Trong quá trình được thực tập tại công ty sản xuất kinh doanh đầu tư Việt Hà, em nhận thấy công ty luôn coi trọng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh nhằm quản lý tố
Trang 2
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở lên gay gắt hơn Chính vì vậy doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thị trường đều phải có những chiến lược kinh doanh cụ thể Các chiến lược kinh doanh đều phải xuất phát từ tình hình tiêu thụ của quá trình kinh doanh, là giai đoạn quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy mọi giai đoạn khác của quá trình kinh doanh đều phải phù hợp với nhu cầu tiêu thụ Do đó vấn đề đặt ra cho người quản lý là làm thế nào để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, góp phần tăng nhanh tốc
độ luân chuyển vốn nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung Để trả lời câu hỏi này trước hết nhà quản lý phải xem xét và đánh giá tình hình, khả năng tiêu thụ để tính toán được tốc độ tăng trưởng của đơn vị trên cơ sở nền tảng thông tin do kế toán cung cấp Vì vậy công tác kế toán tiêu thụ giữ vai trò quan trọng trong doanh nghiệp Đây là nguồn dữ liệu trung thực khách quan nhất không thể thiếu được cho việc ra quyết định quản lý nhằm nâng cao doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp Trong quá trình được thực tập tại công ty sản xuất kinh doanh đầu tư Việt Hà,
em nhận thấy công ty luôn coi trọng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh nhằm quản lý tốt hơn tình hình tiêu thụ và tăng tốc độ luân chuyển vốn
để phục vụ cho yêu cầu quản lý nói chung
Xuất phát từ vấn đề lý thuyết và thực tiễn về công tác kế toán tại đơn vị, thấy được vai trò quan trọng của kế toán tiêu thụ trong doanh nghiệp Do vậy em đã
quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hạch toán tiêu thụ thành phầm và xác
định kết quả kinh doanh trong công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà” cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình
Nội dung của bài khóa luận tốt nghiệp của em gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương II: Thực trạng hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ thành phẩm tại công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà
Trang 3
Chương III: Hoàn thiện kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ thành phẩm tại công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Khái quát chung về hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản trong hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
Thành phẩm: là sản phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chế biến cuối
cùng của quy trình công nghệ trong doanh nghiệp, được kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, được nhập kho hay đem đi tiêu thụ hoặc giao trực tiếp cho khách hàng
Tiêu thụ: là việc chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa gắn với phần
lớn lợi ích, rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
Doanh thu: là tổng các giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ
kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
Doanh thu bán hàng là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hóa, sản phẩm cho khách hàng và được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
Doanh thu thuần: là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và các khoản
giảm trừ doanh thu gồm: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế TTĐB, thuế xuất nhập khẩu
Kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa: là các khoản lãi lỗ về tiêu thụ, đó
chính là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng
và chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 4tổ chức tiêu thụ tốt dẫn đến ứ đọng vốn, xí nghiệp không thể tái sản xuất, gây ảnh hưởng đến người lao động, gây tổn thất cho cả nhà sản xuất cũng như xã hội
Đối với doanh nghiệp, tiêu thụ không những thu hồi được toàn bộ chi phí bỏ
