Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài : Khi chọn đề tài này, mục đích chính của em là tìm hiểu về mặt lý luận và xem xét thực tiễn ứng dụng những lý luận đó vào trong kế toán chí phí s
Trang 2Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều công trình chưa đưa vào sử dụng được bao nhiêu đã bị hư hỏng , chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm quá cao song chưa đảm bảo được chất lượng công trình.Do đó, để quản lý tốt chi phí và giá thành đồng thời đảm bảo chất lượng công trình thì kế toán là một công cụ quản lý hữu hiệu Việc nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thời kì đất nước đang có những chuyển mình trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng
Sau một thời gian thực tập tại Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật Viễn Thông , em đã được tìm hiểu và tiếp xúc với công tác kế toán của công ty tại Xí nghiệp Xây Lắp số 1, em càng thấy rõ tầm quan trọng của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại xí nghiệp
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài :
Khi chọn đề tài này, mục đích chính của em là tìm hiểu về mặt lý luận và xem xét thực tiễn ứng dụng những lý luận đó vào trong kế toán chí phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ phần Dịch Vụ Kĩ Thuật Viễn Thông TST, đồng thời qua đó có thể rút ra ưu điểm và các hạn chế còn tồn tại trong công tác kế toán để có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện mang tính khả thi
Trang 3
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cức lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp xây lắp số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật Viễn Thông TST
3 Tên và kết cấu của đề tài :
Tên đề tài : “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST”
Luận văn của em gồm 3 chương chính như sau :
Chương 1 : Những vấn đề lí luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm trong doanh nghiệp xây lắp
Chương 2 : Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp xây lắp số 1 thuộc công ty Cổ Phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn Thông TST
Chương 3 : Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuẩt và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông TST
Trang 4
Chương 1 : Những vấn đề lí luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng tới kế toán chi phi sản xuất và gía thành sản phẩm:
1.1.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất và phương thức hoạt động của doanh nghiệp xây lắp:
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Đặc biệt hiện nay cùng với sự mở cửa của nền kinh tế thì nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản ngày càng nhiều
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế
- kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp xây lắp Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Cơ sở quan trọng để hoạt động doanh nghiệp xây lắp được tiến hành chính là hợp đồng được ký với đơn vị chủ đầu tư sau khi trúng thầu, hoặc các doanh nghiệp
có thể đóng vai trò là chủ đầu tư để tiến hành thực thi dự án Trong hợp đồng các bên thống nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình cùng với các điều kiện khác do đó mà tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện
rõ Đặc biệt quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp cũng có sự khác biệt thể hiện ở nghiệp vụ bàn giao công trình , hạng mục công trình hoặc khối lượng hòan thành cho bên giao thầu Trong trường hợp nhà thầu được thanh toán theo tiến
độ kế hoạch thì sản phẩm hoàn thành bàn giao được xác định một cách đáng tin cậy bằng phương pháp quy định Ngoài ra thì sản phẩm xây lắp được quy định về tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật trong hồ sơ thiết kế kĩ thuật được duyệt, do đó doanh nghiệp xây lắp phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về kĩ thuật và chất lượng công trình
Hiện nay ở Việt Nam,trong các doanh nghiệp xây lắp thì cơ chế giao khoán đang được áp dụng một cách rộng rãi như : Khoán gọn công trình( Khoán toàn bộ chi phí) , khoán theo từng khoản mục chi phí
Trang 5
1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp:
Sản phẩm xây lắp được xem là một trong các sản phẩm mang tính đặc thù được thể hiện đó là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài Do
đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy
dự toán làm thước đo Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) , điều đó cũng có nghĩa tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ vì giá cả được người mua và người bán thỏa thuận trước
Khác với các sản phẩm khác thì sản phẩm xây lắp còn có những nét đặc trưng riêng như mỗi công trình đều có những yêu cầu về mặt thiết kế, kĩ thuật khác nhau , quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, cũng như thời gian sử dụng lâu dài đòi hỏi các khâu từ thiết kế xây dựng đến tiến hành thi công phải đảm bảo đúng chính xác nhằm mang lại hiệu quả cao nhất về mặt chất lượng công trình
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động ) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát hư hỏng Đòi hỏi công tác kế toán phải chặt chẽ để tránh hư hỏng mất mát nguyên vật liệu, gây gián đoán trong công tác xây dựng và sản xuất
Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp Công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây lắp
1.2 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:
1.2.1 Chi phí sản xuất xây lắp:
1.2.1.1 Khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất xây lắp
Sản xuất luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của loài người Quá trình sản xuất là sự kết hợp của 3 yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao
Trang 6
động và lao động sống Trong xã hội tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ, để tạo ra sản phẩm hàng hóa thì đòi hỏi phải có hao phí yếu tố nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức giá trị, gọi là chi phí sản xuất, kinh doanh
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp cũng chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bị hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất và tạo ra sản phẩm xây lắp trong một kỳ kinh doanh nhất định Chi phí về lao động sống là những chi phí về tiền lương, thưởng, phụ cấp và các khoản trích theo lương của người lao động Chi phí lao động vật hóa là những chi phí về sử dụng các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động dưới các hình thái vật chất, phi vật chất, tài chính và phi tài chính
