VNH 1 VNH3 TB1 446 NHÂN DÂN ĐỘNG LỰC CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ThS Lý Việt Quang Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Nét đặc sắc trong tư duy của Hồ Chí M[.]
Trang 1VNH3.TB1.446
NHÂN DÂN - ĐỘNG LỰC CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN
ĐẤT NƯỚC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ThS Lý Việt Quang
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Nét đặc sắc trong tư duy của Hồ Chí Minh là Người luôn luôn chú ý tìm ra, khơi dậy các nguồn động lực chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp cách mạng Với Người, nhân dân chính là một trong những động lực chủ yếu để thực hiện cách mạng thành công, xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, bền vững
Tư tưởng coi trọng vị trí, vai trò của dân, coi dân là gốc và lấy dân làm gốc là một trong những tinh hoa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam và truyền thống văn hoá nhân loại Là một quốc gia nhỏ bé, dân thưa, qua hàng nghìn năm lịch sử luôn luôn phải chống chịu với thiên tai bão lũ và nhất là dã tâm thôn tính, đồng hoá của các thế lực phong kiến phương Bắc hùng mạnh, Việt Nam muốn đứng vững và phát triển được thì nhất thiết phải khơi dậy và phát huy được tinh thần yêu nước, thương nòi, tình cảm cố kết của mỗi người dân, tạo thành sức mạnh tổng lực Nói cách khác, thực tiễn lịch sử đã quy định, muốn duy trì sự trường tồn của dân tộc và quyền điều hành đất nước, những người lãnh đạo dân tộc Việt Nam phải biết dựa vào dân, coi dân là gốc và lấy dân làm gốc Những luận đề tiến bộ của Nho giáo như “Dân là gốc của nước nhà, gốc vững thì nước mới yên” (Dân vi bang bản, bản cố bang ninh), “Cái gì mà dân muốn thì trời cũng phải thuận theo” (Dân chi
sở dục, thiên tất tòng chi), “Dân là quan trọng, xã tắc tiếp sau, vua chỉ coi nhẹ” (Dân vi quý,
xã tắc thứ chi, quân vi khinh) … đã được ông cha ta tiếp thu và ứng dụng trong phép chống giặc, đạo trị quốc Trần Hưng Đạo trước khi qua đời đã dặn lại Vua Trần Anh Tông “khoan thư sức dân làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước” Nguyễn Trãi chỉ rõ hơn
“chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”, “Lật thuyền mới biết dân như nước”, … Đó đều là những nhà tư tưởng kiệt xuất của dân tộc đã nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của nhân dân trong sự tồn vong, lẽ thịnh suy của quốc gia, dân tộc
Trong các triều đại phong kiến, thuận theo “mệnh trời” và hợp với “ý dân” là hai yếu
tố có sức thuyết phục nhất, thường được viện dẫn nhất để bảo đảm cho sự “chính danh” và bền lâu của một vương triều, đồng thời cũng là chỗ dựa, giải thích cho các quyết định quan trọng như thay đổi ngôi vua, dời đô, chiến tranh Bởi vậy, các vương triều tiến bộ luôn chú trọng đến các chính sách kinh tế xã hội để yên lòng dân và được lòng dân
Trang 2Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở vùng đất xứ Nghệ địa linh nhân kiệt giàu truyền thống yêu nước bất khuất Truyền thống tốt đẹp của gia đình, của quê hương và đặc biệt là tấm gương yêu nước, trọng dân, thương dân, luôn trăn trở với vận mệnh đất nước và dân tộc của người cha thân yêu đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của Hồ Chí Minh Có thể nói, ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được tắm mình trong một không gian giàu bản sắc văn hoá dân tộc, giàu tinh thần yêu nước và cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi tình cảm yêu nước, trọng dân, thương dân, sớm xuất hiện ở Hồ Chí Minh Tình cảm này càng được nhân lên và trở nên mãnh liệt khi Hồ Chí Minh lớn lên gặp cảnh nước nhà đang chìm đắm trong vòng nô lệ, đồng bào đang rên xiết trong cảnh lầm than
Khi trưởng thành và ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc
những điểm tiến bộ của các nhà tư tưởng phương Tây Trong tác phẩm nổi tiếng Bàn về khế
ước xã hội, khi đề cập về sự hình thành một xã hội văn minh có sự tổ chức điều hành chặt
chẽ, nhà tư tưởng khai sáng người Pháp G.G.Rútxô chỉ ra rằng: "quyền lực tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên hợp lại tạo ra nó,"1
