1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt

103 445 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật Viễn Thông TST
Trường học Đại học Bách Khoa TP.HCM
Chuyên ngành Kế toán xây dựng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài : Khi chọn đề tài này, mục đích chính của em là tìm hiểu về mặt lý luận và xem xét thực tiễn ứng dụng những lý luận đó vào trong kế toán chí phí s

Trang 2

Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều công trình chưa đưa vào sử dụng được bao nhiêu đã bị hư hỏng , chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm quá cao song chưa đảm bảo được chất lượng công trình.Do đó, để quản lý tốt chi phí và giá thành đồng thời đảm bảo chất lượng công trình thì kế toán là một công cụ quản lý hữu hiệu Việc nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thời kì đất nước đang có những chuyển mình trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng

Sau một thời gian thực tập tại Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật Viễn Thông , em đã được tìm hiểu và tiếp xúc với công tác kế toán của công ty tại Xí nghiệp Xây Lắp số 1, em càng thấy rõ tầm quan trọng của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại xí nghiệp

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài :

Khi chọn đề tài này, mục đích chính của em là tìm hiểu về mặt lý luận và xem xét thực tiễn ứng dụng những lý luận đó vào trong kế toán chí phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ phần Dịch Vụ Kĩ Thuật Viễn Thông TST, đồng thời qua đó có thể rút ra ưu điểm và các hạn chế còn tồn tại trong công tác kế toán để có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện mang tính khả thi

Trang 3

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cức lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp xây lắp số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật Viễn Thông TST

3 Tên và kết cấu của đề tài :

Tên đề tài : “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST”

Luận văn của em gồm 3 chương chính như sau :

Chương 1 : Những vấn đề lí luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm trong doanh nghiệp xây lắp

Chương 2 : Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp xây lắp số 1 thuộc công ty Cổ Phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn Thông TST

Chương 3 : Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuẩt và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông TST

Trang 4

Chương 1 : Những vấn đề lí luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá

thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp

1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng tới kế toán chi phi sản xuất và gía thành sản phẩm:

1.1.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất và phương thức hoạt động của doanh nghiệp xây lắp:

Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Đặc biệt hiện nay cùng với sự mở cửa của nền kinh tế thì nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản ngày càng nhiều

So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế

- kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp xây lắp Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp

Cơ sở quan trọng để hoạt động doanh nghiệp xây lắp được tiến hành chính là hợp đồng được ký với đơn vị chủ đầu tư sau khi trúng thầu, hoặc các doanh nghiệp

có thể đóng vai trò là chủ đầu tư để tiến hành thực thi dự án Trong hợp đồng các bên thống nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình cùng với các điều kiện khác do đó mà tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện

rõ Đặc biệt quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp cũng có sự khác biệt thể hiện ở nghiệp vụ bàn giao công trình , hạng mục công trình hoặc khối lượng hòan thành cho bên giao thầu Trong trường hợp nhà thầu được thanh toán theo tiến

độ kế hoạch thì sản phẩm hoàn thành bàn giao được xác định một cách đáng tin cậy bằng phương pháp quy định Ngoài ra thì sản phẩm xây lắp được quy định về tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật trong hồ sơ thiết kế kĩ thuật được duyệt, do đó doanh nghiệp xây lắp phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về kĩ thuật và chất lượng công trình

Hiện nay ở Việt Nam,trong các doanh nghiệp xây lắp thì cơ chế giao khoán đang được áp dụng một cách rộng rãi như : Khoán gọn công trình( Khoán toàn bộ chi phí) , khoán theo từng khoản mục chi phí

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp:

Sản phẩm xây lắp được xem là một trong các sản phẩm mang tính đặc thù được thể hiện đó là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài Do

đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy

dự toán làm thước đo Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) , điều đó cũng có nghĩa tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ vì giá cả được người mua và người bán thỏa thuận trước

Khác với các sản phẩm khác thì sản phẩm xây lắp còn có những nét đặc trưng riêng như mỗi công trình đều có những yêu cầu về mặt thiết kế, kĩ thuật khác nhau , quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, cũng như thời gian sử dụng lâu dài đòi hỏi các khâu từ thiết kế xây dựng đến tiến hành thi công phải đảm bảo đúng chính xác nhằm mang lại hiệu quả cao nhất về mặt chất lượng công trình

Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động ) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát hư hỏng Đòi hỏi công tác kế toán phải chặt chẽ để tránh hư hỏng mất mát nguyên vật liệu, gây gián đoán trong công tác xây dựng và sản xuất

Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp Công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây lắp

1.2 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:

1.2.1 Chi phí sản xuất xây lắp:

1.2.1.1 Khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất xây lắp

Sản xuất luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của loài người Quá trình sản xuất là sự kết hợp của 3 yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao

Trang 6

động và lao động sống Trong xã hội tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ, để tạo ra sản phẩm hàng hóa thì đòi hỏi phải có hao phí yếu tố nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức giá trị, gọi là chi phí sản xuất, kinh doanh

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp cũng chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bị hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất và tạo ra sản phẩm xây lắp trong một kỳ kinh doanh nhất định Chi phí về lao động sống là những chi phí về tiền lương, thưởng, phụ cấp và các khoản trích theo lương của người lao động Chi phí lao động vật hóa là những chi phí về sử dụng các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động dưới các hình thái vật chất, phi vật chất, tài chính và phi tài chính

Khi nghiên cứu về chi phí sản xuất xây lắp cần lưu ý về tính chất đặc thù của doanh nghiệp các doanh nghiệp xây lắp, với tính chất phức tạp của công nghệ và sản phẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi công trình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình, hoặc có thể là đơn đặt hàng,

bộ phận thi công hay từng giai đoạn công việc Do đó cần hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng đã được quy định có tác dụng tốt trong việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác kế toán tính giá thành sản phẩm được kịp thời

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp:

Để phục vụ cho công tác quản lý và hạch toán thì chi phí sản xuất được hiệu quả đòi hỏi phải phân loại chi phí dưới nhiều góc độ khác nhau hay những tiêu chí khác nhau

* ) Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm

Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục Cách phân loại này dựa vào công dụng chung của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm bao gồm các khoản mục chi phí sau :

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm giá trị thực tế của nguyên

liệu, vật liệu chính, phụ hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp và giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối

Trang 7

lượng xây lắp ( không kể vật liệu cho máy móc thi công và hoạt động sản xuất chung

+ Chi phí nhân công trực tiếp: gồm toàn bộ tiền lương, tiền công và các

khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương trả cho công nhân trực tiếp xây lắp

+ Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm chi phí cho các máy thi công

nhằm thực hiện khối lượng xây lắp bằng máy Máy móc thi công là loại máy trực tiếp phục vụ xây lắp công trình Đó là những máy móc chuyển động bằng động cơ hơi nước, diezen, xăng, điện,

Chi phí sử dụng máy thi công gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời

phụ của công nhân điều khiển, phục vụ máy thi công Chi phí nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài (sửa chữa nhỏ, điện, nước, bảo hiểm xe, máy ) và các chi phí khác bằng tiền

Chi phí tạm thời: chi phí sửa chữa lớn máy thi công (đại tu, trung tu ),

chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán, bệ, đường ray chạy máy ) Chi phí tạm thời của máy có thể phát sinh trước (hạch toán trên TK 142, 242) sau

đó phân bổ dần vào TK 623 Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí

sử dụng máy thi công trong kỳ (do liên quan đến việc sử dụng thực tế máy móc thi công trong kỳ) Trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí (hạch toán trên

TK 335)

+Chi phí sản xuất chung: phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường

xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý đội, công trường, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định ,khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội …

+Chi phí bán hàng: gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu

thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ trong kỳ , chi phí bảo hành giới thiệu sản phẩm…

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh

liên quan đến quản lý doanh nghiệp trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất cứ hoạt động hay phân xưởng, công trường hạng mục công trình nào

Trang 8

Việc phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm

sẽ thuận tiện cho kế toán trong việc hạch toán giá thành sản phẩm, lập kế hoạch giá thành cùng với định mức chi phí cho kì sau Từ đó, các nhà quản lý sẽ dẽ dàng hơn

trong việc quản lý chi phí hợp lí nhằm đem lại hiệu quả cao nhất

*) Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí :

Để phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố:

+Chi phí nguyên liệu, vật liệu : gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,

vật liệu, phục tùng thay thế, công cụ dụng cụ .sử dụng trong sản xuất tạo ra sản phẩm xây lắp (Ngoại trừ giá trị nguyên vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)

+Chí phí nhiên liệu, động lực : sử dụng vào quá trình sản xuất trong kì +Chi phí nhân công: tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phải trả

cho công nhân viên chức

+Chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền

lương và phụ cấp phải trả cho cán bộ công nhân viên

+Chi phí khấu hao TSCĐ: tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của

tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh

+Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho

sản xuất kinh doanh

+Chi phí bằng tiền khác: toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào

các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí.Theo cách này, doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để lập thuyết minh báo cáo tài chính đồng thời phục vụ cho nhu cầu của công tác quản trị trong doanh nghiệp, làm cơ sở để lập mức dự toán cho kỳ sau

Trang 9

+Biến phí: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng

công việc hoàn thành, thường bao gồm: chí phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí bao bì, ….Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là một mức ổn định

+Định phí: là những khoản chi phí cố định khi khối lượng công việc hoàn

thành thay đổi Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì định phí lại biến đổi Định phí thường bao gồm: chí phí khấu hao TSCĐ sử dụng chung, tiền lương nhân viên, cán bộ quản lý, …

+Hỗn hợp phí: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và

định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí Hỗn hợp phí thường gồm: chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp

Cách phân loại trên giúp doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch, kiểm tra chi phí, xác định điểm hòa vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí, tìm ra phương hướng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm

Ngoài các cách phân loại chi phí như trên còn có các cách phân loại khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và mục đích của mỗi doanh nghiệp Song mục đích cuối cùng cũng vẫn là giúp cho việc quản lý doanh nghiệp được hiệu quả hơn

Trang 10

Khác với doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây lắp thường là giá đã thỏa thuận giữa bên giao thầu và bên kí nhận thầu và nó là giá trị riêng của từng công trình hạng mục công trình hoàn thành Giá thành sản phẩm còn thể hiện việc sử dụng các khoản mục chi phí như thế nào có tiết kiệm hay lãng phí, từ đó nếu giá thành được xác định một cách chính xác và trung thực sẽ là cở sở để doanh nghiệp cũng như các cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp đó

1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:

Hiện nay , chúng ta có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm Tùy thuộc vào mục đích quản lý cũng như mục đích sử dụng mà có thể lựa chọn cách phân loại giá thành phù hợp

+Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành :

Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán, giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế

*) Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở thiết kế

kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích định mức

Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản phẩm xây lắp theo công thức:

Thuế GTGT đầu ra

Thu nhập chịu thuế tính trước

Trang 11

Mặt khác, do đặc điểm sản phẩm xây lắp có giá trị lớn , thời gian thi công dài , kết cấu và kĩ thuật phức tập đòi hỏi mỗi công trình, hạng mục thi công cần có dự toán riêng

*)Giá thành kế hoạch: là chỉ tiêu giá thành được xác định trước khi bước

vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch Chỉ tiêu này được xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể, năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định

Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp

*)Giá thành thực tế: là chỉ tiêu giá thành thể hiện toàn bộ chi phí thực tế bỏ ra

để hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp, đây là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm và được xác định trên số liệu kế toán

Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp không chỉ bao gồm các khoản chi phí trong định mức mà còn bao gồm các chi phí thực tế phát sinh ngoài định mức như : do hao hụt vật tư, thiệt hại do ngừng sản xuất…do đó để có thể quản lý tốt phần giá thành sản phẩm thì giá thành còn được đánh giá qua hai chỉ tiêu là : giá thành khối lượng hoàn chỉnh và giá thành khối lượng hoàn thành quy ước

Giá thành khối lượng xây lắp hoàn chỉnh là giá thành công trình , hạng mục công trình đã thi công đến giai đoạn cuối cùng đã được thanh toán bàn giao với bên nhà thầu Chỉ tiêu này có tác dụng đánh giá một cách tổng quát hiệu quả kinh tế của công trình song lại không đáp ứng kịp thời việc phân tích đánh giá tình hình thực tế thực hiện kế hoạch giá thành Do đó, chỉ tiêu giá thành khối lượng hoàn thành quy ước đã khắc phục được những hạn chế trên

Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là giá thành của khối lượng xây lắp mà khối lượng đó đảm bảo thỏa mãn các điều kiện như sau :

 Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo được chất lượng của thiết kế theo quy định

Trang 12

kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp

+Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí

Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ

Giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp : là chỉ tiêu phản ánh tất cả

những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm

vi phân xưởng sản xuất Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung

Giá thành tiêu thụ của sản phẩm xây lắp (hay còn gọi là giá thành toàn bộ)

là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức

Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kế quả kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Song cách phân loại này còn có hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng

1.2.3 Mối quan hệ của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt chẽ biện chứng cho nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp Về bản chất thì chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất

Giá thành toàn bộ

Giá thành sản xuất của sản phẩm +

Chi phí quảnlýdoanh nghiệp +

Chi phí bán hàng

Trang 13

Chúng giống nhau về mặt chất vì chúng đều biểu hiện bằng tiền của những lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra, song chúng lại khác nhau về lượng Khi nói đến chi phí sản xuất là chúng ta đã giới hạn cho chúng tại một thời kì nhất định , không phân biệt cho loại sản phẩm nào , đã hoàn thành hay chưa Còn khi nói đến giá thành sản xuất sản phẩm là xác định cho một lượng chi phí sản xuất nhất định tính cho đại lượng kết quả hoàn thành nhất định

Tổ chức kế toán chi phí và giá thành hợp lý , đúng đắn có ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm Trong thời kì cạnh tranh gay gắt thì mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp không riêng gì doanh nghiệp xây lắp là tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.Mặt khác, giá thành sản phẩm là cơ sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở để đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi

phí đồng thời xác định kết quả kinh doanh

1 3 Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.3.1 Nội dung hạch toán chi phí sản xuất

1.3.1.1 Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất

+) Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất

Đối tượng kế toán chi phí sản xuất xây lắp là phạm vi giới hạn chi phí sản xuất xây lắp cần được tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành.Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp trong một thời gian nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra phân tích chi phí và giá thành sản phẩm

Đặc biệt đối với các doanh nghiệp xây lắp có công nghệ sản xuất phức tạp , sản phẩm mang tính đơn chiếc, mỗi công trình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình, hoặc có thể là đơn đặt hàng, bộ phận thi công hay từng giai đoạn công việc Tuy nhiên trên thực tế các đơn vị xây lắp thường hạch toán chi phí theo công trình, hạng mục công trình

Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng đã được qui định hợp

lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời

+)Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất

Trang 14

Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của mỗi đối tượng kế toán chi phí Khi đó trên cơ sở đối tượng tập hợp chi phí mà kế toán sẽ lựa chọn các phương pháp kế toán chi phí thích hợp Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng các phương pháp tập hợp chi phí sau:

- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công trình: chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó Do đó phương pháp này có ý nghĩa đem đến độ chính xác cao vì chi phí sản xuất được tính trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí

- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng: phương pháp này được

sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng Do đó các chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng đó Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó

-Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công: phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiện khoán Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như tổ đội sản xuất hay các khu vực thi công Trong từng đơn vị thi công lại được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí như hạng mục công trình

- Phương pháp phân bổ gián tiếp: Khi chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều công trình cũng như hạng mục công trình mà không được tổ chức ghi chép riêng cho từng công trình thì cần ghi chép ban đầu các chi phí phát sinh liên quan theo từng địa điểm phát sinh chi phí trên cơ sở thu thập các chứng từ kế toán Tiếp theo

đó sẽ là lựa chọn tiêu chuẩn để phân bổ chi phí sản xuất đã tập hợp cho các đối tượng có liên quan, phải đảm bảo tiến hành phân bổ một cách hợp lý và chính xác

1.3.1.2 Nội dung và trình tự và cách thức kế toán chi phí sản xuất

*) Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Trong các doanh nghiệp xây lắp thì chi phí nguyên vật liệu là chi phí chiếm

tỉ trọng lớn nhất và đóng một vai trò rất quan trọng trong các khoản mục chi phí

Trang 15

Trong đó, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xây lắp là những chi phí vật liệu chính , vật liệu phụ, các cấu kiện , các bộ phận kết cấu công trình , vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp như: Sắt thép, xi măng, đàn giáo, cốt pha Nó không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và sử dụng cho quản lý đội công trình

Trong hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán cần tôn trọng những nguyên tắc sau:

+ Vật liệu sử dụng cho việc xây dựng hạng mục công trình nào thì tính trực tiếp cho hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan Trong trường hợp vật liệu được sử dụng cho nhiều công trình thì kế toán phải áp dụng phương pháp phân bổ hợp lý để phân bổ chi phí nguyên vật liệu cho từng công trình

+ Đặc biệt, đến cuối kì hạch toán hoặc khi công trình đã hoàn thành thì cần phải tiến hành kiểm kê các vật liệu chưa sử dụng để tiến hành hạch toán chính xác vật liệu đã sử dụng

+ Điều quan trọng trong xây dựng cơ bản khi tiến hành thực hiện đó là phải

có một hệ thống định mức tiêu hao vật liệu thích hợp, và không ngừng hoàn thiện

hệ thống định mức đó

Phương pháp kế toán tài khoản 621 được thể hiện qua sơ đồ

Tk111,112,331,141 Tk 621

Mua Vt xuất thẳng đến Chân công trình

Trang 16

+) Kế toán nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương , tiền công phải trả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện xây lắp công trình hay hạng mục công trình, kể cả công nhân vận chuyển bốc dỡ không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài Chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm các khoản trích theo tiền lương như BHXH, BHYT,KPCĐ của công nhân trực tiếp xây lắp

Kế toán chi phí nhân công trực tiếp cho hoạt động xây lắp cần tôn trọng các nguyên tắc sau :

- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan đến công trình hạng mục công trình nào thì hạch toán trực tiếp cho hạng mục công trình đó trên cơ

sở các chứng từ gốc Trong trường hợp không tính chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình thì phải áp dụng phân bổ chi phí hợp lý

- Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp được tính vào chí phí sản xuất chung của hoạt dộng xây lắp

Sử dụng tài khoản 622 ( Chi phí nhân công trực tiếp ) để phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất sản phẩm ( bao gồm cả khoản phải trả cho công nhân trực tiếp thuộc doanh nghiệp hay thuê ngoài)

Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp được thể hiện :

+) Kế toán chi phí sử dụng máy thi công

Tiền lương phải trả

CN trực tiếp sx

CN thuê ngoài

kết chuyển chi phí NCTT

Lương phép ngừng sx theo KH

Tk 335

Cp NC vượt trên mức bình thường

TK 632

Tk 334,111,112

Tk 622

Tk 154

Trang 17

Máy thi công là loại máy chạy bằng động lực được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình, các phương tiện này doanh nghiệp có thể tự trang bị hoặc thuê ngoài Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công và chia thành

2 loại : chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời

Chi phí thường xuyên: bao gồm các khoản chi phí được tính thẳng vào giá thành ca máy phát sinh trong quy trình sử dụng xe máy thi công Ví dụ : chi phí về nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công, tiền lương cho công nhân trực tiếp điều khiển máy