Khi nghiên cứu về chi phí sản xuất xây lắp cần lưu ý về tính chất đặc thù của doanh nghiệp các doanh nghiệp xây lắp, với tính chất phức tạp của công nghệ và sản phẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi công trình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình, hoặc có thể là đơn đặt hàng,
bộ phận thi công hay từng giai đoạn công việc Do đó cần hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng đã được quy định có tác dụng tốt trong việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác kế toán tính giá thành sản phẩm được kịp thời
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp:
Để phục vụ cho công tác quản lý và hạch toán thì chi phí sản xuất được hiệu quả đòi hỏi phải phân loại chi phí dưới nhiều góc độ khác nhau hay những tiêu chí khác nhau
* ) Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục Cách phân loại này dựa vào công dụng chung của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm bao gồm các khoản mục chi phí sau :
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm giá trị thực tế của nguyên
liệu, vật liệu chính, phụ hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp và giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối
Trang 7
lượng xây lắp ( không kể vật liệu cho máy móc thi công và hoạt động sản xuất chung
+ Chi phí nhân công trực tiếp: gồm toàn bộ tiền lương, tiền công và các
khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương trả cho công nhân trực tiếp xây lắp
+ Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm chi phí cho các máy thi công
nhằm thực hiện khối lượng xây lắp bằng máy Máy móc thi công là loại máy trực tiếp phục vụ xây lắp công trình Đó là những máy móc chuyển động bằng động cơ hơi nước, diezen, xăng, điện,
Chi phí sử dụng máy thi công gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời
phụ của công nhân điều khiển, phục vụ máy thi công Chi phí nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài (sửa chữa nhỏ, điện, nước, bảo hiểm xe, máy ) và các chi phí khác bằng tiền
Chi phí tạm thời: chi phí sửa chữa lớn máy thi công (đại tu, trung tu ),
chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán, bệ, đường ray chạy máy ) Chi phí tạm thời của máy có thể phát sinh trước (hạch toán trên TK 142, 242) sau
đó phân bổ dần vào TK 623 Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí
sử dụng máy thi công trong kỳ (do liên quan đến việc sử dụng thực tế máy móc thi công trong kỳ) Trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí (hạch toán trên
TK 335)
+Chi phí sản xuất chung: phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường
xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý đội, công trường, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định ,khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội …
+Chi phí bán hàng: gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu
thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ trong kỳ , chi phí bảo hành giới thiệu sản phẩm…
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh
liên quan đến quản lý doanh nghiệp trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất cứ hoạt động hay phân xưởng, công trường hạng mục công trình nào
Trang 8
Việc phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
sẽ thuận tiện cho kế toán trong việc hạch toán giá thành sản phẩm, lập kế hoạch giá thành cùng với định mức chi phí cho kì sau Từ đó, các nhà quản lý sẽ dẽ dàng hơn
trong việc quản lý chi phí hợp lí nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
*) Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí :
Để phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố:
+Chi phí nguyên liệu, vật liệu : gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu, phục tùng thay thế, công cụ dụng cụ .sử dụng trong sản xuất tạo ra sản phẩm xây lắp (Ngoại trừ giá trị nguyên vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
+Chí phí nhiên liệu, động lực : sử dụng vào quá trình sản xuất trong kì +Chi phí nhân công: tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phải trả
cho công nhân viên chức
+Chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền
lương và phụ cấp phải trả cho cán bộ công nhân viên
+Chi phí khấu hao TSCĐ: tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của
tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh
+Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho
sản xuất kinh doanh
+Chi phí bằng tiền khác: toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào
các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí.Theo cách này, doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để lập thuyết minh báo cáo tài chính đồng thời phục vụ cho nhu cầu của công tác quản trị trong doanh nghiệp, làm cơ sở để lập mức dự toán cho kỳ sau
Trang 9+Biến phí: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng
công việc hoàn thành, thường bao gồm: chí phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí bao bì, ….Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là một mức ổn định
+Định phí: là những khoản chi phí cố định khi khối lượng công việc hoàn
thành thay đổi Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì định phí lại biến đổi Định phí thường bao gồm: chí phí khấu hao TSCĐ sử dụng chung, tiền lương nhân viên, cán bộ quản lý, …
+Hỗn hợp phí: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và
định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí Hỗn hợp phí thường gồm: chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Cách phân loại trên giúp doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch, kiểm tra chi phí, xác định điểm hòa vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí, tìm ra phương hướng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm
Ngoài các cách phân loại chi phí như trên còn có các cách phân loại khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và mục đích của mỗi doanh nghiệp Song mục đích cuối cùng cũng vẫn là giúp cho việc quản lý doanh nghiệp được hiệu quả hơn