và "Những người được uỷ thác nắm quyền hành pháp không phải là ông chủ của nhân dân mà chỉ là những công chức"2 Điều này có nghĩa, quyền lực tối cao trong xã hội có nhà nước là do ý chí chung của các thành viên trong xã hội hợp lại, hay nói cách khác nhân dân (các thành viên trong xã hội) là những người nắm giữ quyền lực cao nhất trong một đất nước Chính quyền nhà nước được thành lập là do sự uỷ quyền của nhân dân và nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân Chính vì vậy,
"Dân chúng có thể cất nhắc hay bãi miễn họ; họ không được phản kháng mà chỉ có phục tùng Các hình thức chính phủ đó chỉ là hình thức nhất thời do dân chúng lựa chọn; khi nào dân chúng thích một hình thức khác thì họ sẽ thay đổi đi"3
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của nước Pháp, tại các điều 6,
điều 12, điều 13, điều 14, điều 15, đã khẳng định: luật pháp là sự biểu thị ý chí chung Mọi công dân đều có quyền tham gia trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình vào việc xây dựng luật pháp Để đảm bảo các quyền con người và công dân, đòi hỏi phải có một lực lượng công cộng (bộ máy chính quyền), lực lượng này được lập ra vì lợi ích của tất cả mọi người chứ không phải do lợi ích riêng của những người được giao sử dụng nó Mọi công dân đều có quyền hoặc trực tiếp hoặc thông qua các đại diện của mình được xem xét sự cần thiết của sự đóng góp chung, được theo dõi việc sử dụng đóng góp Xã hội có quyền bắt buộc mọi công chức phải báo cáo về công việc quản lý của họ.4
Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ cũng nhấn mạnh: "Nhằm bảo đảm
những quyền lợi đó (tức quyền bình đẳng, quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc - TG), mới có người đứng ra thành lập chính phủ, mà quyền lực chính đáng của chính phủ là có
1
G.G.Rousseau: Bàn về khế ước xã hội, Nxb Lý luận chính trị, H 2004, Hoàng Thanh Đạm dịch thuật, chú thích và
bình giải, tr 71
2
G.G.Rousseau: Sđd, tr 187
3
G.G.Rousseau: Sđd, tr 187
4
Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền, bản dịch của luật sư Phan Anh, trong Văn Tạo, Dương Kinh Quốc, Vũ Huy Phúc, Huy Vũ, Quốc Anh: Về Đại cách mạng Pháp 1789, Nxb ST, H 1989, tr 158-159
Trang 3được từ sự đồng ý của những người bị thống trị."1, do đó "Nếu bất cứ hình thức chính phủ nào phá hoại mục đích đó, thì nhân dân có quyền sửa đổi nó hoặc xoá bỏ nó để xây dựng một chính phủ mới."2
Trong những năm 1924-1927 khi sống và hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc),
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và đánh giá cao chính phủ tiến bộ của Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu đang hướng tới thực sự là "một chính phủ của dân, do dân và vì dân, theo ba nguyên tắc lớn của người sáng lập Quốc dân đảng."3
Kế thừa nét đẹp truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vị trí, vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Chính
vì nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò gốc rễ của quần chúng nhân dân mà sau khi được ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga soi đường và có “cẩm nang thần kỳ” là chủ nghĩa Lênin chỉ dẫn, Người đã khẳng định “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng” và nóng lòng được
“trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa
họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”4
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn luôn quán triệt sâu sắc trong tư duy và hành động bài học dân là gốc và lấy dân làm gốc của người xưa Người khẳng định nước lấy dân làm gốc và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân là nguồn gốc, nền móng mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng:
“Nước lấy dân làm gốc
Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”5
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ kế thừa những tinh hoa giá trị truyền thống dân tộc và nhân loại thì Hồ Chí Minh cũng chỉ trở thành một người yêu nước như bao người Việt Nam yêu nước trước đó Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh đã vượt lên trên các nhà yêu nước trước đó ở khả năng sáng tạo thiên tài Trong khi trân trọng hấp thụ, kế thừa truyền thống “trọng dân”, “coi dân là gốc”, “lấy dân làm gốc” của cha ông, Người đã có những bổ sung, phát triển làm nên một diện mạo mới, một bản chất mới của quan niệm này Vậy, đó
là những bổ sung, sáng tạo nào?
