1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá hiệu quả các dự án quốc tế lâm nghiệp rút ra bài học làm cơ sở khoa học cho việc quản lý các dự án quốc tế​

112 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 720,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy rằng các cơ quan ban ngành làm đúng chức năngnhiệm vụ của họ nhưng các cơ quan này thường gặp khó khăn trong việc nắmbắt các yêu cầu của nhà tài trợ đặc biệt là các sở chuyên ngành c

Trang 1

Trường đại học lâm nghiệp

PHạM VĂN THOạI

Đánh giá hiệu quả các dự án quốc tế Lâm nghiệp rút ra bài học làm cơ sở khoa học cho việc quản lý các Dự án quốc tế

LUậN VĂN THạC Sỹ KHOA HọC LÂM NGHIệP

Trang 2

Trường đại học lâm nghiệp

PHạM VĂN THOạI

Đánh giá hiệu quả các dự án quốc tế Lâm nghiệp rút ra bài học làm cơ sở khoa học cho việc quản lý các Dự án quốc tế

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

LUậN VĂN THạC Sỹ KHOA HọC LÂM NGHIệp

Người hướng dẫn khoa học: ts nguyễn phú hùng

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất

cứ một công trình nghiên cứu nào khác Tất cả các thông tin số liệu trong luận văn đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa trên kết quả khảo sát thực tế, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Phú Hùng, giáo viên hướng dẫn khoa học, đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn và hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô trong khoa Sau Đại học Trường Đại học Lâm nghiệp

đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khoá học cũng như giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn các đồng nghiệp của tôi

đang làm việc tại Ban quản lý các Dự án Lâm nghiệp và các đồng nghiệp đang làm việc tại Vụ Hợp tác Quốc tế Bộ NN&PTNT đã trả lời các câu hỏi phỏng vấn cũng như cung cấp cho tôi những tư liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của luận văn.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên trong gia đình, bạn bè, các anh chị học viên lớp Cao học Khoá 11 Lâm nghiệp đã

động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.

Trang 5

Chương 1 Tổng quan1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tài nguyên rừng Việt Nam vô cùng quý giá đối với nền kinh tế quốc dân,cùng với thời gian tài nguyên rừng Việt Nam biến đổi không ngừng qua cácthời kỳ lịch sử Các giai đoạn có những đặc trưng và thay đổi cụ thể như sau:

- Giai đoạn từ năm 1943 đến 1993: là giai đoạn mà tài nguyên rừng Việt

Nam biến đổi theo chiều hướng suy thoái nghiêm trọng Theo số liệu kiểm kêrừng toàn quốc năm 1943 Việt Nam có khoảng 14,3 triệu ha và độ che phủrừng là 43%, đến năm 1993 diện tích rừng trên toàn quốc chỉ còn 8,6 triệu ha

và độ che phủ chỉ còn khoảng 23% Trong vòng 50 năm Việt Nam đã mất đikhoảng 5,7 triệu ha rừng, thay vào đó là những diện tích đất trống đồi núi trọc

và diện tích rừng còn lại cũng có chất lượng rất thấp Có rất nhiều nguyênnhân dẫn đến sự mất rừng nói trên: Do chiến tranh, đốt nương làm rẫy, khaithác quá mức… Một lý do quan trọng nữa là ở giai đoạn này nền kinh tế nước

ta đang gặp rất nhiều khó khăn, chúng ta phải gia sức khai thác tài nguyên để

đổi lấy ngoại tệ chính vì vậy mà tài nguyên rừng bị mất đi là không thể tránhkhỏi

- Giai đoạn từ 1993 đến nay: Là giai đoạn phục hồi tài nguyên rừng Theo số

liệu kiểm kê rừng toàn quốc năm 2005 thì diện tích rừng nước ta tăng lên 12,6triệu ha và độ che phủ là 37% so với 8,6 triệu ha và độ che phủ 23% năm 1993diện tích rừng của nước ta đã tăng được 4 triệu ha trong vòng 10 năm Thànhquả này là do sự quan tâm đầu tư đúng mức của nhà nước đối với ngành Lâmnghiệp và một phần đóng góp rất quan trọng là sự hợp tác quốc tế trong lĩnhvực Lâm nghiệp của Việt nam với các tổ chức phi chính phủ quốc tế và cácnước trên thế giới Các dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển lâm

Trang 6

án hợp tác quốc tế vào Việt Nam đã làm thay đổi lại quan điểm của ngành lâmnghiệp Việt Nam Từ chỗ phát triển kinh tế lâm nghiệp lấy khai thác gỗ làmchủ đạo, nay chuyển sang phát triển Lâm nghiệp xã hội theo quan điểm sửdụng hợp lý tài nguyên rừng lấy con người làm trung tâm của mọi sự pháttriển.

Hiện nay ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang nhận được sự hỗ trợ pháttriển từ chính phủ các nước như: Nhật Bản, Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch, HàLan và các tổ chức đa phương như Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), Ngânhàng Thế giới (WB) và Liên minh Châu Âu (EU) thông qua các chương trình

dự án Tuy nhiên hiệu quả của từng dự án là rất khác nhau về mức độ đạt

được, nó do nhiều nguyên nhân như hệ thống thể chế chính sách của ViệtNam và chính sách của các nhà tài trợ còn nhiều bất cập, những văn bản đầuvào của từng dự án đến sự chuẩn bị, việc thực thi, giám sát và đánh giá trongquá trình thực hiện dự án Việc tìm kiếm nguyên nhân chính dẫn đến tìnhtrạng kém hiệu quả của các dự án để khắc phục trong quản lý các dự án là rấtcần thiết

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến các dự án Quốc tế Lâmnghiệp chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn là tính phức tạp và nhiều hợpphần của một dự án Các dự án Lâm nghiệp thường được thiết kế với mộtphạm vi hoạt động rộng lớn, nhiều vùng, nhiều tỉnh và những vùng được chọn

để thực thi dự án lại là các vùng sâu vùng xa vùng đặc biệt khó khăn, số ngườitham gia dự án là rất lớn, trong khi đó năng lực quản lý dự án ở cấp địaphương còn nhiều hạn chế, chính vì vậy rất khó có thể đạt được các mục tiêu

đã được đề ra Tính phức tạp của một dự án còn thể hiện ở chỗ các dự án liênquan đến nhiều cơ quan quản lý, nhiều ngành khác nhau vì các dự án đầu tưnày mang tính đầu tư phát triển tổng hợp với hàng trăm hoạt động khác nhau

Ví dụ như dự án Khu vực lâm nghiệp do ADB tài trợ có 12 hợp phần, dự án

Trang 7

hợp phần Các ban ngành chuyên môn khác mặc dù không tham gia trực tiếpvào quản lý các hợp phần của dự án nhưng họ lại tham gia vào hầu hết cáchoạt động của dự án như thiết kế hoặc thẩm định thiết kế, xây dựng các tiêuchuẩn định mức, giám sát thi công và nghiệm thu các đầu tư cơ sở hạ tầng vàxây lắp của dự án Tuy rằng các cơ quan ban ngành làm đúng chức năngnhiệm vụ của họ nhưng các cơ quan này thường gặp khó khăn trong việc nắmbắt các yêu cầu của nhà tài trợ (đặc biệt là các sở chuyên ngành của tỉnh), nêncũng đã làm chậm tiến độ và hiệu quả của dự án.