Trang 10Khác với doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây lắp thường là giá đã thỏa thuận giữa bên giao thầu và bên kí nhận thầu và nó là giá trị riêng của từng công trình hạng mục công trình hoàn thành Giá thành sản phẩm còn thể hiện việc sử dụng các khoản mục chi phí như thế nào có tiết kiệm hay lãng phí, từ đó nếu giá thành được xác định một cách chính xác và trung thực sẽ là cở sở để doanh nghiệp cũng như các cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:
Hiện nay , chúng ta có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm Tùy thuộc vào mục đích quản lý cũng như mục đích sử dụng mà có thể lựa chọn cách phân loại giá thành phù hợp
+Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành :
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán, giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế
*) Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở thiết kế
kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích định mức
Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản phẩm xây lắp theo công thức:
Thuế GTGT đầu ra
Thu nhập chịu thuế tính trước
Trang 11
Mặt khác, do đặc điểm sản phẩm xây lắp có giá trị lớn , thời gian thi công dài , kết cấu và kĩ thuật phức tập đòi hỏi mỗi công trình, hạng mục thi công cần có dự toán riêng
*)Giá thành kế hoạch: là chỉ tiêu giá thành được xác định trước khi bước
vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch Chỉ tiêu này được xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể, năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp
*)Giá thành thực tế: là chỉ tiêu giá thành thể hiện toàn bộ chi phí thực tế bỏ ra
để hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp, đây là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm và được xác định trên số liệu kế toán
Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp không chỉ bao gồm các khoản chi phí trong định mức mà còn bao gồm các chi phí thực tế phát sinh ngoài định mức như : do hao hụt vật tư, thiệt hại do ngừng sản xuất…do đó để có thể quản lý tốt phần giá thành sản phẩm thì giá thành còn được đánh giá qua hai chỉ tiêu là : giá thành khối lượng hoàn chỉnh và giá thành khối lượng hoàn thành quy ước
Giá thành khối lượng xây lắp hoàn chỉnh là giá thành công trình , hạng mục công trình đã thi công đến giai đoạn cuối cùng đã được thanh toán bàn giao với bên nhà thầu Chỉ tiêu này có tác dụng đánh giá một cách tổng quát hiệu quả kinh tế của công trình song lại không đáp ứng kịp thời việc phân tích đánh giá tình hình thực tế thực hiện kế hoạch giá thành Do đó, chỉ tiêu giá thành khối lượng hoàn thành quy ước đã khắc phục được những hạn chế trên
Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là giá thành của khối lượng xây lắp mà khối lượng đó đảm bảo thỏa mãn các điều kiện như sau :
Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo được chất lượng của thiết kế theo quy định
Trang 12kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp
+Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ
Giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp : là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm
vi phân xưởng sản xuất Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung
Giá thành tiêu thụ của sản phẩm xây lắp (hay còn gọi là giá thành toàn bộ)
là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kế quả kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Song cách phân loại này còn có hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng
1.2.3 Mối quan hệ của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt chẽ biện chứng cho nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp Về bản chất thì chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất
Giá thành toàn bộ
Giá thành sản xuất của sản phẩm +
Chi phí quảnlýdoanh nghiệp +
Chi phí bán hàng
Trang 13
Chúng giống nhau về mặt chất vì chúng đều biểu hiện bằng tiền của những lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra, song chúng lại khác nhau về lượng Khi nói đến chi phí sản xuất là chúng ta đã giới hạn cho chúng tại một thời kì nhất định , không phân biệt cho loại sản phẩm nào , đã hoàn thành hay chưa Còn khi nói đến giá thành sản xuất sản phẩm là xác định cho một lượng chi phí sản xuất nhất định tính cho đại lượng kết quả hoàn thành nhất định
Tổ chức kế toán chi phí và giá thành hợp lý , đúng đắn có ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm Trong thời kì cạnh tranh gay gắt thì mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp không riêng gì doanh nghiệp xây lắp là tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.Mặt khác, giá thành sản phẩm là cơ sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở để đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi
phí đồng thời xác định kết quả kinh doanh
1 3 Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.3.1 Nội dung hạch toán chi phí sản xuất
1.3.1.1 Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
+) Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất xây lắp là phạm vi giới hạn chi phí sản xuất xây lắp cần được tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành.Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp trong một thời gian nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra phân tích chi phí và giá thành sản phẩm
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp xây lắp có công nghệ sản xuất phức tạp , sản phẩm mang tính đơn chiếc, mỗi công trình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình, hoặc có thể là đơn đặt hàng, bộ phận thi công hay từng giai đoạn công việc Tuy nhiên trên thực tế các đơn vị xây lắp thường hạch toán chi phí theo công trình, hạng mục công trình
Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng đã được qui định hợp
lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời
+)Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
Trang 14
Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của mỗi đối tượng kế toán chi phí Khi đó trên cơ sở đối tượng tập hợp chi phí mà kế toán sẽ lựa chọn các phương pháp kế toán chi phí thích hợp Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng các phương pháp tập hợp chi phí sau:
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công trình: chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó Do đó phương pháp này có ý nghĩa đem đến độ chính xác cao vì chi phí sản xuất được tính trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí
- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng: phương pháp này được
sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng Do đó các chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng đó Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó
-Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công: phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiện khoán Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như tổ đội sản xuất hay các khu vực thi công Trong từng đơn vị thi công lại được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí như hạng mục công trình
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: Khi chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều công trình cũng như hạng mục công trình mà không được tổ chức ghi chép riêng cho từng công trình thì cần ghi chép ban đầu các chi phí phát sinh liên quan theo từng địa điểm phát sinh chi phí trên cơ sở thu thập các chứng từ kế toán Tiếp theo
đó sẽ là lựa chọn tiêu chuẩn để phân bổ chi phí sản xuất đã tập hợp cho các đối tượng có liên quan, phải đảm bảo tiến hành phân bổ một cách hợp lý và chính xác
1.3.1.2 Nội dung và trình tự và cách thức kế toán chi phí sản xuất
*) Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trong các doanh nghiệp xây lắp thì chi phí nguyên vật liệu là chi phí chiếm
tỉ trọng lớn nhất và đóng một vai trò rất quan trọng trong các khoản mục chi phí
Trang 15
Trong đó, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xây lắp là những chi phí vật liệu chính , vật liệu phụ, các cấu kiện , các bộ phận kết cấu công trình , vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp như: Sắt thép, xi măng, đàn giáo, cốt pha Nó không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và sử dụng cho quản lý đội công trình
Trong hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán cần tôn trọng những nguyên tắc sau:
+ Vật liệu sử dụng cho việc xây dựng hạng mục công trình nào thì tính trực tiếp cho hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan Trong trường hợp vật liệu được sử dụng cho nhiều công trình thì kế toán phải áp dụng phương pháp phân bổ hợp lý để phân bổ chi phí nguyên vật liệu cho từng công trình
+ Đặc biệt, đến cuối kì hạch toán hoặc khi công trình đã hoàn thành thì cần phải tiến hành kiểm kê các vật liệu chưa sử dụng để tiến hành hạch toán chính xác vật liệu đã sử dụng
+ Điều quan trọng trong xây dựng cơ bản khi tiến hành thực hiện đó là phải
có một hệ thống định mức tiêu hao vật liệu thích hợp, và không ngừng hoàn thiện
hệ thống định mức đó
Phương pháp kế toán tài khoản 621 được thể hiện qua sơ đồ
Tk111,112,331,141 Tk 621
Mua Vt xuất thẳng đến Chân công trình
Trang 16
+) Kế toán nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương , tiền công phải trả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện xây lắp công trình hay hạng mục công trình, kể cả công nhân vận chuyển bốc dỡ không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài Chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm các khoản trích theo tiền lương như BHXH, BHYT,KPCĐ của công nhân trực tiếp xây lắp
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp cho hoạt động xây lắp cần tôn trọng các nguyên tắc sau :
- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan đến công trình hạng mục công trình nào thì hạch toán trực tiếp cho hạng mục công trình đó trên cơ
sở các chứng từ gốc Trong trường hợp không tính chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình thì phải áp dụng phân bổ chi phí hợp lý
- Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp được tính vào chí phí sản xuất chung của hoạt dộng xây lắp
Sử dụng tài khoản 622 ( Chi phí nhân công trực tiếp ) để phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất sản phẩm ( bao gồm cả khoản phải trả cho công nhân trực tiếp thuộc doanh nghiệp hay thuê ngoài)
Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp được thể hiện :
+) Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Tiền lương phải trả
CN trực tiếp sx
CN thuê ngoài
kết chuyển chi phí NCTT
Lương phép ngừng sx theo KH
Tk 335
Cp NC vượt trên mức bình thường
TK 632
Tk 334,111,112
Tk 622
Tk 154
Trang 17
Máy thi công là loại máy chạy bằng động lực được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình, các phương tiện này doanh nghiệp có thể tự trang bị hoặc thuê ngoài Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công và chia thành
2 loại : chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời
Chi phí thường xuyên: bao gồm các khoản chi phí được tính thẳng vào giá thành ca máy phát sinh trong quy trình sử dụng xe máy thi công Ví dụ : chi phí về nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công, tiền lương cho công nhân trực tiếp điều khiển máy
Chi phí tạm thời : Đó chính là chi phí cần phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng máy thi công như: Chi phí tháo lắp, vận chuyển, chạy thử máy thi công
Kế toán sử dụng tài khoản 623- chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản này có 6 tài khoản cấp 2:
Kế toán chi phí sử dụng máy thi công cần tôn trọng các nguyên tắc sau : Việc hạch tóan chi phí sử dụng máy thi công còn phụ thuộc vào cách thức tổ chức đội máy thi công của doanh nghiệp Có 2 hình thức quản lý và sử dụng máy thi công : tổ chức đội máy thi công riêng biệt hoặc giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp Nếu doanh nghiệp tổ chức máy thi công riêng thì còn tuỳ thuộc vào đội máy có tổ chức kế toán riêng hay không để hạch toán chi phí sử dụng máy hạch toán phù hợp
*) Trường hợp doanh nghiệp hạch toán chi phí sử dụng máy có đội máy
thi công riêng và hạch toán riêng cho đội máy: trường hợp này máy thi công
thuộc tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tự tổ chức đội, thi công khối lượng xây lắp Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công trong trường hợp này sẽ phản ánh chi phí sử dụng máy phát sinh trong quá trình sử dụng máy thi công
Tk 6231 : chi phí nhân công
điều khiển máy
Tk 6238: chi phí bằng tiền khác
Trang 18
Sơ đồ Kế toán chi phí sử dụng máy thi công trong trường hợp tổ chức
máy thi công riêng
*) Trường hợp đơn vị tổ chức thuê máy thi công:
Trong trường hợp này để thuận tiện trong quá trình xây lắp, doanh nghiệp tổ chức thuê máy thi công, lúc này chi phí máy thi công phục vụ cho hạng mục công trình nào thì sẽ được hạch toán vào hạng mục công trình đó
Sơ đồ : Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công trong TH doanh nghiệp thuê máy :
Tk 1133
Tk 3331
Trang 19Tiền thuê máy thi công p trả K/c chi phí s/d
máy thi công
t/h k xác định kq
Nhận tiền,vt do
ĐV
ĐV khoán ứng trước
Giá khoán
Trang 20
+) Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí liên quan trực tiếp, đến việc tổ chức , phục vụ quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trình xây dựng, có mối quan hệ gián tiếp với các đối tượng xây lắp Bao gồm :lương nhân viên quản lý đội xây dựng,các khoản trích theo lương ( BHYT, BHXH, KPCĐ) của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên quản lý đội-đây là sự khác biệt giữa kế toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp và các doanh nghiệp khác Ngoài ra còn có các khoản khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động của đội và các chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của đội xây lắp
Để hạch toán chi phí sản xuất chung cần tôn trọng các nguyên tắc sau:
Do đặc thù của doanh nghiệp xây lắp nên để tổ chức hạch toán chi phí sản xuất chung cần phải hoạch toán chi tiết từng công trình , hạng mục công trình , đồng thời phải chi tiết theo các điều khoản quy định.Khi thực hiện tính toán kiểm tra tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất chung phải tiền hành quản lý tốt các chi phí
đã giao khoán , từ chối không thanh toán cho các đội nhận khoán số chi phí sản xuất chung ngoài dự toán và bất hợp lý Trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều đối tượng xây lắp khác nhau cần phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng liên quan theo tiêu thức hợp lý
Để hạch toán chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng tài khoản 627-chi phí sản xuất chung
Tk 6271: Chi phí nhân viên quản lý đội
Tk 6272: Chi phí vật liệu
Tk 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
Tk 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
Tk 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoaì
Tk 6278: Chi phí bằng tiền khác
Trang 21Sơ đồ kế tóan chi phí sản xuất chung :
1.3.1.3.Hạch toán chi phí sản xuất theo phương thức khoán gọn:
Trong các doanh nghiệp xây lắp thì hình thức khoán gọn là hình thức phổ biến và hay được áp dụng, cụ thể doanh nghiệp tiến hành khoán các khoản chi phí như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí quản lý đội…cho các đơn vị thực hiện hay các tổ đội Căn cứ để hạch toán chi phí là việc ký kết hợp đồng khoán gọn giữa doanh nghiệp và đội xây dựng Khi hoàn thành công trình phải tiền hành nghiệm thu công trình và thanh lý hợp đồng
Tk152,142
Tk 334,338
Tk 111, 112
Trang 22
Việc hạch toán chi phí sản xuất còn phụ thuộc vào việc tổ chức hạch toán tai đơn vị nhận khoán hay các đội nhận khoán
a) Đặc điểm kế toán tại đơn vị giao khoán :
*) Trường hợp đơn vị nhận khoán không mở sổ kế toán riêng thì doanh nghiệp sẽ tiến hành hạch toán như sơ đồ sau:
*) Nếu đơn vị nhận khoán có tổ chức kế toán riêng thì sẽ tiến hành hạch toán như sau: Kế toán tại đơn vị giao khoán sử dụng Tk 136 để phản ánh toàn bộ giá trị vật tư, tiền cho các đơn vị nhận khoán nội bộ, chi tiết cho từng đơn vị Đồng thời tk này cũng dùng để phản ánh giá trị xây lắp hoàn thành nhận bàn giao của các đơn vị nhận khoán nội bộ
Sơ đồ:
Tk 152,153,111 Tk 141
Tạm ứng vật tư
vốn cho đơn vị nhận khoán
Thu hồi số tạm ứng lớn hơn
hơn giá trị giao khoán
Trang 23
b) Đặc điểm kế toán tại đơn vị nhận khoán :
Tại đơn vị nhận khoán nội bộ nếu không tổ chức bộ máy kế toán riêng thì cần phải mở theo dõi khối lượng xây lắp nhận khoán về cả giá trị nhận khoán và chi phí thực tế theo từng khoản mục
Nếu đơn vị nhận khoán nội bộ có tổ chức bộ máy kế toán riêng sử dụng tài khoản 336 để phản ánh tình hình nhận tạm ứng và quyết toán nội bộ khối lượng xây lắp với đơn vị giao khoán
Tk 1331
Tk 111,112 Thu hồi số tạm ứng lớn
Hơn giá trị giao khoán
Trang 25
Đối với hoạt động kinh doanh xây lắp quy định chỉ áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên , không sử dụng hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ ( Theo QĐ 15/ BTC) do
đó tài khoản 154 dùng để tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp
Tài khoản này được chia thành 4 tài khoán cấp 2:
Tk 1541-xây lắp: Dùng để tập hợp chi phí , tính giá thành sản phẩm
Tk 1542-sản phẩm khác: dùng để tập hợp chi phí , tính giá thành sản xuất sản phẩm khác và phản ánh giá trị sản phẩm khác dở dang cuối kỳ
Tk1543-Dịch vụ: dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành dịch vụ và phản ánh chi phí dịch vụ dở dang cuối kỳ
Tk 1544- Chi phí bảo hành xây lắp: dùng để tập hợp chi phí bảo hành công trình xây dựng xây dựng , lắp đặt thực tế phát sinh trong kỳ và gía trị công trình bảo hành xây lắp còn dở dang cuối kỳ
Kế toán định kỳ sẽ tiến hành tổng hợp chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình và kết chuyển sang tài khoản 154
Việc hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất đựoc mô tả theo sơ đồ:
Trang 26
*) Xác định giá trị sản phẩm xây lắp dở dang:
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến còn
nằm trong quá trình sản xuất, cuối kỳ các doanh nghiệp cần tiến hành kiểm kê khối
lượng công việc hòan thành và đánh giá sản phẩm dở dang
Đánh giá sản phẩm dở dang là tiến hành tính toán, xác định chi phí sản xuất
đã phát sinh liên quan đến khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành cuối kì hay khối
lượng xây lắp dở dang trong kỳ chưa được chủ đầu tư nghiệm thu,chấp nhận thanh
Trang 271.3.2 Tính giá thành sản phẩm xây lắp:
1.3.2.1 Đối tượng , kì tính giá thành của sản phẩm xây lắp:
Đối tượng tính giá thành là những sản phẩm hay bán thành phẩm đòi hỏi phải tính giá thành đơn vị Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp thì đối tượng của
kế toán tính giá thành có thể là công trình, hạng mục công trình, các đơn đặt hàng, các giai đoạn hạng mục Do đó doanh nghiệp cần phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất sản phẩm hàng hoá,sản phẩm cũng như yêu cầu quản lí của doanh nghiệp mà xác định đối tượng và kì tính giá thành thích hợp