Trước hết, khái niệm “Dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh có sự khác biệt với
khái niệm “Dân” trong quan niệm của các nhà tư tưởng trước đó ở phương Đông và phương
1
Dẫn theo Lưu Tộ Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn: Lịch sử thế giới, tập 3: thời cận đại (1640-1900), Phong
Đảo dịch, Nxb TP Hồ Chí Minh, tr 199
2
Dẫn theo Lưu Tộ Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn: Sđd, tr 199
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, t 2, tr 477
4
Hồ Chí Minh: Sđd, t 1, tr 192
5
Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 409-410
Trang 4Tây Các nhà tư tưởng phong kiến phương Đông dùng khái niệm “Dân” với ý nghĩa là để chỉ những người thuộc đẳng cấp thấp kém nhất trong xã hội, để phân biệt với vua quan và giới quý tộc1 “Dân” là những người bị trị Vua là con trời và các quan là cha mẹ dân có
trách nhiệm thay trời “nuôi dân”, “chăn dân” Cuộc sống của mọi người dân là sướng khổ hay vui buồn đều phải phụ thuộc vào lòng tốt, sự ban phát của “người trên” - thiên tử và các quan phụ mẫu, đối với “kẻ dưới” - muôn dân bách tính
Quan niệm của các nhà tư tưởng tư sản phương Tây về “Dân” đã có bước tiến hơn khi cho rằng dân uỷ quyền cho chính phủ để phục vụ lợi ích của dân và dân có quyền thay đổi chính phủ nếu chính phủ không làm tròn nhiệm vụ Tuy vậy, trên thực tế vị thế “Dân” này chỉ thuộc về những người có của, những nhà tư sản - số ít người trong xã hội; còn số đông vẫn là những kẻ bị trị, có địa vị thấp kém
Với Hồ Chí Minh thì nhân dân có vị trí quý nhất trong bầu trời và là lực lượng mạnh nhất trong thế giới: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"2
Sâu sắc hơn, Hồ Chí Minh cho rằng, chẳng những “Dân” không phải là những người
bị trị mà còn là những người có vị thế là chủ và làm chủ Những người làm việc trong bộ
máy nhà nước, từ một nhân viên bình thường cho đến Chủ tịch nước cũng chỉ là và phải là
“công bộc”, là “đày tớ” của dân, có trách nhiệm tận tình phục vụ dân, chứ không phải là những kẻ đè đầu cưỡi cổ dân, ban phát ân huệ cho dân như trong xã hội cũ Người chỉ rõ:
“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”3
Mặt khác, trong quan niệm truyền thống, “Dân” chỉ là một bộ phận người trong dân tộc (những người bị trị) Tuy nhiên, đối với Hồ Chí Minh, theo nghĩa rộng, “Dân” là toàn bộ con dân nước Việt, con Lạc cháu Hồng, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, miễn
là những người có tinh thần yêu nước “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước”4 Quan niệm rộng rãi về nội hàm của khái niệm “Dân” như vậy đã tạo cơ sở phương pháp luận quan trọng để thành lập mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ đến mức cao nhất những lực lượng, những giai tầng còn có ít nhiều tinh thần yêu nước đứng vào hàng ngũ cách mạng, phân hoá, cô lập cao độ những thế lực phản động, thù địch
Thứ hai, từ sự bổ sung, phát triển quan niệm mới về dân như trên, Hồ Chí Minh cũng
chỉ ra vai trò tích cực, chủ động của người dân trong những hoạt động thực tiễn nhằm mang
1