Các vấn đề nêu trên đây đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết cần phải cónhững nghiên cứu đánh giá tổng hợp các dự án quốc tế Lâm nghiệp đã và

đang thực hiện ở Việt nam từ trước tới nay để làm cơ sở khoa học cho quátrình quản lý các dự án quốc tế Lâm nghiệp trong tương lai tại Việt nam Vìvậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả các dự án quốc tế Lâm nghiệp rút ra bài học làm cơ sở khoa học cho việc quản lý các

và các chỉ tiêu đánh giá Các chỉ tiêu đánh giá mà giáo trình đề cập tới là: Lãixuất đơn, lãi kép, thời gian và năm chiết khấu Các chỉ tiêu này cho phép đánhgiá hiệu quả kinh doanh rừng về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Nó đã

Trang 8

Contresal Tất cả các địa phương mà tổ chức FAO đã đầu tư dự án trồng rừng

và phát triển lâm nghiệp đều dùng tài liệu này làm cơ sở để đánh giá hiệu quảcác dự án Lâm nghiệp đặc biệt là đối với các nước đang phát triển

Nhìn chung, đánh giá hiệu quả kinh doanh Lâm nghiệp về mặt phươngpháp luận là tương đối hoàn chỉnh và ngày càng phổ cập ở nhiều quốc gia trênthế giới

Tại Philipin (1974) đã tiến hành đánh giá hiệu quả dự án trang trại trồngrừng nguyên liệu giấy của các hộ gia đình cho loài cây mọc nhanh AlbizziaFalcataria, thuộc công ty công nghiệp giấy Philipin (PICOP) Hiệu quả dự ántrồng rừng được đánh giá theo hai mặt là hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh

tế Còn hiệu quả về mặt xã hội và sinh thái môi trường chưa được quan tâm

đánh giá đầy đủ Tuy vậy, công trình này đã được làm tài liệu minh hoạ vàgiảng dạy ở nhiều nước trong khu vực và ở Việt nam

Theo số liệu lưu trữ của TREE CD – ROM (Cab International for Asia)

từ năm 1939 đến năm 1995, có rất nhiều công trình đánh giá hiệu quả kinh tếtrong Lâm nghiệp Trong đó có 19 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế cholâm nghiệp nhiệt đới, đặc biệt có 9 công trình đánh giá hiệu quả các dự ántrồng rừng Nhưng những công trình này chỉ tập trung đánh giá hiệu quả cácbiện pháp kỹ thuật lâm sinh như: Đánh giá hiệu quả cải thiện gen cây trồng,

đánh giá hiệu quả biện pháp phòng chống cháy rừng ở Anh, đánh giá hiệu quảbón phân cho trồng rừng ở Đức…

Trên đây là những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả các dự án của cáctác giả trên thế giới, các công trình này chỉ tập trung đánh về các mặt kinh tế,xã hội, sinh thái - môi trường và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, chưa có mộtcông trình nào đề cập tới việc đánh giá hiệu quả của các dự án trong lĩnh vựcquản lý áp dụng cho từng quốc gia cụ thể

Trang 9

1.2.2 Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả các dự án quốc tế trong lâm nghiệp ở Việt Nam

Nhìn chung đánh giá hiệu quả các dự án lâm nghiệp quốc tế tại Việtnam còn rất mới mẻ Hiện nay, ngoài các báo cáo đánh giá nội bộ của ngànhchúng ta mới chỉ có một số công trình được chính thức công bố kết quả đánhgiá hiệu quả các dự án trong lĩnh vực Lâm nghiệp đó là:

(1) “Kiểm kê diện tích, đánh giá chất lượng rừng và hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình trồng rừng PAM tại Quảng Nam – Đà Nẵng”, của Hoàng

Xuân Tý năm 1994 Đây là công trình đầu tiên về đánh giá hiệu quả các dự ántrong lĩnh vực Lâm nghiệp, công trình này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giáhiệu quả các mặt kinh tế và xã hội của một vùng dự án, hiệu quả về mặt sinhthái môi trường chưa được quan tâm đánh giá cụ thể và cũng chưa rút ra đượcbài học kinh nghiệm nào cho công tác quản lý các dự án tiếp theo

(2) Bước đầu đánh giá hiệu quả của các dự án 327, ảnh hưởng của nó tới việc sử dụng đất và kinh tế – xã hội tại khu vực vùng dự án Lâm trường Quy Nhơn tỉnh Bình Định, của Trần Ngọc Thắng năm 1997 Cũng giống như công

trình trên, đề tài này mới chỉ phân tích được những ảnh hưởng của các dự án

327 tới các mặt kinh tế, môi trường và xã hội, đã có những kết luận về tínhhiệu quả của các dự án trên địa bàn Lâm trường Quy Nhơn tỉnh Bình Định.Nhưng chưa có kết luận cho việc ứng dụng các kinh nghiệm quản lý các dự ántiếp theo

(3) Công trình nghiên cứu, đánh giá các dự án trồng rừng Việt Nam, doCIFOR phối hợp với Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam và tổ chứcTropenbos- Việt Nam thực hiện năm 2003-2004 Tại đây nhóm tác giả đã lựa

Trang 10

học kinh nghiệm để xây dựng thành công các dự án trồng rừng tại Việt Nam(tài liệu thông tin nội bộ).

Tóm lại, cho đến thời điểm hiện nay chưa có nhiều công trình nghiêncứu về việc đánh giá các dự án quốc tế lâm nghiệp đã và đang thực hiện ở ViệtNam đặc biệt là công tác quản lý dự án để có những cơ sở khoa học cho việcquản lý các dự án quốc tế trong tương lai

1.3 Những khái niệm cơ bản

1.3.1 Khái niệm dự án và dự án lâm nghiệp quốc tế

1.3.1.1 Khái niệm dự án

Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những

định nghĩa khác nhau về dự án Theo cách hiểu đơn giản nhất, dự án được coi

là một sáng kiến được đưa ra một cách hoàn toàn chủ quan nhằm đáp ứng mộtnhu cầu trong một tình huống nhất định Ví dụ: trong cuộc sống hàng ngày tathường nghe thấy: “Đó là một ý kiến hay nếu như ta giải quyết vấn đề bằngcách…” [10] Theo tài liệu Management Tool for Development Assistance

đưa ra định nghĩa: Dự án là một công việc dự kiến trước nhằm đạt được nhữngmục tiêu đã xác định trong một khoảng thời gian cụ thể và với một kinh phínhất định [11] Theo Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học,Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2003, trang 25 đã đưa ra định nghĩa: Dự

án được coi là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh

tế và xã hội Dự án nhằm đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra, chịu sự ràngbuộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn lực và phải thực hiện trongbối cảnh không chắc chắn [1] Một số định nghĩa khác về dự án khi xét dướigóc độ của bình đẳng giới: Dự án là một tổ chức của con người sử dụng cácnguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định để mang lại những thay đổi

đã được dự kiến trước cho một nhóm người đã được xác định trước tại thời

điểm kết thúc dự án Một dự án mang đến sự can thiệp có tính phát triển và

Trang 11

Một dự án luôn sẽ quan tâm và coi sự phát triển của phụ nữ là mục tiêu của dự

án nếu giới được coi là một phần của vấn đề cần giải quyết [12] Theo quan

điểm quản Lý các dự án kỹ thuật và công nghệ thì dự án là một loạt nhữnghoạt động được thực hiện bởi một nhóm người nhằm đạt được những mục tiêu

cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định và với một số nhất định [13] Xéttheo quan điểm phát triển cộng đồng thì dự án là một tổng thể có kế hoạchnhững hoạt động (công việc) nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể trong mộtkhoảng thời gian và trong khuôn khổ chi phí nhất định [5] Theo Điều 5 trongNghị định 17/2001/ NĐ - CP ghi rõ: Dự án là một tập hợp các hoạt động cóliên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, đượcthực hiện trong một thời hạn nhất định, dựa trên những nguồn lực xác định

Từ các định nghĩa về dự án trên đây, trong khuôn khổ nghiên cứu của

đề tài, xin đưa ra định nghĩa về dự án như sau: Dự án là một loạt các hoạt

động có kế hoạch nhằm đạt được một hay một số kết quả dự kiến trước tại một

địa bàn nhất định, được thực hiện trong khoảng thời gian và nguồn kinh phí nhất định, có sự tham gia của tất cả các bên liên quan đến dự án.

1.3.1.2 Khái niệm dự án lâm nghiệp quốc tế

Với từng dự án lại có những đặc điểm, tính chất, yêu cầu riêng và côngtác quản lý cho mỗi dự án cụ thể cũng có yêu cầu và thể thức riêng

Từ các định nghĩa về dự án trên đây có thể phân loại dự án dựa vào các tiêuchí như: phạm vi hoạt động, mục đích và quy mô dự án…

Theo mục đích hoạt động của từng dự án, các dự án có thể được phân chiathành các nhóm lớn sau:

* Nhóm dự án phát triển: Là các dự án nhằm đến mục đích làm thay đổi

các điều kiện kinh tế, xã hội của một địa phương, cải tổ một hệ thống quản lý

Trang 12

* Nhóm dự án sản xuất kinh doanh: Gồm các dự án nhằm vào việc tạo ra

sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh của mộtdoanh nghiệp Đó là các dự án sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp hay các

đơn vị sản xuất kinh doanh Mục tiêu chính của chúng là hiệu quả kinh tế vàlợi nhuận