Do tính chất đặc thù của doanh nghiệp xây lắp đó là sản xuất mang tính đơn chiếc, mỗi sản phẩm xây lắp đều có dự toán và thiết kế riêng nên đối tượng tính giá thành của doanh nghiệp xây lắp cũng có những đặc điểm riêng Việc xác định đối tượng tính giá thành có một ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó là căn cứ phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm
Đồng thời việc xác định kì tính giá thành thích hợp cũng sẽ giúp cho công tác tổ chức tính giá thành một cách hợp lý, chính xác đảm bảo cung cấp thông tin một cách kịp thời
Trang 28
1.3.2.2.Phương pháp kế toán giá thành sản phẩm xây lắp:
Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số
liệu về chi phí sản xuất để tính tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản
phẩm hoặc lao vụ hoàn thành theo các yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong kỳ
giá thành đã được xác định
Tuỳ theo đặc điểm của đối tượng tính giá thành, mối quan hệ giữa các đối
tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành mà kế toán lựa chọn phương pháp
tính giá thành thích hợp
Các phương pháp tính giá thành hay được áp dụng đó là:
+ Phương pháp giản đơn ( Phương pháp trực tiếp):
Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại
hình doanh nghiệp giản đơn, chu kỳ sản xuất thi công ngắn Trong doanh nghiệp
xây lắp , theo phương pháp này thì giá thành của công trình, hạng mục công trình là
tập hợp các chi phí sản xuất trực tiếp cho hạng mục công trình đó.Trong trường hợp
hạng mục công trình chưa hoàn thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn
giao thì công thức tính giá thành công tác xây lắp hoàn thành bàn giao như sau:
Đây là phương pháp tính giá thành hết sức phổ biến trong các doanh nghiệp
xây lắp, nó có ưu điểm trong việc tính toán đơn giản , thông tin về giá thành được
cung cấp kịp thời phục vụ cho kì báo cáo, đồng thời còn giúp các nhà quản lý kiểm
tra, giám sát các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
+ Phương pháp tổng cộng chi phí:
Phương pháp này rất thích hợp áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp thi
công cho các công trình lớn, phức tạp, quá trình sản xuất có thể tiến hành qua nhiều
giai đoạn thi công,đồng thời công việc có thể được thực hiện bởi nhiều tổ, đội sản
xuất khác nhau Lúc này, đối tượng tính giá thành là các đội sản xuất hoặc các giai
đoạn thi công còn đối tượng tính giá thành là các công trình, hạng mục công trình
hoàn thành
Z= Dđk + C1+ C2+… +Cn – Dck
Trong đó : Z: Giá thành thực tế của toàn bộ công trình
Giá thành khối lượng
Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ
Trang 29
C1,C2 Cn: Chi phí xây lắp các giai đoạn
Dđk, Dck : Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ
*) Sổ sách kế toán áp dụng trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp:
Các doanh nghiệp xây lắp áp dụng hệ thống chứng từ kế toán ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 Bên cạnh những chứng
từ bắt buộc, công ty còn sử dụng nhiều chứng từ hướng dẫn nhằm phục vụ cho công tác quản trị nội bộ và nâng cao công tác hạch toán kế toán
Ví dụ : chứng từ lao động tiền lương : Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền
lương…chứng từ Hàng tồn kho: Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho…
Trang 30
Chương 2: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty
cổ phần Dịch vụ Kĩ thuật Viễn Thông TST
2.1 Tìm hiểu tổng quan về công ty TST
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TST
Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông (TST) tiền thân là Trung tâm KASATY Hà Nội, đơn vị trực thuộc doanh nghiệp nhà nước Xí nghiệp khoa học sản xuất thiết bị thông tin 2, là một đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) Công ty được thành lập theo quyết dịnh số 232/2000/QĐ-TCCB ngày 10/03/2000 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện
Thực hiện theo chủ trương cổ phần hoá của nhà nước, công ty đã được cổ phần hoá từ tháng 03/2000 Với sự phấn đấu không ngừng nghỉ của các cán bộ công nhân viên trong công ty, vào ngày 17/05/2006 công ty đã được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000 được cấp bởi BVQI
Chứng chỉ ISO 9001:2000 là một sự công nhận quốc tế về Hệ thống Tiêu chuẩn Quản lý chất lượng Sự công nhận quốc tế này đã tạo ra động lực thúc đẩy Công ty nâng cao lợi ích kinh doanh bằng cách: tăng hiệu qủa công việc và giảm thiểu sự lãng phí, nâng cao chất lượng và tin cậy sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu khách hàng; nâng cao hiệu suất, năng suất của người lao động
Hiện nay Công ty có tên đầy đủ là : Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông –TST Vốn điều lệ : 50 tỷ VNĐ ( 31,5% vốn Nhà nước )
Trụ sở chính: Số 4A-4B-4C- Vương Thừa Vũ - Quận Thanh Xuân – Hà Nội Điện thoại : 84-4-7366984/ 5 682 241 Fax: 84-4-5 682 240
Email: tsthn@hn.vnn.vn Website: http://www.tst.com.vn
Công ty có các chi nhánh :
+ Xí nghiệp Bảo dưỡng – Đo kiểm : 164 Nguyễn Văn Cừ- Gia Lâm- Hà Nội + Xí nghiệp xây lắp số 1: Số 4A-4B-4C –Vương Thừa Vũ- quận Thanh Xuân- Hà Nội
+ Xí nghiệp lắp đặt thiết bị :Số 4A-4B-4C –Vương Thừa Vũ- quận Thanh Xuân- Hà Nội
Trang 31Ngoài ra, TST có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên sâu và được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến để có thể đảm đương nhiệm vụ mạng lưới Bưu chính – Viễn thông.Hàng năm , công ty luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công nhân viên
Công ty luôn nghiên cứu đưa ra các dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đặc biệt là hoạt động thiết kế và tư vấn thiết kế có mục tiêu là các công trình xây lắp, lắp đặt thiết bị, các công trình thuộc lĩnh vực kỹ thuật viễn thông có công nghệ cao; cung ứng tất cả các loại vật tư thương mại viễn thông cho các bưu điện tỉnh trên toàn quốc; xây lắp và bảo dưỡng các thiết bị viễn thông cho tất cả các bưu điện nhằm đưa TST trở thành doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật viễn thông
Với phương châm hoạt động của Công ty là: “Chất lượng, Hiệu quả và Tận tình phục vụ”, chất lượng sản phẩm dịch vụ luôn được Công ty chú trọng nhằm tạo dựng uy tín và niềm tin lâu dài đối với khách hàng Chính sách của Công ty là đem
Trang 32
lại chất lượng tốt nhất cho khách hàng thông qua nghiên cứu nhu cầu, khả năng cũng như điều kiện tự nhiên, thiết kế sản phẩm, dịch vụ đạt chất lượng tốt nhất, tiết kiệm nhất, kiểm tra kĩ chất lượng trước khi đưa đến tay khách hàng Các sản phẩm, dịch vụ cung cấp luôn được đảm bảo bằng trách nhiệm và uy tín của cả Công ty Do
