1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn môn Luật cạnh tranh Đại học Luật Hà Nội: Thực trạng pháp luật Việt Nam về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

16 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 35,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ BÀI 1 BÀI LÀM 2 I, LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 2 1 Một số khái niệm 2 2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh 2 II, THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 3 1, Xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 3 2 Thực trạng quy định của pháp luật về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm 6 3, Hạn chế của quy định pháp luật cạnh tranh hiện hành về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ BÀI 1

BÀI LÀM 2

I, LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 2

1 Một số khái niệm 2

2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh 2

II, THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 3

1, Xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 3

2 Thực trạng quy định của pháp luật về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm 6

3, Hạn chế của quy định pháp luật cạnh tranh hiện hành về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 11

III THỰC TRẠNG VIỆC XỬ LÝ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 12

KẾT THÚC 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

MỞ BÀI

Trong nền kinh tế thị trường, việc một doanh nghiệp , nhóm doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh là điều hiển nhiên, hơn thế nữa, vị thí thống lĩnh thị trường

là mơ ước của mọi doanh nghiệp Pháp luật cạnh tranh của các nước trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng không cấm, ngăn cản hành vi doanh nghiệp chiếm lĩnh vị trí thống lĩnh này Tuy nhiên nếu doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp sử dụng vị trí này để thực hiện các hành vi nhằm hạn chế cạnh tranh thì pháp luật cạnh tranh Việt Nam 2004 có các quy định cấm các hành này Để tìm hiểu rõ thực trạng các quy định của pháp luật về vấn đề này em xin chọn vấn đề: “

Thực trạng pháp luật Việt Nam về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường”

Do còn hạn chế trong mặt nhận thức , trong quá trình làm bài còn nhiều thiếu xót, mong thầy cô bỏ qua và giúp em hoàn thiện bài tập này

Em xin chân thành cảm ơn!!

Trang 3

BÀI LÀM

I, LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG

1 Một số khái niệm.

- Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh là hành

vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc han chế quá mức cạnh tranh

-Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị tri thống lĩnh thị trường: pháp luật

cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào được coi là doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường, mà thông qua thị phần của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp này trên thị trường liên quan để xác định

-Thị trường sản phẩm liên quan: Bao gồm tất cả các sản phẩm hay dịch vụ

được người tiêu dùng coi là có khả năng thay thế cho nhau do các đặc tính của sản phẩm, giá cả cũng như mục đích sử dụng của chúng

-Thị trường địa lý liên quan: Là một khu vực địa lý cụ thể nơi các doanh

nghiệp có liên quan tham gia bán hoặc mua hàng hóa hoặc dịch vụ trong những điều kiện cjanh tranh tương tư và các điều kiện cạnh tranh tại khu vực này phải khác biệt đáng kể so với các điều kiện cạnh tranh tại các khu vực lân cận

2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

1 Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan

Trang 4

2 Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đã thực hiện hành vi mà pháp luật quy định là hạn chế cạnh tranh trên thị trường

3 Hậu quả của hành vi làm sai lệch , cản trở hoặc giảm cạnh tranh giữa các đối thủ trên các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan

II, THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG.

1, Xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam không có khái niệm cụ thể xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, mà dựa vào thị phần trên thị trường liên quan

để xác định

 Doanh nghiệp có vị thống lĩnh trên thị trường.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật cạnh tranh 2004 có quy định:

(1)Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần

từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.

Theo quy định trên ta có thể thấy luật cạnh tranh liệt kê 2 trường hợp để 1 doanh nghiệp xác định có vị trí thống lĩnh thị trường:

Đầu tiên: doanh nghiệp đó có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên

quan Trường hợp này pháp luật dựa hoàn toàn vào thị phần của doanh nghiệp trên thị trừng liên quan để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của nó

Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa dịch vu nhất định: là

tỉ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoa, dịch vụ đó trên thị trường liên

Trang 5

quan hoặc tỉ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa , dịch vụ trên thị trường liên quan theo tháng , quý , năm

Vì vậy Doanh nghiệp có thị phần trên thị trường liên quan từ 30% phần trăm trở lên được coi là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường

Thứ hai: Doanh nghiệp tuy thị phần trên thị trường liên quan không từ 30%

trở lên, nhưng có khả năng cạnh tranh đáng kể, cũng được coi là doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh thị trường

Cơ sở để xác định khả năng cạnh tranh đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên quan căn cứ Điều 22 Nghị định 116/2005/NĐ-CP:

1 Năng lực tài chính của doanh nghiệp

2 Năng lực tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp

3 Năng lực tài chính của tổ chứ, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoặt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp

4 Năng lực tài chính của công ty mẹ

5 Năng lực công nghệ

6 Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng ở hữu công nghiệp

7 Quy mô mạng lưới phân phối

Theo dự thảo sửa đổi Luật cạnh tranh thì cơ sở xác định khả năng cạnh tranh đáng kể của doanh nghiệp được xác định dựa trên một hoặc một số yếu tố quy định

về sức mạnh thị trường của doanh nghiệp Đây là một điểm mới của pháp cạnh tranh khi dựa trên cơ sở về sức mạnh thị trường của doanh nghiệp để xác định khả năng cạnh đáng kể của doanh nghiệp

Trang 6

Đây được xem là một trường hợp đặc biệt của vị trí thống lĩnh thị trường, tuy nhiên pháp luật Việt Nam quy định việc có trường hợp đặc biệt này là hợp lý,

vì thực tế đối với nền kinh tế thị trường, các chủ thể được tự do kinh doanh các mặt hàng pháp luật không cấm, vì vậy các doanh nghiệp gia nhập thị trường một cách

tự do, từ đó dẫn đến hiện trạng có nhiều doanh nghiệp cùng kinh doanh trên một thị trường liên quan, và không có doanh nghiệp nào đạt từ 30% trở lên trên thị liên quan Cơ quan cạnh tranh dựa vào một hoặc nhiều yếu tố đã được quy định để xác định doanh nghiệp tuy chưa chiếm 30% thị phần trên thị trường liên quan nhưng có khả năng cạnh tranh đáng kể, cũng được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường

 Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường.

Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh trên thị trường nếu đáp ứng các điều kiện sau:

a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;

b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan;

Việc quy định về nhóm các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường xuất phát từ thực tế của thị trường Khi các doanh nghiệp đồng loạt có hành vi hạn chế cạnh tranh, tuy nhiên cơ quan nhà nước không có bằng chứng về việc các doanh nghiệp này có thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh

Các doanh nghiệp phải cùng thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh mà không có sự thỏa thuận là điều kiện cần để hình thành một nhóm doanh nghiệp theo quan điểm của luật cạnh tranh Nếu có thể chứng minh được các doanh nghiệp

Trang 7

này thỏa thuận với nhau, thì không cần quan tâm số lượng doanh nghiệp tham gia

mà chỉ cần thị phần kết hợp trên thị trường liên quan lớn hơn 30% thì Cơ quan cạnh tranh đã có đủ căn cứ để xử lý Tuy nhiên khi không chứng minh được các doanh nghiệp này thỏa thuận, thì căn cứ vào số lượng doanh nghiệp và thị phấn kết hợp của các doanh nghiệp này theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Luật cạnh tranh

2004 cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh thì sẽ bị xử lý theo quy định của Pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường

2 Thực trạng quy định của pháp luật về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm.

Pháp luật không cấm việc các doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh trên thị trường, vì đây là tất yếu của thị trường, cũng là mục tiêu để các doanh nghiệp phấn đấu, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Pháp luật cạnh tranh ở đây cấm các hành vi lợi dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp để thực hiện các hành vi nhằm hạn chế cạnh tranh Gây cản trở sự cạnh tranh của thị trường mang lại bất lợi cho các chủ thể kinh doan khác và người tiêu dùng

Các hành vi này được quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh 2004:

2.1, Bán hàng hóa , cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại

bỏ đối thủ cạnh tranh.

Hành vi này là hành vi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trước, hạ giá thành để thu hút khách hàng, như vậy đối thủ cạnh tranh

sẽ không thể cạnh tranh được và bị loại bỏ khởi thị trường

Trang 8

Hành vi bán hàng hóa cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ được hiểu là hành vi bán hàng hóa thấp hơn chi cấu thành giá sản xuất hàng hóa, dịch vụ; chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ

Pháp luật cũng quy định các trường hợp không bị coi là bán hàng hóa dưới giá thành toàn bộ được quy định tại khoản 2 Điều Điều 23 Nghị định

116/2005/NĐ-CP bao gồm các hành vi: Hạ giá bán hàng hóa tươi sống; Hạ giá bán hàng hoa tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu thị trường; Hạ giá bán hàng hóa trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doan thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất kinh doanh; Các biện pháp thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hàn về giá.

Việc pháp luật quy định như trên chỉ khi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp

có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi hạ mức giá dưới giá thành chỉ vì mục đích loại bỏ đối thủ trên thị trường thì mới bị coi là vi phạm quy định pháp luật cạnh tranh, đây là một hạn chế

Vì vậy dự thảo luật cạnh tranh đã có sửa đổi như sau : Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ mà không có lý do chính đáng; vì vậy khi phát

hiện doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị tường thực hiện hành vi hạ ía dưới giá thành mà không có lý do chính đáng thì đều bị xử lý, không cần biết mục đích là gì

2.2, Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vị bất hợp lý hoặc ấn định giá tối thiểu gây hại cho khách hàng.

