1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa mac lênin để giải quyết các vấn đề tôn giáo ở việt nam hiện nay

14 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.2 Nguyên t c gi i quyắ ả ết vấn đề tôn giáo theo Mac-Lênin • Một là, tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng • Hai là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực c

Trang 1

KHOA MARKETING

ĐỀ T ÀI

“VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM C A CH NGH A MỦ Ủ Ĩ ÁC-LÊNIN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO VI T NAM HI N NAY Ệ Ệ ”

Giáo viên gi ng d y ả ạ Ngô Quang Th ịnh

Họ và tên Mã s sinh vi ên

Bùi Minh Th ư 2021008560 Trần Tú Quy ên 2021008532

Lê Võ B o Ngân 2021008487

Lê Hoàng Thuỷ Tiên 2021008565

Nguyễn Võ Đăng Khoa 1921005927

- -

Trang 2

MỤC LỤC

1 PH N M Ở ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 M c Tiêu 1 ụ 1.3 Phương pháp 1

1.4 Kết cấu n i dung 1 ộ 2 PH N N I DUNGẦ Ộ 2

2.1 Quan điểm của Mac-Lênin về tôn giáo 2

2.1.1 B n ch t, ngu n gả ấ ồ ốc, tính chất của tôn giáo 2

2.1.2 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo theo Mac-Lênin 3

2.2 Nh ng vữ ấn đề liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam 3

2.2.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam 3

2.2.2 Sự thay đổi của tôn giáo Việt Nam từ năm 1975 đến nay: 4

2.2.3 Những vấn đề liên quan đến Tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hi n nay 6 ệ 2.3 Định hướng và đề xuất phương án giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo 7

2.3.1 Những chính sách của đảng và nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo hi n nay 7 ệ 2.3.2 Những định hướng và đề xuất phương án giải quy t vế ấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hi n nay 9 ệ 3 PH N K T LUẦ Ế ẬN 11

DANH MỤC TÀI LI U THAM KHẢO 12

Trang 3

1 PH N M Ở ĐẦU

1.1 Lý do ch ọn đề tài

Việt Nam là một đất nước đa tôn giáo, tính đến nay Việt Nam đã có 12 tôn giáo và

32 t ổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận, chưa kể các tôn giáo mang b n s c riêng ả ắ của đồng bào dân t c thi u s Tôn giáo Vi t Nam ngày nay có s bi n ộ ể ố ệ ự ế đổi m nh mạ ẽ, đa dạng v i nhi u nét mớ ề ới Trong xu th toàn cế ầu hoá, các tôn giáo có cơ hội, điều ki n ệ khách quan để thâm nhập và lan tỏa ra khắp thế giới Điều này cũng gây ảnh hưởng đến công tác qu n lý cả ủa nhà nước ta ch ng hẳ ạn như sự ộ h i nh p c a các giáo ph không rõ ậ ủ ái nguồn gốc, truy n bá nhề ững tư tưởng sai lệch tác động nghiêm trọng đến b n sả ắc văn hoá, chia r ẽ tôn giáo, tín ngưỡng c a dân tủ ộc Hiểu biết được điều đó, ngay từ khi thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện nhất quán theo các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin Và trong m i th i kì cách mỗ ờ ạng Đảng và nhà nước ta luôn coi vi c gi i quyệ ả ết các vấn đề tôn giáo có ý nghĩa chiến lược quan trọng

Xuất phát t nh ng vừ ữ ấn đề quan trọng trên nhóm chúng em đã đi đến quyết định chọn

đề tài là: “Vận dụng quan điểm của ch nghĩa Mac Lênin đểủ - giải quyết các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay”

1.2 M c Tiêu

- Tìm hiểu các vấn đề tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mac -Lênin

- Đưa ra định hướng và đề xuất phương án để ả gi i quy t vế ấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong xã h i hiộ ện đại

1.3 Phương pháp

- Phương pháp kế thừa: trong quá trình viết tiểu luận nhóm đã thực hiện phương pháp kế thừa các tài liệu nghiên cứu trước đó lên quan đến vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Thông qua vi c tham kh o các tài li u, giáo ệ ả ệ trình, các bài viết trên internet nhóm đã tiến hành phân tích t ng hổ ợp thông tin để đưa ra định hướng, giải pháp phù hợp