đó, trong những năm qua, sản phẩm và dịch vụ của Công ty có chất lượng tốt, đảm bảo uy tín, đáng tin cậy
Năng lực tài chính của công ty có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu về tài sản có, tài sản nợ của đơn vị các năm 2004-2007 ( Đơn vị : triệu đồng )
Trang 33
nhưng Công ty vẫn duy trì được khả năng thanh toán của mình, theo ATPvietnam đây là một dấu hiệu rất khả quan, có được điều này là do Công ty cũng đã sử dụng
một phần nguồn vốn dài hạn đầu tư vào tài sản ngắn hạn, do đó khả năng thanh toán
ngắn hạn của Công ty luôn ở mức đảm bảo
Hệ số nợ/ Tổng tài sản của Công ty duy trì ở mức khá tốt, từ năm 2005 sang năm 2006, hệ số này chỉ tăng nhẹ từ 73,23% lên 74,57% Nguyên nhân là do chi phí phải trả về công trình xây dựng cơ bản trong năm 2006 tăng, đưa hệ số nợ/tổng tài sản tăng lên tương ứng
Hệ số nợ/Vốn chủ sở hữu của Công ty cũng đã giảm một cách đáng kể từ 2,74 lần năm 2005 và 2,93 lần năm 2006 xuống còn 0,89 lần 9 tháng đầu năm 2007 Điều này cho thấy Công ty đang muốn chủ động trong nguồn vốn kinh doanh của mình, tỷ lệ nợ đang ở mức tương đối an toàn cho thấy rủi ro tài chính của Công ty không lớn và cổ phiếu của Công ty cũng mang ít rủi ro
Khi Công ty niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, khả năng huy động vốn của Công ty cao hơn, Công ty có nhiều cơ hội phát huy hiệu quả
sử dụng vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, khai thác thế mạnh của các đòn bẩy tài chính
nhằm tăng hiệu quả kinh doanh cũng là một ý tưởng cho TST
Hệ số lợi Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần (ROS) năm 2008= 13911/167053 = 8,33%, năm 2007 là : 12231/152469= 8,02% tăng hơn so với năm
2007 và ở mức 0,01%
Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, có rất nhiều yếu tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty, không ít doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên Công ty vẫn hoạt động tốt, duy trì các chỉ số tài chính ở mức cao và ổn định
Trong năm 2007, Công ty đã thực hiện đầu tư các dự án đã được HĐQT,
ĐHĐCĐ thông qua như: Công ty Cổ phần công nghệ cáp quang; Công ty Vina – LSC, Công ty Cổ phần đầu tư bất động sản Phương Nam, Công ty Cổ phần Huwei – TST Việt Nam , TFP Bên cạnh các dự án trong nước, công ty đã tìm kiếm đối tác
và hợp tác liên doanh với Tập đoàn Huawei – tập đoàn hàng đầu của Trung Quốc, được Chính Phủ Trung Quốc xây dựng thành tập đoàn mũi nhọn – để thành lập Công ty Cổ phần Huawei – TST Việt Nam Công ty này với các hoạt động của mình
Trang 342.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và bộ máy của công ty
Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty được tổ chức một cách hợp lý phù hợp với tình hình thực tế của công ty Theo mô hình trên thì mỗi bộ phận phòng ban có các chức năng nhiệm vụ cụ thể như sau:
Đại hội đồng cổ đông: Đây là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty,
bao gồm các cổ đông có quỳên biểu quyết Đại hội đồng cổ đông ít nhất mỗi năm họp một lần quyết định các vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển dài hạn của
Trang 35
công ty Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính
Hội đồng quản trị : Số lượng thành viên Hội đồng quản trị ít nhất là 5 người
và nhiều nhất là 11 người Nhiệm kì của hội đồng quản trị là 5 năm Hoạt động kinh doanh và các công việc của công ty sẽ chịu sự quản lý của hoặc chỉ đạo thực hiện của Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là cơ quan có đầy đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh công ty trừ những thẩm quyền thuộc về đại hội cổ đông Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Tổng giám đốc điều hành và các cán bộ quản lý khác
Ban kiểm soát: Số lượng thành viên ban Kiểm soát phải có từ 3 đến 5 thành
viên Trong ban kiểm soát có ít nhất một thành viên có chuyên môn về tài chính kế toán Thành viên này không phải nhân viên trong bộ máy kế toán, tài chính của công ty cũng như nhân viên kiểm toán của công ty kiểm toán độc lập đang thực, hiện báo cáo tài chính của công ty
Tổ chức bộ máy quản lý : Công ty sẽ ban hành một hệ thống quản lý mà theo đó bộ máy quản lý sẽ chịu trách nhiệm và nằm dưới sự lãnh đạo của Hội đồng quản trị Công ty có một Tổng giám đốc điều hành , Phó giám đốc điều hành và Kế toán trưởng do Hội đồng quản trị bổ nhiệm
Tổng giám đốc điều hành : Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm một thành viên
trong Hội đồng hoặc một người khàc làm tổng giám đốc điều hành và sẽ ký hợp đồng quy định mức lương , thù lao lợi ích và các điều khoản liên quan đến việc tuyển dụng Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 5 năm và có thể tái bổ nhiệm Giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, điều lệ của công ty , hợp đồng lao động và quyết định của Hội đồng quản trị
Phó giám đốc điều hành: người giúp việc Tổng giám đốc về các lĩnh vực
và các nhiệm vụ theo sự phân công của tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc và trước pháp luật về quyền và nhiệm vụ được giao
Phòng kinh doanh : có nhiệm vụ xây dựng chiến lược kế hoạch hoạt động
cho công ty, tiến hành theo dõi công tác thực hiện kế hoạch của từng xí nghiệp Đồng thời tiến hành tiếp cận thị trường , khảo sát nhằm tham gia đấu thầu , lập hồ
Trang 36
sơ dự thầu cùng các phòng ban để lập dự toán về chi phí vật liệu, nhân công cho việc thi công các công trình
Phòng kỹ thuật : có trách nhiệm trong việc thiết kế kỹ thuật các công trình,
lập bản kế hoạch kinh tế kỹ thuật cho các công trình hạng mục công trình , cùng với các phòng ban có chức năng tiến hành nghiệm thu công trình
Phòng kế toán thống kê tài chính : Chịu trách nhiệm ghi chép, phản ánh các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh , phối hợp với các phòng ban để lập báo cáo tài chính, báo cáo quản trị và cung cấp các thông tin tài chính cần thiết cho các nhà quản lý công ty và các cơ quan chức năng
Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tuyển dụng nhân sự , quản lí và
phân công nhân sự theo yêu cầu của Công ty Xây dựng và quản lý các quỹ tiền lương, thưởng, thực hiện chính sách chế độ đối với người lao động theo đúng quy định của nhà nước
2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
a) Sản phẩm của công ty, thị trường và đối thủ cạnh tranh
*) Lĩnh vực kinh doanh của công ty
Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103000095 ngày 07/08/2000( lần đầu ) và vào ngày 23/05/2008( Đăng ký thay đổi lần 9) của Sở
Kế hoạch Đầu Tư Hà Nội, công ty có các lĩnh vực kinh sản xuất và kinh doanh chính :
+) Từ năm 1990, với kinh nghiệm của mình công ty đã lắp đặt, sữa chữa, bảo dưỡng, hỗ trợ vận hành các công trình viễn thông, điện, điện tử , tin học Đồng thời, công ty còn tiến hành xây dựng các công trình viễn thông, điện, điện tử, tin học Ngoài ra lĩnh vực nghiên cứu sản xuất , lắp ráp các thiết bị bưu chính, viễn thông, điện tử, tin học cũng là một trong những ngành nghề kinh doanh không thể thiếu của công ty
+) Từ năm 1997, công ty có thêm lĩnh vực tư vấn kỹ thuật, lập các dự án đầu
tư, thiết kế, thẩm định các công trình , chuyển giao kỹ thuật chuyên ngành công nghệ viễn thông, điện tử, tin học Cho thuê các sản phẩm thiết bị viễn thông
+) Từ năm 2000, công ty tiến hành xuất nhập khẩu các thiết bị, vật tư, phụ tùng , linh kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh của công ty Từ năm 2005, công ty
Trang 37
cung cấp và triển khai các giải pháp phần mềm quản lý phục vụ mạng viễn thông và các dịch vụ giá trị gia tăng khác như dịch vụ báo hỏng 119, phần mềm cho các bưu cục, hệ thống call Center dịch vụ chăm sóc khách hàng
Ngoài các ngành nghề sản xuất kinh doanh chính nêu trên, công ty đã không ngừng sáng tạo để có thể tiến hành các lĩnh vực kinh doanh tiềm năng khác,
để nhằm mục đích duy nhất chính là đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất Do đó mà sản phẩm của công ty luôn được khách hàng trong và ngoài nước tin tưởng về cả uy tín lẫn chất lượng
*) Thị trường và đối thủ cạnh tranh
Công ty có rất nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau và đều dành được những thành tựu nhất định Trong phạm vi bài luận văn này , em xin đề cập tới lĩnh vực xây lắp tại công ty Đây là ngành nghề có truyền thống lâu năm tại công ty, từ lúc công ty mới bắt đầu thành lập cho tới bây giờ, chính vì vậy có thể xem đây là sản phẩm truyền thống của công ty Tuy nhiên có thể khẳng định, trong thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới thì đây là một lĩnh vực vừa có nhiều cơ hội lại gặp rất nhiều thách thức
Công nghệ thông tin cơ hội phát triển mới, các doanh nghiệp Việt Nam
mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế; người tiêu dùng Việt Nam có thêm cơ hội
sử dụng các thành tựu phát triển Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin Như vậy, triển vọng phát triển ngành bưu chính viễn thông là rất sáng sủa Cũng đồng nghĩa với việc khả năng phát triển và mở rộng lĩch vực xây lắp tại công ty TST
Tuy nhiên khi Việt Nam gia nhập AFTA, APEC, WTO và hiệp định thương mại Việt Mỹ, thì sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng gay gắt Mặc dù các công ty trong nước có động lực để phát triển khi hòa mình vào môi trường công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, nhưng đối thủ cạnh tranh của họ là các công ty nước ngoài có bề dày kinh nghiệm, công nghệ và tiềm lực tài chính vượt trội Bên cạnh đó, khi thị trường viễn thông trong nước phát triển khiến cho ngày một nhiều các công ty cung cấp dịch vụ viễn thông ra đời Bản thân các công ty trong nước cũng phải không ngừng cạnh tranh lẫn nhau để giữ vững và mở rộng thị trường Đây là một khó khăn, thách thức lớn đối với Công ty
Trang 38
Ngoài ra, đối mặt với sự phát triển nhanh về công nghệ, dịch vụ trên thế giới
và khu vực trong điều kiện chu kỳ thay đổi công nghệ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, điện tử tin học ngày càng ngắn là một sức ép rất lớn, đặt các Công ty hoạt động trong những lĩnh vực này trước nguy cơ tiềm ẩn tụt hậu về công nghệ và giảm khả năng cạnh tranh nếu không có chiến lược tiếp cận một cách linh hoạt Đây là một trong những rủi ro kinh doanh lớn nhất của TST Điều này đòi hỏi công ty phải không ngừng nghiên cứu đổi mới kỹ thuật công nghệ để có thể đủ sức cạnh tranh với các đơn vị cùng ngành khác
b) Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp tại công ty:
Trang 40
Các sản phẩm của công ty mang tính đặc thù cao, đơn chiếc và khác nhau theo từng công trình và hạng mục công trình, sản phẩm của công ty thường được bán trước khi hoàn thành Mặt khác với một quy trình công nghệ phức tạp và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, thời gian tiến hành kéo dài có khi kéo dài đến mấy năm do đó mà công ty cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban trong công ty nhằm quản lý một cách có hiệu quả chi phí cũng như tính giá thành sản phẩm xây lắp trong công ty
Nhân viên phòng kinh doanh nhận được yêu cầu của khách hàng , ví dụ như Công văn yêu cầu của khách hàng, hồ sơ mời thầu , lãnh đạo công ty và phòng kinh doanh sẽ xem xét yêu cầu của khách hàng và đưa ra quyết định là chấp nhận hay từ chối Nếu chấp nhận thì phòng kinh doanh , các đơn vị và khách hàng sẽ xây dựng phương án triển khai, báo giá ( Phần naỳ sẽ đề cập đến nội dung, khối lượng công việc cần thực hiện và những dự toán chi phí sơ lược để trên cơ sở đó tiến hành
kí kết hợp đồng)
Sau khi hợp đồng được kí kết, công ty sẽ giao nhiệm vụ cho các đơn vị thực hiện (Ví dụ như giao nhiệm vụ cho xí nghiệp xây lắp số 1) Sau khi nhận nhiệm vụ, đơn vị thực hiện và phòng kinh doanh tại xí nghiệp sẽ khảo sát và nhận mặt bằng
Sau đó căn cứ vào nhiệm vụ bàn giao mà đơn vị thực hiện, phòng kĩ thuật, phòng kinh doanh và phòng kế toán tại xí nghiệp cùng chịu trách nhiệm lập phương
án, lập dự trù vật tư và nhân lực chuyển lên giám đốc công ty để ký duyệt
Sau khi nhận được bản ký duyệt của giám đốc thì bắt đầu bắt tay vào bước chuẩn bị , đơn vị thực hiện sẽ tiến hành triển khai công việc dưới sự giám sát nội bộ của công ty, công ty sẽ tiến hành các bước cần thiết để có thể quản lý được việc thực hiện quá trình xây lắp của đơn vị có đúng với kế hoạch đề ra hay không Sau khi hoàn thành được khối lượng xây lắp, công ty và khách hàng sẽ tiến hành bàn giao và nghiệm thu công trình Tiếp đó, đơn vị thực hiện , phòng kinh doanh và phòng kế toán sẽ tiến hành lập hồ sơ quyết toán A-B và tập hợp hồ sơ thanh toán nội bộ, đồng thời giữa đơn vị thực hiện và phòng kế toán sẽ tiến hành thanh toán
2.2 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán
2.2.1.Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán