LUẬN VĂN: hoạt động tài chính doanh nghiệp và vai trò của phân tích hoạt động tài chính đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp... Báo cáo kết quả hoạt độ
Trang 1
LUẬN VĂN:
hoạt động tài chính doanh nghiệp và
vai trò của phân tích hoạt động tài
chính đối với việc nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 2
Chương 1
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp và vai trò của phân tích hoạt động tài chính đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.1.1 Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán
1.1.1.1 Bảng cân đối kế toán
a) Khái niệm
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
c) Kết cấu và nội dung phản ánh
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý
Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần:
- Phần tài sản
- Phần nguồn vốn
Trang 3
Phần tài sản Các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tài sản được phân chia thành các mục như sau:
A Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp Đây
là những tài sản có thời gian luân chuyển ngắn (thường là trong vòng một chu kỳ kinh doanh hay trong vòng 1 năm)
Tài sản lưu động gồm nhiều loại với tính chất công dụng khác nhau vì thế để thuận lợi cho qunả lý và hạch toán cần phải tiến hành phân loại tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn thành các loại sau:
- Tiền
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
- Các khoản phải thu
- Hàng tồn kho
- Tài sản lưu động khác
B Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Phản ánh giá trị thực của toàn bộ tài sản cố định và đầu tư dài hạn Đây là những tài sản có thời gian luân chuyển dài (trên 1 năm hay là một chu kỳ kinh doanh
Căn cứ vào hình thái biểu hiện, toàn bộ TSCĐ và ĐTDH được chia làm các loại sau:
- TSCĐ
- Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
- Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn
* Xét về mặt kinh tế: Các chỉ tiêu thuộc phần tài sản phản ánh quy mô kết cấu các loại tài sản dưới hình thái vật chất
Trang 4* Xét về mặt pháp lý: Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo kế toán
Phần nguồn vốn Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo Các chỉ tiêu này thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp
Nguồn vốn được phân chia thành:
A Nợ phải trả
Là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ số nợ phải trả tại thời điểm báo cáo Chỉ tiêu này thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với các chủ nợ như ngân hàng, người cung cấp vật tư hàng hoá, người lao động…
Nợ phải trả gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
B Nguồn vốn chủ sở hữu
Là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ quá trình kinh doanh, do đó, nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Nguồn vốn quỹ và nguồn kinh phí
* Xét về mặt kinh tế: Đây là các chỉ tiêu ở nguồn vốn phản ánh quy mô, kết cấu các nguồn vốn đã được doanh nghiệp đầu tư và huy động vào sản xuất kinh doanh
* Xét về mặt pháp lý: Đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn cho doanh nghiệp (cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp…)
1.1.1.2 Phân tích tình hình tài chính qua BCĐKT
BCĐKT phản ánh vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp ở tại một thời điểm nhất định, vào cuối kỳ kế toán Do đó ta có thể đánh giá tình hình biến động của tài sản và nguồn hình thành tài sản giữa các kỳ kế toán để thấy được tình hình biến động quy mô,
Trang 5Bất kỳ một doanh nghiệp nào đều cần phải có tài sản, bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động Việc đảm bảo và phân bổ tài sản cho đầy đủ và hợp lý là điều cốt yếu tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh một cách liên tục và
có hiệu quả Do vậy, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích cơ cấu tài sản bằng cách so sánh tổng số tài sản cuối kỳ so với đầu kỳ và tính ra tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ
Để tiến hành phân tích cơ cấu tài sản, cần lập bảng phân tích như sau:
Bảng 1: Bảng phân tích cơ cấu tài sản
Chỉ tiêu
Đầu nă
m
Cuố
i năm
Cuối năm so với đầu năm
theo quy mô chung
Đầu năm (%)
Cuối năm (%)
Trang 6sở vật chất kỹ thuật như máy móc thiết bị cho doanh nghiệp
Bảng phân tích cơ cấu tài sản còn cho biết tỉ lệ từng khoản vốn chiếm trong tổng số tài sản và việc bố trí cơ cấu tài sản của doanh nghiệp như thế nào
Đối với nguồn hình thành tài sản, cần xem xét tỷ trọngtừng loại chiếm trong tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng Nếu NVCSH chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao Ngược lại nếu công nợ phải trả chiếm
Trang 7
chủ yếu trong tổng số nguồn vốn (cả về số tuyệt đối và tương đối) thì khả năng bảo đảm
về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp
Để phân tích cơ cấu nguồn vốn, ta lập bảng phân tích như sau:
Bảng 2: Bảng phân tích cơ cấu Nguồn vốn
năm
Cuố
i năm
Cuối năm so với đầu năm
Theo quy mô chung
Đầu năm (%)
Cuối năm (%)
1.1.2 Phân tích tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
1.1.2.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
a) Khái niệm
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán của doanh nghiệp.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được chi tiết theo hoạt động sản xuất kinh doanh chính, phụ và các hoạt động kinh doanh khác, tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước về các khoản thuế và các khoản khác phải nộp