Theo quy mô và phạm vi hoạt động, thường được đánh giá thông qua tổngmức đầu tư và chúng được chia thành các dự án nhóm A, dự án nhóm B vànhóm C Tuy nhiên, tổng mức đầu tư có thể thay đổi theo từng ngành kinh tế(ví dụ như các dự án thuộc nhóm A của ngành Lâm nghiệp chỉ tương đươngvới các dự án thuộc nhóm B hoặc C của ngành Xây dựng hay ngành Giaothông) Mặt khác, quy mô của dự án lại liên quan đến phạm vi hoạt động vàphạm vi này lại liên quan đến sự phân cấp quản lý lãnh thổ (quốc gia, vùng,tỉnh, huyện và cộng đồng các vùng xã, thôn)

Sự xem xét về phân chia dự án, theo các tiêu chí trên đây, có thể nhận rarằng các dự án Lâm nghiệp là các dự án phát triển mà không phải là dự án sảnxuất kinh doanh Vì thứ nhất, chúng xuất phát từ những vấn đề nảy sinh trongthực tiễn quản lý rừng và việc điều hoà các mối quan hệ giữa các cộng đồng

địa phương với tài nguyên rừng Thứ hai, là tính đa dạng của các vấn đề trong

dự án Lâm nghiệp làm cho phạm vi hoạt động của các dự án thường liên quan

đến các cộng đồng địa phương Thứ ba, nguồn lực cho các dự án Lâm nghiệpthường là các khoản kinh phí của nhà nước và các tổ chức xã hội và từ sự đónggóp của cộng đồng Thứ tư, các dự án Lâm nghiệp phản ánh những địnhhướng của nhà nước và khuyến khích người dân sống trong rừng hoặc liênquan đến rừng tham gia vào các hoạt động quản lý, bảo vệ, xây dựng và pháttriển rừng nhằm đạt được mục đích phát triển bền vững kinh tế xã hội và môitrường

Phát triển là mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh [Từ điển

Trang 13

Trong lĩnh vực sinh học, phát triển là một loạt thay đổi mà các cơ quan của

động thực vật trải qua từ trạng thái phôi cho đến lúc trưởng thành, từ trạng thái

tổ chức cấp thấp cho đến tổ chức cấp cao [12]

Trong lĩnh vực phát triển con người thì khái niệm phát triển được địnhnghĩa như sau: Phát triển con người là một quá trình mở rộng sự lựa chọn củacon người… Ba sự chọn lựa cơ bản nhất là được sống một cuộc sống lâu dài

và lành mạnh, được tiếp nhận tri thức và được tiếp cận với nguồn lực cần thiết

đảm bảo một cuộc sống với những tiêu chuẩn tốt… Phát triển con người cóhai mặt: hình thành các khả năng của con người – như là có sức khoẻ tốt hơn,tri thức tốt hơn và các kỹ năng tốt hơn – và việc con người sử dụng những khảnăng có được của mình – vào các mục đích giải trí, sản xuất hoặc tham giatích cực vào các hoạt động văn hoá, xã hội và chính trị [9]

Từ góc nhìn về bình đẳng giới thì phát triển là sự cải thiện những lợi íchvật chất của con người và quá trình đạt được sự cải thiện này Khái niệm pháttriển cũng bao gồm cả yếu tố công bằng – có nghĩa là những lợi ích vật chất

có được từ tiến trình pphát triển phải được phân phối công bằng, đặc biệt làdành cho các đối tượng cần nhất - đó là những người kém may mắn và dễ tổnthương nhất Chính vì vậy mà đã xuất hiện sự quan tâm đặc biệt đối với sựphát triển của phụ nữ bởi vì phụ nữ chiếm đa số trong nhóm người thiệt thòinhất [12]

Trong khuôn khổ phù hợp với nghiên cứu của đề tài, xin đưa ra địnhnghĩa về phát triển như sau: Phát triển là quá trình thay đổi, là sự cải thiện tích cực về kinh tế, xã hội, môi trường và văn hoá chính trị.

Từ những định nghĩa trên đây và trong khuôn khổ nghiên cứu của đề

tài, xin đưa ra định nghĩa dự án Lâm nghiệp Quốc tế như sau: Dự án Lâm

Trang 14

trong một thời hạn nhất định và dựa chủ yếu vào một khoản nguồn vốn nước ngoài nhất định.

1.3.2 Đánh giá hiệu quả dự án và các khái niệm liên quan

1.3.2.1 Đánh giá dự án.

Trong hoạt động quản lý dự án, người ta thường nhắc nhiều đến cụm từ

“giám sát và đánh giá” vì chúng đều là hoạt động quản lý hay nói cách khácchúng đều là công cụ để quản lý các dự án Nhưng giám sát có tính chấtthường xuyên để cung cấp thông tin về tiến trình dự án, trong khi đó đánh giá

được thực hiện trong những thời điểm nhất định và thường nhấn mạnh đến kếtquả có tính tổng hợp của dự án

Sự khác biệt của giám sát và đánh giá: Giám sát có tính chất định kỳchứ không phải làm duy nhất một lần, nhằm thẩm định các chỉ số đã được lựachọn để xác định hiệu quả của các can thiệp về chính sách hoặc các thay đổi.Vì thế Giám sát là sự kiện diễn ra thường xuyên, có thể là hàng ngày; trongkhi đó đánh giá lại diễn ra ít hơn, một vài năm, nhưng không nên quá 2-3 năm[14]

Giám sát có sự tham gia (Participatory Monitiring - PM) là một tiếntrình có hệ thống được thực hiện trong giai đoạn thực thi chương trình hoặc dự

án với mục đích cung cấp thông tin cho quá trình: tư vấn ra quyết định; đảmbảo việc giải trình cho tất cả các bên các cấp của dự án; đánh giá, nhận xét vaitrò cá nhân hoặc tổ chức thực thi dự án [14]

Đánh giá mang lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan như: chia sẻ kinhnghiệm trên hiện trường; cải tiến tổ chức, quản lý kế hoạch, quản lý rủi ro; tàiliệu hoá và nhân rộng thành công của dự án Trong bối cảnh quản lý nguồn tàinguyên thiên nhiên, đánh giá là một phương tiện để thẩm định một cách tổngquan các chương trình, dự án phát triển; các tác động có ý nghĩa khác nhau

đến nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được dự án nỗ lực đáp ứng Theo Từ điển

Trang 15

tiếng Việt – Viện Ngôn ngữ học – Tác giả Hoàng Phê (chủ biên), nxb ĐàNẵng 2001 định nghĩa: Đánh giá là ước tính giá tiền, nhận định giá trị… [6]

Từ các định nghĩa trên đây, xin đưa ra định nghĩa về đánh giá dự án nhưsau: Đánh giá là hoạt động cuối cùng nhằm phán xét tình hình và nhận định giá trị của các tác động trong dự án.

1.3.2.2 Hiệu quả dự án

Hiệu quả là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận vàthực tiễn, là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá năng suất, chất lượng của hoạt độngkinh tế xã hội Trong một số trường hợp, từ các cách tiếp cận khác nhau màmột số người lại cho rằng kết quả và hiệu quả là đồng nhất Thực tế khônghoàn toàn là như vậy bởi vì có năng suất cao và chất lượng tốt nhưng chúng taphải mất quá nhiều nguồn lực để đạt những kết quả đó, có nghĩa là hiệu quả

đạt được là không cao Theo trung tâm Tiêu chuẩn Chất lượng (TCVN) thìhiệu quả là quan hệ giữa kết quả đạt được và nguồn lực được sử dụng TheoNguyễn Hải Sản, quản trị học, nxb Thống kê, Hà Nội, 1998, tr 8, thì cho rằnghiệu quả là thể hiện cách thức các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đã địnhtrong điều kiện có sự hạn chế về nguồn lực [7] Theo tác giả Nguyễn VănNhựt trong, Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã hội,http://www.ueh.edu.vn/tctkt/ptkt2004/), lại định nghĩa hiệu quả là chỉ tiêuphản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của lao động, các tiềm năng, ứng dụngkhoa học và công nghệ, cải tiến các biện pháp quản lý… để tạo ra kết quả hoạt

động (sản xuất, dịch vụ, công tác…) sao cho kết quả đạt được tối đa, còn chiphí cho kết quả đó ở mức tối thiểu [4]

Từ các định nghĩa về hiệu quả trên đây, xin đưa ra định nghĩa hiệu quả

dự án như sau: Hiệu quả dự án là kết quả mong đợi của dự án trong điều kiện

Trang 16

Với hai định nghĩa “đánh giá dự án và hiệu quả dự án” trên đây, trongkhuôn khổ nghiên cứu của đề tài, xin đưa ra định nghĩa về đánh giá hiệu quả

dự án như sau: Đánh giá hiệu quả dự án là hoạt động cuối cùng nhằm phán xét, nhận định những kết quả mà dự án đạt được trong điều kiện các nguồn lực

ít tốn kém nhất và trong khoảng thời gian ít nhất.