ra, mà còn tạo ra lợi nhuận, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đối với nền kinh tế, tiêu thụ tạo ra dòng luân chuyển hàng hóa, dịch vụ thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng do đó điều tiết hoạt động của các ngành, các lĩnh vực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Để thực hiện tốt khâu tiêu thụ, doanh nghiệp có nhiều cách khác nhau như: chú trọng vào marketing đưa sản phẩm ra thị trường, tạo dựng hình ảnh tốt trong tâm trí khách hàng… trong đó kế toán tiêu thụ thành phẩm là một công cụ hữu hiệu
để quản lý thành phẩm trên cả hai mặt giá trị và hiện vật Từ thông tin do kế toán tiêu thụ cung cấp, các nhà quản lý sẽ nắm được các chỉ tiêu lãi lỗ của doanh nghiệp cũng như từng mặt hàng để đưa ra các quyết định phù hợp cho kỳ kinh doanh tiếp theo Bên cạnh đó, thông tin do kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh cung cấp cũng là căn cứ để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước
Trang 5
1.2 Hạch toán giá vốn hàng bán trong các doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Nguyên tắc hạch toán giá vốn hàng bán
Nguyên tắc quan trọng nhất trong hạch toán giá vốn hàng bán là nguyên tắc nhất quán Để tính giá thực tế của thành phẩm xuất kho có rất nhiều phương pháp như: giá thực tế đích danh, giá nhập trước – xuất trước (FIFO), nhập sau – xuất trước (LIFO)… Mỗi phương pháp sẽ cho ta một kết quả khác nhau và ảnh hưởng khác nhau đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một phương pháp tính giá vốn hàng bán cho phù hợp Trường hợp có sự thay đổi phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính (chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – chuẩn mực chung)
1.2.2 Các phương pháp xác định giá vốn của thành phẩm tiêu thụ
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho có nêu ra 4 phương pháp
để tính giá vốn hàng xuất bán trong kỳ, gồm:
Phương pháp giá thực tế đích danh:
Nội dung: thành phẩm được quản lý theo lô và khi xuất kho lô nào thì tính theo giá thực tế nhập kho đích danh của lô đó
Ưu điểm: độ chính xác cao, công tác tính giá thành phẩm được thực hiện kịp thời
Nhược điểm: tốn nhiều công sức do phải quản lý riêng từng lô thành phẩm Điều kiện áp dụng: phương pháp này được áp dụng đối với những thành phẩm
có giá trị cao, chủng loại mặt hàng ít, dễ phân biệt giữa các mặt hàng
Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO)
Nội dung: Phương pháp này giả thiết rằng thành phẩm nào nhập kho trước sẽ được xuất ra khỏi kho trước, xuất hết số nhập trước thì mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất
Nhược điểm: là chi phí phát sinh hiện hành không phù hợp với doanh thu hiện hành
Điều kiện áp dụng: thích hợp trong điều kiện giá cả ổn định hoặc không có
xu hướng giảm, với những mặt hàng cần tiêu thụ nhanh
Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO)
Trang 6
Phương pháp này ngược với phương pháp FIFO, thành phẩm nào nhập sau
cùng sẽ được xuất trước tiên
Như vậy, tính giá vốn thành phẩm xuất kho theo phương pháp này đảm bảo
nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí
Nhược điểm: thu nhập thuần của doanh nghiệp sẽ giảm trong điều kiện lạm phát
và lượng tồn kho có thể bị đánh giá giảm trên bảng cân đối kế toán
Điều kiện áp dụng: thích hợp trong điều kiện giá cả tăng lên, làm giảm các
khoản thuế thu nhập phải nộp
Phương pháp giá bình quân
Theo phương pháp này, giá trị của từng loại sản phẩm xuất kho được tính theo
giá trung bình của từng loại sản phẩm đó là tồn đầu kỳ và nhập kho trong kỳ
Phương pháp tính giá bình quân của thành phẩm xuất kho có công thức tính như
sau:
Trong phương pháp bình quân gia quyền có 3 phương pháp cụ thể tính giá vốn hàng
xuất bán trong kỳ:
+ Phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ:
Theo phương pháp này, giá vốn hàng bán được xác định theo công thức sau:
Ưu điểm: giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết thành phẩm, khối lượng tính
toán giảm
Nhược điểm: công tác tính toán giá vốn hàng bán trong kỳ chỉ được thực
hiện vào cuối kỳ kế toán nên thông tin kế toán có thể bị chậm
+ Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập:
Số lượng của TP tồn kho đầu kỳ
Giá thực tế của TP nhập kho trong kỳ
Số lượng TP nhập kho trong kỳ
Đơn giá bình quân
Trang 7
Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập kho thành phẩm kế toán phải
xác định lại giá bình quân cho mỗi loại để lấy đó làm căn cứ tính giá xuất kho cho
mỗi lô hàng xuất kho đó
Ưu điểm: giá thành phẩm xuất kho kịp thời
Nhược điểm: làm cho công việc tăng nhiều lần
Điều kiện áp dụng: phương pháp này áp dụng cho doanh nghiệp có ít chủng
loại thành phẩm và tần suất nhập kho, xuất kho trong kỳ không nhiều
+ Phương pháp bình quân cuối kỳ trước: Theo phương pháp này, giá thành
phẩm xuất kho được tính dựa trên giá trị thực tế và khối lượng tồn kho ở cuối kỳ kế
toán trước:
Ưu điểm: giảm nhẹ khối lượng công việc kế toán vì giá đơn vị thành phẩm i đã
có từ kỳ trước
Nhược điểm: giá thành phẩm i xuất bán phụ thuộc vào giá đơn vị kỳ trước Điều
này là không hay vì giá cả thị trường luôn biến động không ngừng
Phương pháp giá hạch toán
Phương pháp này doanh nghiệp sẽ sử dụng một đơn giá hạch toán cho việc hạch
toán các nghiệp vụ xuất hàng Giá hạch toán có thể là giá thành kế hoạch hoặc giá
thành sản phẩm bình quân tháng trước Cuối tháng khi tính được giá thực tế thành
phẩm nhập kho, kế toán phải xác định hệ số giá thành để tính ra giá thành phẩm
Giá thực tế của TP tồn cuối kỳ trước
Số lượng của TP tồn kỳ trước
Số lượng của
TP tồn trước lần nhập (n)
Giá thực tế của TP nhập trong lần nhập (n)
Số lượng của TP nhập trong lần nhập
+
+
=
Trang 8
Giá thực tế TP xuất kho = Hệ số giá TP x Giá hạch toán TP trong kỳ
Trong đó:
1.2.3 Tài khoản và chứng từ kế toán sử dụng
Tài khoản kế toán:
Để hạch toán giá vốn hàng bán trong kỳ, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
+ Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán” dùng để phản ánh giá trị của thành phẩm,
hàng hóa cung cấp trong kỳ
+ Các tài khoản phản ánh hàng tồn kho: TK 155, TK 156, TK 157
+ Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”
+ Tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” đối với doanh nghiệp áp dụng phương
pháp KKĐK để hạch toán hàng tồn kho
Chứng từ sử dụng:
+ Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
+ Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý
1.2.4 Phương pháp hạch toán giá vốn hàng bán trong các doanh nghiệp sản
xuất
1.2.4.1 Hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh
thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập – xuất – tồn kho vật tư, sản phẩm
trên sổ kế toán Tài khoản hàng tồn kho được sử dụng để phản ánh số hiện có, tình
hình biến động tăng giảm của vật tư, sản phẩm
Hệ số
giá TP
Giá thực tế TP tồn kho đầu kỳ và nhập kho trong kỳ
Giá hạch toán TP tồn kho đầu kỳ và nhập kho trong kỳ
=
Trang 9
Sơ đồ 1.1: Kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp KKĐK
1.2.4.2 Hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Phương pháp KKĐK là phương pháp căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế thành
phẩm xuất bán trên sổ sách kế toán và từ đó tính ra giá vốn hàng bán trong kỳ
Trị giá TP xuất kho bán
K/c giá vốn hàng bán
Trang 10
Sơ đồ 1.2: Kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp KKĐK
1.3 Hạch toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
1.3.1 Điều kiện ghi nhận doanh thu theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 quy định chỉ ghi nhận doanh thu bán sản phẩm hàng hóa khi thõa mãn đồng thời 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã được chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