1.4 K ết cấu nộ i dung

Ngoài ph n mầ ở đầu, k t lu n, ph l c và tài li u tham kh o Ph n n i dung chính gế ậ ụ ụ ệ ả ầ ộ ồm

có 3 phần:

Phần 1: Những quan điểm của Mac-Lênin v về ấn đề tôn giáo, tín ngưỡng

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam

Trang 4

2

Phần 3: Định hướng và đề xu t nhấ ững phương án giải quyết vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng

ở Việt Nam hiện nay

2 PH N N I DUNG Ầ Ộ

2.1 Quan điểm c a Mac-Lênin v tôn giáo ủ ề

2.1.1 B n ch t, nguả ấ ồn gố c, tính ch ất củ a tôn giáo

2.1.1.1 Bản chất của tôn giáo

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin, tôn giáo là 1 hình thái ý thức xã hội, - phan ánh hư ảo hiện thực khách quan Thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên

và xã hội trở thành siêu nhiên, thần bí, …

Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện tự nhiên và lịch sử

xã hội nhất định Do đó, xét về mặt bản chất, tôn giáo là hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội Mọi quan niệm về tôn giáo đều được sinh ra từ những hoạt động sản xuất, từ những điều kiện sống nhất định trong xã hội và thay đổi theo những thay đổi của cơ sở kinh tế

2.1.1.2 Nguồn gốc của tôn giáo

Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế xã hội-

Sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế,

áp bức về chính trị, thất vọng, bất lực trước các bất công của xã hội là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo

Nguồn gốc nhận thức

Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội

và chính bản thân mình là có giới hạn Khi mà khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo

Nguồn gốc tâm lý

Tâm lý sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, thường thôi thúc con người tìm đến với tôn giáo Thậm chí cả những tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng đối với những người có công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo

2.1.1.3 Tính chất của tôn giáo

Tính lịch sử của tôn giáo

Trang 5

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, hình thành, tồn tại và phát triển trong những giai đoạn lịch sử nhất định Khi các điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử thay - đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi theo Và đến một giai đoạn lịch sử nào đó, khi khoa và giáo dục cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người

Tính quần chúng của tôn giáo

Tôn giáo phản ánh nhu cầu giải phóng và khát vọng hạnh phúc của con người, do

đó nó thâm nhập vào quần chúng lao động với các mức độ khác nhau, biến thành đức tin, lối sống và sinh hoạt tinh thần của một bộ phận nhân dân

Tính chính trị của tôn giáo

Thứ nhất, tôn giáo phản ánh nhu cầu giải phóng của quần chúng nhân dân lao

động, là sự phản kháng của họ đối với tình trạng áp bức bóc lột (một cách tiêu cực)

Thứ hai, tôn giáo bị giai cấp thống trị lợi dụng, sử dụng như một công cụ để

thống trị, áp bức bóc lột (thông qua việc ru ngủ, mê hoặc quần chúng nhân dân lao động)

và làm công cụ xâm lược, tiến hành các cuộc chiến tranh

2.1.2 Nguyên t c gi i quyắ ả ết vấn đề tôn giáo theo Mac-Lênin

• Một là, tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng

• Hai là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với

quả trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

• Ba là, phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng; tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng

tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo

• Bốn là, quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo

2.2 Nhữ ng vấn đề liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam

2.2.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việ t Nam

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, hiện nay nước ta có 13 tôn giáo được công nhận pháp nhân và trên 40

tổ chức tôn giáo đã được công nhận về mặt tổ chức hoặc đã đăng kí hoạt động với hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm 27% dân số), hơn 58.000 chức sắc, 148.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo tôn giáo.Có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những tôn giáo sơ khai, có những tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp

Trang 6

4

Các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu là người lao động Họ đều có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, tôn trọng công lý, gắn bó với dân tộc, đi theo đảng, theo cách mạng, hăng hái tham gia xây dựng và b o v T qu c Viả ệ ổ ố ệt Nam Ơ từng giai đoạ ịn l ch sử, tín đồ các tôn giáo cùng với các tầng l p nhân dân làm nên những thắng ớ lợi to lớn, v vang c a dân tẻ ủ ộc và có ước vọng sống “tốt trời, đẹp đạo”

