Phân tích vai trò của hệ thống các công ty con,công ty liên kết của tổ chức tín dụng; từ đó đưa ra ý kiến pháp lý trên cơ sở đánh giá các vi phạm trong hoạt động ngân hàng năm 2015.....MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I Khái quát chung 2 1 Tổ chức tín dụng 2 2 Công ty con công ty liên kết và hoạt động của công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng 3 II Vai trò của hệ thống các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng 7 III Các ý kiến pháp lý trên cơ sở đánh giá các vi phạm của các công ty con công ty liên kết của tổ chức tín dụng 10 1 Thực trạng hoạt động của công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng năm 2015 10 2 Các ý kiến pháp lý về các quy định của cô.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Khái quát chung 2
1 Tổ chức tín dụng 2
2 Công ty con công ty liên kết và hoạt động của công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng 3
II Vai trò của hệ thống các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng 7
III Các ý kiến pháp lý trên cơ sở đánh giá các vi phạm của các công ty con công ty liên kết của tổ chức tín dụng 10
1 Thực trạng hoạt động của công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng năm 2015 10
2 Các ý kiến pháp lý về các quy định của công ty con, công ty liên kết của các tổ chức tín dụng 15
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, hàng loạt các mô hình các doanh nghiệp được ra đời với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và hội nhập quốc tế Các mô hình công ty thành lập những công ty con, công ty liên kết nhằm đạt được mục đích kinh doanh nhất định, một trong những lĩnh vực của nền kinh tế hiện nay có tác động mạnh mẽ đến việc các ngành nghề lĩnh vực khác là các hoạt động ngân hàng Các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế thành lập và mua lại các công ty con nhằm thực hiện những cơ hội kinh doanh khác nhau và hoạt động trên các lĩnh vực trong nền kinh tế Nhận biết được vấn đề
này, trong bài tập học kỳ em xin chọn đề bài như sau: “ Phân tích vai trò của hệ thống các công ty con,công ty liên kết của tổ chức tín dụng; từ đó đưa ra ý kiến pháp lý trên cơ sở đánh giá các vi phạm trong hoạt động ngân hàng năm 2015”
Trang 3NỘI DUNG
I Khái quát chung
1 Tổ chức tín dụng
Khái niệm: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả
các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
( Điều 4 khoản 1 Luật tổ chức tín dụng 2010 )
Đặc điểm: Từ khái niệm theo quy định của Luật tổ chức tín dụng, thì tổ chức tín
dụng cũng là một doanh nghiệp được quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế mang những đặc điểm khác biệt với các doanh nghiệp riêng biệt:
- Đối tượng kinh doanh: tiền tệ;
- Hoạt động kinh doanh đặc thù
+ Huy động vốn: nhận tiền gửi vay vốn từ ngân hàng nhà nước
+ Sử dụng vốn: cấp tín dụng cung cấp dịch vụ thanh toán
- Tính rủi ro: nguy cơ mất vốn hoặc có thể gây ra rủi roc ho toàn hệ thống tín dụng;
- Quản lý tổ chức tín dụng: chủ thể quản lý là ngân hàng nhà nước Việt Nam;
- Điều kiện thành lập và hoạt động vô cùng chặt chẽ yêu cầu vốn theo quy định và nguồn nhân lực và chuyên môn nghiệp vụ
Phân loại: Tổ chức tín dụng được phân loại theo khái niệm quy định tại Điều 4
Luật tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng bao gồm:
- Ngân hàng: (bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác xã) là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật tổ chức tín dụng Theo tính chất và mục tiêu hoạt động;
- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng: (bao gồm công ty tài chính, công ty cho
thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác) là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số các hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng;
- Tổ chức tài chính vi mô: là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một
số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình
có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ;
Trang 4- Quỹ tín dụng nhân dân: Là tổ chức tín dụng do các cá nhân, pháp nhân và hộ
gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống
2 Công ty con công ty liên kết và hoạt động của công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng
a) Công ty con và hoạt động của công ty con
Công ty con của tổ chức tín dụng là công ty thuộc một trong các trường hợp sau:
Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có quyền biểu quyết;
Tổ chức tín dụng có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất
cả thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) của công ty con;
Tổ chức tín dụng có quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty con;
Tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát việc thông qua nghị quyết, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của công ty con.