Hành vi này gây ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng, người tiêu dùng, khi

họ phải mua hàng hóa với một mức giá cao hơn giá trị thực tế của hàng hóa, hoặc phải bán hàng hóa với mức giá thấp hơn thực tế của nó, vì giá của hàng hóa , dịch

Trang 9

vụ trong trường hợp này không phải do sự cạnh tranh của thi trường mang lại, mà

nó do các doanh nghiệp đang chiếm vị trí độc quyền ấn định, các doanh nghiệp này lạm dụng vị trí dộc quyền của mình để thu giá trị chênh lệch giữa mức giá cạnh tranh và mức giá họ ấn định

Hành vi này được quy định cụ thể tại điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP Việc quy định như vậy thì chỉ khi gây hại cho khách hàng thì các doanh nghiệp nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường mới bị coi là vi phạm quy định của pháp luật vì vậy Khoản 2 Điều 10 dự thảo luật cạnh tranh có

sửa đổi quy định này như sau: Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp

lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu Theo quy định mới của pháp luật cạnh tranh

chú ý đến lý do doanh nghiệp ấn định giá mua, bán hàng hóa dịch vụ có chính đáng hay không Nếu doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp chiếm vị trí độc quyền không chứng minh được mức giá mình đưa ra là chính đáng thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật cạnh tranh

2.3, Hạn chế sản xuất phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng.

Quy định này có các hành vi sau hành vi:

Thứ nhất: Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hạn chế

phân phối hàng hóa, dịch vụ gây mất cân bằng cung cầu, khan hiếm nguồn hàng dẫn đến đẩy giá thành lên cao gây bất lợi cho người tiêu dùng và các chủ thể khác trong xã hội, từ đó gây méo mó thị trường

Thứ hai: giới hạn thị trường, các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường tự giới

hạn thị trường phân phối hàng hóa, nguồn sản phẩm, điều này làm giảm hoặc triệt tiêu sự lựa chọn củ khách hàng gây thiệt hại trực tiếp cho khách hàng

Trang 10

Thứ 3 , Cản trở sự phát triển kỹ thuật, khoa học công nghệ

Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường , lợi dụng vị trí thống lĩnh

để thủ tiêu sự phát triển về kỹ thuật, cản trở sự nghiên cứu của đối thủ, thực hiện các hành vi nư mua bằng sáng chế nhưng không sử dụng hoặc đe dọa người fđang nghiên cứu phải hủy bỏ việc nghiên cứu Mục đích để không phải thay đổi dây chuyền công nghệ sản xuất, cũng làm cho đối thủ không áp dụng được Điều này làm người tiêu dùng không được sử dụng các sản phẩm mang hàm lượng công nghệ cao, cùng với đó làm nền kinh tế không phát triển được

Các dạng hành vi này được pháp luật cạnh tranh quy định cụ thể tại Điều 28 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

Quy định của pháp luật về điều này chỉ giới hạn đến vấn đề đó là gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng, tuy nhiên việc này còn gây ảnh hưởng đến đối thủ cạnh tranh và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vì vậy khoản 3 Điều 20 dự thảo luật cạnh tranh không quy định mục đích của hành vi, mà chỉ quy định hành

vi Cụ thể : “Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ;” như vậy cơ quan quản lý cạnh tranh

chỉ cần xác định hành vi, không cần xem xét đến việc nó gây ảnh hưởng cho người tiêu dùng, hay cho các đối thủ khác, đã có thể xử lý về hành vi này

2.4, Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh.

Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh là hành vi phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp về điều kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng trong những giao dịch mua, bán háng hóa, dịch vụ tương tự về mặt giá trị hoặc tính chất

Trang 11

hàng hoá, dịch vụ để đặt một hoặc một số doanh nghiệp vào vị trí cạnh tranh có lợi hơn so với doanh nghiệp khác

2.5, Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hoa , dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghiã vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

Đây là hành vi doanh nhiệp, nhóm doan nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, lợi dụng vị trí này để áp đặt điều kiện cho các doanh nghiệp khác khi mua bán hàng hóa, dịch vụ, các điều kiện bị áp đặt được pháp luật quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 30 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

Hành vi buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan đến đối tượng hợp đồng là hành vi gắn việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng với việc phải mua hàng hoá, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng

Việc pháp luật quy định nhưu vậy còn mang tính chất liệt kê, chưa bao quát được hết các trường hợp

2.6, Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.

Hành vi này được quy định cụ thể tại Điều 30 Nghị định 116/2005/NĐ-CP theo đó hành vi này được hiểu là doanh nghiệp , nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường lợi dụng ưu thế của mình để tạo ra rào cản về giá, nguồn tiêu thụ, cung ứng sản phẩm, nhằm tạo những bất lợi khiến cho các doanh nghiệp khác khó khăn trong việc gia nhập vào thị trường

Ngày đăng: 08/04/2022, 22:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w