b) Mục tiêu phản ánh
Trang 8Báo cáo kết quả kinh doanh nhằm mục tiêu phản ánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí va kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho một thời kỳ nhất định Ngoài ra, báo cáo kết quả kinh doanh còn kết hợp phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước về thuế và các khoản khác
c) Kết cấu và nội dung phản ánh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được trình bày gồm hai phần chính:
- Báo cáo lãi lỗ
- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
- Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ được hoàn lại, được miễn giảm
Phần I: Báo cáo lãi lỗ Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác Tất cả các chỉ tiêu của báo cáo lãi lỗ được trình bày tuần tự như sau:
+ Doanh thu thuần + Giá vốn hàng bán + Lợi tức gộp + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý doanh nghiệp + Lợi tức thuần từ hoạt động kinh doanh + Lợi tức hoạt động tài chính
+ Lợi tức hoạt động bất thường + Tổng lợi tức trước thuế + Thuế lợi tức phải nộp + Lợi tức sau thuế
Trang 9+ Thuế tài nguyên + Thuế nhà đất + Tiền thuê đất + Các loại thuế khác
Mục II Các khoản phải nộp khác
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản phải nộp, đã nộp, còn phải nộp về các khoản khác theo quy định của nhà nước, chi tiết theo các khoản mục sau:
1 Các khoản phụ thu
2 Các khoản phí và lệ phí
3 Các khoản phải nộp khác
Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm
Phản ánh số thuế mà doanh nghiệp đã nộp nhưng được khấu trừ được hoàn lại hay được miễn giảm theo quy định bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ
- Thuế giá trị gia tăng được hoàn lại
- Thuế giá trị gia tăng được miễn giảm
1.1.2.2 Phân tích tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 10Quá trình đánh giá khái quát tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể thông qua việc phân tích 3 nội dung cơ bản sau:
- Phân tích sơ bộ về kết cấu chi phí và kết quả thông qua các loại hoạt động
- Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính
- Phân tích tốc độ tăng trưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh
a) Phân tích kết quả các loại hoạt động
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp không chỉ tiến hành một loại hoạt động sản xuất mà còn tham gia vào nhiều loại hình hoạt động đa dạng nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình Chính vì vậy, lợi nhuận từ các loại hoạt động thu về khi tổng hợp lại thành lợi nhuận của doanh nghiệp cần phải được tiến hành phân tích và đánh giá khái quát giữa doanh thu, chi phí và kết quả trong mối quan hệ chung trong tổng số các mặt hoạt động
Căn cứ vào bảng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Phần I: Lãi, lỗ) ta
có thể lập bản phân tích như sau:
Bảng 3 ; phân tích đánh giá về kết cấu chi phí, doanh thu và kết quả
Chỉ tiêu
số tiền
tiền %
số tiền %
Hoạt động sản xuất kinh
b) Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh chính
Trang 11
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động do chức năng kinh doanh đem lại, trong từng thời kỳ hạch toán của doanh nghiệp, là cơ sở chủ yếu để đánh giá phân tích hiệu quả các mặt, các lĩnh vực hoạt động, phân tích nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân cơ bản đến kết quả chung của doanh nghiệp
Bảng phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đúng đắn và chính xác sẽ là
số liệu quan trọng để tính và kiểm tra số thuế doanh thu, thuế lợi tức mà doanh nghiệp phải nộp và sự kiểm tra, đánh giá của các cơ quan quản lý về chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 4: Bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính
Chỉ tiêu
Đầ
u nă
m
Cu
ối nă
Cuối năm (%) Tổng doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận sau thuế từ
HĐKD
Trang 12Tổng nguồn vốn
1.2 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp
Các số liệu trên báo cáo tài chính chưa lột tả được hết thực trạng tài chính của doanh nghiệp, do vậy các nhà tài chính còn dùng các hệ số tài chính để giải thích thêm về các mối quan hệ tài chính Mỗi một doanh nghiệp khác nhau, có các hệ số tài chính khác nhau Do đó người ta coi các hệ số tài chính là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng bao gồm:
- Nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho khả năng thanh toán
- Nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
- Nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho các chỉ số hoạt động của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho khả năng sinh lời
1.2.1 Các hệ số về khả năng thanh toán
Tình hình tài chính của doanh nghiệp trước hết được phản ánh qua khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Vì thế, đây là nhóm chỉ tiêu được nhiều đối tượng quan tâm nhất như tổng cục thuế, nhà đầu tư
a) Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng với số nợ phải trả
Hệ số này được tính theo công thức:
Kết quả của chỉ tiêu này thường bằng 3 là hợp lý nhất, vì như vậy, doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhất Trong trường hợp chỉ tiêu này <3 hoặc >3 quá nhiều đều không hợp lý, doanh nghiệp cần phải điều chỉnh chỉ tiêu này cho phù hợp với mức quy định của ngành
Nếu hệ số này <1 có nghĩa là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu
bị mất toàn bộ, tổng tài sản hiện có không đủ để trả nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán
Hệ số thanh toán
tổng quát =
Trang 13
b) Hệ số khả năng thanh toán tạm thời
Hệ số này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Hệ số khả năng thanh toán tạm thời là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán tạm thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn
Hệ số này được tính theo công thức:
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Trong đó, Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, dễ chuyển đổi thành tiền trong vòng 1 năm bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng hoá tồn kho, tài sản lưu động khác Còn Nợ lưu động là nợ ngắn hạn, bao gồm các khoản nợ phát sinh trong vòng 1 năm kể từ ngày lập báo cáo tài chính gồm nợ ngắn hạn ngân hàng, nợ ngắn hạn khác, nợ dài hạn đến hạn trả, các khoản phải nộp ngân sách nhà nước, các khoản phải thanh toán công nhân viên, các khoản phải nộp phải trả khác
Kết quả của chỉ tiêu này tính ra là 2 là hợp lý nhất vì nếu như thế thì doanh nghiệp
sẽ duy trì được khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đồng thời cũng duy trì được khả năng kinh doanh Trong trường hợp chỉ tiêu này >2 hoặc <2 quá nhiều đều không tốt vì:
+ nếu chỉ tiêu này <2 quá nhiều thì doanh nghiệp vừa không thanh toán được nợ ngắn hạn, mất uy tín với chủ nợ, lại vừa không có tài sản dự trữ cho kinh doanh
+ nếu chỉ tiêu này >2 quá nhiều thì doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng tài sản lưu động, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp
Do đó, trong cả 2 trường hợp doanh nghiệp đều phải điều chỉnh cho phù hợp với mức quy định của toàn ngành
c) Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Chỉ tiêu này đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong vòng từ 1 đến 3 tháng, phản ánh năng lực thanh toán nhanh của doanh nghiệp, không dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hoá Do đó đối tượng thanh toán nhanh trong chỉ tiêu này chỉ là những tài sản tương đương tiền
Hệ số thanh toán
tạm thời =
Trang 14Hệ số này được tính theo công thức:
Kết quả của chỉ tiêu này tính ra bằng 1 là hợp lý bởi vì nếu thế thì doanh nghiệp vừa duy trì được khả năng thanh toán nhanh, vừa không mất đi những cơ hội do khả năng thanh toán nợ nhanh mang lại
Trong mọi trường hợp, chỉ tiêu này >1 hoặc <1 quá nhiều đều không tốt, vì:
+ nếu hệ số này < 1, tình hình thanh toán công nợ của doanh nghiệp có thể gặp khó khăn;
+ Nhưng hệ số này >1, lại phản ánh một tình hình không tốt vì tài sản tương đương tiền nhiều, vòng quay vốn chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
d) Hệ số thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán hàng So sánh giữa nguồn để trả lãi với lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền vay tới mức độ nào
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Lãi vay phải trả trong kỳ 1.2.2 Các hệ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Quá trình phân tích các hệ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp ở phần trên khiến ta có thể đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của một doanh nghiệp Nhưng các nhà phân tích còn quan tâm đến khả năng kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp đối với việc thoả mãn các khoản nợ vay dài hạn Thông qua đó phân tích những khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp phải đương đầu Chính vì vậy bên cạnh việc nghiên cứu các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, ta phải đi sâu phân tích tình hình đầu tư và cơ cấu vốn nhằm mục đích đánh giá tính rủi ro của đầu tư dài hạn, bao gồm các chỉ tiêu sau:
Trang 15ép của khoản nợ vay
c) Tỷ suất đầu tư
Tỷ suất đầu tư là tỷ lệ giữa tài sản cố định ( giá trị còn lại) với tổng tài sản của doanh nghiệp
Công thức của tỷ suất đầu tư được xác định như sau:
Giá trị còn lại của tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tỷ suất này càng lớn càng thể hiện mức độ quan trọng của tài sản cố định trong tổng số tài sản cuả doanh nghiệp, phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất – kỹ thuật, năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp
d) Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định
Trang 16Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định cho thấy số vốn tự có của doanh nghiệp dùng để trang bị tài sản cố định là bao nhiêu, phản ánh mối quan hệ giữa nguồn vốn chủ sở hữu với giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất này nếu lớn hơn 1 chứng tỏ khả năng tài chính vững vàng và lành mạnh Ngược lại, nếu tỷ suất này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là một bộ phận của tài sản cố định được tài trợ bằng vốn vay
Nếu doanh nghiệp dùng nhiều nguồn vốn chủ sở hữu để đầu tư cho việc mua sắm TSCĐ thì sẽ bất lợi vì TSCĐ luân chuyển chậm, thời gain thu hồi vốn lâu, tính rủi ro lại cao
1.2.3 Các chỉ số về hoạt động
Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các loại tài sản khác nhau
b) Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho
Công thức được xác định như sau:
Tỷ suất tự tài
trợ =
Số vòng quay hàng
tồn kho =
Trang 17
c) Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp và được xác định theo công thức :
Doanh thu thuần