- Xác định chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Xác định thời điểm ghi nhận doanh thu là vấn đề quan trọng nhất trong kế toán doanh thu Điều này ảnh hưởng đến tính đúng kỳ của doanh thu và là cơ sở xác định chính xác lợi nhuận trong kỳ Đặc biệt đối với hàng xuất khẩu việc ghi nhận doanh thu còn chịu sự chi phối của những thông lệ thương mại mà hợp đồng ngoại thương đã ký kết
+ Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi
+ Chứng từ thanh toán: Phiếu thu, Giấy báo có của Ngân hàng…
Tài khoản hạch toán:
+ TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán Tài
Trang 11
khoản này chỉ dùng phản ánh doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa đã bán được xác định là tiêu thụ trong kỳ, không phân biệt doanh thu tiền hay sẽ thu tiền + TK 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ” dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội bộ của doanh nghiệp Tài khoản này chỉ sử dụng cho các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cùng một công ty, một tập đoàn
+ TK 33311 “Thuế GTGT đầu ra phải nộp” dùng để phản ánh số thuế GTGT của hàng hóa đã bán ra trong kỳ của doanh nghiệp
+ Ngoài ra còn sử dụng một số tài khoản như: TK 111, TK 112, TK 131…
1.3.3 Phương pháp hạch toán tiêu thụ thành phẩm
Khi thành phẩm được xác định tiêu thụ thì kế toán ghi nhận doanh thu trên TK
511, 512 đồng thời phản ánh bút toán ghi nhận giá vốn hàng bán của số hàng đã tiêu thụ Trong phần này, em xin trình bày phương pháp hạch toán doanh thu tiêu thụ trong các doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Đối với các doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, hạch toán các nghiệp vụ về tiêu thụ (phản ánh giá bán, doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu) hoàn toàn tương tự như doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên Chỉ khác ở nghiệp vụ hạch toán giá vốn hàng bán đã trình bày ở mục 1.2.4.2 ở trên
1.3.3.1 Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và không chịu thuế TTĐB
(1) Phương pháp tiêu thụ trực tiếp
Tiêu thụ trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho hay tại các phân xưởng chính của doanh nghiệp Số hàng sau khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và người bán mất quyền sở hữu về số hàng này Người mua thanh toán hay chấp nhận thanh toán số hàng mà người bán đã giao Trình tự hạch toán được khái quát theo sơ đồ sau:
Trang 12Có thể tóm tắt trình tự hạch toán như sau:
K/c doanh thu thuần
DT tiêu thụ hàng hóa chưa thuế
TK 911
Thuế GTGT đầu ra
TK 33311
Trang 13
Sơ đồ 1.4: Hạch toán tiêu thụ theo phương pháp chuyển hàng chờ chấp nhận
(3) Phương thức bán hàng, đại lý, kí gửi
Là phương thức mà bên chủ hàng (bên giao đại lý) xuất hàng giao cho bên nhận đại lý (bên đại lý) để bán Bên đại lý được hưởng thù lao dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá
Bên giao hàng hóa khi xuất hàng hóa chuyển giao cho cơ sở nhận làm đại lý có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng chứng từ như sau:
- Sử dụng hóa đơn GTGT để làm căn cứ thanh toán và kê khai thuế GTGT Theo
đó, ở bên giao đại lý hạch toán giống như trường hợp tiêu thụ trực tiếp
- Sử dụng phiếu xuất hàng gửi bán đại lý kèm lệnh điều động nội bộ Khi đó trình
tự kế toán ở bên giao đại lý như sau:
Tổng giá thanh toán
Xuất TP gửi bán
Giá vốn của số hàng được chấp nhận thanh toán
Trang 14
Sơ đồ 1.5: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức đại lý, ký gửi (bên giao đại lý)
(4) Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm: Theo phương thức này, khi giao hàng
cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ, người mua sẽ thanh
toán lần đầu ngay tại thời điểm mua một phần Số tiền còn lại người mua sẽ trả dần
và chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định Thông thường số tiền trả ở các kỳ bằng nhau,
trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi suất trả chậm
Trình tự hạch toán được khái quát qua sơ đồ sau:
TK 511
TK 154, 155
TK 641
TK 111, 112,131 Doanh thu
Chưa thuế
TK 133