Chi phí tạm thời : Đó chính là chi phí cần phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng máy thi công như: Chi phí tháo lắp, vận chuyển, chạy thử máy thi công

Kế toán sử dụng tài khoản 623- chi phí sử dụng máy thi công

Tài khoản này có 6 tài khoản cấp 2:

Kế toán chi phí sử dụng máy thi công cần tôn trọng các nguyên tắc sau : Việc hạch tóan chi phí sử dụng máy thi công còn phụ thuộc vào cách thức tổ chức đội máy thi công của doanh nghiệp Có 2 hình thức quản lý và sử dụng máy thi công : tổ chức đội máy thi công riêng biệt hoặc giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp Nếu doanh nghiệp tổ chức máy thi công riêng thì còn tuỳ thuộc vào đội máy có tổ chức kế toán riêng hay không để hạch toán chi phí sử dụng máy hạch toán phù hợp

*) Trường hợp doanh nghiệp hạch toán chi phí sử dụng máy có đội máy

thi công riêng và hạch toán riêng cho đội máy: trường hợp này máy thi công

thuộc tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tự tổ chức đội, thi công khối lượng xây lắp Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công trong trường hợp này sẽ phản ánh chi phí sử dụng máy phát sinh trong quá trình sử dụng máy thi công

 Tk 6231 : chi phí nhân công

điều khiển máy

 Tk 6238: chi phí bằng tiền khác

Trang 18

Sơ đồ Kế toán chi phí sử dụng máy thi công trong trường hợp tổ chức

máy thi công riêng

*) Trường hợp đơn vị tổ chức thuê máy thi công:

Trong trường hợp này để thuận tiện trong quá trình xây lắp, doanh nghiệp tổ chức thuê máy thi công, lúc này chi phí máy thi công phục vụ cho hạng mục công trình nào thì sẽ được hạch toán vào hạng mục công trình đó

Sơ đồ : Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công trong TH doanh nghiệp thuê máy :

Tk 1133

Tk 3331

Trang 19

Tiền thuê máy thi công p trả K/c chi phí s/d

máy thi công

t/h k xác định kq

Nhận tiền,vt do

ĐV

ĐV khoán ứng trước

Giá khoán

Trang 20

+) Kế toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí liên quan trực tiếp, đến việc tổ chức , phục vụ quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trình xây dựng, có mối quan hệ gián tiếp với các đối tượng xây lắp Bao gồm :lương nhân viên quản lý đội xây dựng,các khoản trích theo lương ( BHYT, BHXH, KPCĐ) của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên quản lý đội-đây là sự khác biệt giữa kế toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp và các doanh nghiệp khác Ngoài ra còn có các khoản khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động của đội và các chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của đội xây lắp

Để hạch toán chi phí sản xuất chung cần tôn trọng các nguyên tắc sau:

Do đặc thù của doanh nghiệp xây lắp nên để tổ chức hạch toán chi phí sản xuất chung cần phải hoạch toán chi tiết từng công trình , hạng mục công trình , đồng thời phải chi tiết theo các điều khoản quy định.Khi thực hiện tính toán kiểm tra tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất chung phải tiền hành quản lý tốt các chi phí

đã giao khoán , từ chối không thanh toán cho các đội nhận khoán số chi phí sản xuất chung ngoài dự toán và bất hợp lý Trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều đối tượng xây lắp khác nhau cần phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng liên quan theo tiêu thức hợp lý

Để hạch toán chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng tài khoản 627-chi phí sản xuất chung

 Tk 6271: Chi phí nhân viên quản lý đội

 Tk 6272: Chi phí vật liệu

 Tk 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất

 Tk 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ

 Tk 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoaì

 Tk 6278: Chi phí bằng tiền khác

Trang 21

Sơ đồ kế tóan chi phí sản xuất chung :

1.3.1.3.Hạch toán chi phí sản xuất theo phương thức khoán gọn:

Trong các doanh nghiệp xây lắp thì hình thức khoán gọn là hình thức phổ biến và hay được áp dụng, cụ thể doanh nghiệp tiến hành khoán các khoản chi phí như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí quản lý đội…cho các đơn vị thực hiện hay các tổ đội Căn cứ để hạch toán chi phí là việc ký kết hợp đồng khoán gọn giữa doanh nghiệp và đội xây dựng Khi hoàn thành công trình phải tiền hành nghiệm thu công trình và thanh lý hợp đồng

Tk152,142

Tk 334,338

Tk 111, 112

Trang 22

Việc hạch toán chi phí sản xuất còn phụ thuộc vào việc tổ chức hạch toán tai đơn vị nhận khoán hay các đội nhận khoán

a) Đặc điểm kế toán tại đơn vị giao khoán :

*) Trường hợp đơn vị nhận khoán không mở sổ kế toán riêng thì doanh nghiệp sẽ tiến hành hạch toán như sơ đồ sau:

*) Nếu đơn vị nhận khoán có tổ chức kế toán riêng thì sẽ tiến hành hạch toán như sau: Kế toán tại đơn vị giao khoán sử dụng Tk 136 để phản ánh toàn bộ giá trị vật tư, tiền cho các đơn vị nhận khoán nội bộ, chi tiết cho từng đơn vị Đồng thời tk này cũng dùng để phản ánh giá trị xây lắp hoàn thành nhận bàn giao của các đơn vị nhận khoán nội bộ

Sơ đồ:

Tk 152,153,111 Tk 141

Tạm ứng vật tư

vốn cho đơn vị nhận khoán

Thu hồi số tạm ứng lớn hơn

hơn giá trị giao khoán

Trang 23

b) Đặc điểm kế toán tại đơn vị nhận khoán :

Tại đơn vị nhận khoán nội bộ nếu không tổ chức bộ máy kế toán riêng thì cần phải mở theo dõi khối lượng xây lắp nhận khoán về cả giá trị nhận khoán và chi phí thực tế theo từng khoản mục

Nếu đơn vị nhận khoán nội bộ có tổ chức bộ máy kế toán riêng sử dụng tài khoản 336 để phản ánh tình hình nhận tạm ứng và quyết toán nội bộ khối lượng xây lắp với đơn vị giao khoán

Tk 1331

Tk 111,112 Thu hồi số tạm ứng lớn

Hơn giá trị giao khoán

Trang 25

Đối với hoạt động kinh doanh xây lắp quy định chỉ áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên , không sử dụng hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ ( Theo QĐ 15/ BTC) do

đó tài khoản 154 dùng để tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp

Tài khoản này được chia thành 4 tài khoán cấp 2:

Tk 1541-xây lắp: Dùng để tập hợp chi phí , tính giá thành sản phẩm

Tk 1542-sản phẩm khác: dùng để tập hợp chi phí , tính giá thành sản xuất sản phẩm khác và phản ánh giá trị sản phẩm khác dở dang cuối kỳ

Tk1543-Dịch vụ: dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành dịch vụ và phản ánh chi phí dịch vụ dở dang cuối kỳ

Tk 1544- Chi phí bảo hành xây lắp: dùng để tập hợp chi phí bảo hành công trình xây dựng xây dựng , lắp đặt thực tế phát sinh trong kỳ và gía trị công trình bảo hành xây lắp còn dở dang cuối kỳ

Kế toán định kỳ sẽ tiến hành tổng hợp chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình và kết chuyển sang tài khoản 154

Việc hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất đựoc mô tả theo sơ đồ:

Trang 26

*) Xác định giá trị sản phẩm xây lắp dở dang:

Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến còn

nằm trong quá trình sản xuất, cuối kỳ các doanh nghiệp cần tiến hành kiểm kê khối

lượng công việc hòan thành và đánh giá sản phẩm dở dang

Đánh giá sản phẩm dở dang là tiến hành tính toán, xác định chi phí sản xuất

đã phát sinh liên quan đến khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành cuối kì hay khối

lượng xây lắp dở dang trong kỳ chưa được chủ đầu tư nghiệm thu,chấp nhận thanh

Trang 27

1.3.2 Tính giá thành sản phẩm xây lắp:

1.3.2.1 Đối tượng , kì tính giá thành của sản phẩm xây lắp:

Đối tượng tính giá thành là những sản phẩm hay bán thành phẩm đòi hỏi phải tính giá thành đơn vị Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp thì đối tượng của

kế toán tính giá thành có thể là công trình, hạng mục công trình, các đơn đặt hàng, các giai đoạn hạng mục Do đó doanh nghiệp cần phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất sản phẩm hàng hoá,sản phẩm cũng như yêu cầu quản lí của doanh nghiệp mà xác định đối tượng và kì tính giá thành thích hợp

Do tính chất đặc thù của doanh nghiệp xây lắp đó là sản xuất mang tính đơn chiếc, mỗi sản phẩm xây lắp đều có dự toán và thiết kế riêng nên đối tượng tính giá thành của doanh nghiệp xây lắp cũng có những đặc điểm riêng Việc xác định đối tượng tính giá thành có một ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó là căn cứ phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm

Đồng thời việc xác định kì tính giá thành thích hợp cũng sẽ giúp cho công tác tổ chức tính giá thành một cách hợp lý, chính xác đảm bảo cung cấp thông tin một cách kịp thời

Trang 28

1.3.2.2.Phương pháp kế toán giá thành sản phẩm xây lắp:

Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số

liệu về chi phí sản xuất để tính tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản

phẩm hoặc lao vụ hoàn thành theo các yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong kỳ

giá thành đã được xác định

Tuỳ theo đặc điểm của đối tượng tính giá thành, mối quan hệ giữa các đối

tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành mà kế toán lựa chọn phương pháp

tính giá thành thích hợp

Các phương pháp tính giá thành hay được áp dụng đó là:

+ Phương pháp giản đơn ( Phương pháp trực tiếp):

Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại

hình doanh nghiệp giản đơn, chu kỳ sản xuất thi công ngắn Trong doanh nghiệp

xây lắp , theo phương pháp này thì giá thành của công trình, hạng mục công trình là

tập hợp các chi phí sản xuất trực tiếp cho hạng mục công trình đó.Trong trường hợp

hạng mục công trình chưa hoàn thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn

giao thì công thức tính giá thành công tác xây lắp hoàn thành bàn giao như sau:

Đây là phương pháp tính giá thành hết sức phổ biến trong các doanh nghiệp

xây lắp, nó có ưu điểm trong việc tính toán đơn giản , thông tin về giá thành được

cung cấp kịp thời phục vụ cho kì báo cáo, đồng thời còn giúp các nhà quản lý kiểm

tra, giám sát các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm

+ Phương pháp tổng cộng chi phí:

Phương pháp này rất thích hợp áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp thi

công cho các công trình lớn, phức tạp, quá trình sản xuất có thể tiến hành qua nhiều

giai đoạn thi công,đồng thời công việc có thể được thực hiện bởi nhiều tổ, đội sản

xuất khác nhau Lúc này, đối tượng tính giá thành là các đội sản xuất hoặc các giai

đoạn thi công còn đối tượng tính giá thành là các công trình, hạng mục công trình

hoàn thành

Z= Dđk + C1+ C2+… +Cn – Dck

Trong đó : Z: Giá thành thực tế của toàn bộ công trình

Giá thành khối lượng

Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ

Trang 29

C1,C2 Cn: Chi phí xây lắp các giai đoạn

Dđk, Dck : Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

*) Sổ sách kế toán áp dụng trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp:

Các doanh nghiệp xây lắp áp dụng hệ thống chứng từ kế toán ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 Bên cạnh những chứng

từ bắt buộc, công ty còn sử dụng nhiều chứng từ hướng dẫn nhằm phục vụ cho công tác quản trị nội bộ và nâng cao công tác hạch toán kế toán

Ví dụ : chứng từ lao động tiền lương : Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền

lương…chứng từ Hàng tồn kho: Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho…

Trang 30

Chương 2: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty

cổ phần Dịch vụ Kĩ thuật Viễn Thông TST

2.1 Tìm hiểu tổng quan về công ty TST

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TST

Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông (TST) tiền thân là Trung tâm KASATY Hà Nội, đơn vị trực thuộc doanh nghiệp nhà nước Xí nghiệp khoa học sản xuất thiết bị thông tin 2, là một đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) Công ty được thành lập theo quyết dịnh số 232/2000/QĐ-TCCB ngày 10/03/2000 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện

Thực hiện theo chủ trương cổ phần hoá của nhà nước, công ty đã được cổ phần hoá từ tháng 03/2000 Với sự phấn đấu không ngừng nghỉ của các cán bộ công nhân viên trong công ty, vào ngày 17/05/2006 công ty đã được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000 được cấp bởi BVQI

Chứng chỉ ISO 9001:2000 là một sự công nhận quốc tế về Hệ thống Tiêu chuẩn Quản lý chất lượng Sự công nhận quốc tế này đã tạo ra động lực thúc đẩy Công ty nâng cao lợi ích kinh doanh bằng cách: tăng hiệu qủa công việc và giảm thiểu sự lãng phí, nâng cao chất lượng và tin cậy sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu khách hàng; nâng cao hiệu suất, năng suất của người lao động