(Điều 4 khoản 30 Luật tổ chức tín dụng 2010)
Từ các căn cứ pháp lý trên, có thể thấy công ty con có một số đặc điểm pháp
lý như sau:
Công ty con chủ yếu tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty TNHH hoặc công ty cổ phần VD: Công ty TNHH quản lý nợ và khai thác tài sản BIDV, công ty cổ phần chứng khoán BIDV là các công ty con của ngân hàng BIDV; Công ty con và công ty mẹ có tư cách pháp lý độc lập với nhau Các công ty con và công ty mẹ tự nhân danh chính mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật;
Công ty mẹ có quyền thực hiện các quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền đối với công ty con như bầu, bổ nhiệm các chức danh trong công ty con;
Trang 5Tổ chức tín dụng (công ty mẹ) đóng vai trò là thành viên hoặc cổ đông trong công con vì vậy tổ chức tín dụng có quyền được chia lợi nhuận sau khi công ty con đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính;
Công ty con chịu sự kiểm soát đối với công ty mẹ bởi số tỷ lệ vốn góp của công ty mẹ đối với công ty con là đa số, vì vậy mà công ty con chịu sự kiểm soát của công ty mẹ
Như vậy theo quy định trên thì tổ chức tín dụng có công ty con nếu sở hữu ít nhất trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có quyền biểu quyết Theo quy định này, tại khoản 2 Điều 103 Luật tổ chức tín dụng quy định:
- Ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện các hoạt động kinh doanh sau đây:
a) Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư cứng khoán và mua, bán cổ phiếu;
b) Cho thuê tài chính;
c) Bảo hiểm;
Từ các quy định trên, có thể thấy rằng, Ngân hàng thương mại muốn thực hiện các hoạt động trên các lĩnh vực như bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, cho thuê tài chính hay bảo hiểm… thì không thể tự mình nhân danh chính mình thực hiện các hoạt động này được, mà phải thông qua thành lập hoặc là mua lại các công ty khác, nếu sở hữu vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần của công ty đó
ít nhất trên 50% vốn điều lệ, hoặc vốn cổ phần của công ty đó thì công ty đó sẽ là công ty con của tổ chức tín dụng
Từ các quy định của pháp luật và các phân tích nêu trên, con đường hình thành của các công ty con trong các tổ chức tín dụng có thể thông qua hai con đường sau đây:
Thứ nhất: Thông qua con đường góp vốn thành lập, ngân hàng thương mại
sẽ dùng vốn điều lệ hoặc quỹ dự trữ để mua cổ phần, góp vốn của các công ty hoạt động trong lĩnh vực: Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, quản
lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và mua bán cổ phiếu, cho thuê tài chính và bảo hiểm; tuy nhiên việc mua cổ phần, góp vốn này phải đáp ứng được tỷ
lệ sở hữu nhỏ nhất là 50% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần của công ty con
Thứ hai: Thông qua con đường mua lại giá trị cổ phần, phần vốn góp Tỷ lệ
mua lại cổ phần, phần vốn góp của ngân hàng thương mạiít nhất bằng 50% giá trị
Trang 6vốn cổ phần hoặc vốn điều lệ của công ty con (công ty có cổ phần, phần vốn góp được mua lại)
Ngoài ra, ngân hàng thương thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản lý tài sản bảo đảo, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng.