1.3.3 Khái niệm quản lý và quản lý các dự án

Khi nghiên cứu khái niệm quản lý, có rất nhiều học giả thuộc cáctrường phái khác nhau đã đưa ra những khái niệm về quản lý theo những cáchtiếp cận khác nhau Trong Từ điển Tiếng Việt, quản lý được định nghĩa làtrông coi và giữ gìn, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêucầu nhất định [6] Một định nghĩa khác về quản lý, quản lý là phương thức đểngười lãnh đạo đạt được mục tiêu của mình bằng người khác và thông quangười khác [16] F.W Taylor (1856 - 1915), nhà quản lý người Mỹ, đại diệncho thuyết Quản lý theo khoa học thì cho rằng quản lý là biết được chính xác

điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thànhcông việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [17] Pual Hersey định nghĩa quản lý làmột quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng nhưcác nguồn lực khác nhau để hoàn thành các mục đích của tổ chức [18] Tácgiả Nguyễn Hải Sản đã đưa ra định nghĩa quản lý là quá trình làm việc với vàthông qua những người khác để thực hiện mục tiêu của tổ chức Những hoạt

động này diễn ra trong một môi trường biến động không ngừng [7] HenryFayol, đưa ra định nghĩa quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức và điềukhiển, phối hợp và kiểm tra [16] Định nghĩa này nói lên bản chất của quản lýnói chung và các chức năng của quản lý mà ngày nay khoa học hiện đại vềquản lý đang sử dụng Từ quan điểm xã hội học thì quản lý là điều khiển mộtnhóm người (đối tượng trực tiếp) thực hiện những nhiệm vụ (đối tượng giántiếp) nhằm đạt mục đích đã định trước Quản lý là làm việc với con người, là

Trang 17

được mục đích đã đề ra của nhóm Mục đích bao gồm kết quả và hiệu quả củaquản lý, là sản phẩm của những nỗ lực của các cá nhân và nhóm người trong

tổ chức [Vũ Cao Đàm, Nguyễn Quang Thuấn, Lê Thanh Bình, (2002), Xã hộihọc Môi trường, nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà nội] Theo Richart L Daft thìcho rằng quản lý không chỉ đơn thuần là việc đạt được các mục địch của tổchức mà là đạt được mục đích của tổ chức một cách có hiệu quả và hiệu suấtthông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của

tổ chức [15] Theo Vương Thị Hanh thì quản lý không chỉ là hoạch định, tổchức, bố trí nhân sự, chỉ đạo thực hiện, kiểm soát công việc, mà còn bao gồmcả việc phát huy những nỗ lực của con người nhằm đạt được mục tiêu đã vạch

ra [3] Từ góc độ nghiên cứu quản lý các dự án Lâm nghiệp của đề tài, xin đưa

ra định nghĩa về quản lý dự án như sau: Quản lý dự án là kiểm soát các bên tham gia dự án tiến hành việc hoạch định, bố trí nhân sự, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát đánh giá các nguồn lực và hoạt động của dự án nhằm đạt

được hiệu quả cao nhất các mục tiêu mà dự án đã đề ra (quản lý dự án được hiểu như một quá trình bao gồm nhiều nội dung từ khâu chuẩn bị xác định dự

án cho đến khâu đánh giá cuối kỳ).

Kết luận

Trên đây là những khái niệm làm cơ sở nghiên cứu của đề tài, gồm cáckhái niệm: Dự án, phát triển, dự án Lâm nghiệp quốc tế, đánh giá dự án, hiệuquả dự án, đánh giá hiệu quả dự án, quản lý dự án

Dự án: là một loạt các hoạt động có kế hoạch nhằm đạt được một hay một số

kết quả dự kiến trước tại một địa bàn nhất định, được thực hiện trong khoảngthời gian và nguồn kinh phí nhất định, có sự tham gia của tất cả các bên liênquan đến dự án

Trang 18

Dự án Lâm nghiệp Quốc tế là tập hợp các hoạt động có kế hoạch nhằm đạt

được mục tiêu phát triển Lâm nghiệp, được thực hiện trên một địa bàn nhất

định, trong một thời hạn nhất định và dựa chủ yếu vào một khoản nguồn vốnnước ngoài nhất định

Đánh giá là hoạt động cuối cùng nhằm phán xét tình hình và nhận định giá

trị của các tác động trong dự án

Hiệu quả dự án là kết quả mong đợi của dự án trong điều kiện các nguồn lực

ít tốn kém nhất và trong khoảng thời gian ít nhất

Đánh giá hiệu quả dự án là hoạt động cuối cùng nhằm phán xét, nhận định

những kết quả mà dự án đạt được trong điều kiện các nguồn lực ít tốn kémnhất và trong khoảng thời gian ít nhất

Quản lý dự án là kiểm soát các bên tham gia dự án tiến hành việc hoạch

định, bố trí nhân sự, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát đánh giá cácnguồn lực và hoạt động của dự án nhằm đạt được hiệu quả cao nhất các mụctiêu mà dự án đã đề ra

Trang 19

1 Xác

định dự án

5 Đánhgiá dự án

4 Thựchiện dự án

Trang 20

Chương 2Mục tiêu, khách thể, vấn đề, giả thuyết, ý nghĩa và

phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả quản lý các Dự án quốc tế Lâm

nghiệp làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất những điều chỉnh trong công tácquản lý các Dự án trong tương lai

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Gồm các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất là xây dựng một số cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá hiệu quảquản lý các Dự án Lâm nghiệp quốc tế

Thứ hai là tiến hành khảo sát đánh giá một số Dự án quốc tế trong lĩnhvực Lâm nghiệp để thu thập thông tin về hiệu quả và quản lý các Dự án, trêncơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm phục vụ cho công tác quản lý dự án nóichung và dự án lâm nghiệp nói riêng, đặc biệt là các dự án có sự tham giaquản lý của các tổ chức quốc tế

Thứ ba là phân tích và xử lý thông tin đã thu thập từ các Dự án Lâmnghiệp quốc tế

2.2 Khách thể và phạm vi nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Là các Dự án Lâm nghiệp quốc tế đã và đang

thực hiện ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi giới hạn khảo sát khoảng 11 Dự án quốc

tế trong lĩnh vực Lâm nghiệp

2.3 Vấn đề nghiên cứu

Các câu hỏi đặt ra trong khi nghiên cứu các Dự án Lâm nghiệp quốc tế là:

- Thực tế quản lý các dự án Lâm nghiệp quốc tế hiện nay ở nước ta đanggặp phải vấn đề gì? nguyên nhân nào dẫn đến các dự án chưa đạt hiệu quả tốt

Trang 21

- Cần có những điều chỉnh gì trong công tác quản lý các dự án Lâm nghiệpquốc tế tại Việt Nam?

2.4 Giả thuyết nghiên cứu

Vấn đề quản lý các Dự án quốc tế Lâm nghiệp ở Việt Nam đang vấpphải nhiều khó khăn dẫn đến các Dự án Lâm nghiệp quốc tế khi vào Việt Namchưa đạt hiệu quả như mong muốn ban đầu mà các tổ chức quốc tế cũng nhưphía Việt Nam kỳ vọng

Để quản lý tốt các dự án và để sau này các Dự án hoạt động một cách cóhiệu quả cần phải đánh giá tổng quan toàn bộ các vấn đề trong công tác quản

lý các Dự án quốc tế Lâm nghiệp và đánh giá được năng lực của các cơ quanquản lý Dự án

Phương pháp thu thập tài liệu: Đề tài nghiên cứu các tài liệu về quản lý

các dự án và đánh giá các dự án, tiến hành phân tích để tìm ra những kháiniệm thích hợp nhất với lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Đề tài thu thập vàphân tích tài liệu, văn bản liên quan đến khoảng 11 dự án quốc tê Lâm nghiệp

Trang 22

Phương pháp Phỏng vấn: Đề tài xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn

và thực hiện phỏng vấn các cán bộ các cán bộ tham gia các dự án Lâm nghiệpquốc tế và các dự án khác Đồng thời xin ý kiến tham gia của các chuyên gia

có kinh nghiệm trong công tác quản lý các dự án và các nhà quản lý công táchợp tác quốc tế tại Việt Nam