Trong xu hướng toàn cầu hoá, tôn giáo cũng là một vấn đề n m trong s vằ ự ận động chung c a b i c nh th gi i hi n nay, hoủ ố ả ế ớ ệ ạt động qu c t c a tôn giáo diố ế ủ ễn ra đa dạng, phong phú và được nhi u qu c gia quan tâm Chính s ề ố ự thay đổi này đã tạo điều ki n gián ệ tiếp c ng c và phát sinh m i quan h hủ ố ố ệ ợp tác, giao lưu giữa tôn giáo Vi t Nam và các ệ nước trên thế giới Đồng thời phải đi đôi vớ ảo vệ c lập, chủ quyi b độ ền, không để cho

kẻ địch l i dân chợ ủ, nhân quy n, tề ự do tôn giáo để chống phá, can thi p vào công việ ệc nội bộ của Nhà nước Việt Nam

Hiện nay, để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là m t trong nhộ ững mũi nhọn để công kích, ch ng phá Nhố ững đối tượng phản động,

cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chính quy n, ch ng chề ố ế độ xã h i Chộ ủ Nghĩa dưới chiêu bài

“đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiế ới phủn t nhận, xoá b vai trò ỏ của đảng, nhà nước ta

Nhìn chung đờ ống tín ngưỡi s ng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến lớn liên quan đến các tôn giáo như Phật Giáo, Tin Lành và Công Giáo Sự có mặt của các tôn giáo ấy đã đem đến nhiều l i s ng ti n b , góp phố ố ế ộ ần làm thay đổi nếp s ng và phong ố tục, t p quán l c h u Mậ ạ ậ ỗi tín ngưỡng, tôn giáo đều mang những nét văn hoá riêng biệt

và hướng đến Chân – Thiện – Mỹ, góp phần tạo nên những nét đẹp văn hoá đa dạng, phong phú v b n sề ả ắc của dân tộc

2.2.2 S ự thay đổ ủi c a tôn giáo Vi ệt N am t ừ năm 1975 đế n nay:

Sự trở lại và gia tăng của niềm tin tôn giáo ở những con người Việt Nam hiện đại

Vào trước những năm 1990, do những chiến tích lịch sử để lại, người dân hầu như không biểu đạt niềm tin tôn giáo của mình một cách công khai và rộng rãi ngoài cộng động Tuy nhiên, từ sau thời điểm đổi mới hay hội nhập công nghệ đến nay, đời sống tôn giáo ở nước ta có sự biến đổi sâu sắc về đức tin, nhu cầu đời sống tâm linh, tín ngưỡng Chúng đều gia tăng mạnh mẽ

Hiện nay, có khoảng 25% dân số Việt Nam chính thức tự nhận mình thuộc về một tổ chức tôn giáo nào đó Theo số liệu thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2013 cả nước có 24 triệu tín đồ các tôn giáo (tăng 2,4 lần so với 1975); có 83.000 chức sắc (tăng 2,7 lần so với 1975); có 25.000 cơ sở thờ tự (tăng 1,2 lần so với 1975); có đến 120 tổ

Trang 7

chức giáo hội đang hoạt động (tăng hơn 3 lần, chủ yếu là các hệ phái Tin Lành mới phát triển đến)

Sự thay đổi về diện mạo và tái cấu trúc tôn giáo

Diện mạo tôn giáo thay đổi theo xu hướng ngày càng đa dạng hóa Trước năm 1985

ở nước ta vốn có ba loại hình tôn giáo Từ năm 1986 đến nay, xuất hiện loại hình thứ tư,

đó là “hiện tượng tôn giáo mới”, còn gọi là đạo lạ với rất nhiều tên gọi khác nhau,tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ

Tái cấu trúc tôn giáo lại nói lên sự biến đổi bên trong của hệ thống tôn giáo, do tác động của chính sách, luật pháp tôn giáo, làm thay đổi địa vị pháp lý của tôn giáo Từ năm 1990 đến khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ra đời (2004), đã có thêm 3 tôn giáo