Một số nhà nghiên cứu cho rằng chữ “DÂN” vốn có nguồn gốc từ chữ triện có hình tượng là con mắt bị cái que đâm thủng, do xuất phát từ việc những tù binh bị bắt lúc đầu đều bị giết, sau được giữ lại để làm nô lệ, nhưng để đề phòng sự phản kháng thì bị chọc cho mù mắt Như vậy, “dân” lúc đầu là để chỉ những người nô lệ - những người có địa vị thấp kém nhất trong xã hội Sau này, nội hàm của khái niệm “dân” mới được mở rộng dùng để chỉ những người không thuộc giới quý tộc, không nắm các chức vụ trong bộ máy nhà nước
2
Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 276
3
Hồ Chí Minh: Sđd, t 6, tr 515
4
Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 219
Trang 5lại ấm no, hạnh phúc cho chính họ Trong quan niệm của các nhà tư tưởng phong kiến,
“Dân” là một tập hợp người thụ động, với những mối liên hệ không bền chặt Nhưng với Hồ Chí Minh, đó lại là một tập hợp người được tổ chức chặt chẽ, có định hướng rõ ràng và đoàn kết mật thiết với nhau trên nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và sau này bổ sung thêm là tầng lớp trí thức Vận dụng quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định, nhân dân là những người sáng tạo ra lịch sử, họ có thể và cần phải nỗ lực chủ động quyết định vận mệnh của dân tộc, cuộc sống của chính mình theo tinh thần “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”
Thứ ba, khi đề xướng “dân là gốc” và “lấy dân làm gốc”, thực ra các nhà tư tưởng
phong kiến quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ vương triều phong kiến Nói cách khác, quan điểm này nhằm mục đích cuối cùng là phục vụ vương quyền, chứ không phải để phục
vụ nhân dân và nhân dân, dù về câu chữ được coi trọng, nhưng xét đến cùng không gì khác hơn cũng chỉ là phương tiện, công cụ mà chính quyền phong kiến muốn lợi dụng để duy trì, bảo vệ địa vị thống trị Cũng như vậy, các nhà tư tưởng tư sản chỉ nêu ra những khẩu hiệu thât kêu, thật đẹp để che đậy một thực tế là chính quyền của họ phục vụ chủ yếu cho một thiểu số - những người có của, những nhà tư sản - và người dân thực sự chỉ là công cụ, phương tiện mà giai cấp tư sản lợi dụng trong cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp phong kiến, tranh giành lợi ích với nhau và là đối tượng để các nhà tư sản thu lợi nhuận Do vậy, dù chứa đựng một số nhân tố tiến bộ nhưng các cuộc cách mạng tư sản vẫn chỉ là những cuộc
“cách mạng không đến nơi”
Với Hồ Chí Minh, dựa vào dân, coi dân là gốc và lấy dân làm gốc hoàn toàn không phải là một khẩu hiệu, một “nghệ thuật” chính trị, mà đó là một chiến lược cách mạng xuyên suốt trong các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử Người cũng không coi dân là phương tiện, công cụ để phục vụ riêng lợi ích của Đảng và Nhà nước, mà xem đây chính là động lực
vĩ đại và vĩ đại nhất của cách mạng, là mục đích cao nhất của Đảng và Nhà nước “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”1
chính là có ý nghĩa như vây
Rõ ràng, so với quan niệm về “Dân” của các nhà tư tưởng phong kiến ở phương Đông và tư sản ở phương Tây, quan niệm của Hồ Chí Minh đã vượt lên hơn cả về nội hàm khái niệm và vị thế thực tại Từ quan niệm “dân là gốc” và “lấy dân làm gốc” một cách chật hẹp và mang nặng tính hình thức của các nhà tư tưởng phong kiến và tư sản, Hồ Chí Minh
đã phát triển thành một quan niệm rộng mở về dân và nhất là đã trả lại vị thế thực sự của dân, từ thụ động tiêu cực trở thành chủ động tích cực; từ là công cụ, phương tiện duy trì quyền lực của giới thống trị trở thành thực sự là gốc và làm gốc và tiến cao hơn nữa để là chủ và làm chủ đất nước Đây là một tư tưởng lớn vừa mang tính nhân văn cao cả, vừa có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, là một trong những đóng góp xuất sắc của Hồ Chí Minh vào kho tàng tư tưởng nhân văn của nhân loại
