1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn Luật cạnh tranh: Thực trạng của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí độc quyền

19 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 40,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí độc quyền....ĐẶT VẤN ĐỀ Một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều muốn tối đa hóa lợi ích mà mình đạt được, có vị trí cao và thị trường rộng Có thể nói mục tiêu nắm giữ vị trí độc quyền luôn là mục tiêu và là động lực của hầu hết các doanh nghiệp, bởi lẽ khi doanh nghiệp nắm giữ được vị trí độc quyền thì mọi mục tiêu mà học đặt ra có thể đạt được một cách dễ dàng Đứng trước quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng khi nước ta đã là thành viên của ASEAN, APEC, WTO, Chúng ta cần phải có một.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều muốn tối đa hóa lợi ích mà mình đạt được, có vị trí cao và thị trường rộng Có thể nói mục tiêu nắm giữ vị trí độc quyền luôn là mục tiêu và là động lực của hầu hết các doanh nghiệp, bởi lẽ khi doanh nghiệp nắm giữ được vị trí độc quyền thì mọi mục tiêu

mà học đặt ra có thể đạt được một cách dễ dàng Đứng trước quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng khi nước ta đã là thành viên của ASEAN, APEC, WTO,… Chúng ta cần phải có một chính sách cạnh tranh đúng đắn Một vấn đề cần quan tâm trong nền kinh tế thị trường hiện nay đó là sức ảnh hưởng của các doanh nghiệp độc quyền Để có được một môi trường cạnh tranh lành mạnh đòi hỏi phải có những chính sách pháp luật kiểm soát độc quyền hiệu quả Để tìm

hiểu sâu hơn vấn đề này, em xin được lựa chọn đề tài số 06: “Thực trạng của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí độc quyền.”

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái quát chung về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

1 Khái niệm về độc quyền

a Định nghĩa

Độc quyền là hình thái thị trường trong đó một doanh nghiệp duy nhất bán một sản phẩm mà không có sản phẩm thay thế gần giống với nó Việc thâm nhập vào ngành sản xuất sản phẩm này rất khó khăn hoặc không thể được Doanh nghiệp này không phải cạnh tranh với bất cứ đối thủ cạnh tranh nào trong việc bán sản phẩm của mình trên thị trường

Tại điều 12 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “ Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan”

Trang 2

Như vây, theo dù theo quy định của pháp luật hay theo quan điểm của các nhà kinh tế thì yếu tố “ Không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa dịch vụ” là yếu tố đặc trưng của độc quyền, tuy nhiên phạm vi xác định đó là “ thị trường liên quan”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3, Luật cạnh tranh 2004 thì: “Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan

Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả

Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có

sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận”

Như vây, xác định thị trường liên quan là một yếu tố vô cùng quan trọng để xác định được một doanh nghiệp có độc quyền hay không?

Dù được hiểu theo nghĩa nào thì độc quyền cũng gây những hậu quả tiêu cực đến bản thân nền kinh tế và chính những người tiêu dùng Muốn tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền sẽ ấn định giá độc quyền sản phẩm ở mức mà mình sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất Kết quả là người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu mức giá này dù cao hay thấp Mặt khác, doanh nghiệp độc quyền không phải gánh chịu sức ép của cạnh tranh, do đó không có nhu cầu phải cải tiến chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất

b Nguyên nhân hình thành độc quyền

Độc quyền tự nhiên: được hình thành bởi đặc thù công nghệ sản xuất hoặc do đặc thù của ngành hàng, lĩnh vực kinh doanh Độc quyền tự nhiên là trường hợp độc quyền thoát ly ý thức chủ quan của các nhà kinh doanh Tự nhiên ở đây nói lên rằng cơ cấu độc quyền là do đặc điểm công nghệ và nhu cầu đối với sản phẩm của ngành tạo ra chứ không phải là do yếu tố lịch sử hay ảnh hưởng của cơ chế, chính

Trang 3

tồn tại của độc quyền là hoàn toàn khách quan Ví dụ một số ngành như: điện, nước…

- Độc quyền được hình thành từ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:

- Độc quyền hình thành do sự tích tụ tập trung kinh tế:

- Độc quyền được hình thành từ các rào cản gia nhập thị trường:

Độc quyền Nhà nước: Đây không phải là kết quả của quá trình cạnh tranh gay gắt mà do quyền lực nhà nước thiết lập để chi phối, nắm giữ những lĩnh vực kinh

tế quan trong của nền kinh tế quốc dân liên quan đến chính sách quốc phòng an ninh hoặc sản xuất hàng hóa và dịch vụ công cộng đáp ứng các nhu cầu cần thiết của người dân Đây là hình thức độ quyền phổ biến, mang tính chủ yếu ở nước ta

c Tác động của độc quyền

Dù được hình thành từ bất cứ con đường nào thì sự tồn tại của độc quyền cũng mang đến những tác động không nhỏ cho nền kinh tế Ngoài những tác động tích cực như có khả năng tập trung mọi quyền lực thị trường để đầu tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ triển khai những dự án đòi hỏi vốn lớn thì độc quyền mang khá nhiều những tác động tiêu cực cho nền kinh tế Cụ thể:

- Đối với các doanh nghiệp tiềm năng: hạn chế khả năng gia nhập thị trường liên quan của các doanh nghiệp

- Đối với người tiêu dùng: Độc quyền đặt ra những mức giá phi cạnh tranh, do

đó người tiêu dụng sẽ phải trả những mức giá cao, độc quyền hạn chế khả năng phát hiện và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

- Đối với bản thân doanh nghiệp độc quyền: Gây nên sức ì cho doanh nghiệp

Vì không chịu sự cạnh tranh nên các doanh nghiệp độc quyền không có động lực cải tiến kĩ thuật, cắt giảm chi phí, phát triển công nghệ

2 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

a Định nghĩa

Một doanh nghiệp được coi là độc quyền khi trên thị trường liên quan không tồn tại doanh nghiệp nào khác cạnh tranh với nó Khi vị trí độc quyền được tạo lập

Trang 4

hợp pháp, thì công quyền không thể trừng phạt hay xóa bỏ vị trí đó Nhà nước và pháp luật chỉ có thể trừng phạt doanh nghiệp khi chúng sử dụng vị trí độc quyền như một lợi thế trong các quan hệ thị trường và đặt các chủ thể khác vào tình trạng bất lợi hay nói cách khác,là khi chúng thực hiện những hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Pháp luật hiện nay chưa đưa ra định nghĩa chung về thế nào là hành vi lạm dụng vị trí độc quyền mà chỉ liệt kê những hành vi được coi là hành vi lạm dụng vị trí độc quyền tại điều 14, Luật cạnh tranh 2004 Tuy nhiên, từ những đặc điểm chung của các hành vi này cùng với những kiến thức lý luận chung về độc quyền,

ta có thể rút ta định nghĩa: “ Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền là những hành vi

do doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện nhằm củng cố

vị trí độc quyền bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, phát triển kinh doanh hoặc nhằm thu lợi nhuận độc quyền bằng cách bóc lột khách hàng”

b Đặc điểm

- Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường

Vị trí độc quyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả năng chi phối các quan hệ thị trường Quyền lực thị trường ở đây chính là lợi thế về cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác: nguồn nguyên liệu, giá cả, số lượng sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dùng, khả năng tài chính, thói quen tiêu dùng của khách hàng…Đối với khách hàng, quyền lựa chọn của khách hàng bị hạn chế , nhu cầu của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp có cơ hội để bóc lột bằng cách đặt ra những điều kiện giao dịch không công bằng

- Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền chỉ có thể bị xử lý khi doanh nghiệp

có vị trí độc quyền đã hoặc đang thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh quy định tại điều 14, Luật cạnh tranh 2004

Trang 5

- Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền là làm sai lệch, làm cản trở hoặc giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan

Đặc điểm này cho thấy tác hại của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền đối với thị trường Doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng nhằm duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc nhằm thu lợi ích độc quyền từ bóc lột khách hàng Do đó, việc thực hiện hành vi có thể gây ra những thiệt hại cho một số đối tượng cụ thể , song nghiêm trọng hơn là làm giảm, cản trở tình trạng cạnh tranh của thị trường

II Thực trạng của pháp luật cạnh tranh về lạm dụng vị trí độc quyền

1 Các quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành về những hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Pháp luật cạnh tranh nước ta, cụ thể là Luật cạnh tranh 2004 cấm doanh nghiệp

có vị trí độc quyền thực hiện những hành vi được liệt kê trong quy định tại điều 14, Luật cạnh tranh 2004 Cụ thể là những hành vi sau:

- Các hành vi quy định tại điều 13 của Luật Cạnh tranh 2004

- Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng

- Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng

Như vậy, trong số các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm được liệt kê tại điều 14, được liệt kê đầu tiên đó là các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh được quy định tại điều 13, Luật cạnh tranh 2004 Đó là các hành vi:

a Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu cho khách hàng.

Doanh nghiệp có vị trí độc quyền tác động trực tiếp vào giá của hàng hóa, dịch

vụ trong giao dịch với khách hàng trong việc doanh nghiệp áp đặt giá mua đối với nguyên vật liệu hay chính là sản phẩm đầu vào của doanh nghiệp và giá bán đối với sản phẩm của chính doanh nghiệp đó

Trang 6

Khoản 1, điều 27 Nghị định 116/2005/ NĐ- CP quy định: “ Hành vi áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng nếu giá mua tại cùng thị trường liên quan được đặt ra thấp hơn giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong các điều kiện sau đây:

- Chất lượng hàng hóa, dịch vụ đặt mua không kém hơn chất lượng hàng hóa dịch vụ đã mua trước đó

- Không có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến động bất thường làm giá buôn hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp so với ngày trước đó.”