Hiện nay Công ty có tên đầy đủ là : Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông –TST Vốn điều lệ : 50 tỷ VNĐ ( 31,5% vốn Nhà nước )

Trụ sở chính: Số 4A-4B-4C- Vương Thừa Vũ - Quận Thanh Xuân – Hà Nội Điện thoại : 84-4-7366984/ 5 682 241 Fax: 84-4-5 682 240

Email: tsthn@hn.vnn.vn Website: http://www.tst.com.vn

Công ty có các chi nhánh :

+ Xí nghiệp Bảo dưỡng – Đo kiểm : 164 Nguyễn Văn Cừ- Gia Lâm- Hà Nội + Xí nghiệp xây lắp số 1: Số 4A-4B-4C –Vương Thừa Vũ- quận Thanh Xuân- Hà Nội

+ Xí nghiệp lắp đặt thiết bị :Số 4A-4B-4C –Vương Thừa Vũ- quận Thanh Xuân- Hà Nội

Trang 31

Ngoài ra, TST có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên sâu và được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến để có thể đảm đương nhiệm vụ mạng lưới Bưu chính – Viễn thông.Hàng năm , công ty luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công nhân viên

Công ty luôn nghiên cứu đưa ra các dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đặc biệt là hoạt động thiết kế và tư vấn thiết kế có mục tiêu là các công trình xây lắp, lắp đặt thiết bị, các công trình thuộc lĩnh vực kỹ thuật viễn thông có công nghệ cao; cung ứng tất cả các loại vật tư thương mại viễn thông cho các bưu điện tỉnh trên toàn quốc; xây lắp và bảo dưỡng các thiết bị viễn thông cho tất cả các bưu điện nhằm đưa TST trở thành doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật viễn thông

Với phương châm hoạt động của Công ty là: “Chất lượng, Hiệu quả và Tận tình phục vụ”, chất lượng sản phẩm dịch vụ luôn được Công ty chú trọng nhằm tạo dựng uy tín và niềm tin lâu dài đối với khách hàng Chính sách của Công ty là đem

Trang 32

lại chất lượng tốt nhất cho khách hàng thông qua nghiên cứu nhu cầu, khả năng cũng như điều kiện tự nhiên, thiết kế sản phẩm, dịch vụ đạt chất lượng tốt nhất, tiết kiệm nhất, kiểm tra kĩ chất lượng trước khi đưa đến tay khách hàng Các sản phẩm, dịch vụ cung cấp luôn được đảm bảo bằng trách nhiệm và uy tín của cả Công ty Do

đó, trong những năm qua, sản phẩm và dịch vụ của Công ty có chất lượng tốt, đảm bảo uy tín, đáng tin cậy

Năng lực tài chính của công ty có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu về tài sản có, tài sản nợ của đơn vị các năm 2004-2007 ( Đơn vị : triệu đồng )

Trang 33

nhưng Công ty vẫn duy trì được khả năng thanh toán của mình, theo ATPvietnam đây là một dấu hiệu rất khả quan, có được điều này là do Công ty cũng đã sử dụng

một phần nguồn vốn dài hạn đầu tư vào tài sản ngắn hạn, do đó khả năng thanh toán

ngắn hạn của Công ty luôn ở mức đảm bảo

Hệ số nợ/ Tổng tài sản của Công ty duy trì ở mức khá tốt, từ năm 2005 sang năm 2006, hệ số này chỉ tăng nhẹ từ 73,23% lên 74,57% Nguyên nhân là do chi phí phải trả về công trình xây dựng cơ bản trong năm 2006 tăng, đưa hệ số nợ/tổng tài sản tăng lên tương ứng

Hệ số nợ/Vốn chủ sở hữu của Công ty cũng đã giảm một cách đáng kể từ 2,74 lần năm 2005 và 2,93 lần năm 2006 xuống còn 0,89 lần 9 tháng đầu năm 2007 Điều này cho thấy Công ty đang muốn chủ động trong nguồn vốn kinh doanh của mình, tỷ lệ nợ đang ở mức tương đối an toàn cho thấy rủi ro tài chính của Công ty không lớn và cổ phiếu của Công ty cũng mang ít rủi ro

Khi Công ty niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, khả năng huy động vốn của Công ty cao hơn, Công ty có nhiều cơ hội phát huy hiệu quả

sử dụng vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, khai thác thế mạnh của các đòn bẩy tài chính

nhằm tăng hiệu quả kinh doanh cũng là một ý tưởng cho TST

Hệ số lợi Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần (ROS) năm 2008= 13911/167053 = 8,33%, năm 2007 là : 12231/152469= 8,02% tăng hơn so với năm

2007 và ở mức 0,01%

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, có rất nhiều yếu tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty, không ít doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên Công ty vẫn hoạt động tốt, duy trì các chỉ số tài chính ở mức cao và ổn định

Trong năm 2007, Công ty đã thực hiện đầu tư các dự án đã được HĐQT,

ĐHĐCĐ thông qua như: Công ty Cổ phần công nghệ cáp quang; Công ty Vina – LSC, Công ty Cổ phần đầu tư bất động sản Phương Nam, Công ty Cổ phần Huwei – TST Việt Nam , TFP Bên cạnh các dự án trong nước, công ty đã tìm kiếm đối tác

và hợp tác liên doanh với Tập đoàn Huawei – tập đoàn hàng đầu của Trung Quốc, được Chính Phủ Trung Quốc xây dựng thành tập đoàn mũi nhọn – để thành lập Công ty Cổ phần Huawei – TST Việt Nam Công ty này với các hoạt động của mình

Trang 34

2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và bộ máy của công ty

Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty được tổ chức một cách hợp lý phù hợp với tình hình thực tế của công ty Theo mô hình trên thì mỗi bộ phận phòng ban có các chức năng nhiệm vụ cụ thể như sau:

Đại hội đồng cổ đông: Đây là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty,

bao gồm các cổ đông có quỳên biểu quyết Đại hội đồng cổ đông ít nhất mỗi năm họp một lần quyết định các vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển dài hạn của

Trang 35

công ty Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính

Hội đồng quản trị : Số lượng thành viên Hội đồng quản trị ít nhất là 5 người

và nhiều nhất là 11 người Nhiệm kì của hội đồng quản trị là 5 năm Hoạt động kinh doanh và các công việc của công ty sẽ chịu sự quản lý của hoặc chỉ đạo thực hiện của Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là cơ quan có đầy đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh công ty trừ những thẩm quyền thuộc về đại hội cổ đông Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Tổng giám đốc điều hành và các cán bộ quản lý khác