(Khoản 3 điều 103 Luật tổ chức tín dụng 2010) Đối với công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính: quy định về việc thành lập công ty con, công ty liên kết quy định như sau tại điều 110 luật tổ chức tín
dụng 2010 quy định cụ thể về công ty tài chính: Công ty tài chính được thành lập mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, quản lý tài sản bảo đảm sau khi được ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản Đối với công ty cho thuê tài chính: Công ty cho thuê tài chính không được góp vốn, mua cổ phần, thành lập công ty con, công ty liên kết dưới mọi hình thức Đều là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tuy nhiên pháp luật lại đưa
ra những cách đối xử khác nhau đối với hai loại hình này Nếu như công ty tài chính có những quyền được thành lập, mua lại các công ty con, công ty liên kết để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực như bảo hiểm, chứng khoán , quản lý tài sản bảo đảm thì công ty cho thuê tài chính lại hoàn toàn bị pháp luật cấm, cũng bởi một số lý như: công ty cho thuê tài chính cần một lượng vốn rất lớn
để thực hiện các hoạt động cấp tín dụng trung hạn và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cấp tín dụng vì vậy cần một lượng vốn rất lớn để thực hiện hoạt động cho thuê tài chính, nếu cho phép các công ty cho thuê tài chính thành lập hoặc mua lại các công
ty con, công ty liên kết để thực hiện các hoạt động kinh doanh doanh khác trên các lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm… thì các công ty cho thuê tài chính khó đảm bảo khả năng thực hiện các nghĩa vụ và hoạt động của chính mình Bên cạnh đó, các công ty cho thuê tài chính một phần cũng được thành lập là các công ty con của các ngân hàng thương mại, vì theo quy định tại điều 103 Luật tổ chức tín dụng
đã trích dẫn ở phần trên thì ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại cổ phần của công ty con, công ty liên kết trên lĩnh vực cho thuê tài chính Chính vì vậy, để không xảy ra vấn đề sở hữu chồng chéo lẫn nhau, pháp luật đã đặt ra quy định như vậy để các vấn đề xảy ra trên thực tế không có những tranh chấp xảy ra mà trách nhiệm lại không thể quy về một chủ thể duy nhất:
Ví dụ Ngân hàng BIDV có công ty con là Công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên BIDV lĩnh vực hoạt động là cho thuê tài chính, cho vay bổ sung vốn lưu động, cho thuê vận hành, các hình thức cấp tín dụng khác Trong trường hợp nếu pháp luật quy định công ty cho thuê tài chính được phép thành lập, mua
Trang 7lại các công ty con, công ty liên kết nhằm thực hiện các hoạt động liên quan đến lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm… thì như vậy trong trường hợp trên, công ty cho thuê tài chính TNHH BIDV là công ty con của ngân hàng BIDV, lại thành lập 1 công con, công ty liên kết khác Như vậy, lượng vốn của công ty Cho thuê tài chính lại đổ về một công ty con của nó, trong khi đó Công ty cho thuê tài chính BIDV lại được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên
mà chủ sở hữu duy nhất là ngân hàng BIDV, nếu để tình trạng này diễn ra sẽ xảy ra những tình huống giả định như: công ty con Cho thuê tài chính BIDV sẽ dùng số tiền từ công ty mẹ để mở rộng lĩnh vực tình kiếm lợi nhuận bằng cách sử dụng vốn
từ công ty mẹ Trong khi đó, công ty mẹ sẽ không thể có đủ nguồn lực để thực hiện việc thành lập và hoạt động cho một chuỗi công ty con, cháu, chắt, chút chít như vậy được.Nếu để tình trạng như vậy diễn ra thành một hệ thống thì ngân hàng BIDV sẽ khó có thể tiến hành hoạt động và phát triển
Đối với tổ chức tài chính vi môi; quỹ tín dụng nhân dân đây là hai loại hình của tổ chức tín dụng, tuy nhiên điểm khác biệt ở chỗ hai loại hình tổ chức hoạt động này có đối tượng hướng tới lại là những đối tượng, mục đích được xác định
cụ thể như tổ chức tài chính vi mô nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ hay đối với quỹ tín dụng nhân dân với mục tiêu là tương trợ phát triển sản xuất, kinh doanh đây là những tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động với mục đích không đặt mục đích lợi nhuận lên hàng đầu Chính vì vậy, mà việc thành lập các công ty con công ty liên kết đối với các tổ chức tín dụng này pháp luật không quy định, tổ chức tín dụng này được
tự do lựa chọn sao cho phù hợp với những mục tiêu mà tổ chức đã đề ra
Đối với việc giới hạn về việc góp vốn, mua cổ phần giữa các công ty con: Quy định tại điều 135 Luật tổ chức tín dụng năm 2010:
1.Công ty con, công ty liên kết của cùng một công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của nhau.
2 Công ty con, công ty liên kết của một tổ chức tín dụng không được góp vốn, mua
cổ phần của chính tổ chức tín dụng đó.