Hành vi này thường được thực hiện bởi các doanh nghiệp độc quyền mua Ví

dụ, trong trường hợp doanh nghiệp A là doanh nghiệp thu mua độc quyền mía ở khu vực X, doanh nghiệp này đã lạm dụng vị trí độc quyền của mình để áp đặt giá mua thấp hơn so với giá thành để trồng nên một cây mía ( giá cậy giống, phân bón, tiền công thuê lao động….) trong khi chất lượng hàng hóa tốt, không thay đổi, không có những khủng hoảng về kinh tế…

Khoản 2, Điều 27 Nghị định 116 quy định: “ Hành vi áp đặt giá bán hàng hóa dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng nếu cầu về hàng hóa, dịch vụ không tăng đột biến tới mức vượt quá công suất thiết kế hoặc năng lực sản xuất của doanh nghiệp và thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

- Giá bán lẻ trung bình tại cùng thị trường liên quan trong thời gian trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp được đặt ra tăng một lần vượt quá 5% hoặc tăng nhiều lần với tổng mức tăng vượt quá 5% so với giá bán trước khoảng thời gian tối thiểu đó

- Không có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hóa, dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu tăng giá.”

Trang 7

Hành vi này được thực hiện bởi những doanh nghiệp độc quyền bán Các doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã áp đặt và khống chế giá bán các sản phẩm của mình

ra thị trường với giá bất hợp lý mà buộc khách hàng phải lệ thuộc bởi giá bán đó của doanh nghiệp Lạm dụng vị trí độc quyền trong một thị trường liên quan chỉ có duy nhất một sản phẩm của mình, theo nhu cầu thì buộc người mua phải lệ thuộc vào doanh nghiệp nên doanh nghiệp đã có hành vi áp đặt giá bán

Ví dụ: Điển hình cho sự vi phạm hành vi này, đó là vụ việc của rạp chiếu phim Megasta Áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ một cách bất hợp lý” (Khoản 2, Điều 13 - Luật Cạnh tranh ban hành năm 2005) Theo quy định luật cạnh tranh, doanh nghiệp thống lĩnh không được tăng quá 5% giá vé trong vòng sáu tháng nếu không có những biến động đặc biệt trên thị trường Trong khi đó, Megastar

áp đặt Giá thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem là 25 nghìn đồng (sau thuế)

làm cho giá thuê phim tăng trung bình 19% - 30% so với trước đây

“Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ” (Khoản 5, Điều 13 - Luật Cạnh tranh) Megastar đã áp đặt các điều kiện khác như: buộc lấy kèm phim, buộc chiếu phim ở phòng lớn nhất và vào các giờ chiếu do Megastar chỉ định

Từ ngày 13/2/2009 giá vé Cinebox được điều chỉnh như sau

Happy Day

(Thứ 3 và

Thứ 4)

25.000đ/vé (áp dụng cho mọi đối tượng)

(Không áp dụng cho các ngày lễ và tết)

Thứ 2, 5 và

6

Bình thường 35.000đ/vé

Sv,học sinh 30.000đ/vé

(Không áp dụng cho các ngày lễ và tết)

Trang 8

nhật Giá vé cặp ngày lễ và tết)

70.000đ/cặp vé

1/1,14/2,8/3,30/4,1/5,2/9,20 /11,24/12,Giỗ tổ hùng vương 10/3 âm lịch, và ngày 31/12 Đặc biệt

dành cho

học sinh –

sinh viên

vào ngày

thứ 2

Giá vé cho nhóm HS – SV

từ 6 – 10 người là: 180.000đ

Chỉ áp dụng tại Cinebox Hòa Bình không áp dụng cho các ngày lễ và tết

Trong ví dụ đã nêu trên, ta có thể thấy rằng Megasta đã thực hiện hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp có vị trí độc quyền cụ thể đó là hành vi áp đặt giá mua, bán hàng hóa dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng Tuy nhiên, trên thực tế, Theo quy định của Luật Cạnh tranh, thời hạn điều tra chính thức đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh là 6 tháng; trường hợp cần thiết có thể được gia hạn hai lần, mỗi lần không quá 2 tháng Như vậy, nếu tính cả gia hạn thì tổng thời hạn điều tra chính thức vụ việc hạn chế cạnh tranh không được vượt quá 10 tháng Trong khi đó, kể từ khi có quyết định điều tra chính thức vào ngày 18-6-2010 đến nay Tuy đã nắm giữ phần lớn cổ phần của MegaStar nhưng cho tới cuối năm 2013 vừa qua, CJ mới chính thức việc thực hiện sửa chữa

và chuyển đổi thương hiệu MegaStar tại Việt Nam thành CGV Theo thông tin chính thức từ MegaStar, các cụm rạp này sẽ được đổi tên thành CGV Cinema từ ngày 15/1 tới, đi kèm với đó là diện mạo mới cùng nhiều ưu đãi hơn từ CGV Cho đến nay CGV vẫn là đơn vị có tỷ lệ phòng chiếu lớn trên thị trường nên ép các