Số dư bình quân các khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính bằng cách cộng số phải thu đầu kỳ với cuối kỳ rồi chia đôi
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh Điều này làm tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp , tăng vốn kinh doanh
d) Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Công thức được xác định như sau:
360 ngày
Tuy nhiên, kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp chưa thể có kết luận chắc chắn được
vì còn phải xem xét đền mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp Mặt khác, chỉ tiêu này
có thể được đánh giá là khả quan, nhưng doanh nghiệp cũng cần phải phân tích kỹ hơn
vì tầm quan trọng của nó và kỹ thuật tính toán đã che dấu đi các khuyết tật trong việc quản trị các khoản phải thu
Trang 18Số ngày một vòng quay vốn lưu động phản ánh trung bình một vòng quay hết bao nhiêu ngày
Vòng quay toàn bộ vốn được xác định như sau:
1.2.4 Các chỉ số sinh lời
Các chỉ số sinh lời rất được các nhà quản trị tài chính quan tâm bởi vì chúng là cơ
sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh trong một kỳ nhất định Hơn thế các chỉ số này còn là cơ sở quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai
a) Tỷ suất doanh lợi doanh thu
Đây là chỉ tiêu thể hiện trong một dồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong
kỳ thì có mấy đồng lợi nhuận
Công thức được xác định như sau:
b) Tỷ suất doanh lợi tổng vốn
Số ngày một vòng quay vốn lưu động
Trang 19
Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn bình quân được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận
Công thức tỷ suất doanh lợi tổng vốn được xác định như sau:
c) Tỷ suất doanh lợi vốn chủ sở hữu
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủ nhân của doanh nghiệp đó Doanh lợi chủ sở hữu là mục tiêu đánh giá mục tiêu đó
Công thức của doanh lợi vốn chủ sở hữu được xác định như sau:
1.3 Phân tích diến biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong những cơ sở và công cụ của các nhà quản trị tài chính để hoạch định tài chính cho kỳ tới, bởi lẽ mục đích chính của nó là trả lời cho câu hỏi: vốn xuất phát từ đâu và được sử dụng vào việc gì? Thông tin trên bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn cho biết doanh nghiệp đang tiến triển hay gặp khó khăn Thông tin này còn rất hữu ích đối với người cho vay, các nhà đầu tư…
Để lập được bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường tổng hợp sự thay đổi của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán giữa hai thời điểm là đầu
kỳ và cuối kỳ Mỗi một sự thay đổi của từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán đều được xếp vào cột diễn biến nguồn vốn hoặc sử dụng vốn theo cách thức sau:
- Tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn của chủ sở hữu, cũng như một sự làm giảm tài sản của doanh nghiệp chỉ ra sự diễn biến nguồn vốn
- Tăng tài sản của doanh nghiệp, giảm các khoản nợ và vốn chủ sở hữu được xếp vào cột sử dụng vốn
1.4 Phân tích điểm hoà vốn
Doanh lợi tổng
vốn =
Doanh lợi vốn chủ
sở hữu =
Trang 20Bất kỳ quá trình kinh doanh nào cũng cần phải xác định mức doanh thu tối thiểu đủ
bù đắp chi phí của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tích điểm hoà vốn sẽ cho phép ta xác định mức doanh thu với khối lượng và thời gian sản xuất để bù đapứ chi phí đã bỏ ra, tức là đạt mưc hoà vốn
- Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu…
- Trị giá vốn hàng bán
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí vận chuyển bốc dỡ, bao gói vật tư, sản phẩm, hàng hoá
- Chi phí hoa hồng, môi giới
- v.v…
Tổng biến phí sẽ tăng, giảm theo mức độ hoạt động của doanh nghiệp tính trên tổng số nhưng nếu tính trên một đơn vị công việc thì biến phí lại tương đối ổn định Ngược lại, định phí là những chi phí mà trong một giới hạn đầu tư nào đó thường không thay đổi theo tổng khối lượng công việc hoàn thành nhưng nếu tính trên một đơn
vị công việc thì định phí lại thay đổi Trong doanh nghiệp, định phí thường bao gồm:
- Chi phí nhân viên quản lý
- Khấu hao tài sản cố định
- Tiền thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh
- v.v…
Trang 21
Theo định nghĩa, điểm hòa vốn là điểm mà doanh nghiệp không lỗ, không lãi tức là lợi nhuận bằng 0 Khi đó tổng doanh thu sẽ bằng tổng chi phí
Sản lượng hoà vốn
Nếu gọi F: tổng chi phí cố định
V: Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm G: Giá bán đơn vị sản phẩm
Công suất hòa vốn
Khi nhà quản lý muốn biết cần huy động bao nhiêu tỉ lệ % công suất thiết kế thì sẽ đạt được điểm hòa vốn vì vậy ta phải xác định công suất hoà vốn cho các doanh nghiệp Gọi S: sản lượng ở mức 100% công suất thiết kế Chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và chi phí khả biến là SG - SV Như vậy cứ 1% công suất sẽ ứng với mức chênh lệch Vậy doanh nghiệp cần h% công suất để đạt điểm hòa vốn
F
S ( G - V)
Thời gian hoà vốn
Thời gian hoà vốn là thời gian mà doanh nghiệp đạt được điểm hòa vốn trên thực tế
có nhiều doanh nghiệp đạt điểm hòa vốn với thời gian ngắn nhưng cũng có doanh nghiệp đạt điểm hòa vốn vào những tháng cuối năm Điều đó chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa tốt Việc xác định thời gian hoà vốn cho thấy khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kì và là căn cứ để doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất tiếp theo
10h%
=