2.5.3 Các phương pháp xử lý thông tin định tính và định lượng

Đối với các thông tin định lượng: Dùng phương pháp thống kê để xử lý các

số liệu đã thu thập và tìm quy luật thống kê của chúng Các thông tin địnhtính: xử lý logic, tức là đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện đồngthời thể hiện những liên hệ logic của các sự kiện, các phân hệ trong hệ thốngcác sự kiện cụ thể

2.6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn

ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu góp phần bổ sung cho lý thuyết về đánh giá

hiệu quả các dự án quốc tế trong lĩnh vực Lâm nghiệp, đánh giá thực trạngquản lý các dự án Lâm nghiệp Quốc tế hiện nay ở Việt nam và nhận dạngnhững điểm yếu cần khắc phục trong công tác quản lý các dự án

ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết về đánh giá hiệu quả các

dự án Lâm nghiệp quốc tế và thực trạng quản lý chung hiện nay, nghiên cứu

đưa ra các bài học kinh nghiệm nhằm khắc phục những hạn chế trong công tácquản lý để các dự án Lâm nghiệp Quốc tế khi vào Việt nam nhằm nâng caohiệu quả các dự án quốc tế hoạt động tại Việt Nam

Trang 23

Chương 3 thực trạng việc quản lý các dự án lâm nghiệp

quốc tế tại việt nam

Trong quá trình khảo sát thực tế, đề tài đã xem xét và tổng kết một số dự ánLâm nghiệp quốc tế tại Việt Nam về hiện trạng quản lý các dự án này với kếtquả trình bày dưới đây

3.1 Các chính sách và thể chế ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài vào ngành Lâm nghiệp Việt Nam

3.1.1 Các chính sách về Lâm nghiệp Việt nam

Chính phủ Việt Nam, Bộ NN&PTNT và các Bộ ngành khác đã ban hànhnhiều chính sách quan trọng liên quan đến ngành Lâm nghiệp, nhưng hầu hếtnhững chính sách này chưa phát huy đầy đủ và khai thác hết tiềm năng kinh tếcủa ngành Nhận biết được tầm quan trọng của rừng đối với môi trường và sựphát triển của đất nước trong tương lai cũng như thể hiện sự quan tâm của toànxã hội và Chính phủ về ngành Lâm nghiệp, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết

định số 661 về thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng trong đó quy

định rõ nội dung chủ đạo là: nâng cao độ che phủ rừng lên 43%, sử dụng đất trống đồi núi trọc một cách hiệu quả nhằm tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo

và cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và đưa ngành Lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng.

Hiện nay các chính sách về Lâm nghiệp luôn được bổ sung và sửa đổicho phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước và phát triển ngànhLâm nghiệp theo hướng xã hội hoá nghề rừng Cụ thể như các chính sách dưới

đây:

Trang 24

thôn bản Mặc dù vậy việc giao đất, cho thuê đât, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất Lâm nghiệp chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài nguyên vàMôi trường với Bộ NN&PTNT và chính quyền các cấp Vì vậy còn chậm trễtrong khâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều này gây ảnh hưởnglớn cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất

Luật đất đai năm 1993 đã được sửa đổi bổ xung vào các năm 1998,

2000 và 2003 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2004 và các văn bản dướiluật cũng đang được hoàn thiện như: Quyết định 02/CP được thay bằng Nghị

định 163/1999/NĐ – CP về giao, cho thuê rừng và đất rừng cho các tổ chức,

hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Quyết định

số 245/1998/QĐ-TTG ngày 21/12/1998 về phân cấp thực hiện trách nhiệmquản lý nhà nước về rừng và đất rừng cho chính quyền địa phương các cấp

Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được hoàn thiện và phê duyệt vàotháng 11 năm 2004 Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 661/QĐ-TTGnăm 1998 quy định về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiệnchương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Quyết định số 08/2001/QĐ-TTG(2001) của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quy chế về quản lý rừng đặcdụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất Quyết định của Thủ tướng chính phủ

số 178/2001/QĐ-TTG (2001) về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình/cá nhân

được giao và khoán rừng và đất rừng trong việc hưởng lợi từ rừng

Các chính sách về đất và rừng đã trình bày trên đây được ban hànhnhằm:

- Tiến hành đổi mới ngành Lâm nghiệp theo hướng xã hội hoá nghề rừng, tạo

công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư nông thôn

- Tăng cường sự tham gia của người dân vào việc quản lý tài nguyên rừng

thông qua việc giao đất giao khoán rừng, phát triển Lâm nghiệp xã hội

- Nâng cao độ che phủ của rừng bằng các biện pháp trồng rừng, tái tạo rừng

Trang 25

- Chuyển đổi phương thức quản lý rừng từ khai thác rừng là chính sang quản

lý và sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững

3.1.2 Chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm

Hiện tại quyền hưởng lợi của các hộ gia đình được giao, được thuê nhậnkhoán rừng và đất lâm nghiệp chưa thực sự mang lại lợi ích kinh tế cho người

được giao, được thuê và nhận khoán rừng, trừ rất ít trường hợp ở những nơi córừng và đất lâm nghiệp sát với các vùng kinh tế phát triển, còn lại hầu hết rừng

và đất Lâm nghiệp ở vùng sâu vùng xa nằm trong khu vực kinh tế chậm pháttriển người dân chưa thực sự sống được bằng nghề rừng Đời sống của ngườidân rất khó khăn, sản phẩm hàng hoá lấy ra từ rừng không có thị trường tiêuthụ, nếu có thì giá rất rẻ mạt, không đủ bù đắp cho chi phí Thực tế cho thấy

đối với hộ gia đình nhận khoán rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, thì thu nhậpcủa người dân chính là công lao động mà nhà nước thanh toán với mức chi phithấp (khoán bảo vệ 50.000 đồng/ha/năm; khoanh nuôi và trồng bổ xung 1triệu đồng/ha/6năm) Hơn nữa với mức thời gian giao khoán như trên là quángắn sẽ làm tăng nguy cơ mất rừng khi hết thời gian giao khoán Trong thực tếcơ chế khoán bảo vệ rừng chưa thể hiện sự gắn kết trực tiếp lợi ích của ngườinhận khoán với hiệu quả công tác bảo vệ rừng

3.1.3 Thể chế quản lý các dự án quốc tế Lâm nghiệp tại Việt Nam

Các dự án lâm nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài thì cơ quan chủquản là Bộ NN&PTNT Trách nhiệm quản lý và thực thi dự án được giao choBan quản lý các dự án lâm nghiệp và phân cấp quản lý tới các tỉnh có dự án

đầu tư vào Tại các tỉnh thể chế quản lý các dự án cũng rất khác nhau: Có tỉnhban quản lý các dự án lâm nghiệp dựa vào lực lượng Kiểm lâm là chính, cótỉnh lại là Sở NN&PTNT hay là Chi Cục phát triển lâm nghiệp Như vậy trên

Trang 26

ADB, tỉnh đã thành lập hai ban quản lý dự án tại Sở NN&PTNT và Chi cụckiểm lâm Đối với cấp huyện các ban quản lý dự án thường là các Lâm trường,Hạt kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ v.v… Như vậy ngoài chức năngnhiệm vụ của các tổ chức đó ra thì nay lại phải gánh thêm nhiệm vụ và thựcthi dự án một nhiệm vụ rất nặng nề, vả lại các cán bộ này là người làm việc tạicác cơ quan quản lý nhà nước, do vậy tính chuyên nghiệp trong công tác quản

lý dự án chưa cao

Hiện nay, Việt Nam chưa có chương trình đào tạo chính quy về quản lý

dự án trong hệ thống đào tạo bởi vậy hầu hết các cán bộ trong các ban quản lý

dự án chưa có kinh nghiệm quản lý và chưa được đào tạo chính quy BộNN&PTNT đang ra soát lại chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia do vậychưa thể đưa ra hướng dẫn cho các dự án ODA lâm nghiệp, như phân cấp quản

lý cho địa phương, cải cách hành chính công và chiến lược phát triển toàn diện

về xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế Và chưa có những chỉ đạo rõràng ví như tăng cường cho sự tham gia của chính quyền xã

Tóm lại, để có thể quản lý hiệu quả các dự án nước ngoài trong lĩnh vực Lâm nghiệp cần phải thiết lập một ban quản lý các dự án lâm nghiệp tại các tỉnh có dự án để quản lý nhiều dự án cùng triển khai trên địa bàn nhằm tăng tính chuyên nghiệp và thống nhất trong quản lý dự án Xây dựng chương trình

đào tạo đưa vào hệ thống đào tạo chính quy nhằm tạo lực lượng cho tất cả các cấp quản lý từ xã đến huyện, tỉnh và trung ương Xác định rõ vai trò trách nhiệm của các cơ quan chính phủ có liên quan trong công tác quản lý dự án nước ngoài về lâm nghiệp.