3 Tổ chức tín dụng đang là công ty con, công ty liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của công ty kiểm soát đó
b) Công ty liên kết và hoạt động của công ty liên kết
Khái niệm: Công ty liên kết của tổ chức tín dụng là công ty trong đó tổ chức tín
dụng hoặc tổ chức tín dụng và người liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần có quyền biểu quyết nhưng không phải là công ty con của tổ chức tín dụng
Trang 8(Theo điều 4 khoản 29 Luật tổ chức tín dụng 2010) Theo quy định của pháp luật trên thì công ty liên kết của tổ chức tín dụng nếu tổ chức tín dụng sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần có quyền biểu quyết Tuy nhiên, cũng cần phải xác định giới hạn để xác định giữa công ty con và công ty liên kết Nếu theo quy định đã trích dẫn ở phần trên, thì là công ty con nếu tổ chức tín dụng sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết Đối chiếu với quy định của công ty liên kết của tổ chức tín dụng này, thì công ty liên kết của tổ chức tín dụng nếu tổ chức tín dụng sở hữu từ 11% đến không quá 50% Đây là giới hạn để xác định sự khác nhau giữa công ty con và công ty liên kết của tổ chức tín dụng
Đặc điểm của công ty liên kết của tổ chức tín dụng:
Công ty liên kết của tổ chức tín dụng có tư cách pháp lý độc lập;
Công ty liên kết quyết định các vấn đề của mình một cách độc lập, mọi ý kiến của tổ chức tín dụng đều đóng vai trò như ý kiến của các thành viên khác, quyết định các vấn đề theo đa số hoặc điều lệ của công ty;
Tổ chức tín tín dụng được hưởng các lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty liên kết tương đương với tỷ lệ sở hữu phần vốn góp, cổ phần trong công ty liên kết sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính
Có thể thấy, công ty liên kết có những đặc điểm tương tự như công ty con của tổ chức tín dụng.Tuy nhiên, bởi giới hạn sở hữu phần vốn góp, cổ phần khác nhau, vì vậy công ty con có tỷ lệ sở hữu cổ phần lớn hơn nên quyền hạn của tổ chức tín dụng là vượt trội hơn hẳn so với công ty liên kết
II Vai trò của hệ thống các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín
dụng
Để có thể xác định được rõ ràng vai trò của công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng Tôi xin phân tích một hoạt động của một ngân hàng cụ thể, từ đó đưa ra các vai trò của hệ thống công ty con Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) bao gồm một số các công ty con sau đây: Công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên BIDV; Công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên BIDV II; Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản BIDV; Công ty cổ phần chứng khoán BIDV; Công ty cổ phần bảo hiểm BIDV; Công ty TNHH quốc tế BIDV tại Hồng Kông Đây là hệ thống các công ty con của BIDV, có thể thấy các công ty con này, trải rộng trên nhiều lĩnh vực như: cho thuê tài chính, chứng khoán, bảo hiểm đây là những ngành lĩnh vực đòi hỏi lượng vốn pháp định lớn, bên cạnh đó lợi nhuận thu được từ những hoạt động này rất nhiều vì vậy việc BIDV đầu tư để
Trang 9tổ chức và mua lại các phần vốn góp, cổ phần từ các công ty này nhằm nâng cao được lợi nhuận cho chính mình, qua đó cũng mở rộng được các thị trường trên các lĩnh vực và các quốc gia khác nhau trên thế giới Việc thành lập và mua lại các công ty con của BIDV cũng 1 phần nhằm để thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng mình như hoạt động cho thuê tài chính, để thực hiện hoạt động này thì ngân hàng thương mại bắt buộc phải có tổ chức là công ty con, công ty liên kết của mình Ngoài ra, trong trường hợp BIDV thiếu nguồn vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh các công ty con cũng là nơi để BIDV thực hiện việc huy động vốn thông qua các công ty con như Công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên BIDV, công
ty cho thuê tài chính BIDV II, công ty cổ phần chứng khoán BIDV Tuy nhiên, các công ty con của BIDV cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định, trong nhiều trường hợp, việc các nhân giám đốc nhân viên trong các công ty con của BIDV đã thực hiện những hành vi gây thiệt hại cho chính công ty mẹ (BIDV) Vụ việc cụ thể như sau:
Công ty xi măng Lào Cai có công văn gửi Công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên chi nhánh Hà Nội (Công ty BLC) Hà Nội về việc cho thuê tài chính