Trang 9

doanh nghiệp khác về tỷ lệ ăn chia là vấn đề có thực, khiến nhiều đối tác bất bình Sau Megasta thì CGV vẫn có dấu hiệu về hành vi áp đặt vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền của mình Tuy nhiên hành lang pháp lý vẫn còn khá lỏng lẻo nên nhưng vụ việc như này khó có thể xử lý

b Hành vi áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau cho các giao dịch như nhau nhằm tạo sự bất bình đẳng cho khách hàng.

Đây là một trong những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của doanh nghiệp bị nghiêm cấm theo khoản 4, điều 13 Luật cạnh tranh 2004 Đồng thời, tại Điều 29 nghị định 116/2005 quy định: “ Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh

là hành vi phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp về điều kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng trong những giao dịch mua, bán hàng hóa, dịch vụ tương tự về mặt giá trị hoặc tính chất hàng hóa, dịch vụ để đặt một hoặc một số doanh nghiệp vào vị trí cạnh tranh có lợi hơn so với doanh nghiệp khác.” Hậu quả của hành vi này là tạo ra sự bất bình đẳng giữa các khách hàng trong khi các khách hàng là những đối thủ cạnh , là chủ thể kinh doanh trên cùng một thị trường liên quan Từ đó sẽ tạo ra ưu thế hoặc tình trạng bất lợi của một hoặc một số khách hàng so với các khách hàng khác dẫn đến các đối thủ cạnh trnh nhau một cách không bình đẳng, hạn chế cạnh tranh trên thị trường

Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác kí kết hợp đồng mua, bán hàng hóa Dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các điều kiện không liên quan đến hợp đồng

Hành vi này được giải thích tại điều 30, nghị định 116/2005 Qua đây ta có thể nhận rõ doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã hình thành nên các hợp đồng mua bán kèm theo để làm điều kiên thực hiện hợp đồng mua bán liên quan đến các đối tượng trực tiếp mà khách hàng cần

c Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ( khoản 1, điều 13, Luật cạnh tranh 2004).

Trang 10

Theo quy định tại điều 23, Nghị định 116/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh giải thích rằng: trừ một số trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 2 , điều 23 nghị định này thì bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là việc bán hàng dưới mức giá thấp hơn tổng các chi phí sau đây:

- Chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc giá mua hàng hóa để bán lại

- Chi phí lưu thông hàng hóa dịch vụ theo quy định pháp luật

Giá thành toàn bộ được hiểu là mức giá cơ bản được cấu thành từ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông…(như các chi phí vật tư, nhân công, sản xuất, tiếp thị, đóng gói, quảng cáo…) của sản phẩm và được các doanh nghiệp sử dụng làm căn cứ để xác định giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình

Bản chất làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường thể hiện ở chỗ: đây là hành vi mà một doanh nghiệp có vị trí độc quyền lợi dụng vị trí này và khả năng tài chính của mình đã chấp nhận lỗ hoặc chấp nhận hy sinh lợi nhuận mà áp dụng giá bán thực tế thấp hơn giá thành toàn bộ mà doanh nghiệp phải bỏ ra để cấu thành nên sản phẩm nhằm mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh Bởi khi một doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã giảm giá bán sản phẩm trên một thị trường liên quan thì các doanh nghiệp ở các thị trường khác hay những nhà đầu tư mới có ý định tham gia vào thị trường liên quan này sẽ khó có thể gia nhập hoặc sẽ hạn chế đầu

tư vào thị trường này

Như vậy, hành vi này không chỉ làm cản trở sự gia nhập đầu tư của các doanh nghiệp mà còn làm mất đi cơ hội có được sự lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng

Chính vì những lý do trên mà Luật cạnh tranh 2004 cấm các doanh nghiệp được thực hiện hành vi này Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 2 điều 23, Nghị định 116/2005 quy định một số trường hợp doanh nghiệp

Ngày đăng: 08/04/2022, 23:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ví dụ: Điển hình cho sự vi phạm hành vi này, đó là vụ việc của rạp chiếu phim Megasta - Bài tập lớn Luật cạnh tranh: Thực trạng của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí độc quyền
d ụ: Điển hình cho sự vi phạm hành vi này, đó là vụ việc của rạp chiếu phim Megasta (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w