Ban kiểm soát: Số lượng thành viên ban Kiểm soát phải có từ 3 đến 5 thành

viên Trong ban kiểm soát có ít nhất một thành viên có chuyên môn về tài chính kế toán Thành viên này không phải nhân viên trong bộ máy kế toán, tài chính của công ty cũng như nhân viên kiểm toán của công ty kiểm toán độc lập đang thực, hiện báo cáo tài chính của công ty

Tổ chức bộ máy quản lý : Công ty sẽ ban hành một hệ thống quản lý mà theo đó bộ máy quản lý sẽ chịu trách nhiệm và nằm dưới sự lãnh đạo của Hội đồng quản trị Công ty có một Tổng giám đốc điều hành , Phó giám đốc điều hành và Kế toán trưởng do Hội đồng quản trị bổ nhiệm

Tổng giám đốc điều hành : Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm một thành viên

trong Hội đồng hoặc một người khàc làm tổng giám đốc điều hành và sẽ ký hợp đồng quy định mức lương , thù lao lợi ích và các điều khoản liên quan đến việc tuyển dụng Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 5 năm và có thể tái bổ nhiệm Giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, điều lệ của công ty , hợp đồng lao động và quyết định của Hội đồng quản trị

Phó giám đốc điều hành: người giúp việc Tổng giám đốc về các lĩnh vực

và các nhiệm vụ theo sự phân công của tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc và trước pháp luật về quyền và nhiệm vụ được giao

Phòng kinh doanh : có nhiệm vụ xây dựng chiến lược kế hoạch hoạt động

cho công ty, tiến hành theo dõi công tác thực hiện kế hoạch của từng xí nghiệp Đồng thời tiến hành tiếp cận thị trường , khảo sát nhằm tham gia đấu thầu , lập hồ

Trang 36

sơ dự thầu cùng các phòng ban để lập dự toán về chi phí vật liệu, nhân công cho việc thi công các công trình

Phòng kỹ thuật : có trách nhiệm trong việc thiết kế kỹ thuật các công trình,

lập bản kế hoạch kinh tế kỹ thuật cho các công trình hạng mục công trình , cùng với các phòng ban có chức năng tiến hành nghiệm thu công trình

Phòng kế toán thống kê tài chính : Chịu trách nhiệm ghi chép, phản ánh các

nghiệp vụ kinh tế phát sinh , phối hợp với các phòng ban để lập báo cáo tài chính, báo cáo quản trị và cung cấp các thông tin tài chính cần thiết cho các nhà quản lý công ty và các cơ quan chức năng

Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tuyển dụng nhân sự , quản lí và

phân công nhân sự theo yêu cầu của Công ty Xây dựng và quản lý các quỹ tiền lương, thưởng, thực hiện chính sách chế độ đối với người lao động theo đúng quy định của nhà nước

2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty

a) Sản phẩm của công ty, thị trường và đối thủ cạnh tranh

*) Lĩnh vực kinh doanh của công ty

Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103000095 ngày 07/08/2000( lần đầu ) và vào ngày 23/05/2008( Đăng ký thay đổi lần 9) của Sở

Kế hoạch Đầu Tư Hà Nội, công ty có các lĩnh vực kinh sản xuất và kinh doanh chính :

+) Từ năm 1990, với kinh nghiệm của mình công ty đã lắp đặt, sữa chữa, bảo dưỡng, hỗ trợ vận hành các công trình viễn thông, điện, điện tử , tin học Đồng thời, công ty còn tiến hành xây dựng các công trình viễn thông, điện, điện tử, tin học Ngoài ra lĩnh vực nghiên cứu sản xuất , lắp ráp các thiết bị bưu chính, viễn thông, điện tử, tin học cũng là một trong những ngành nghề kinh doanh không thể thiếu của công ty

+) Từ năm 1997, công ty có thêm lĩnh vực tư vấn kỹ thuật, lập các dự án đầu

tư, thiết kế, thẩm định các công trình , chuyển giao kỹ thuật chuyên ngành công nghệ viễn thông, điện tử, tin học Cho thuê các sản phẩm thiết bị viễn thông

+) Từ năm 2000, công ty tiến hành xuất nhập khẩu các thiết bị, vật tư, phụ tùng , linh kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh của công ty Từ năm 2005, công ty

Trang 37

cung cấp và triển khai các giải pháp phần mềm quản lý phục vụ mạng viễn thông và các dịch vụ giá trị gia tăng khác như dịch vụ báo hỏng 119, phần mềm cho các bưu cục, hệ thống call Center dịch vụ chăm sóc khách hàng

Ngoài các ngành nghề sản xuất kinh doanh chính nêu trên, công ty đã không ngừng sáng tạo để có thể tiến hành các lĩnh vực kinh doanh tiềm năng khác,

để nhằm mục đích duy nhất chính là đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất Do đó mà sản phẩm của công ty luôn được khách hàng trong và ngoài nước tin tưởng về cả uy tín lẫn chất lượng

*) Thị trường và đối thủ cạnh tranh

Công ty có rất nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau và đều dành được những thành tựu nhất định Trong phạm vi bài luận văn này , em xin đề cập tới lĩnh vực xây lắp tại công ty Đây là ngành nghề có truyền thống lâu năm tại công ty, từ lúc công ty mới bắt đầu thành lập cho tới bây giờ, chính vì vậy có thể xem đây là sản phẩm truyền thống của công ty Tuy nhiên có thể khẳng định, trong thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới thì đây là một lĩnh vực vừa có nhiều cơ hội lại gặp rất nhiều thách thức

Công nghệ thông tin cơ hội phát triển mới, các doanh nghiệp Việt Nam

mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế; người tiêu dùng Việt Nam có thêm cơ hội

sử dụng các thành tựu phát triển Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin Như vậy, triển vọng phát triển ngành bưu chính viễn thông là rất sáng sủa Cũng đồng nghĩa với việc khả năng phát triển và mở rộng lĩch vực xây lắp tại công ty TST

Tuy nhiên khi Việt Nam gia nhập AFTA, APEC, WTO và hiệp định thương mại Việt Mỹ, thì sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng gay gắt Mặc dù các công ty trong nước có động lực để phát triển khi hòa mình vào môi trường công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, nhưng đối thủ cạnh tranh của họ là các công ty nước ngoài có bề dày kinh nghiệm, công nghệ và tiềm lực tài chính vượt trội Bên cạnh đó, khi thị trường viễn thông trong nước phát triển khiến cho ngày một nhiều các công ty cung cấp dịch vụ viễn thông ra đời Bản thân các công ty trong nước cũng phải không ngừng cạnh tranh lẫn nhau để giữ vững và mở rộng thị trường Đây là một khó khăn, thách thức lớn đối với Công ty