để thực hiện dự án xây dựng nhà máy thủy điện Nậm Giê (Bình Lư – Tam Đường – Lai Châu) có tổng mức đầu tư là 74 tỷ đồng Sau một thời gian, BIDV chi nhánh Lào Cai có công văn đề nghị tham gia đồng tài trợ dự án thủy điện Nậm Giê của công ty xi măng Lào Cai Sau đó công ty BLC của Hà Nội đã có công văn đồng ý cho thuê phần thiết bị thủy điện Nậm Giê của công ty xi măng Lào Cai với số tiền tối đa là 22 tỷ đồng Và hai bên đã ký hợp đồng cho thuê tài chính
Mặc dù sau đó phát sinh việc chủ đầu tư không đủ các điều kiện thanh toán nhưng ông Bùi Văn Khen nguyên Giám đốc công ty TNHH một thành viên BIDV chi nhánh Hà Nội và ông Nguyễn Việt Hưng nguyên trưởng phòng kinh doanh 2 thuộc công ty cho thuê tài chính TNHH 1 thành viên BIDV chi nhánh Hà Nội vãn thẩm định và giải ngân khoản tiền 11,8 tỷ đồng Trong đó giải ngân trực tiếp công
ty xi măng Lào Cai số tiền 5,98 tỷ đồng để mua thiết bị máy móc và giải ngân thông qua BIDV Lào Cai số tiền 5,85 tỷ đồng để mua thiết bị thủy điện và dịch vụ
kỹ thuật dự án thủy điện Nậm Giê Cơ quan điều tra đã xác định, không có khả năng thu hồi được tài sản do công ty xi măng Lào Cai đã bán, gán nợ
Vụ việc như thế này diễn ra đã ảnh hưởng rất lớn đến BIDV nói riêng và nhà nước nói chung Các công ty con được thành lập và hoạt động tuy có những vai trò tích cực đối với lợi nhuận và các vấn đề kinh tế khác, tuy nhiên việc thành lập những công ty con cũng tiềm ẩn những rủi ro rất lớn, mà công ty cho thuê tài chính TNHH một thành viên BIDV là một ví dụ điển hình, việc các nhân viên, giám đốc ngân hàng thực hiện các hành vi về thẩm định hồ sơ đối với các hồ sơ cho thuê tài chính trái phép, phê duyệt những hồ sơ không đủ điều kiện đã làm thất thoát cho
Trang 10nhà nước cũng như công ty mẹ những thiệt hại nghiêm trọng Vấn đề đặt ra là chỗ, công ty mẹ liệu có thể kiểm soát được tình này trong khi hàng loạt các hoạt động của công ty mẹ diễn ra hàng ngày chưa được kiểm soát chặt chẽ hễ là các hoạt động của công ty con Đối với BLC Hà Nội nói trên là loại hình công ty TNHH một thành viên vì vậy 100% vốn điều lệ thuộc về BIDV mà việc kiểm soát còn nảy sinh còn khó kiểm soát như vậy hễ là việc kiểm soát đối với công ty con, công ty liên kết mà số vốn chỉ trên 50% vốn điều lệ đối với công ty con hay trên 11% đối với công ty liên kết của tổ chức tín dụng
Từ việc phân tích ví dụ cụ thể về công ty con của BIDV, có thể nhận thấy hệ thống các công ty con, công ty liên kết của các tổ chức tín dụng là một con dao hai lưỡi đối với nền kinh tế nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng Tuy nhiên, nếu không thực hiện các công cụ để phát triển kinh tế như vậy, thì liệu nền kinh tế
sẽ như thế nào Qua những phân tích từ một trường hợp cụ thể, tôi xin khái quát vai trò của hệ thống các công ty con công ty liên kết của tổ chức tín dụng:
Thứ nhất: Công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng có vai trò giúp tổ chức tín dụng mở rộng các ngành, lĩnh vực kinh doanh khác nhau trong nền kinh tế
từ đó tìm kiếm những lợi nhuận thông qua việc được phân chia lợi nhuận từ các công ty con, công ty lien kết;
Thứ hai: Công ty con, công ty liên kết là cái tay nối dài của tổ chức tín dụng thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng mà pháp luật bắt buộc phải thành lập công ty con, công ty liên kết;
Thứ ba: Công ty con, công ty liên kết là nơi các tổ chức tín dụng huy động vốn khi cần thiết, đây là biện pháp nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng trong trường hợp ngân hàng cần một khoản vốn để hoạt động và phát triển;
Thứ tư: Công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng còn có vai trò dàn trải lượng vốn của các tổ chức tín dụng, giúp tổ chức tín dụng hạn chế được những rủi ro nhất định khi thực hiện hoạt động ngân hàng mà nhân danh chính mình; Thứ năm: Công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng là nơi tìm kiếm lợi nhuận, sinh ra nhiều lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng sau khi công ty đó đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính thì lợi nhuận sẽ được chia theo tỷ lệ đối với công ty mẹ Thứ sáu: Trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động như hiện nay, thì một giải pháp như thành lập mua các công ty con, công ty liên kết là một giải pháp hữu hiệu đối với các tổ chức tín dụng Trong nhiều giai đoạn Chính phủ đưa ra chính sách thắt tín dụng thì hệ thống các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng sẽ