của rừng
Việc quy định rõ các hình thức sở hữu rừng nhằm thừa nhận thành quả lao động, kết quả đầu tư của người làm nghề rừng; tạo động lực khuyến khích
tổ chức, cá nhân đầu tư vào rừng nghèo và hưởng lợi từ rừng; bảo đảm quản
lý rừng tốt hơn, hiệu quả hơn Từ quan điểm về quyền sở hữu như vậy, một loạt chế định khác từ quản lý cho tới chế độ chính sách đối với các chủ rừng
sẽ phải thay đổi
+ Khẳng định việc giao đất giao rừng cho người dân
Về chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, nếu như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 mời chỉ dừng ở mức “Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc” (Khoản 4 – Điều 10) thì đến Luật Lâm nghiệp 2017 đã khẳng định “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân
cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất” (Khoản 6 – Điều 4)
Quy định trên của Luật Lâm nghiệp cũng thể hiện sự đột phá so với quy định tại Khoản 2 - Điều 27 Luật Đất đai 2013 là: “Có chính sách tạo điều kiện
Trang 26cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp” “Tạo điều kiện” nghĩa là có điều kiện thì giao, không có điều kiện thì không giao, không mang tính bắt buộc
+ Quy định chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (Điều 27), việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được thực hiện khi “được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền” Luật Đất đai 2013 (Điều 58) cũng cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với đất rừng phòng hộ, đặc dụng khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (với diện tích từ 20 ha trở lên) và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh (với diện tích dưới 20 ha), không đề cập đến việc chuyển mục đích sử dụng đất đối với đất rừng sản xuất Luật Lâm nghiệp 2017 (Khoản 2 – Điều 14) khẳng định: “Không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, trừ dự án quan trọng quốc gia; dự án phục vụ quốc phòng, an ninh quốc gia; dự án cấp thiết khác được Chính phủ phê duyệt” Quy định chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên nhằm mục đích phát huy giá trị của từng loại rừng, đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu + Quy định về dịch vụ môi trường rừng:
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chưa đề cập đến dịch vụ môi trường rừng Luật Lâm nghiệp 2017 đã luật hóa Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua việc quy định cụ thể các loại dịch vụ, nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng; đối tượng, hình thức chi trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng; quyền, nghĩa vụ của bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng
Quy định về dịch vụ môi trường rừng là điểm rất mới của Luật Lâm nghiệp 2017, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc chuyển hướng từ khai thác lợi ích trước mắt sang khai thác lợi ích tiềm năng của rừng; từ sản phẩm
gỗ và lâm sản ngoài gỗ sang sản phẩm phi gỗ, tạo nguồn tài chính bền vững
Trang 27để đầu tư trực tiếp vào rừng, tăng thu nhập cho người làm nghề rừng
+ Quy định về chế biến và thương mại lâm sản
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chưa đề cập đến chế biến và thương mại lâm sản Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định rõ chính sách phát triển lâm sản theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp hợp tác, liên doanh, liên kết với chủ rừng để tạo vùng nguyên liệu, quản lý rừng bền vững, tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ mới và các giải pháp tăng trưởng xanh, nâng cao giá trị gia tăng, ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trong chế biến lâm sản
Luật cũng quy định việc chế biến mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và mẫu vật các loài thực vật rừng hoang dã, động vật rừng hoang dã nguy cấp thuộc các phụ lục của Công ước CITES Quy định việc xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam; ban hành tiêu chí, quy trình, thủ tục, thẩm quyền phân loại doanh nghiệp khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu gỗ và sản phẩm
gỗ Quy định về chính sách phát triển thị trường lâm sản