3.1.4 Các chính sách của các Nhà tài trợ

Với mỗi một nhà tài trợ khi đầu tư vào Việt Nam đều có những chínhsách và ưu tiên riêng cho từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau Nhưng trongnhững năm gần đây chính sách của các nhà tài trợ dành cho ngành lâm nghiệp

Trang 27

phát huy tiềm năng của ngành lâm nghiệp, thúc đẩy công tác quản lý rừngtheo phương pháp khoa học và bền vững, khuyến khích người dân tham giavào toàn bộ quá trình quản lý Dưới đây là tóm tắt về chính sách của một sốnhà tài trợ.

3.1.4.1 Chính sách của ngân hàng Phát triển Châu á (ADB).

Ngân hàng Phát triển Châu á tập chung chủ yếu vào những hoạt động sau:

- Tập chung chủ yếu vào công tác quy hoạch - kế hoạch quản lý mang tínhkhoa học và bền vững

- Tăng cường chức năng phòng hộ của rừng về đất, nước và khai thác bềnvững rừng trồng và rừng tự nhiên

- Khuyến khích sự tham gia của các cộng đồng trong việc xây dựng vàthực hiện các hoạt động phát triển lâm nghiệp

Những hoạt động này dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản là: Bảo vệ; sản xuất

và tham gia dựa trên cơ chế quản lý rừng bền vững và hiệu quả Bảng 1 dưới

đây thể hiện tóm tắt các mục tiêu, chiến lược và cách tiếp cận nhằm địnhhướng cho đội ngũ cán bộ của ADB trong việc quyết định chính sách và ưutiên đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp

Bảng 3.1: Chớnh sỏch về lõm nghiệp của ADB (theo ADB-PPTA 3818)

Viễn cảnh: Quản lý rừng vỡ một tương lai thịnh vượng và lành mạnh

hơn ở tất cả cỏc nước Chõu ỏ và Thỏi bỡnh dương

Mục tiờu khỏi quỏt: Tăng cường quản lý rừng bền vững nhằm gúp

phần xoỏ đúi giảm nghốo và bảo vệ mụi trường

Mục tiờu chớnh sỏch: Hỗ trợ cho cỏc nước đang phỏt triển là thành

viờn của ADB nhằm (1) tăng cường cụng tỏc quản lý bảo vệ diện tớchrừng tự nhiờn cũn lại nhằm cải thiện điều kiện phỏt triển rừng, đặc biệtđốivới những khu rừng cú giỏ trị bảo tồn và giỏ trị thương mại cao; (2)Tăng cường quản lý rừng nhằm nõng cao vốn rừng và đảm bảo an ninh

Trang 28

cường hiệu quả, hiệu lực và tớnh minh bạch của cỏc cơ quan quản lý và

cơ quan phỏp luật

Cỏc chiến lược: ADB thỳc đẩy quản lý rừng bền vững một cỏch tổng

thể gúp phần giảm nghốo và xõy dựng cuộc sống tốt đẹp cho con người

A Tăng cường quản lý rừng, xõy dựng năng lực và đảm bảo an

ninh về vốn rừng

(i) Tăng cường cụng tỏc xỏc định và khoanh nuụi diện tớch rừng

quốc gia theo phương thức cựng tham gia

(ii) Cải thiện sự tiếp cận rừng, sự ổn định về phỏp lý và đảm bảo an

ninh về tài nguyờn rừng

(iii) Hỗ trợ cụng tỏc đỏnh giỏ, định giỏ và phỏt triển diện tớch rừng

quốc gia

(iv) Hỗ trợ ngành trong cụng tỏc quy hoạch chiến lược nhằm cõn đối

cung vàcầu đối với sản phẩm và dịch vụ lõm nghiệp

(v) Cải thiện điều kiện phỏt triển và quản lý rừng

B Cỏch tiếp cận tổng hợp đối với phỏt triển lõm nghiệp và giảm nghốo

(i) Thỳc đẩy cỏch tiếp cận định hướng theo chớnh sỏch trong cụng

tỏc quy hoạch của ngành lõm nghiệp và cỏc hoạt động hỗ trợ(ii) Tăng cường điều hoà cỏc chớnh sỏch của ngành

(iii) Tập trung vào trọng tõm phỏt triển năng lực, đặc biệt là nhúm

người đặc biệt khú khăn về kinh tế xó hội và phụ nữ

(iv) Hỗ trợ phỏt triển nguồn nhõn lực và tổ chức sắp xếp hợp lý cỏc

cơ quan nguồn lực, cỏc cộng đồng, cỏc tổ chức phi chớnh phủnhằm phục vụ cụng tỏc quản lý và quy hoạch tài nguyờn rừng.(v) Thỳc đẩy cỏc dự ỏn năng lượng nụng thụn dựa vào gỗ và định

hướng theo nhu cầu

C Tăng cường sử dụng cỏch tiếp cận cảnh quan/ khu vực đầu

nguồn và ỏp dụng cụng nghệ mới hiện đại

(i) Áp dụng cỏch tiếp cận cảnh quan và khu vực đầu nguồn trong

việc lập kế hoạch đầu tư nhằm thỳc đẩy quản lý tài nguyờn rừngtổng hợp

(ii) Tăng cường ỏp dụng tổng hợp cỏc cụng nghệ hiện đại và địa

phương nhằm cải thiện điều kiện và năng suất rừng

Trang 29

3.1.4.2 Chính sách của ngân hàng Thế giới (WB)

Trong những năm 1990 hàng năm thế giới mất đi khoảngtừ 15 đến 17triệu ha, do con người đánh giá chưa đầy đủ về rừng và cũng như vai trò củarừng trong việc bảo vệ môi trường và cuộc sống, Ngân hàng thế giới đã sửa

đổi chính sách về lâm nghiệp, chiến lược tháng 10 năm 2002 Chiến lược này

được dựa trên ba mục tiêu quan trọng và liên quan chặt chẽ với nhau:

- Đưa tiềm năng của lâm nghiệp tham gia vào giảm nghèo

- Gắn lâm nghiệp vào phát triển kinh tế bền vững

- Bảo vệ giá trị rừng toàn cầu

Như vậy chính sách lâm nghiệp của Ngân hàng Thế giới dựa trên mụctiêu giảm nghèo mà không làm ảnh hưởng đến giá trị môi trường Để đạt đượcmục tiêu này thì cần phải bảo vệ các diện tích rừng phòng hộ xung yếu đồngthời hỗ trợ cải tiến quản lý rừng sản xuất một cách hiệu quả

3.1.4.3 Chính sách của ngân hàng Tái thiết Đức (KfW)

Một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Đức dành cho ngànhLâm nghiệp trong hợp tác phát triển giữa Đức và Việt Nam là bảo vệ và quản

lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Nội dung của quá trình hợp tác làthông qua sự hỗ trợ các mô hình dự án trồng rừng và quản lý rừng có sự đổimới tại các huyện nghèo của một số tỉnh miền Bắc và miền Trung thông quangân hàng Tái thiết Đức (KfW)

Các dự án của KfW từ năm 1995 tập trung chủ yếu vào tạo thu nhậpcho các hộ gia đình nông dân thông qua trồng rừng sản xuất trên đất trống vớimục tiêu bảo vệ đất và nước Hiện nay KfW cung cấp viện trợ không hoàn lạivới mục tiêu là thiết kế và thử nghiệm các phương pháp cải tiến cơ chế cho táitạo rừng và quản lý rừng bền vững thông qua hỗ trợ tài chính

Trang 30

3.2 Hiện trạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Sau khi Việt Nam dành được độc lập, các hoạt động hợp tác phát triểnchính thức giữa Việt Nam với các nước trong cộng đồng quốc tế đã sớm đượchình thành và được duy trì cho tới giữa những năm 80 Tuy nhiên các hoạt

động đầu tư vào ngành Lâm nghiệp thời kỳ này chỉ là các hạng mục đầu tưcho Công nghệ Chế biến và khai thác Lâm sản, chưa có hoặc rất ít đầu tư choquá trình phát triển Lâm nghiệp, mặt khác hình thức đầu tư nước ngoài thời

điểm này chỉ mang tính chất “cho không” của các nước trong phe xã hội chủnghĩa, do vậy hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí chưa cao, các hoạt động tậptrung chủ yếu vào việc nghiên cứu cơ bản và phát triển ngành lâm nghiệp theohướng kế hoạch hoá và tập trung tại khu vực nhà nước Sau một thời gian gián

đoạn, bắt đầu từ năm 1993, các cam kết đầu tư hợp tác phát triển này đã đượctái lập hoàn toàn Các cam kết của cộng đồng quốc tế dành cho phát triểnngành Lâm nghiệp được dựa trên các yêu cầu của Chính phủ Việt Nam và BộNN&PTNT như: trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn,bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển nguồn nhân lực… gắn với phát triển nôngthôn và xoá đói giảm nghèo Các nhà đầu tư hiện nay cũng đa dạng hơn, ngoài

Trang 31

các nước phát triển cam kết viện trợ cho Việt Nam còn có cả các tổ chức phichính phủ, tổ chức đa phương cũng đã cam kết hỗ trợ phát triển cho Việt Nam.