TK 33311
Tổng giá
Thanh toán
Trang 15
Sơ đồ 1.6: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức trả chậm, trả góp
(5) Phương thức tiêu thụ hàng đổi hàng: Là phương thức tiêu thụ trong đó người bán đem sản phẩm, vật tư, hàng hóa của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa của người mua Giá trao đổi là giá bán của vật tư, hàng hóa đó trên thị trường Theo phương thức này, khi xuất bán sản phẩm đem trao đổi, sản phẩm đó được coi là tiêu thụ ngay, kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn ngay sau khi trao đổi
Trình tự hạch toán được khái quát qua sơ đồ sau:
Lãi phải thu KH
Tổng số tiền còn phải thu
TK 515
Trang 16
Sơ đồ 1.7: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức hàng đổi hàng
(6) Phương thức tiêu thụ nội bộ: Là phương thức tiêu thụ giữa đơn vị chính với đơn
vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau Ngoài ra trường hợp doanh nghiệp xuất vật tư, sản phẩm, hàng hóa để sử dụng nội bộ, khuyến mại, quảng cáo, trả lương, thưởng hay phục vụ sản xuất kinh doanh cũng được coi là tiêu thụ nội bộ Trình tự hạch toán được khái quát như sau:
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Giá vốn của hàng xuất kho
Doanh thu
BH
Thuế GTGT đầu ra
Trang 17
Sơ đồ 1.8: Hạch toán tiêu thụ nội bộ trong doanh nghiệp
Riêng đối với nghiệp vụ (1) trên sơ đồ, đồng thời với bút toán đó, kế toán phản ánh thuế GTGT được khấu trừ:
Nợ TK 511, 512 (Doanh thu chưa có thuế GTGT
Xuất trả lương CNV
TK 33311
TK 911
TK 911
Trang 18
1.4.1 Hạch toán chiết khấu thanh toán
Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua do người mua đã thanh toán tiền hàng (sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, lao vụ) trước thời hạn thanh toán đã thỏa thuận (ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết thanh toán việc mua hàng) hoặc vì một lý do ưu đãi khác
Chiết khấu thanh toán được theo dõi chi tiết cho từng khách hàng và từng loại hàng bán
Khoản chiết khấu thanh toán được định khoản như sau:
Nợ TK 635: Tập hợp chiết khấu thanh toán
Có TK 111, 112, 131, 3388
1.4.2 Các tài khoản giảm trừ doanh thu
1.4.2.1 Tài khoản sử dụng
Tài khoản 521 – Chiết khấu thương mại
Tài khoản này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp
đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn theo thõa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế
Tài khoản 531- Hàng bán bị trả lại
Tài khoản này dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hóa, thành phẩm, lao
vụ, dịch vụ, đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: do vị phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất, không đúng chủng loại quy cách Trị giá của số hàng bán bị trả lại bằng số lượng hàng bán trả lại nhân với đơn giá ghi trên hóa đơn khi bán
Tài khoản 531 – Giảm giá hàng bán
Giảm giá hàng bán là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa đơn hay hợp đồng do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời hạn, địa điểm trong hợp đồng, hàng cũ…tức là các lỗi
do chủ quan của người bán
Hạch toán thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu
Khi bán hàng hóa chịu thuế TTĐB hoặc thuế xuất khẩu kế toán ghi nhận giá bán bao gồm cả 2 loại thuế này, sau đó cuối mỗi tháng, xác định tổng số thuế phải nộp và kết chuyển làm giảm doanh thu
Trang 19
- Tài khoản sử dụng:
- TK 3332 “Thuế TTĐB”
- TK 3333 “Thuế xuất khẩu”
1.4.2.2 Phương pháp hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
Phương pháp hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu được khái quát qua sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1.9: Hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
1.5 Các khoản phải thu khách hàng
Hạch toán thanh toán với người mua phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
- Nghiệp vụ thanh toán với người bán phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ khi thời điểm bán hàng và thu tiền không cùng thời điểm