Trang 22Gọi Q: Sản lượng tại điểm hoà vốn
S: sản lượng ở mức công suất thiết kế
ntháng:thời gian đạt điểm hòa vốn
12Q
S Theo công thức trên, thời gian hoà vốn < 12 thì doanh nghiệp có lãi, = 12 thì hòa vốn và > 12 thì lỗ vốn
Việc tính toán phân tích điểm hòa vốn có ý nghĩa rất lớn trong công tác chỉ đạo và quản lý kinh doanh vì nó giúp cho chủ doanh nghiệp thấy đượcvới doanh số bán ra hoặc sản lượng sản phẩm bán ra là bao nhiêu và vào điểm nào thì doanh nghiệp sẽ thu hồi được vốn sinh lời, để từ đó có những chính sách và biện pháp tác động tích cực nhằm rút ngắn thời điểm hòa vốn, tăng khả năng sinh lời của đồng vốn
c) Các nhân tố ảnh hưởng đến điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau như chi phí kinh doanh, giá bán, sản lượng
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến điểm hòa vốn cho phép ta lập ra kế hoạch đầu
tư có hiệu quả, quyết định sản xuất kinh doanh tối ưu
+ ảnh hưởng của nhân tố giá bán: Tuỳ theo nhu cầu thị trường và tình hình cạnh tranh mà giá bán sản phẩm , hàng hóa có thể thay đổi Sự tác động của giá bán đến mức tối đa hoặc giảm giá bán để tăng sản lượng bán ra tuỳ theo chính sách kinh doanh của doanh nghiệp
+ ảnh hưởng của biến phí: Biến phí có thể thay đổi do yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm, do đơn giá tiền lương, nguyên vật liệu thay đổi v.v… khi đó điểm hòa vốn cũng sẽ thay đổi theo Nếu biến phí có xu hướng tăng thì hoà vốn và thời gian hòa vốn dài hơn Hay nói cách khác nhân tố biến phí ảnh hưởng tỷ lệ thuận với các chỉ tiêu phản ánh điểm hòa vốn Còn trong trường hợp doanh nghiệp tổ chức và quản lý tốt khâu mua hàng hoá nguyên vật liệu và cải tiến kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất thì lượng biến phí giảm và sẽ rút ngắn được điểm hòa vốn
+ ảnh hưởng của định phí: Trong giới hạn khả năng kinh doanh cho phép, định phí
có thể thay đổi không phải do đầu tư thêm thiết bị, máy móc kinh doanh mà do các
ntháng
=
Trang 23
nguyên nhân khác, chẳng hạn: Thay đổi tỷ lệ khấu hao TSCĐ, đơn giá thuê phương tiện kinh doanh, tiền lương cán bộ quản lý … khi đó điểm hòa vốn cũng sẽ thay đổi theo chiều hướng thuận chiều Nhưng để giảm định phí thì đòi hỏi doanh nghiệp tính toán và quản lý theo định mức các khoản chi phí quản lý Tiết kiệm các khoản chi phí không cần thiết: Tinh giảm biên chế lao động để giảm chi phí tiền lương khâu quản lý, tiết kiệm chi phí giao dịch, tiếp khách…
1.5 Vai trò của phân tích hoạt động tài chính đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra
và sự so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào, phản ánh trình độ sử dụng mọi khả năng của doanh nghiệp mình để phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư cải tiến công nghệ và kỹ thuật trong kinh doanh và quản lý kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người lao động, từ đó nâng cao vị trí xã hội và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Để nâng cao hiệu quả kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng
có hiệu quả các yếu tố của quá trình hoạt động kinh doanh Các chủ doanh nghiệp có thể
áp dụng nhiều cách thức khác nhau như: Tiến hành cải cách bộ máy quản lý, dựa vào sự trợ giúp của cấp trên, dựa vào sự trợ giúp của cấp trên, tham gia vào thị trường chứng khoán, liên doanh, liên kết với các đơn vị khác… Tuy nhiên, có một biện pháp rất hữu hiệu đem lại hiệu quả cao nhất, với chi phí thấp nhất luôn luôn được các chủ doanh nghiệp áp dụng, đó là tiến hành phân tích tài chính đối với doanh nghiệp mình
Việc xác định điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một điều không dễ Nhưng qua việc phân tích tình hình tài chính, các nhà quản
lý tài chính có thể đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính trong doanh nghiệp, đánh giá được rủi ro tác động tới doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Và trên hết, việc phân tích tài chính của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong những kỳ sắp tới
Khi các chủ doanh nghiệp muốn biết tình hình hoạt động kinh doanh của bản thân doanh nghiệp mình như thế nào, họ phải dựa vào việc phân tích tài chính vì nó đem lại
Trang 24những thông tin hữu ích, những quyết định đúng đắn trong việc đưa ra các quyết định đầu
tư mới cho máy móc, đầu tư để tăng trưởng sản xuất kinh doanh
Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, các nhà đầu tư, người cho vay, những người sử dụng thông tin tài chính khác đánh giá được khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào, ra và tình hình sử dụng vốn kinh doanh, tình hình sử dụng vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Ngoài ra, phân tích tình hình tài chính sẽ đem đến những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình sản xuất, sự kiện tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và khoản nợ của doanh nghiệp
Thực tế của quá trình phát triển kinh tế trong những năm gần đây cho thấy rằng, cơ chế quản lý kinh tế tài chính đã và đang được đổi mới sâu sắc toàn diện với chỉ tiêu tăng trưởng tốc độ cao, bền vững, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Sự phát triển của các doanh nghiệp trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy rằng việc đẩy nhanh tốc độ sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào chính sách cũng như cơ cấu hệ thống tài chính của mỗi doanh nghiệp Thực hiện phân tích tài chính trong doanh nghiệp