Kể từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ tích cực củacác nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội Nguồn vốnviện trợ nước ngoài ngày càng lớn và đã đóng một vai trò quan trọng, gópphần đáng kể giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế cao, xoá đói giảmnghèo và cải thiện được một phần đời sống nhân dân vùng núi Với tình hìnhhiện nay khi nguồn vốn nước ngoài viện trợ vào Việt Nam khó có thể gia tăngvới tốc độ cao trong thời gian tới trong khi đó thì nhu cầu phát triển đòi hỏinguồn lực cho công tác quản lý là rất lớn, chính vì vậy mà Chính phủ ViệtNam đã cam kết hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng nguồn vốn nước ngoài này

Hiện nay Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác với 25 nhàtài trợ song phương, 19 đối tác đa phương và hơn 350 tổ chức phi Chính phủnước ngoài [theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư]

Theo bảng 2, trong giai đoạn 1993 đến 2001 các nhà tài trợ đã cam kết

tài trợ cho Việt Nam là 19,94 tỷ USD, cho tới hết năm 2001 Việt Nam mới chỉgiải ngân hết 9,571 tỷ USD đạt 48% nguồn vốn ODA đã cam kết Tuy tốc độgiải ngân năm sau có cao hơn năm trước nhưng việc giải ngân vẫn còn hạn chế

so với cam kết

Nguồn vốn ODA được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh

tế, xã hội ưu tiên của Chính phủ, đó là: năng lượng điện (24%); ngành giaothông (27,5%); nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và cả thủy lợi là (12,74%);ngành cấp thoát nước (7,8%); các ngành y tế - xã hội, giáo dục và đào tạo,khoa học -công nghệ – môi trường (11,87%)

Trang 32

Bảng 3.2: Cam kết và thực hiện ODA thời kỳ 1993-2001

( Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Năm Cam kết ODA

(Triệu USD)

Thực hiện/giải ngõn ODA

(Triệu USD)

Giải ngõn/cam kết (%)

Ghi chỳ: (*) Chưa kể 0,5 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cỏch kinh tế

(**) Chưa kể 0,7 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cỏch kinh tế

Mục tiêu đến năm 2010 nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức vẫn huy

động đạt khoảng 20% vốn đầu tư toàn xã hội (2 tỷ USD/năm) trong đó chonông nghiệp và phát triển nông thôn vẫn giữ khoảng 15% trong tổng vốn huy

động Đối với Lâm nghiệp sẽ tập trung vào trồng rừng lấy gỗ phục vụ cho nềnkinh tế, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường

Trang 33

3.3 Khái quát tình hình đầu tư nước ngoài vào ngành Lâm nghiệp

Việt Nam

Theo số liệu bảng 3: Từ 1996 đến 2003, các nhà tài trợ đã cam kết tài

trợ cho Bộ NN&PTNT 266 dự án với tổng ngân sách vào khoảng 1.606 triệuUSD, tương đương với 24.895 tỷ VND Trong khi hầu hết các dự án tập trung

vào thuỷ lợi 669 triệu USD, nông nghiệp 605 triệu USD, sau đó vào lâm nghiệp chỉ là 332 triệu USD Mức đầu tư trung bình cho mỗi dự án lâm nghiệp

ở vào khoảng 3,8 triệu USD, dự án nông nghiệp là 4,3 triệu USD và thuỷ lợi là17,6 triệu USD Như vậy có thể thấy rằng nguồn vốn đầu tư ODA dành cholâm nghiệp là ít nhất

Theo số liệu phân tích của Bộ NN&PTNT, trong số 24.895 tỷ VND đãcam kết, chỉ có khoảng 7.084 tỷ VND nguồn vốn vay ODA được tính vàongân sách của Bộ và là một con số khá khiêm tốn so với tổng ngân sách Lý

do chủ yếu là hầu hết nguồn vốn tài trợ không hoàn lại đều do các nhà tài trợquản lý và không được tính vào hệ thống ngân sách của Bộ Tốc độ giải ngâncủa nguồn vốn vay là rất chậm, đặc biệt là trong ngành lâm nghiệp Tuy nhiên,7,084 tỷ VND cũng đã tương đương với 42% tổng ngân sách của Bộ, điều đócũng có nghĩa là ODA vay là một nguồn ngân sách rất quan trọng trong ngânsách của Bộ

Trang 34

B¶ng 3.3: HiÖn tr¹ng sö dông nguån vèn ODA cña Bé NN&PTNT

Trang 35

Nguồn vốn cho các dự án quốc tế Lâm nghiệp được các chính phủ (như Thuỵ

Điển, Đức, Nhật Bản, Hà Lan) và các tổ chức đa phương như ADB và WBcung cấp thông qua hai hình thức là viện trợ không hoàn lại và vốn vay ưu đãi.Các chương trình dự án này vào Việt Nam đã đóng góp rất to lớn vào sựnghiệp phát triển Lâm nghiệp Việt Nam đặc biệt là phát triển kinh tế vùng sâuvùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, làm thay đổi diện mạo kinh tế Lâm nghiệp,tăng khả năng đóng góp của ngành Lâm nghiệp vào nền kinh tế Quốc dân

Theo số liệu (Bảng 4) của Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp, trong giai

đoạn 1991 –2003, Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp đã trực tiếp quản lý 14chương trình, dự án nước ngoài đầu tư cho Lâm nghiệp với tổng kinh phí294,4 triệu USD, trong đó có 10 dự án viện trợ không hoàn lại, 4 dự án vốnvay của 6 nhà tài trợ chính: Chương trình lương thực thế giới, Thuỵ Điển, Đức,Nhật Bản, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu á và 2 nhà đồng tàitrợ không hoàn lại: Hà Lan và Đan Mạch Địa bàn hoạt động dự án gồm 35tỉnh với 273 huyện trải dài từ Hữu Nghị quan (tỉnh Lạng Sơn) đến Mũi CàMau

Trong những năm qua, các dự án nước ngoài đầu tư vào Lâm nghiệp đãtrồng được 245.000 ha rừng, chiếm khoảng 17% diện tích rừng trồng hiện nay.Các dự án đã giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên: 82.000 ha và xâydựng được 6.000 đất canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp Ngoài ra đãtriển khai xây dựng 36 công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ, 180 km đường giaothông liên thôn và 3.500 m2 trường học Đã tổ chức 190 lớp đào tạo cho 3.900cán bộ và 810 lớp tập huấn cho 33.600 nông dân

Trong giai đoạn từ năm 2001 - 2005, 3 nhà tài trợ lớn của ngành Lâmnghiệp đã tiếp tục cam kết tài trợ 3 dự án, các dự án Quốc tế Lâm nghiệp này

Trang 36

- Ngân hàng thế giới (WB) đã viện trợ cho dự án “Phát triển ngành lâmnghiệp” với kinh phí 80 triệu USD, thông qua hình thức vay ưu đãi.

- Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) với dự án vốn vay “Phát triển Lâmnghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên”, kinh phí 50 triệu USD

- Ngân hàng Tái thiết Đức (KFW) cũng đã cam kết viện trợ không hoàn lại12,1 triệu Euro cho 1 dự án trồng rừng ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ(KfW 6)

Bảng 3.4: Tỡnh hỡnh viện trợ nước ngoài cho ngành Lâm nghiệp

từ năm 1991 đến 2003 (Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp)

Đơn vị tớnh: triệu USD

Tờn cỏc dự ỏn Tổng

số

Trong đú

Thời gian thực hiện

Vay

ưu đói

Khụng hoàn lại

Đối ứng

Dõn gúp

Trang 37

Chương 4 Kết quả đánh giá và bài học kinh nghiệm

4.1 Các dự án do ban quản lý các dự án lâm nghiệp quản lý

Phần trình bày dưới đây là kết quả thu được từ việc phỏng vấn, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu của 11 dự án trong khuôn khổ khảo sát của đề tài.