TK 111, 113, 131 TK 521, 531, 532 TK 511,512
K/c các khoản
giảm trừ doanh thu
TK 3332, 3333 Nộp thuế TTĐB,
thuế xuất khẩu
Thuế GTGT tương ứng (nếu có)
TK 33311 CKTM, GGHB
HBBTL trong kỳ
Trang 20
- Phải chi tiết các khoản phải thu, phải trả theo từng người mua, không được phép
bù trừ các phải thu, phải trả giữa các đối tượng khác nhau (trừ khi có thỏa thuận
giữa các đối tượng với doanh nghiệp)
- Phải tổng hợp tình hình thanh toán với người mua theo tính chất nợ phải thu hay
nợ phải trả khi lập báo cáo kế toán
- Đối với khoản phải thu, phải trả người mua có gốc là ngoại tệ thì phải vừa theo dõi
bằng đơn vị ngoại tệ, vừa phải quy đổi thành VNĐ theo tỷ giá hối đoái thích hợp và
điều chỉnh tỷ giá khi lập báo cáo kế toán cuối năm
Phương pháp hạch toán:
Sơ đồ 1.10: Sơ đồ hạch toán các khoản phải thu khách hàng
1.6 Hạch toán xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
1.6.1 Hạch toán doanh thu hoạt động tài chính
+ Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 515 “Doanh thu hoạt động tài chính” được sử dụng để phản ánh toàn
bộ các khoản doanh thu và các khoản ghi giảm doanh thu thuộc hoạt động tài chính
TK 511, 711
TK 515, 3387
521, 532, 635
Doanh thu bán hàng
Trang 21
được coi là thực hiện trong kỳ, không phân biệt các khoản đó thực tế đã thu hay sẽ thu trong kỳ sau Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm các khoản: tiền lãi cho vay, bán trả góp, đầu tư trài phiếu…
+ Phương pháp hạch toán: được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.11: Hạch toán doanh thu hoạt động tài chính
1.6.2 Hạch toán chi phí hoạt động tài chính
+ Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 635 “Chi phí hoạt động tài chính” được sử dụng để phản ánh các khoản chi phí hoạt động tài chính, gồm: chi phí đi vay, chi phí trả lãi do mua hàng trả chậm, lỗ do thu hồi chứng khoản, lỗ do chuyển đổi ngoại tệ
Thu hồi vốn đầu tư có lãi K/c cuối kỳ
TK 121, 221,
223, 228
Trang 22+ TK 641 “Chi phí bán hàng” dùng phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong kỳ
kế toán liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp như:
chi phí tài chính, chi phí quảng cáo, chi phí đóng gói, vận chuyển…
Hoàn nhập dự phòng
TK 111,112
Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư CK
Trang 23
Trình tự hạch toán chi phí bán hàng được khái quát sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.13: Hạch toán chi phí bán hàng
TK 911
CP NV bán hàng, quản lý
Ghi giảm chi phí
K/c xđkqkd
TK 3331
TK 911
Trang 24
1.6.4 Hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp
1.6.4.1 Tài khoản sử dụng
+ TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp” dùng để phản ánh những khoản chi phí
liên quan chung đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp như chi phí nhân viên
quản lý, chi phí khấu hao TSCĐ dùng trong quản lý, thuế đất…
Ghi giảm chi phí
K/c xđkqkd
TK 911
TK 352
Hoàn nhập
dự phòng Hoàn nhập dự phòng phải trả
Trang 25
Sơ đồ 1.14: Hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp
1.6.5 Hạch toán xác định kết quả kinh doanh
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở tổng hợp tất
cả kết quả của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Theo đó kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ tổng hợp kết quả kinh doanh của hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính
Cách xác định kết quả kinh doanh:
Kết quả kinh doanh = Doanh thu thuần về tiêu thụ TP + DTTC - CPTC - GVHB - CPBH - CPQLDN
Doanh thu thuần về tiêu thụ TP = Tổng DTBH - CKTM - GVHB - DTHBBTL - Thuế TTĐB, xuất khẩu, GTGT theo phương pháp trực tiếp
Tài khoản sử dụng:
+ Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”
+ Tài khoản 421 “Lợi nhuận chưa phân phối”
Phương pháp hạch toán:
Trang 26
Sơ đồ 1.15: Hạch toán xác định kết quả kinh doanh
1.7.1 Tổ chức hệ thống sổ kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
1.7.1 Nhiệm vụ tổ chức hạch toán quá trình tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ thành phẩm
- Xây dựng quy tắc, chính sách kế toán cho việc ghi chép nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm
- Tổ chức hợp lý quy trình, thủ tục cho nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán chi tiết và tổng hợp các quy trình kế toán chi tiết và tổng hợp cho nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
Trang 27
- Cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về tình hình tiêu thụ cho nhà quản trị doanh nghiệp, và cho việc lập các báo cáo kế toán định kỳ cũng như việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ tại đơn vị
1.7.2 Các hình thức ghi sổ kế toán
Mỗi doanh nghiệp tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác tổ chức kế toán sẽ áp dụng hình thức ghi sổ kế toán khác nhau Có các hình thức ghi sổ kế toán như sau:
- Hình thức Nhật ký – Sổ cái
- Hình thức Chứng từ ghi sổ
- Hình thức Nhật ký chung
- Hình thức Nhật Ký – Chứng từ
Trang 28Trải qua hơn 40 năm trưởng thành và phát triển, công ty sản xuất kinh doanh
và đầu tư Việt Hà đã và đang là một trong những lá cờ đầu của ngành giải khát Quá trình hình thành và phát triển của công ty sản xuất kinh doanh và đầu tư Việt Hà có thể tóm lược qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1:
Trên cơ sở trang thiết bị nhà xưởng của hợp tác xã Ba Nhất, tháng 6 năm
1966 Nhà nước đã quyết định cho chuyển hình thức sở hữu toàn dân theo quyết định 1379/QĐ - TCCQ của Uỷ ban hành chính Thành phố Hà Nội và được mang tên xí nghiệp nước chấm trực thuộc Sở Công Nghiệp Thành phố Hà Nội Sản phẩm của xí nghiệp là nước chấm và giấm, các sản phẩm đều sản xuất theo chỉ tiêu, kế hoạch pháp lệnh, giao nộp để phân phối theo chế độ tem phiếu
Sau khi có nghị quyết đại hội Đảng V các xí nghiệp được quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, xí nghiệp nước chấm đã chuyển sản xuất một mặt hàng truyền thống sang đa dạng hoá sản phẩm Từ mặt hàng chính
là nước chấm, dấm, xí nghiệp đã chế thử thành công và đưa vào sản xuất các sản phẩm khác: rượu chanh, mì sợi, kẹo bánh các loại Được phép của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội, ngày 4/5/1982 xí nghiệp nước chấm đổi tên thành Công ty thực phẩm Hà Nội theo quyết định số 1625/QĐUB
Giai đoạn 2:
Trang 29
Thời kì từ năm 1987 đến năm 1993, có những thay đổi trong chính sách vĩ
mô của Nhà nước Theo quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 đã xác lập và khẳng định quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đây nhà máy đã hoàn toàn tự chủ, được quyền huy động mọi nguồn vốn và chủ động xác định phương án sản xuất kinh doanh Một nhu cầu bức bách đặt ra đối với Công ty
là phải chuyển hướng sản xuất kinh doanh cho phù hợp Công ty nhanh chóng mở hướng xuất khẩu sang thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu dưới hình thức mua bán
và trao đổi hàng hoá Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Công ty sang thị trường là kẹo bọc đường và nước chấm
Cuối năm 1989, tình hình kinh tế chính trị của các nước Đông Âu và Liên
Xô cũ đang lâm vào khủng hoảng Công ty mất đi thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình và đứng trước tình thế hết sức khó khăn Cuối giai đoạn này, nhà máy hầu như không sản xuất và chờ giải thể Đứng trước tình hình đó ban lãnh đạo nhà máy đề ra mục tiêu là: đổi mới công nghệ, đầu tư chiều sâu, tìm phương hướng sản xuất sản phẩm có giá trị cao, liên doanh, liên kết trong và ngoài nước Được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành có liên quan, nhà máy đã quyết định đưa và sản xuất bia Đây là hướng đi dựa trên các nghiên cứu về thị trường, nguồn vốn, phương hướng lựa chọn
kỹ thuật và công nghệ Nhà máy đã mạnh dạn vay vốn đầu tư mua thiết bị sản xuất bia hiện đại của Đan Mạch để sản xuất bia lon Halida với số vốn:
+Vay ngân hàng đầu tư: 28.438 triệu đồng