mà chính xác sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hơn trước
Trang 25
Chương 2
Tình hình hoạt động tài chính của Công ty bánh kẹo
Hải Châu giai đoạn 2000 - 2002
2.1 Khái quát chung về Công ty Bánh kẹo Hải Châu
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty BKHC
Công ty bánh kẹo Hải Châu tiền thân là Nhà máy bánh kẹo Hải Châu thành lập ngày 02/09/1965 do hai tỉnh Thượng Hải và Quảng Châu (Trung Quốc) giúp đỡ Để biểu thị tình hữu nghị Nhà máy đã mang tên ghép của hai tỉnh là Hải Châu Hiện nay, Công ty
là một doanh nghiệp Nhà nước ,thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty Mía đường I thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Theo quyết định số 1355 NN-TCCB/QĐ ngày 29/10/1994 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) về việc đổi tên và bổ sung nhiệm vụ của Công ty
Tên giao dịch trong nước : Công ty bánh kẹo Hải Châu
Tên giao dịch quốc tế : HAICHAU CONFECTIONERY COMPANY
Viết tắt : HAICHAU COMPANY
Trụ sở chính đặt tại : Số 5 Mạc Thị Bưởi -Phường Minh Khai -Quận Hai Bà Trưng -
Hà Nội
Công ty có chức năng chính là sản xuất và kinh doanh bánh kẹo, bột gia vị , mì ăn liền , nước uống có cồn và nước uống không cồn, bao bì thực phẩm và các nguyên liệu vật tư phục vụ sản xuất của Công ty theo sự phân công của Tổng công ty
Tại điều 2 trong điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty bánh kẹo Hải Châu có quy định :
Nhiệm vụ của Công ty bánh kẹo Hải Châu là tổ chức sản xuất kinh doanh chuyên nghành bánh kẹo và các mặt hàng khác theo đăng ký kinh doanh và mục đích thành lập Công ty bao gồm xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển, đầu tư, tạo nguồn vốn đầu
tư xây dựng, chế biến, mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo và các mặt hàng
Trang 26Công ty sản xuất ra, tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh khác không trái với pháp luật và quy định của Tổng công ty Công ty cùng với chính quyền địa phương chăm
lo phát triển kinh tế xã hội, xây dựng mối quan hệ kinh tế và hợp tác đầu tư kinh doanh bánh kẹo với các thành phần kinh tế trong và ngoài nước
Trải qua gần 40 năm phát triển và trưởng thành, Công ty đã không ngừng đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường và trở thành một trong
số các Công ty sản xuất bánh kẹo hàng đầu của Việt Nam Sản phẩm của Công ty không những chiếm lĩnh được thị trường trong nước mà còn sang các nước trong khu vực
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty được phân ra thành bốn giai đoạn sau:
*Giai đoạn từ 1965 đến 1975: Đây là 30 năm đầu hoạt động của Công ty, quy mô
và năng lực sản xuất còn thấp với chỉ 3 phân xưởng sản xuất là phân xưởng mì sợi, phân xưởng sản xuất bánh, phân xưởng kẹo Vốn đầu tư của Công ty lúc này chủ yếu là do Trung Quốc viện trợ.Đây cũng là thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ, một phần nhà xưởng , máy móc thiết bị của Nhà máy đã bị hư hỏng Phân xưởng kẹo của Nhà máy được tách chuyển sang Nhà máy miến Hà Nội (Nay là Công ty bánh kẹo Haỉ Hà )
*Giai đoạn từ 1976 đến 1985: Lúc này đất nước đã thống nhất và hoà bình lập lại,
Nhà máy đã có điều kiện để khôi phục lại sản xuất, phân xưởng mì ăn liền đã được thành lập và số cán bộ công nhân viên đã tăng lên đáng kể với số cán bộ công nhân viên bình quân là 1250 người/ năm trong khi giai đoạn trước chỉ là 850 người / năm
*Giai đoạn từ 1986 đến 1991: Đây là thời kỳ đất nước có bước chuyển mình lớn
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã được thay thế bằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và có sự quản lý của Nhà nước Cũng như các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này, Nhà máy cũng không tránh khỏi những khó khăn bỡ ngỡ trước
cơ chế mới nhưng bằng sự nỗ lực của bản thân, vào cuối những năm 90-91 Nhà máy đã dần thích nghi và đưa vào sản xuất thêm nhiều sản phẩm mới , đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị
*Giai đoạn từ 1992 đến nay: Trong giai đoạn này, Nhà máy đã chính thức đổi tên là
Công ty bánh kẹo Hải Châu kể từ ngày29/09/1994 Công ty đã cho tăng cường sản xuất
Trang 272.1.2.1 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty BKHC
Xuất phát từ đặc điểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Công ty bánh kẹo Hải Châu tổ chức mô hình quản lý theo phương pháp kết hợp giữa trực tuyến và chức năng Do Công
ty sử dụng cả hai loại hình thức quản lý kết hợp nên thể hiện được cả tính tập trung hoá
và phi tập trung hoá, tận dụng được những ưu điểm cũng như hạn chế được nhược điểm của hai phương pháp quản lý này Bộ máy quản lý của Công tygồm: một giám đốc ,hai phó giám đốc,một kế tóan trưởng , năm phòng và hai ban Ngoài ra còn có các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, một văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh và một văn phòng đại diện tại Đà Nẵng
+Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật sản xuất: giúp việc cho giám đốc các công tác về
kỹ thuật, công tác nâng cao bồi dưỡng trình độ công nhân, điều hành kế hoạch tác nghiệp (hàng ngày) của các phân xưởng
+Phó giám đốc kinh doanh: giúp việc cho giám đốc các công tác về kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm , công tác hành chính quản trị và bảo vệ
*Phòng tổ chức: có chức năng tham mưu cho giám đốc về tổ chức sắp xếp và quản