Ngoài những điểm nêu trên, Luật Lâm nghiệp 2017 còn có một số điểm mới khác như: Định nghĩa về rừng được xác định theo 3 tiêu chí: diện tích; chiều cao cây; độ tàn che để phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đáp ứng yêu cầu chung của quốc tế Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng bền vững Hoạt động khoa học và công nghệ về lâm nghiệp…
Luật Lâm nghiệp mới ban hành xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn trong công cuộc bảo vệ phát triển rừng, đồng thời đảm bảo việc phát triển kinh tế lâm nghiệp theo chuỗi giá trị Với các quy định của Luật sẽ góp phần quản lý các hoạt động về lâm nghiệp hiệu quả hơn, phát huy những lợi thế về rừng theo hướng là ngành kinh tế - kỹ thuật Đồng thời khắc phục những vấn đề tồn tại trước đây để chính sách thực sự đi vào cuộc sống
- Luật Đa dạng sinh học: Trong Luật Đa dạng sinh học quy định việc
quy hoạch, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên, các loài sinh
Trang 28vật, kiểm soát lòaì xâm hại, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền và hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học
b) Về các văn bản dưới luật
- Về quản lý bảo vệ rừng có các văn bản sau:
+ Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018, Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp
+ Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 15/02/2019, Nghị định về kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng
+ Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 10/3/2019, Nghị định Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về
buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
+ Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 10/6/2019, Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp
- Về quyền lợi và nghĩa vụ của chủ rừng:
+ Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018, Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp
- Về bảo tồn đa dạng sinh học:
+ Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010
+ Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học” kèm theo Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg, ngày 31/5/2007 của Chính phủ
c) Những chủ trương lớn của Nhà nước
- Thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng: Đây là dự án lớn của quốc gia, được khởi động từ năm 1998 và kết thúc vào năm 2010 Theo
Trang 29quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ, Dự án
có 3 mục tiêu phù hợp với quản lý rừng bền vững
- Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Nghị định 75/2015/NĐ-CP, Nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020
d Những chủ trương chính sách của ngành về quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng
- Thông tư 23/2017/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác
- Thông tư 27/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản
- Thông tư 28/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý rừng bền vững
- Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về biện pháp lâm sinh
- Thông tư 30/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính; công nhận giống và nguồn giống, quản lý vật liệu giống cây trồng lâm nghiệp chính
- Thông tư 31/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về phân định ranh giới rừng
- Thông tư 32/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về phương pháp định giá rừng, khung giá rừng
- Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng
Trang 30Nhìn chung các quy trình, quy phạm kỹ thuật được xây dựng là tương đối đầy đủ, trong đó đã chú ý đến các lợi ích về kinh tế xã hội và môi trường bảo đảm các tiêu chí quản lý rừng bền vững (rừng có năng suất chất lượng cao, giảm thiểu tác động môi trường, xói mòn và thoái hoá đất…) Tuy nhiên,
có một số quy trình cần được bổ sung như quy trình trồng một số loài cây trồng mới, quy trình nhân giống vô tính một số loài cây…
Những nghị định, thông tư, văn bản trên đều rất cập nhật và cần thiết với công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng ở huyện Thanh Sơn Tuy nhiên, trong quá trình công tác bản thân còn thấy có rất nhiều bất cập cần được nhìn nhận và khắc phục ở huyện Thanh Sơn, vì vậy tôi quyết định chọn đề tài " Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Quản Lý Tài Nguyên Rừng Tại Huyện Thanh Sơn, Tỉnh Phú Thọ" làm khóa luận tốt nghiệp Thông qua các vấn đề được trình bày trong khóa luận để đưa ra cái nhìn tổng quát về tài nguyên rừng huyện Thanh Sơn, hiện trạng, những thành tựu hạn chế của công tác quản lý và