Từ năm 2005 đến nay, có thêm 9 tôn giáo với 22 tổ chức tôn giáo và 1 pháp môn tu tập, nâng lên 15 tôn giáo với 41 tổ chức và 1 pháp môn được công nhận

Sự chuyển đổi đức tin, làm xuất hiện “hiện tượng tôn giáo mới” và hình thành

các cộng đồng tôn giáo - tộc người

Tại Tây Nguyên, việc chuyển đạo, đổi đạo diễn ra sớm, theo nhiều xu hướng khác nhau Từ năm 1975 đến nay phải kể đến các hình thức chuyển đổi như: từ tôn giáo truyền thống chuyển sang Công giáo vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; từ tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống chuyển sang đạo Tin lành vào thập niên 30 của thế kỷ XX, phát triển mạnh trong giai đoạn 1954 1975, đặc biệt phát triển ồ ạt từ sau năm 1990; từ Công -giáo chuyển sang Tin lành vào đầu những năm 2000; cùng một vài hình thức chuyển đạo khác

Ngoài ra, việc chuyển đổi này còn diễn ra trong cộng đồng người Kinh (Việt) theo nhiều xu hướng, nhất là chuyển sang theo các hiện tượng tôn giáo mới, ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Không chỉ có người theo tín ngưỡng truyền thống chuyển sang tôn giáo, mà cả người Khmer theo Phật giáo Nam tông ở Tây Nam Bộ; người Chăm theo đạo Bàni, đạo Islam và đạo Bàlamôn cũng có tình trạng chuyển sang theo đạo Công giáo hoặc Tin lành

Sự chuyển đổi trong phương thức truyền giáo và lối sống đạo

Sự thay đổi mạnh mẽ và nổi bật nhất là thuộc về niềm tin và thực hành niềm tin tôn giáo của người dân Việt Nam trong thời kỳ phát triển, đổi mới trong quá trình đất nước đang tiếp nhận tích cực sự hội nhập của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đi đôi với toàn cầu hóa

Dưới sự tác động của quá trình này, đời sống tôn giáo Việt Nam đã xuất hiện một cụm từ mới, đó là “Truyền giáo thời internet” Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và internet đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin truyền thông đại chúng, tạo điều kiện cho các tôn giáo đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa với việc sử dụng các phương tiện truyền giáo mới: “Phương tiện truyền giáo mềm” Đó

là việc truyền bá đức tin tôn giáo bằng tư tưởng, văn hóa, học thuật, nghệ thuật với việc

Trang 8

6

sử dụng công cụ của các phương tiện truyền thông đại chúng như kinh sách, đài phát thanh, truyền hình, radio, cassette, Internet và mạng điện tử, chứ không phải bằng vũ lực, quân sự như trước đây Công nghệ thông tin và Internet hầu như được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực tôn giáo quan trọng bên cạnh việc xuất hiện loại hình sống đạo mới: sống đạo online như đi lễ chùa online, tham dự thánh lễ online hay cúng giỗ online Tuy rằng nó không thể mang lại kết quả như sóng đạo trực tiếp, nhưng các tôn giáo đều không phản đối, thậm chí còn khuyến khích lối sống đạo trực tuyến này để thu hút tín đồ thời CMCN 4.0

2.2.3 Những vấn đề liên quan đến Tôn giáo, tín ngưỡ ng ở Việ t Nam hi ện nay Tích cực:

Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam: Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai; Tin lành kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành truyền vào Việt Nam; Giáo hội Phật giáo tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2019 tại Việt Nam đã thu hút sự tham dự của 3.000 đại biểu (1.650 đại biểu khách quốc tế đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, 250 kiều bào là tăng ni sinh từ 40 quốc gia), khoảng 20.000 lượt tăng ni, phật tử tham dự các hoạt động của đại lễ đã được

dư luận quốc tế đánh giá cao

Trong 5 năm qua, hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak, 500 năm cải chính đạo Tin lành… Các con số trên đã phản ánh phần nào một thực tế là tỷ lệ người có niềm tin tôn giáo cũng không ngừng tăng lên theo thời gian cùng với sự gia tăng dân số Thực trạng