Với quan niệm khoa học và sáng tạo về dân là gốc và lấy dân làm gốc như trên, Hồ Chí Minh cũng đã đồng thời đặt vấn đề và giải quyết một cách triệt để mối quan hệ giữa dân và nước
1
Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 65
Trang 6Trong quan niệm của các nhà tư tưởng thời phong kiến, nước (xã tắc) cùng với muôn dân là thuộc về nhà vua - con trời Vua được trời trao cho trọng trách thay mặt trời cai quản, chăm lo cho sự vững bền của đất nước và sự ấm no của muôn dân Vua chính là biểu tượng tiêu biểu nhất của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, là niềm tự hào của muôn dân Ngược lại, khi đất nước bị mất độc lập thì cũng đồng nghĩa là ngôi vua không còn và quyền cai quản đất nước cùng muôn dân cũng bị rơi vào tay những kẻ thống trị ngoại bang Chính với ý nghĩa này, Lý Thường Kiệt đã từng mạnh mẽ khẳng định “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” (Sông núi nước Nam vua Nam ở) trong lời mở đầu bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của lịch sử dân tộc ta
Vì vậy, trong trật tự xã hội phong kiến trung quân và ái quốc là hai mệnh đề luôn luôn được xếp đi liền với nhau Yêu nước thì phải trung với vua Trung với vua cũng có nghĩa là yêu nước Tội mưu phản, chống lại vua cũng như tội phản quốc đều bị xếp vào hàng mười tội đại ác và đều bị xử cực hình tàn khốc Trong khi đó, mối quan hệ giữa dân và nước thường ít được chú trọng và cho dù các sách kinh điển Nho giáo có khẳng định “Dân là gốc của nước” thì chỉ khi nào quyền lực của nhà vua bị suy yếu, ngôi vua bị đe doạ, thì vai trò của dân đối với nước (mà thực ra là đối với vua) mới được chú ý hơn Nói cách khác, như đã đề cập, vai trò của dân trong trật tự xã hội phong kiến chỉ là vị thế thụ động và hình thức
Tuy nhiên, trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam thời phong kiến vẫn xuất hiện một số nhà tư tưởng tiến bộ, vượt lên những giáo điều hạn hẹp Điển hình là trường hợp của Nguyễn Trãi Có thể xem ông như là nhà tư tưởng tiến bộ nhất thời phong kiến ở nước ta, với
tư tưởng nhân nghĩa nổi bật, chứa đựng những nội dung về quan hệ giữa dân và nước Một số công trình nghiên cứu đã khẳng định, với Nguyễn Trãi, khi nước nhà đang bị giặc Minh xâm chiếm, đang diễn ra cảnh “Thui dân đen trên lò bạo ngược, hãm con đỏ dưới hố tai ương” thì cứu nước trước hết là phải trừ “cường bạo”, phải cứu dân, yên dân (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân)1 Chọn vua sáng để theo, giúp vua làm cho đất nước được thái bình, người người được
no ấm chính là điểm nổi bật trong quan niệm làm người của Nguyễn Trãi Điều này lý giải vì sao ông không bị ràng buộc bởi chữ “trung” theo quan niệm truyền thống, nghĩa là tận trung với một cá nhân, một dòng họ Dù vậy, do điều kiện lịch sử hiện thời, quan niệm của Nguyễn Trãi không tránh khỏi hạn chế là vẫn thuộc dòng tư tưởng phong kiến Việt Nam, vẫn chú trọng hơn vai trò của vua đối với thần dân và đất nước, vị thế của dân là thụ động, chờ được ban phát ân huệ, chứ không phải vị thế chủ động, người chủ