4.1.1 Tóm lược các dự án mà đề tài tập trung nghiên cứu

Dưới đây là danh sách 11 dự án Quốc tế Lâm nghiệp do Ban quản lý các dự

án lâm nghiệp thực hiện đầu tư, trong đó có 05 dự án vốn vay (4 dự án nhóm

A, 1 dự án nhóm B) và 6 dự án vốn viện trợ không hoàn lại Tổng mức đầu tưtrên 300,7 triệu USD Các dự án đang trong giai đoạn đẩy nhanh tiến độ đầu

tư, bao gồm:

4.1.1.1 Các dự án vốn vay:

(1) Dự án Khu vực lâm nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn(ADB1) sử dụng vốn vay ADB tài trợ và được triển khai tại 4 tỉnh: Thanh Hoá,Quảng Trị, Gia Lai và Phú Yên Thời gian thực hiện từ năm 1998 đến12/2005 Tổng vốn đầu tư là 53,2 triệu USD (vốn vay là 33,1 triệu USD, vốnviện trợ không hoàn lại là 7,0 triệu USD, vốn đối ứng là 5,1 triệu USD, vốndân đóng góp là 8,0 triệu USD)

(2) Dự án Bảo vệ rừng và Phát triển nông thôn (WB1) sử dụng vốn vay WBtài trợ và được triển khai tại 5 tỉnh: Kon Tum, Lâm Đồng, Đồng Nai, BìnhPhước và Đắc Nông Thời gian thực hiện tháng 6/1998 đến tháng 6/2006.Tổng vốn đầu tư là 32,3 triệu USD (vốn vay là 21,5 triệu USD, vốn viện trợkhông hoàn lại là 5,0 triệu USD, vốn đối ứng là 5,8 triệu USD)

Trang 38

tháng 6/2006 Tổng vốn đầu tư là 65,6 triệu USD (vốn vay là 31,8 triệu USD,vốn viện trợ không hoàn lại là 11,3 triệu USD, vốn đối ứng là 22,5 triệu USD)(4) Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp (WB3) sử dụng vốn vay WB tài trợ

được triển khai tại 4 Tỉnh: Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình

Định Thời gian thực hiện từ 2004-2010 Hiện đang bắt đầu triển khai, kinhphí khoảng 80 triệu USD vốn vay

(5) Dự án Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn (JBIC) sử dụng vốn vay JBICtài trợ và được triển khai tại 5 tỉnh: Quảng Trị, Thừa-Thiên-Huế, Quảng Nam,Quảng Ngãi và Phú Yên Thời gian thực hiện từ 2002 đến 12/2006 Tổng vốn

đầu tư là 15,6 triệu USD (vốn vay là 13,6 triệu USD, vốn đối ứng là 2,0 triệuUSD)

4.1.1.2 Các dự án viện trợ không hoàn lại:

(1) Dự án Trồng rừng tại 3 tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn(KfW1), do KFW tài trợ (KfW 1 kéo dài) Thời gian 1999 đến hết tháng 1năm 2005 Tổng vốn đầu tư là 5,7 triệu USD (vốn viện trợ không hoàn lại là4,9 triệu USD, vốn đối ứng là 0,8 triệu USD)

(2) Dự án Trồng rừng tại 3 tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn(KfW2), do KFW tài trợ Thời gian 1999 đến hết tháng 1 năm 2005 Tổng vốn

đầu tư là 9,3 triệu USD (vốn viện trợ không hoàn lại là 7,7 triệu USD, vốn đốiứng là 1,6 triệu USD)

(3) Dự án Trồng rừng tại 3 tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn(KfW3), do KFW tài trợ (Pha 2 của KfW 2 kéo dài) Thời gian 1999 đến hếttháng 12 năm 2005 Tổng vốn đầu tư là 6,0 triệu USD (vốn viện trợ khônghoàn lại là 5,0 triệu USD, vốn đối ứng là 1,0 triệu USD)

(4) Dự án Trồng rừng tại 2 tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An (KfW4), do KFWtài trợ Thời gian thực hiện 2002 đến 12/2008 Tổng vốn đầu tư là 9,4 triệuUSD (vốn viện trợ không hoàn lại là 7,7 triệu USD, vốn đối ứng là 1,7 triệu

Trang 39

(5) Dự án khôi phục và quản lý rừng bền vững ở các tỉnh Quảng Nam,Quảng Ngãi và Phú Yên " do Đức tài trợ (KfW 6), từ tháng 12 năm 2004 đến

2013 Tổng vốn viện trợ là 12,1 triệu USD

(6) Dự án Trồng rừng trên đất cát ven biển Nam Trung bộ Việt Nam tại 2tỉnh Phú Yên và Quảng Nam (PACSA), do Nhật Bản tài trợ Thời gian 2001

đến 2005

(7) Các dự án do các tổ chức phi chính phủ viện trợ không hoàn lại khác,

được quản lý trực tiếp bởi các cơ quan thực hiện dự án như các trường cácViện, các tổ chức xã hội như hội Khoa học, hội Nông dân, Đoàn thanh niên,Hội phụ nữ

4.1.1.3 Mục tiêu và các nội dung chính của các dự án:

Mục tiêu chủ yếu của các dự án: Bảo tồn đa dạng sinh học; khôi phục

và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn rất sung yếu và sung yếu; Cải thiện đờisống người dân nhằm làm giảm sự phụ thuộc vào rừng; phát triển kinh tế – xãhội nông thôn miền núi; Trồng rừng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất trên đấttrống đồi núi trọc, đất cát ven biển; Tăng cường năng lực quản lý tài nguyênrừng từ trung ương đến địa phương; bảo vệ môi trường; phát triển bền vững tàinguyên thiên nhiên

Nội dung hoạt động của các dự án rất đa dạng và phong phú, nhưng đềumang mục tiêu chung là các dự án phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miềnnúi, thích ứng với tình hình thực tế về đất đai, khí hậu, tập quán và truyềnthống canh tác, cơ cấu cây trồng vật nuôi của mỗi địa phương và mục tiêunhằm khuyến khích sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhândân, góp phần cải tạo môi trường sinh thái nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Các nội dung hoạt động chính là: Điều tra đánh giá kinh tế - xã hội và

Trang 40

quốc gia, nông lâm kết hợp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển thểchế chính sách, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ quản lý dự án, tái địnhcư, hỗ trợ xã hội, phát triển giới, phát triển tổ chức, phát triển kinh doanh, xoá

đói giảm nghèo

Các dự án do Ban quản lý mang tính đa ngành, đa lĩnh vực và mang tínhxã hội cao, đòi hỏi tham gia của người dân và chính quyền cấp cơ sở từ khâuchuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và giám sát đánh giá Các công trình đầu tưlâm nghiệp, nông lâm kết hợp tập trung cho đối tượng hưởng lợi là hộ gia

đình, các công trình cơ sở hạ tầng thường có quy mô nhỏ và vừa, thực hiện ởvùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Xét về mặt mục tiêu và các hoạt

động đầu tư, các dự án của Ban quản lý có liên quan nhiều đến luật bảo vệ vàphát triển Lâm nghiệp và chương trình dự án quốc gia như: dự án 661, chươngtrình 135, chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình đào tạo nguồn nhânlực, chương trình xây dựng thể chế chính sách, các dự án do các cơ quan khácquản lý tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nâng cao năng lực cho cán bộ vàngười dân

4.1.2 Phân tích, đánh giá các hoạt động Dự án.

4.1.2.1 Chuẩn bị thiết kế Dự án

Các dự án Lâm nghiệp Quốc tế đã và đang triển khai hoạt động tại Việt Nam

được xây dựng trên cơ sở các yêu cầu của Chính phủ Việt Nam và BộNN&PTNT như: trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học,bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ rừng ngập mặn, phát triển nguồn nhân lựckhuyến lâm v.v , gắn với phát triển nông thôn và xoá đói giảm nghèo, nhằmgóp phần nâng cao mức sống của người dân và giảm áp lực lên rừng Hầu hếtcác dự án Lâm nghiệp quốc tế đã và đang triển khai tại Việt nam, công tácchuẩn bị đều được sự hỗ trợ về cả kỹ thuật và tài chính của các nhà tài trợ nênrất thuận lợi cho công tác chuẩn bị dự án

Ngày đăng: 09/04/2022, 19:46

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w