đó nói lên rằng trong xã hội hiện đại, với sự tăng trưởng mạnh của kinh tế và các khía cạnh xã hội thì người dân Việt Nam vẫn dành một vị trí đáng kể cho đời sống tôn giáo Niềm tin tôn giáo không hề biến mất hoặc suy giảm mà vẫn tồn tại với những biểu hiện sinh động trong đời sống xã hội

Tiêu cực:

Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình”, nhất là tập trung ở 4 khu vực trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung

Ngoài ra, một số đối tượng cơ hội chính trị còn vu cáo chính quyền gây cản trở

và sách nhiễu khi có sự phân công và chuyển giao công việc giữa các chức sắc tôn giáo

ở các điểm nhóm địa phương chưa đăng ký, như hai trường hợp linh mục ở giáo phận Vinh (Nghệ n) và mục sư Nguyễn Duy Tân ở giáo phận Xuân Lộc (Đồng Nai) Thực A

tế là các linh mục, mục sư đó không hoạt động tôn giáo thuần túy, mà họ đã lợi dụng tòa

Trang 9

giảng để chống chính quyền, có nhiều phát ngôn xuyên tạc lịch sử Việt Nam Những hành vi đó đã vi phạm Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định các hành vi bị nghiêm cấm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo

Chưa dừng lại ở đó, một số luận điệu còn cáo buộc vô lối các cấp chính quyền

“duy trì quy trình đăng ký, công nhận không đúng với quy định” nhằm làm chậm, không chấp nhận, cấm các hoạt động tôn giáo của các hội, nhóm tôn giáo; “gây khó khăn” với các hội, nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa hoặc vùng các dân tộc thiểu số khi đăng ký hoạt động

2.3 Định hướng và đề xuất phương án giải quy ết vấn đề tín ngưỡ ng, tôn giáo 2.3.1 Những chính sách của đảng và nhà nước Việt Nam đố ới tín ngưỡi v ng, tôn giáo hi n nay

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên quan điểm

cơ bản của học thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và -căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Những chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay:

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ

tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền quan trọng của công dân luôn được Đảng và Nhà nước ta công khai thừa nhận và

tôn trọng Vì vậy, thực hiện chính sách nhất quán tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, tín

ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và

không theo đạo cũng như giữa các tôn giáo khác nhau

Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không

phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo

Trong đó, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời chống lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm đến lợi ích quốc gia

Nhà nước xã hội chủ nghĩa nghiêm cấm việc lợi dụng tôn giáo và dân tộc kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia Bên cạnh đó phải giữ gìn, phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những

Trang 10

8

người có công với Tổ quốc và nhân dân nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc khai thác điểm tương đồng giữa những người có tôn giáo và không có tôn giáo, giữa những người theo tôn giáo khác nhau

Thông qua quá trình vận động quần chúng nhân dân tham gia lao động sản xuất, hoạt động xã hội thực tiễn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao trình độ kiến thức

để tăng cường sự đoàn kết vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, để cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng bảo vệ Tổ quốc

Nội dung dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

Hướng công tác tôn giáo vào công tác vận động quần chúng Mẫu số chung, sự tương đồng giữa người có đạo và người không có đạo để đoàn kết phấn đấu cho lợi ích chung

là độc lập cho dân tộc và cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho mọi người, dân giàu, nước mạnh,

xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Làm cho quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ đúng đắn đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, tích cực, nghiêm chỉnh thực hiện đường lối chính sách, pháp luật, trong đó có chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo

Công tác vận động quần chúng tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, n ninh, quốc phòng, đảm bảo lợi ích vật chất và tinh a thần của nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo

Công tác tôn giáo có trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Tôn giáo và những hoạt động tôn giáo gắn với đời sống tâm linh của đồng bào có đạo

và liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, quan hệ đến các cấp, các ngành, các địa bàn dân cư, liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước Vì vậy, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, làm tốt công tác tôn giáo Tăng cường củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm có đông đồng bào tôn giáo

Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo của công dân Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm đúng công tác vận động quần chúng và thực hiện đúng chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

Ngày đăng: 08/04/2022, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w