sử dụng tài nguyên rừng tại địa phương Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác hợp lí, quản lí và bảo vệ tài nguyên rừng có hiệu quả cao
1.5 Công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
1.5.1.Công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
a Sở Nông nghiệp và PTNT đã có những văn bản chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ:
+ Chỉ đạo, kiểm tra các địa phương và các chủ rừng trong việc thực hiện công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; xây dựng và triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy rừng, đảm bảo phù hợp, sát thực tiễn, hiệu quả, kịp thời xử lý các tình huống khi cháy rừng xảy ra;
+ Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát nhằm phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng; điều tra, xử lý và tham mưu cho các cấp chính quyền xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;
Trang 31+ Kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng của cấp huyện, cấp xã, các Công ty lâm nghiệp và các chủ rừng, nhất là rừng phòng hộ, đặc dụng; rà soát, tu sửa đường băng trắng cản lửa ở những khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng; đảm bảo đầy đủ vật tư, dụng cụ, phương tiện chữa cháy theo phương châm 4 tại chỗ;
+ Chủ trì, phối hợp với các lực lượng Công an, Quân đội thực hiện quy chế phối hợp; tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra;
+ Thực hiện tuần tra, kiểm soát, đảm bảo, duy trì quân số bám nắm địa
bàn, thường trực 24/24h trong những ngày khô hanh, nắng nóng; thông tin kịp
thời trên các phương tiện thông tin đại chúng, các bản tin dự báo, cảnh báo cháy rừng đối với từng khu vực để chính quyền địa phương, các đơn vị có liên quan và chủ rừng chủ động triển khai phương án phòng cháy chữa cháy rừng + Chủ động phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng đặc biệt chú trọng địa bàn có nhiều rừng và đất lâm nghiệp;
b Công an tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh: Chỉ đạo các lực lượng chức năng thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa 03 ngành: Công an, Quân sự, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, trang thiết
bị phòng cháy, chữa cháy đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra
c Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh,
Báo Phú Thọ: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đơn
vị liên quan tăng thời lượng tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; kịp thời thông tin diễn biến thời tiết, các bản tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng
Trang 32d Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị:
- Chỉ đạo thực hiện công tác phối hợp giữa lực lượng cấp huyện (Công
an, Quân đội, Kiểm lâm) nhất là trong công tác hiệp đồng phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng
- Thường xuyên cập nhật thông tin diễn biến thời tiết, các bản tin dự báo, cảnh báo cấp độ nguy cơ cháy rừng trên các phương tiện thông tin nhất là hệ thống loa truyền thanh ở các thôn, xã để người dân biết và chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa Tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật
- Chỉ đạo Chủ tịch Ủy nhân dân cấp xã và các cơ quan chức năng trên địa bàn thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý Nhà nước về công tác bảo
vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng theo quy định
e Ủy ban Mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể cấp tỉnh: Chỉ đạo các cấp hội phối hợp chặt chẽ với chính quyền cùng cấp tổ chức tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, người dân nâng cao ý thức, chủ động thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ rừng; tăng cường giám sát nhằm kịp thời phát hiện,
tố giác các trường hợp vi phạm pháp luật về rừng, cháy rừng cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chức
1.5.2 Diện tích rừng tỉnh Phú Thọ
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là: 353.456,1 ha Diện tích rừng và đất quy hoạch phát triển rừng là: 188.139,4 ha, trong đó:
+ Diện tích đất có rừng: 139.996,2 ha
+ Diện tích đất chưa có rừng là: 48.143,2 ha
- Diện tích đất quy hoạch phát triển rừng 171.459,1 trong đó:
+ Diện tích đất rừng đặc dụng: 17.304,1 ha
Trang 33+ Diện tích rừng phòng hộ: 33.474,3 ha
+ Diện tích rừng sản xuất: 120.680,7 ha
- Diện tích rừng ngoài quy hoạch đất phát triển rừng 16.680,3 ha
- Độ che phủ rừng toàn tỉnh tính đến ngày 31/12/2018 là 39,6%
1.5.3 Những thay đổi về mặt chính sách tác động đến công tác quản lý bảo
vệ rừng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ qua các thời kỳ
Trong giai đoạn từ năm 1999 đến nay công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh có nhiều thay đổi do cơ chế chính sách của nhà nước về lâm nghiệp, cụ thể:
- Giai đoạn từ năm 1999-2010: Thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu
ha rừng theo Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 Chính phủ đã cấp nguồn kinh phí cho Ban quản lý dự án 661 cấp tỉnh cấp kinh phí cho hạt kiểm lâm huyện để thực hiện công tác phát triển rừng và hỗ trợ bảo vệ diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn toàn tỉnh
- Giai đoạn từ 2010 – 2014: Thực hiện dự án bảo vệ và phát triển rừng, Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh cấp kinh phí cho ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, ban quản lý dự án bảo vệ phát triển rừng cấp huyện giao cho hạt kiểm lâm huyện thực hiện trồng mới rừng và hỗ trợ bảo vệ diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn các huyện, thành thị
- Giai đoạn từ 2014- 2018: Thực hiện dự án bảo vệ và phát triển rừng, Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh cấp kinh phí cho chi cục Lâm nghiệp tỉnh, từ Chi cục Lâm nghiệp cấp cho Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa và Ban quản lý rừng phòng hộ sông Ngòi Giành thực hiện trồng mới rừng và hỗ trợ bảo vệ diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn toàn tỉnh
- Giai đoạn từ 2018 – nay: Sau khi 2 Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa và ban quản lý rừng phòng hộ sông Ngòi Rành giải thể do Chi cục Lâm
Trang 34Nghiệp sát nhập vào Chi cục Kiểm lâm, nên toàn bộ kinh phí trồng mới và hỗ trợ bảo vệ diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn toàn tỉnh do Chi cục Kiểm lâm trực tiếp chủ trì thực hiện Kinh phí lấy từ nguồn dự án bảo
- Khó khăn:
+ Hệ thống rừng ở Phú Thọ tập trung chủ yếu tại các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lâp, Hạ Hoà, vùng dân tộc thiểu số nên trình độ dân trí thấp, đường giao thông đi lại khó khăn
+ Lực lượng kiểm lâm mỏng, kinh phí, trang thiết bị phục vụ hoat động kiểm lâm còn hạn chế
Trang 35Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng
tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Khu vực rừng huyện Thanh Sơn quản lý
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề có liên quan đến quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, những giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Nghiên cứu thực trạng quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Phân tích được các nhân tố thúc đẩy và cản trở sự tham gia quản lý rừng tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Trang 362.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
Vận dụng quan điểm hệ thống để xây dựng phương pháp nghiên cứu Theo quan điểm này rừng vừa là một bộ phận của hệ thống tự nhiên vừa là một bộ phận của hệ thống kinh tế, xã hội
Quản lý rừng là hoạt động vừa mang tính khoa học kỹ thuật, vừa mang tính kinh tế, tính xã hội nhân văn nên những giải pháp quản lý rừng phải được xây dựng trên quan điểm đa ngành
QLRBV hướng vào cải thiện chất lượng cuộc sống con người Vì vậy, nghiên cứu quản lý rừng phải được thực hiện theo cách tiếp cận của nghiên cứu phát triển Trong đề tài này các giải pháp quản lý rừng luôn hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và được lồng ghép với những hoạt động phát triển kinh tế xã hội khác
2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Tiến hành thu thập các thông tin về kinh tế, xã hội huyện Thanh Sơn
- Thu thập thông tin về kế hoạch quản lý bảo vệ rừng của chính quyền cấp huyện, tỉnh
- Thu thập thông tin về quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Thanh Sơn