Trang 38

Ngoài ra, đối mặt với sự phát triển nhanh về công nghệ, dịch vụ trên thế giới

và khu vực trong điều kiện chu kỳ thay đổi công nghệ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, điện tử tin học ngày càng ngắn là một sức ép rất lớn, đặt các Công ty hoạt động trong những lĩnh vực này trước nguy cơ tiềm ẩn tụt hậu về công nghệ và giảm khả năng cạnh tranh nếu không có chiến lược tiếp cận một cách linh hoạt Đây là một trong những rủi ro kinh doanh lớn nhất của TST Điều này đòi hỏi công ty phải không ngừng nghiên cứu đổi mới kỹ thuật công nghệ để có thể đủ sức cạnh tranh với các đơn vị cùng ngành khác

b) Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp tại công ty:

Trang 40

Các sản phẩm của công ty mang tính đặc thù cao, đơn chiếc và khác nhau theo từng công trình và hạng mục công trình, sản phẩm của công ty thường được bán trước khi hoàn thành Mặt khác với một quy trình công nghệ phức tạp và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, thời gian tiến hành kéo dài có khi kéo dài đến mấy năm do đó mà công ty cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban trong công ty nhằm quản lý một cách có hiệu quả chi phí cũng như tính giá thành sản phẩm xây lắp trong công ty

Nhân viên phòng kinh doanh nhận được yêu cầu của khách hàng , ví dụ như Công văn yêu cầu của khách hàng, hồ sơ mời thầu , lãnh đạo công ty và phòng kinh doanh sẽ xem xét yêu cầu của khách hàng và đưa ra quyết định là chấp nhận hay từ chối Nếu chấp nhận thì phòng kinh doanh , các đơn vị và khách hàng sẽ xây dựng phương án triển khai, báo giá ( Phần naỳ sẽ đề cập đến nội dung, khối lượng công việc cần thực hiện và những dự toán chi phí sơ lược để trên cơ sở đó tiến hành

kí kết hợp đồng)

Sau khi hợp đồng được kí kết, công ty sẽ giao nhiệm vụ cho các đơn vị thực hiện (Ví dụ như giao nhiệm vụ cho xí nghiệp xây lắp số 1) Sau khi nhận nhiệm vụ, đơn vị thực hiện và phòng kinh doanh tại xí nghiệp sẽ khảo sát và nhận mặt bằng

Sau đó căn cứ vào nhiệm vụ bàn giao mà đơn vị thực hiện, phòng kĩ thuật, phòng kinh doanh và phòng kế toán tại xí nghiệp cùng chịu trách nhiệm lập phương

án, lập dự trù vật tư và nhân lực chuyển lên giám đốc công ty để ký duyệt

Sau khi nhận được bản ký duyệt của giám đốc thì bắt đầu bắt tay vào bước chuẩn bị , đơn vị thực hiện sẽ tiến hành triển khai công việc dưới sự giám sát nội bộ của công ty, công ty sẽ tiến hành các bước cần thiết để có thể quản lý được việc thực hiện quá trình xây lắp của đơn vị có đúng với kế hoạch đề ra hay không Sau khi hoàn thành được khối lượng xây lắp, công ty và khách hàng sẽ tiến hành bàn giao và nghiệm thu công trình Tiếp đó, đơn vị thực hiện , phòng kinh doanh và phòng kế toán sẽ tiến hành lập hồ sơ quyết toán A-B và tập hợp hồ sơ thanh toán nội bộ, đồng thời giữa đơn vị thực hiện và phòng kế toán sẽ tiến hành thanh toán

2.2 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán

2.2.1.Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

Ngày đăng: 18/02/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trong các doanh nghiệp xây lắp thì hình thức khốn gọn là hình thức phổ biến và hay được áp dụng, cụ thể doanh nghiệp tiến hành khốn các khoản chi phí  như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân cơng, chi phí quản lý đội…cho các đơn vị  thực hiện hay các tổ - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
rong các doanh nghiệp xây lắp thì hình thức khốn gọn là hình thức phổ biến và hay được áp dụng, cụ thể doanh nghiệp tiến hành khốn các khoản chi phí như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân cơng, chi phí quản lý đội…cho các đơn vị thực hiện hay các tổ (Trang 21)
Đây là mô hình cơ cấu tổ chức khá đặc biệt nhng phù hợp với hoạt động sản xuất của công ty hiện nay: văn phòng công ty nên tách biệt và trong thực tế  đã có những hoạt động kinh doanh quan trọng đối với công ty - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
y là mô hình cơ cấu tổ chức khá đặc biệt nhng phù hợp với hoạt động sản xuất của công ty hiện nay: văn phòng công ty nên tách biệt và trong thực tế đã có những hoạt động kinh doanh quan trọng đối với công ty (Trang 24)
Nhận xét chung về tình hình kinh doanh của cơng ty thì doanh thu qua các năm  đều  tăng  lên  và  có  những  năm  còn  vượt  kế  hoạch  đề  ra - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
h ận xét chung về tình hình kinh doanh của cơng ty thì doanh thu qua các năm đều tăng lên và có những năm còn vượt kế hoạch đề ra (Trang 32)
 Bảng cân đối kế toán ( mẫu số B01-DN) - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
Bảng c ân đối kế toán ( mẫu số B01-DN) (Trang 46)
Biểu đồ: Màn hình ngồi của phần mềm A&C soft. - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
i ểu đồ: Màn hình ngồi của phần mềm A&C soft (Trang 47)
BẢNG KÊ CHI PHÍ DỊCH VỤ MUA NGỒI -Xí nghiệp xây lắp số1 Tháng 9 năm 2008 - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
nghi ệp xây lắp số1 Tháng 9 năm 2008 (Trang 98)
và các chi phí bằng tiền khác, lập bảng kê để dễ dàng theo dõi và quản lý. - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
v à các chi phí bằng tiền khác, lập bảng kê để dễ dàng theo dõi và quản lý (Trang 98)
Bảng phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho cơng trình S/c cải tạo mạng cáp trung tâm Kim sơn, Ninh Bình 2008: - Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp Xây Lắp Số 1 thuộc Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Kĩ Thuật VIễn Thông TST ppt
Bảng ph ân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho cơng trình S/c cải tạo mạng cáp trung tâm Kim sơn, Ninh Bình 2008: (Trang 99)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w