TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ TP HỒ CHÍ MINH KHOA DU LỊCH TIỂU LUẬN HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN TÊN ĐỀ TÀI NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM Người thực hiện Nguyễn Thị Thu Thảo Lớp 21DLH3 MSSV D21DL304 GVHD Lương Như Ý Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2021 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 1 Lý do chọn đề tài 2 2 Phạm vi nghiên cứu 2 3 Đối tượng nghiên cứu 3 NỘI DUNG 4 PHẦN 1 NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA DU LỊCH
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN TÊN ĐỀ TÀI: NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu Thảo Lớp: 21DLH3
MSSV: D21DL304 GVHD: Lương Như Ý
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2021
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 31
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1.Lý do chọn đề tài 2
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
NỘI DUNG 4
PHẦN 1: NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 4
1.1.Khái niệm lực lượng sản xuất 4
1.1.1.Định nghĩa lực lượng sản xuất và cấu trúc 4
1.1.2 Tính chất 5
1.2.Vai trò của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất 6
1.2.1 Khái niệm con người 6
1.2.2.Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất 8
PHẦN 2: CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 10
2.1.Đặt vấn đề 10
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam 11
2.3.Quan điểm của Đảng và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam 12
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 42
LỜI MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Trong suốt tiến trình dài của lịch sử phát triển xã hội loài người, lực lượng sản xuất đã ra đời như một cột mốc đánh dấu sự khác biệt giữa con người và những loài động vật khác Theo dòng vận động của xã hội, lực lượng sản xuất đã trở thành điều cốt lõi không thể thiếu trong xã hội loài người như C.Mác đã từng viết: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới
có thể làm ra lịch sử” [1] Đặc biệt trong nền văn minh công nghiệp 4.0 như hiện nay lực lượng sản xuất đã có bước tiến vượt bậc và con người chính là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công ấy Nắm bắt được xu hướng của thời đại Việt Nam cũng đã và đang thực hiện quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Trong đó nguồn nhân lực con người là trọng tâm quyết định
sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Nhưng con người thôi thì chưa
đủ, con người trong thời đại mới phải là con người có trí thức và có đạo đức
Do vậy để đạt được mục tiêu như đã đề ra thì Đảng và Nhà nước ta cần phải thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực con người, phát triển người Việt Nam thành những con người phát triển toàn diện về thể chất và trí thức phù hợp với xu hướng chug của thời đại Nhận thức được xu hướng cũng như tầm quan trọng ấy nên em quyết định chọn chủ đề “Nhân tố con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực con người ở Việt Nam”
Do kiến thức của em còn nhiều hạn chế vì vậy mà trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những sai sót nên em hy vọng thầy sẽ đóng góp ý kiến và chỉ dạy để em có thể hoàn thành tốt hơn ở những bài tiếp theo
Em xin chân thành cảm ơn!