- Thu thập các tài liệu về chính sách, pháp lý liên quan đến các hoạt động quản lý và phát triển tài nguyên rừng tại địa phương
2.4.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA - Rapid Rural Appraisal)
Công cụ phỏng vấn nhanh được sử dụng để thu thập những thông tin ban đầu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng quản lý, bảo vệ và
sử dụng rừng ở địa phương
Cán bộ quản lý nhà nước ở cấp huyện, cấp xã, Hạt Kiểm lâm, họ là những người đã trực tiếp thực hiện và tham gia quản lý, giám sát những diễn biến của tài nguyên rừng ở địa phương trong những năm qua
Trang 37Bộ câu hỏi được chuẩn bị như ở Phụ lục 1 và Phụ lục 2
Đối tượng phỏng vấn:
- Cán bộ kiểm lâm : 08 cán bộ kiểm lâm người đang làm việc ở 5 trạm địa bàn (Trạm Đồn vàng, Trạm Võ Miếu, Trạm Tam Cửu, Trạm Yên Sơn, Trạm Hương Cần) quản lí 08 xã có diện tích rừng lớn nhất trong huyện: xã Đông cửu, Thượng Cửu, Võ Miếu, Yên Sơn, Tinh Nhuệ, Thục Luyện, Hương Cần và phỏng vấn Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Thanh Sơn
- Cán bộ xã: Trong quy mô nghiên cứu của bài đã tiến hành phỏng vấn
12 người hiện đang là cán bộ phụ trách về lâm nghiệp các xã: xã Hương Cần,
Võ Miếu, Đông Cửu, Thục Luyện, Thạch Khoán, Tân Minh, Thượng Cửu,
Tinh Nhuệ (Danh sách phỏng vấn được tổng hợp tại phụ lục 4)
Trang 38- Phỏng vấn người dân: Phỏng vấn 70 người dân của xã Tam Cửu, Hương Cần, Thục Luyện, Thạch Khoán, Tân Minh, Thượng Cửu, Tinh Nhuệ
(Danh sách phỏng vấn được tổng hợp tại phụ lục 5)
- Phỏng vấn cán bộ xã, huyện: Được thực hiện đầu tiên khi tới thôn,
nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế xã hội của thôn như: dân số, mức sống, dân trí, các hỗ trợ từ bên ngoài, các tác động thường xuyên tới tài nguyên rừng (Nội dung phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1,2)
- Phỏng vấn hộ gia đình: Đề tài đã phỏng vấn 70 hộ gia đình tương
đương 5% tổng số hộ tại 07 xã của huyện Thanh Sơn – tỉnh Phú Thọ (Danh
sách phỏng vấn được tổng hợp tại phụ lục 5)
Đối tượng phỏng vấn bao gồm cả 3 nhóm hộ gia đình (Cách phân chia nhóm đối tượng dựa trên tiêu chí của huyện, tỉnh hoặc Nhà nước mà vừa phỏng vấn trưởng thôn/ bản xác định được)
Trang 39- Nhóm hộ khá (giàu)/ nhóm hộ có thu nhập cao (Thu nhập lớn hơn 2 triệu đồng/người/tháng)
- Nhóm hộ trung bình/ nhóm hộ có thu nhập trung bình (từ 1.95 triệu đồng/người/tháng trở xuống và 1.5 triệu đồng/người/tháng ở nông thôn)
- Nhóm hộ nghèo/ nhóm hộ có thu nhập thấp (có 1 triệu đồng/người/tháng trở xuống tại thành thị và 800.000 đồng/người/ tháng tại nông thôn)
Ngoài ra, để thông tin thu được đảm bảo tính chính xác và khách quan, đối tượng phỏng vấn có tính đến một số tiêu chí khác: Dân tộc; độ tuổi; nghề
nghiệp;… (Nội dung phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 3)
- Sử dụng công cụ SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và thách thức trong công tác quản lý tài nguyên rừng
SWOT là công cụ phân tích hữu hiệu để hiểu vấn đề nghiên cứu, bao gồm Strenghts (điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội), Threats (Nguy cơ thách thức)
Công cụ SWOT được phân tích dưới dạng ma trận như bảng sau:
Bảng 2.1: Sơ đồ phân tích SWOT Điểm mạnh
Những đặc điểm tạo nên năng lực tốt
trong quản lý rừng cộng đồng của các
bên liên quan
Điểm yếu
Những tồn tại trong nội bộ cộng đồng làm giảm tính hiệu quả trong quản lý rừng cộng đồng
Trang 40Thống kê tổng hợp các thông tin về xã hội
Tổng hợp đánh giá các thông tin về kinh tế, dân số, đánh giá hiệu quả sản xuất theo các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, chăn nuôi - thủy sản theo chỉ tiêu tổng hợp lợi nhuận
Số liệu thu thập qua bảng phỏng vấn bán định hướng được xử lý và phân tích bằng phương pháp phân tích tổng hợp, mô tả, so sánh, đánh giá để
tìm ra tiềm năng phát triển quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở địa phương
Phân tích các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách,
tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, thị trường được phân tích theo phương pháp định tính xây dựng tổ chức quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng, đánh giá tìm ra nguyên tắc và những giải pháp cơ bản, thích hợp nhằm quản
lý rừng bền vững hiệu quả ở địa phương