lý lao động nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả; Nghiên cứu các biện pháp, xây dựng các phương án nhằm hoàn thiện việc trả lương, phân phối tiền thưởng hợp lý
Trang 28*Phòng kỹ thuật: Phụ trách công tác đổi mới kỹ thuật, đưa các cải tiến kỹ thuật vào
sản xuất, nghiên cứu kiểm tra các phương án mở rộng sản xuất
*Phòng kế toán - tài chính: có chức năng tham mưu cho giám đốc về mặt thống kê
và tài chính Ngoài ra còn có nhiệm vụ khai thác nhằm đảm bảo đủ nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối thu nhập và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước
*Phòng kế hoạch vật tư: Đảm nhiệm công tác kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, xây dựng
các kế hoạch thu mua và cung ứng nguyên vật liệu đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh và theo dõi kế hoạch sản xuất ở các phân xưởng
*Phòng hành chính quản trị: có chức năng tham mưu cho giám đốc và giải quyết
các công việc có tính chất hành chính phục vụ cho bộ máy quản lý
*Ban bảo vệ: có chức năng đảm bảo an toàn trật tự cho toàn Công ty, tham mưu cho
giám đốc về công tác tự vệ và thực hiện nghĩa vụ quân sự
*Ban xây dựng cơ bản: có chức năng tham mưu cho giám đốc về các kế hoạch xây
dựng, công tác sửa chữa nhỏ trong Công ty
*Các cửa hàng giới thiệu sản phẩm: Là các đơn vị trực thuộc có nhiệm vụ bán sản
phẩm của Công ty, thăm dò thị trường , giơí thiệu sản phẩm mới của Công ty
*Các văn phòng đại diện: có nhiêm vụ thay mặt Công ty thực hiện một số hoạt
động cho Công ty tại hai miên Trung và Nam
Ta có sơ đồ về tổ chức quản lý của công ty bánh kẹo Hải Châu như sau:
Trang 29
2.1.2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty bánh kẹo Hải Châu
a) Tổ chức bộ máy sản xuất tại công ty BKHC
Để đáp ứng nhu cầu chuyên môn hoá sản xuất, quản lý sản xuất được chặt chẽ, Công ty hiện nay có 5 phân xưởng sản xuất trực tiếp, ngoài ra còn có 1 phân xưởng cơ điện và 1 bộ phận in phun
+ Phân xưởng bánh I (Hương Thảo) gồm một dây chuyền (Trung Quốc) sản xuất bánh bích quy, các loại lương khô
+ Phân xưởng bánh II (Kem xốp) gồm một dây chuyền sản xuất bánh kem xốp, một dây truyền sản xuất Sôcôla
+ Phân xưởng III (Hải Châu) gồm một dây chuyền Đài Loan sản xuất bánh quy + Phân xưởng kẹo: Gồm một dây chuyền sản xuất kẹo cứng và một dây chuyền sản xuất kẹo mềm
+ Phân xưởng bột canh: Gồm một dây truyền sản xuất bột canh
+ Phân xưởng cơ điện: đảm nhận việc sửa chữa, bảo dưỡng máy móc của các phân xưởng sản xuất
+ Bộ phận in phun: phục vụ bao bì, in ngày tháng sản phẩm
Bộ phận quản lý của phân xưởng gồm:
- Quản đốc phụ trách hoạt động chung của phân xưởng
- Phó quản đốc phụ trách về an toàn lao động, vật tư thiết bị
- Nhân viên kỹ thuật chịu trách nhiệm về quy trình kỹ thuật và Công nghệ sản xuất
- Nhân viên thống kê ghi chép số liệu phục vụ việc tổng hợp số liệu trên phòng tài
vụ
Trong các phân xưởng đều được chia ra thành các tổ để phân công đảm nhận mỗi công đoạn sản xuất, mỗi tổ lại thường được chia thành 4 nhóm để làm việc theo ca Mỗi
ca đều có trưởng ca chịu trách nhiệm chung toàn bộ công việc diễn ra trong ca
Ta có sơ đồ về tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty BKHC:
b) Đặc điểm về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty BKHC
*Đặc điểm về thiết bị máy móc của công ty BKHC
Trang 30Thiết bị máy móc và công nghệ sản xuất là yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng, hình thức, mẫu mã bao bì của sản phẩm; là yếu tố quan trọng góp phần tăng khả năng tiêu thụ của sản phẩm Do vậy, bên cạnh việc tập trung nâng cao công suất sản xuất trong những năm gần đây, công ty đã mạnh dạn đầu tư trang bị thêm thiết bị, mua sắm một số dây chuyền công nghệ hiện đại nhằm sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường
Tình hình thiết bị máy móc của công ty BKHC
thiết kế
Trình độ trang thiết
bị
1 Dây chuyền sản xuất bánh
Hương Thảo (Trung Quốc) 1965
2,5-3 tấn/ca
Thủ công bán cơ khí nướng bằng lò thủ công
2 Dây chuyền sản xuất bánh Hải
Các công đoạn tự động, chọn và bao gói thủ công
3 Dây chuyền sản xuất bánh kem
Các công đoạn hoàn toàn tự động bao gói thủ công
4 Dây chuyền sản xuất bánh kem
xốp phủ sôcôla (CHLB Đức) 1994 0,5tấn/ca
Các công đoạn hoàn toàn tự động bao gói thủ công
5 Dây chuyền sản xuất kẹo mềm
7 Dây chuyền sản xuất bột canh
thường (Việt Nam) 1970 15tấn/ngày
Các công đoạn chủ yếu thủ công
8 Dây chuyền sản xuất bột canh
10 tấn/ngày
Các công đoạn chủ yếu thủ công
9 Dây chuyền sản xuất bánh 2002 2,5-3tấn/ca Các công đoạn hoàn
Trang 31
* Đặc điểm về tình hình cung ứng nguyên vật liệu
Đặc điểm của ngành sản xuất bánh kẹo là sử dụng rất nhiều nguyên vật liệu chính
và phụ Nguyên vật liệu chính bao gồm: bột mì, đường kính, dầu ăn, mì chính, muối sữa, sôcôla… Nguyên vật liệu phụ bao gồm: trứng gà, tinh dầu các loại, cà phê, ca cao… Đây
là những nguyên liệu khó bảo quản mà chất lượng sản phẩm lại phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu
Nguyên vật liệu có nguồn cung ứng từ trong nước thì giá cả mua vào ổn định hơn, song vẫn có sự biến động giá cả theo mùa do nguyên vật liệu dễ bị hỏng Còn nguyên vật liệu mà công ty phải nhập khẩu từ nước ngoài Giá cả mua vào của loại nguyên vật liệu này chịu ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường Khi tỷ giá tăng, giá nhập khẩu nguyên liệu sẽ tăng làm tăng chi phí sản xuất Trong khi công ty không thể tăng giá bán sản phẩm vì lý do cạnh tranh, hoặc nếu có tăng cũng phải tăng dần theo xu hướng biến động chung của mặt bằng giá cả vì vậy lợi nhuận của công ty trước mắt có xu hướng giảm sút
Tìm được nguồn cung ứng nguyên vật liệu tốt sẽ góp phần làm hạ giá thành sản phẩm, tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường nên trong thời gian tới công ty nên tìm kiếm
sử dụng nguồn nguyên liệu có trong nước, hạn chế nhập khẩu nguyên liệu
Do những đặc điểm về tình hình sản xuất như vậy mà từ năm 2000 đến năm 2002,
cơ cấu tiêu thụ sản phẩm của công ty có những bước chuyển biến tích cực như sau:
Trang 32Cơ cấu sản phẩm sản xuất giai đoạn 2000-2002
do có khuyến cáo của chính phủ về sử dụng muối iốt, sản lượng tiêu thụ bột canh thường
Trang 34Tình hình tiêu thụ của công ty BKHC đạt tỷ lệ tăng liên tục qua các năm điều đó khẳng định rằng sản lượng sản xuất của công ty đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng nhất là đối với những sản phẩm như bánh Hương Thảo, bánh Hải Châu, bột canh iốt, bánh kem xốp Đây là một biểu hiện tích cực của hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm năng tài chính lành mạnh của công ty
2.1.3 Tổ chức bộ máy tài chính kế toán của doanh nghiệp
Bộ máy kế toán của Công ty bánh kẹo Hải Châu được tổ chức theo hình thức tập trung Toàn bộ công tác kế toán của Công ty đều được tập trung tại phòng tài vụ.Ngoài ra
ở các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, ở các phân xưởng sản xuất đều bố trí một nhân viên
kế toán mang tính chất thống kê ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh giới hạn ở hạch toán ban đầu Định kỳ các nhân viên kế toán này gửi các chứng từ nghiệp vụ đã phát sinh
về phòng tài vụ
*Tổ chức bộ máy kế toán
- Phòng tài vụ của Công ty bánh kẹo Hải Châu gồm 12 người Trong đó có 1 kế toán trưởng, 3 phó phòng, 2 thủ quỹ và 6 nhân viên phụ trách các phần hành kế toán khác
Nhiệm vụ và chức năng cụ thể của cán bộ phòng tài vụ như sau:
+ Kế toán trưởng: Kiểm tra giám sát mọi số liệu trên sổ sách kế toán, đôn đốc các
bộ phận kế toán chấp hành đúng quy chế, chế độ kế toán Nhà nước ban hành Kế toán trưởng cũng là người cung cấp các thông tin kế toán tài chính cho giám đốc và các bên hữu quan
+ Phó phòng kế toán: Có trách nhiệm giải quyết các công việc khi kế toán trưởng
đi vắng và thực hiện một số phần hành kế toán
+ Thủ quỹ:Thực hiện các nghiệp vụ nhập xuất tiền mặt tại quỹ của Công ty theo các chứng từ hợp lệ do kế toán lập
+ Kế toán tài sản cố định và thành phẩm: Theo dõi sự tăng, giảm TSCĐ, tính toán khấu hao TSCĐ trong Công ty và tình hình nhập xuất thành phẩm
+ Kế toán về nguyên vật liệu: theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn kho vật tư nguyên vật liệu
Trang 35* Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
Hệ thống chứng từ có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động Công ty Xét về mặt quản lý nó đảm bảo quản lý chặt chẽ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.Về mặt kế toán giúp cho kế toán thực hiện công tác ghi sổ trên cơ sở chứng từ hợp lý hợp lệ
kế toán tổng hợp
và thuế
Phó phòng phụ trách
kế toán tiền mặt
Thủ
Quỹ
Kế toán TSCĐ
và thành
Kế toán vật
tư NVL
Kế toán tiền gửi ngân hàng
Kế toán
DT và công
Kế toán tiền lương
và BHXH
Trang 36Là doanh nghiệp sản xuất với quy mô vừa, Công ty bánh kẹo Hải Châu sử dụng các loại chứng từ sau:
Trang 37Kế toán tiền mặt Kế toán tiền mặt,
kế toán liên quan
Bên bán, kế toán tài sản cố định, hội đồng thanh lý
Kế toán công nợ,
kế toán tài sản cố định
Chi phí Chứng từ chi phí Nơi phát sinh chi
Mua hàng
Hợp đồng ngoại, hoá đơn GTGT, thư tín dụng, biên bản kiểm nghiệm, các hoá đơn vận chuyển bốc xếp, phiếu nhập kho
Bên bán Kế toán công nợ
Thanh toán
công nợ
Chứng từ thi chi, thanh toán nội bộ, giao vốn cho các đơn vị thành viên
Kế toán công nợ Kế toán công nợ
Lao động
tiền lương
Bảng chấm công, bảng thanh toán lương, thanh toán bảo hiểm xã hội,
Kế toán tiền lương Kế toán tiền
lương
Trang 38bảng ghi năng suất cá nhân, bảng thanh toán tiền thưởng, bảng thanh toán tiền làm thêm giờ, giấy đề nghị tạm ứng, thanh toán tạm ứng
- Hệ thống tài khoản kế toán trong công ty:
Kế toán công ty sử dụng hệ thống tài khoản kế toán theo quy định, tuy nhiên có một
số tài khoản như TK112, 152, 621, 622, 154, 155…được chi tiết theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty
*Hình thức kế toán áp dụng:
Hình thức sổ kế toán mà Công ty áp dụng là hình thức Nhật ký chung (được ban hành theo quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài Chính) Ngoài ra Công ty còn kết hợp phần mềm kế toán chuyên biệt (do kỹ sư tin học thiết kế riêng cho Công ty) để thực hiện Công tác kế toán chính xác và nhanh chóng
Với quy mô Công ty vừa, lao động kế toán kết hợp thủ công và máy Công sử dụng hình thức Nhật ký chung đảm bảo yêu cầu cung cấp thông tin
Hình thức Nhật ký chung khi áp dụng trong phần mềm kế toán của Công ty được thực hiện như sau: Căn cứ vào chứng từ gốc số liệu đã được nhập vào máy vi tính Các số liệu từ phần nhập chứng từ này sẽ được máy chuyển vào Nhật ký chung, sổ chi tiết, sổ cái Cuối kỳ, kế toán tổng hơp sẽ lập các bút toán kết chuyển để máy đưa ra các báo cáo quyết toán
Sơ đồ trình tự hạch toán của Công ty theo hình thức Nhật ký chung
Chứng từ gốc
Máy vi tính