2 Phạm vi nghiên cứu
[1] C Mác và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.40
Trang 53
Về mặt thời gian, từ năm 1986 tại Quốc Hội khóa IV, Việt Nam bắt đầu những chính sách đổi mới cho đến nay
Về mặt không gian, lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề xoay quanh lực lượng sản xuất, nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực ở Việt Nam và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực con người ở Việt Nam
Trang 64
NỘI DUNG
PHẦN 1: NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1.Khái niệm lực lượng sản xuất
1.1.1.Định nghĩa lực lượng sản xuất và cấu trúc
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo yêu cầu nhất định của con người và xã hội
Cấu trúc của lực lượng sản xuất bao gồm hai yếu tố đó là người lao động và tư liệu sản xuất:
Trước tiên xét ở yếu tố người lao động Người lao động chính là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất xã hội Dù trong bất cứ thời kì nào lao động sản xuất chính là cơ sở tồn tại của xã hội Người lao động chính là chủ thể của quá trình lao động bằng việc dùng sức lực và kỹ năng sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 như hiện nay có thể thấy người lao động chân tay đang có xu hướng giảm dần và người lao động trí thức đang
có xu hướng tăng lên
Tiếp theo xét ở yếu tố tư liệu sản xuất, đây là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Đối tượng lao động là một nhân tố không thể thiếu của tư liệu sản xuất bởi suy cho cùng chúng ta không thể sản xuất nếu thiếu đi đối tượng lao động Đối tượng lao động chính là bộ phận của tự nhiên mà con người tác động vào nhằm biến đổi theo mục đích của mình Tư liệu lao động chính là yếu tố vật chất mà con người tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi
Trang 75
các đối tượng lao động thành sản phẩm phù hợp với mục đích và yêu cầu của con người Trong tư liệu sản xuất, trực tiếp là trong tư liệu lao động thì công
cụ lao động chính là yếu tố phản ánh rõ nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người Đây là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất Công cụ lao động càng phát triển phạm vi con người tác động vào giới tự nhiên càng lớn, công cụ lao động càng hiện đại thì càng giải phóng được nhiều sức lao động của con người
1.1.2 Tính chất
Từ định nghĩa trên lực lượng sản xuất sẽ phản ánh một số tính chất căn bản sau:
Trước tiên, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải biến giới tự nhiên Trong quá trình sản xuất vật chất con người dùng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo
ra những sản phẩm thỏa mãn như cầu của con người Điều nãy đã được thể hiện trong suốt tiến trình dài phát triển của lịch sử loài người Hàng triệu năm trước tổ tiên chúng ta sử dụng những công cụ thô sơ bằng đá, đồng hay sắt,
để làm công cụ lao động, do là những công cụ gọt đẽo sơ sài cùng với năng suất lao động thấp khiến cho những sản phẩm làm ra trong xã hội không nhiều Dần dần theo thời gian các công cụ đã có sự tỉ mỉ, sắt bén sản phẩm làm ra cũng ngày càng phong phú và đa dạng hơn tuy nhiên do vẫn dựa vào sức lao động của người là chính nên lượng sản phẩm làm ra chưa đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Trải qua một quá trình dài đến TK XVII đánh dấu sự bắt đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, sử dụng máy móc để đưa vào sản xuất giải phóng sức lao động của con người, các sản phẩm làm ra cũng từ đó mà phong phú, đa dạng, của cải vật chất trong xã hội cũng ngày càng tăng lên đáng kể, thay đổi toàn bộ bộ mặt của xã hội Có thể thấy lực lượng sản xuất luôn luôn vận động và không ngừng đổi mới phát triển
Trang 86
Đồng thời, lực lượng sản xuất tạo ra tiền đề vật chất cho sự phát triển của xã hội loài người Như đã nói ở trên sản xuất vật chất chính là cơ sở tồn tại của xã hội và để có thể sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng mục đích, nhu cầu của con người thì cần có lực lượng sản xuất Thật vậy, không có một quá trình sản xuất vật chất nào mà không cần đến sức lao động của con người hay các tư liệu sản xuất Nói một cách khác lực lượng sản xuất chính là yếu tố không thể thiếu của quá trình sản xuất
Ngoài ra lực lượng sản xuất còn là thước đo để đánh giá sự tiến bộ của