Đến thời cận đại của lịch sử dân tộc, Phan Bôi Châu là người đã đưa ra một quan niệm rõ hơn về mối quan hệ giữa dân và nước Đặt vấn đề “Nước ta mất bởi vì đâu?”, ông cho rằng một trong ba nguyên nhân là:
“Ba là dân chỉ biết dân,
Mặc quân với quốc, mặc thần với ai”2
1
Nguyễn Tài Thư (chủ biên): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H 1993, tr 268
2
Hải ngoại huyết thư, trong Chương Thâu: Phan Bội Châu - Nhà yêu nước, nhà văn hoá lớn (tái bản có bổ sung), Nxb
Nghệ An, 2005, tr 243
Trang 7Ông xác định: đối với đất nước và con người Việt Nam, “Dân là dân nước, nước là nước dân”1 Như vậy, trong quan niệm của Phan Bội Châu, dân và nước có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, dân là người của đất nước và đất nước là của người dân; nếu người dân không có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn giang sơn thì đất nước sẽ bị kẻ ngoại bang
nô dịch Tuy nhiên, điều hạn chế căn bản của Phan Bội Châu là ông không thấy được vai trò của nông dân và công nhân - hai lực lượng đông đảo nhất, cách mạng nhất trong xã hội, đối với sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà ông khởi xướng
Kế thừa những quan niệm tiến bộ của các nhà yêu nước thời trước, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Do nhiều người nhóm lại mà thành làng Do nhiều làng nhóm lại mà thành nước Người là gốc của làng nước”2 Tiến xa hơn, phát triển quan niệm của Phan Bội Châu, Người nhấn mạnh:
“Dân ta phải giữ nước ta,
Dân là con nước, nước là mẹ chung.”3
Vượt lên trên hết, Hồ Chí Minh đã đề xướng ra một quan điểm rất mới mẻ, một triết
lý nhân sinh sâu sắc về nền độc lập của đất nước: “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”4
Như vậy, từ xác định dân là hạt nhân, là gốc của đất nước, tiến đến xem dân là con của đất nước và tiến hơn nữa coi việc dân được hưởng hạnh phúc tự do là tiêu chí quan trọng nhất của một nước độc lập, đó là các cung bậc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân và nước, thể hiện bước phát triển mới của Người về vấn đề này Rõ ràng, so với quan niệm của các nhà yêu nước tiền bối, quan niệm của Hồ Chí Minh đã hơn hẳn về chiều sâu tư tưởng và giá trị nhân văn, nhân đạo
Sự vật hay quá trình lịch sử trong quá trình vận động luôn luôn chứa đựng những yếu
tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của chính bản thân chúng và những yếu tố này thường được chúng ta gọi là động lực của sự phát triển Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta một tấm gương mẫu mực về nhận thức và phát huy vai trò của nhân dân - với ý nghĩa là động lực chủ yếu - để giải phóng dân tộc, phát triển đất nước Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, điều này vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc Thực tiễn đã làm sáng rõ, ở đâu và khi nào nhân dân thực sự được coi là nguồn động lực, là mục tiêu trong các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước thì ở đó, khi đó tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định và phát triển thuận lợi; ngược lại, tình hình sẽ khó khăn, thậm chí rơi vào khủng hoảng, bất ổn
1
Hải ngoại huyết thư, Sđd, tr 243
2
Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 98-99
3
Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 486
4
Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 56