xã hội loài người Điều này đã được chứng minh qua các thời kì Ở các thời kì trước lực lượng sản xuất non yếu, thấp kém khiến cho những sản phẩm làm ra không thể đáp ứng nhu cầu đa dạng, vô hạn của con người Theo thời gian lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì khối lượng của cải vật chất trong xã hội ngày càng tăng lên, xã hội cũng theo đó mà ngày càng phát triển Như chúng ta có thể thấy trong nền văn minh công nghiệp lần thứ 4 như hiện nay, con người đã không cần sử dụng sức lao động quá nhiều nhưng năng suất lao động vẫn rất cao, đó là nhờ vào việc ứng dụng máy móc vào trong sản xuất Khối lượng sản phẩm vật chất đã tăng lên rất nhiều lần so với các thời kì trước đó
1.2.Vai trò của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất
1.2.1 Khái niệm con người
Con người chính là loài động vật cấp cao, là tinh hoa của muôn loài Chính vì vậy mà con người luôn là trung tâm nghiên cứu của các nhà khoa học và nhà nghiên cứu Trong lĩnh vực triết học vấn đề con người được đưa ra giải thích với nhiều quan điểm khác nhau, gây nên những cuộc tranh cãi, đấu tranh tư tưởng không có hồi kết Nhưng trong đó quan niệm về bản chất con người trong triết học mác-xít trên cơ sở kế thừa, tiếp thu, từ những lý luận trước đó, cũng như lấy lập trường duy vật biện chứng làm phương pháp luận,
có thể nói là đúng đắn nhất và vẫn giữ nguyên giá trị cho đến hôm nay
Trang 97
Theo quan niệm mác-xít con người là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội
Trước hết về mặt tự nhiên, con người là một phần của tự nhiên và là sản phẩm của thế giới tự nhiên Điều đó đã được minh chứng trong công trình nghiên cứu của Đác-Uyn, con người trải qua hàng triệu năm tiến hóa, đấu tranh sinh tồn trong giới tự nhiên rồi tồn tại đến hôm nay Do vậy, con người phải tuân theo quy luật của tự nhiên đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi Những thuộc tính, quá trình tâm sinh lý, đặc điểm sinh học, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Điều quy định bản chất con người khác với những loài động vật khác chính là mặt xã hội Con người có tư duy, biết sử dụng công cụ lao động để tạo ra của cải vật chất Thông qua các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất mà con người đã làm thay đổi và cải biến giới tự nhiên Từ đó, có thể khẳng định rằng con người chính là thực thể thống nhất của tự nhiên và xã hội Rõ ràng chúng ta
có thể thấy mối quan hệ sinh học và xã hội, trong mỗi con người có mối quan
hệ chặt chẽ, thống nhất nhau Mặt sinh học chính là yếu tố tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội để phân biệt con người với các loài động vật khác
Luận điểm nổi tiếng về con người được C.Mác viết trong Luận cương Phoi-ơ-bắc (1845): “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng,
cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [2] Với luận đề này, C.Mác khẳng định con người không phải là thực thể trừu tượng, thoát li hoàn cảnh lịch sử
xã hội mà con người là thực thể cụ thể sống trong thời kì nhất định trong một hoàn cảnh cụ thể Con người tiến bộ vượt bậc hơn những loài động vật khác ở
ba phương diện: quan hệ tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chỉnh bản thân con người Nhưng xét đến cùng đều mang tính xã hội, trong đó quan
[2].C.Mác - Ph Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, tr.11, Nxb Chính trị quốc gia
Trang 108
hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất bao trùm lên các mối quan
hệ xã hội khác Nhìn về lịch sử con người từ những hành động thực tiễn mà tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần để rồi phát triển thể chất, tư duy, sáng tạo, trong quá trình ấy con người dần hoàn thiện bản thân Chỉ khi ở trong các mối quan hệ xã hội con người mới bộc lộ được toàn bộ bản chất của mình
Con người còn là chủ thể và sản phẩm của lịch sử Thực tế đã chứng minh con người không thể tồn tại nếu không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội Do đó, con người chính là sản phẩm của lịch sử, là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên Đồng thời con người cũng là chủ thể tạo ra lịch sử Trong quá trình hoạt động thực tiễn cải biến thế giới tự nhiên con người tạo ra lịch sử của mình Thông qua lao động con người nắm bắt được quy luật của giới tự nhiên thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của con người
1.2.2.Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất
Từ việc phân tích khái niệm con người chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng nhân tố con người hay người lao động chính là nhân tố quan trọng, quyết định nhất trong các nhân tố cấu thành nên lực lượng sản xuất Tại sao lại nói như thế? Bởi vì, con người luôn luôn vận động và phát triển là chủ thể sáng tạo Sở dĩ công cụ lao động có bước phát triển nhanh cho đến ngày hôm nay chính là nhờ vào tư duy sáng tạo của con người Công cụ lao động thô sơ
sẽ phản ánh trình độ sáng tạo của con người còn thấp kém ngược lại, công cụ lao động ngày càng hiện đại sẽ phản ánh tư duy sáng tạo của con người ngày càng cao Công cụ lao động phát triển hay lạc hậu đều được quyết định bởi nhân tố con người Bởi suy cho cùng giới tự nhiên nói chung hay tư liệu sản xuất nói riêng chỉ là những vật vô tri, vô giác Còn con người thì luôn không ngừng sáng tạo, phát triển và tư duy Khi nhìn vào quá trình sản xuất của cải vật chất ta có thể khẳng định rằng con người chính là chủ thể sản xuất Nhân
Trang 119
tố trung tâm của con người là sức lao động bao gồm cả thể lực và trí lực Đi vào thực tế ta có thể thấy rằng không một quá trình sản xuất nào diễn ra được nếu thiếu đi sức lao động của con người Dựa vào thể lực và trí lực mà trong quá trình lao động con người ngày càng phát triển tư duy và sáng tạo Con người là mục tiêu đồng thời cũng là động lực phát triển kinh tế xã hội Nhân
tố con người là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất đồng thời cũng là chủ nhân
sử dụng nguồn của cải vật chất to lớn ấy
Con người trong lực lượng sản xuất đóng một vai trò vô cùng to lớn Đặc biệt trong nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như hiện nay sức mạnh của vai trò ấy càng thêm to lớn Trong thời kì đổi mới này con người cần nhận thức rõ sâu sắc được tầm quan trọng của mình Từ đó có những định hướng phát triển bản thân thành những người lao động có trí tuệ và có phẩm chất trong sáng phù hợp với thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công cụ lao động có phát triển hay không, khối lượng của cải vật chất có ngừng tăng lên hay không xã hội có ngày càng phát triển hay không, tất cả đều quyết định bởi con người
Trang 1210
PHẦN 2: CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM
2.1.Đặt vấn đề
Nguồn nhân lực chính là tài sản quý giá của mọi quốc gia Một quốc gia
có nguồn nhân lực yếu kém thì không thể nào phát triển mạnh mẽ và bền vững được, dù cho quốc gia đó có nhiều tài nguyên khoáng sản thế nào đi chăng nữa Điển hình ta có thể thấy ở Nhật Bản một quốc gia thường xuyên hứng chịu thiên tai nặng nề, không những thế tài nguyên khoáng sản lại hạn hẹp Tuy nhiên quốc gia này vẫn phát triển một cách vượt bậc, là một trong những nền kinh tế lớn của thế giới Điều tạo nên thành công ấy chính là nhờ vào nhân tố con người, nhờ vào chính sách giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của họ Bên cạnh Nhật Bản cũng có nhiều quốc gia có nền kinh thế phát triển mạnh mẽ thông qua các chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực như: Anh, Mĩ, Singapo, Hàn Quốc,
Nhìn thấy được điều đó, Việt Nam đã và đang từng bước đề ra các chiến lược đào tạo nguồn nhân lực để phù hợp với thời đại mới Với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động Việt Nam, đồng thời cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới Cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa Việt Nam đã từng bước gia nhập thành công vào các tổ chức quốc tế, điều này đã dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt từ các nước có nguồn nhân lực chất lượng cao Trong thời đại mới như hiện nay đã mở ra cho Việt Nam rất nhiều thời cơ và thách thức, yếu tố tri thức ngày càng khẳng định được sức mạnh của mình Việt Nam cần một nguồn nhân lực chất lượng cao để bắt kịp xu hướng của nền văn minh công nghiệp, phát triển kinh tế xã hội và đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh Vì thế mà việc đưa ra các chiến lược đào tạo nguồn nhân lực toàn diện và chuyên sâu đang là vấn đề mang tính cấp thiết nhất hiện nay