+Vay ngân hàng nông nghiệp: 5.800 triệu đồng
+Vay tổ chức Siđa: 1.578 triệu đồng
Với số vốn trên, Công ty đã nhập một dây chuyên mini với công suất 3.000.000 lít/1 năm
Sau một thời gian chạy thử dây chuyền sản xuất bia lon mang nhãn hiệu Halida xuất hiện trên thị trường Việt Nam Trong quá trình sản xuất Công ty phối hợp với trung tâm nghiên cứu thực nghiệm của Liên hiệp thực phẩm vi sinh để sản xuất nước ngọt Vinacola trên dây chuyền lon để tận dụng nguyên vật liệu và công suất dây chuyền
Trang 30
Với dây chuyền sản xuất bia lon hiện đại sản phẩm bia lon Halida, tháng 6 năm 1992 nhà máy đổi tên thành nhà máy bia Việt Hà, theo quyết định số 1224/QĐUB của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội Từ đây sản phẩm của nhà máy bia Việt Hà được người tiêu dùng ưa chuộng và được nhiều giải thưởng lớn trong nước và quốc tế Tháng 2/1993 bia Halida được tổ chức quản lý chất lượng Liên hiệp Anh tặng cúp bạc về chất lượng Carlberg nổi tiếng của Đan Mạch (1/4/1993) Tháng 10/1993 liên doanh chính thức đi vào hoạt động với tên gọi “Nhà máy bia Đông Nam Á” phần góp vốn của nhà máy bia Việt Hà là: 72,67 tỉ đồng, chiếm 40% tổng số vốn liên doanh
Giai đoạn 3:
Ngày 2/11/1994 nhà máy bia Việt Hà đổi tên thành công ty bia Việt Hà với sản phẩm chủ yếu là bia hơi chất lượng cao Ngoài ra công ty còn đầu tư vào dây chuyền sản xuất nước khoáng OPAL Hiện nay sản phẩm này còn đang thử nghiệm
và xâm nhập vào thị trường
Năm 1998, theo quyết định số 35/98/QĐUB ngày 15/9/1998 của UBND thành phố Hà Nội chủ trương cổ phần hoá DN nhà nước, công ty đã tiến hành cổ phần hoá phân xưởng sản xuất bia số 57 Quỳnh Lôi thành công ty cổ phần Công ty bia Việt Hà giữ số cổ phiếu chi phối 20% Như vậy công ty bia Việt Hà là công ty
có nhiều mô hình sản xuất: sản xuất, kinh doanh đầu tư và dịch vụ
Trang 31
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của công ty, công ty luôn có được tốc
độ phát triển là 10-15%/năm Để có được kết quả đó là sự cố gắng nỗ lực của toàn
bộ cán bộ công nhân viên cùng ban lãnh đạo
Sau đây là số liệu thống kê 1 số chỉ tiêu chính về tình hình kinh doanh của Công ty trong 3 năm vừa qua:
Đơn vị : nghìn đồng
Các chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Doanh thu 143.114.332 157.425.766 181.039.631 Các khoản giảm trừ doanh
thu
11.765.037 12.941.541 14.882.772
Doanh thu thuần 131.349.295 144.484.225 166.156.859 Giá vốn hàng bán 94.291.493 103.720.642 119.278.738 Lợi nhuận gộp 37.057.802 40.763.583 46.878.121 Doanh thu tài chính 36.750.584 40.425.643 46.489.489 Chi phí tài chính 6.558.855 7.214.741 8.296.952 Chi phí bán hàng 31.142.261 34.256.487 39.394.960 Chi phí QLDN 11.695.871 12.865.458 14.795.276 Lợi nhuận thuần từ hoạt động
sản xuất kinh doanh
24.411.399 26.852.540 30.880.422
Lợi nhuận khác 1.683.960 1.852.356 2.130.209 Chi phí khác 1.222.962 1.345.258 1.547.046 Lợi nhuận khác 460.998 507.098 583.162
Trang 32Bảng 01: Một số các chỉ tiêu kinh tế tài chính của công ty sản xuất kinh doanh và
đầu tư Việt Hà trong giai đoạn năm 2006-2008
2.1.2 Đặc điểm quy trình sản xuất
Công ty sản xuất kinh doanh và đầu tư Việt Hà là một công ty sản xuất và công
ty gồm có các nhà máy sản xuất :
+ Nhà máy bia Việt Hà tại số 254 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội
+ Nhà máy nước khoáng tinh khiết Opal tại Nam Định
Các nhà máy sản xuất có nhiệm vụ quyết định tới kết quả sản xuất kinh doanh cũng như thành tích của công ty
2.1.2.1 Quy trình công nghệ sản xuất bia tại công ty Việt Hà
Là một quy trình sản xuất liên tục, trải qua nhiều công đoạn gồm nhiều bước chế biến khác nhau Đây là một căn cứ quan trọng để xác định đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành
Nguyên liệu chính được sử dụng để nấu bia là: Gạo, hoa Houblon, Malt, đường và nước Cụ thể quy trình sản xuất bia có thể chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn chế biến: Gạo xay nhỏ, trộn với nước nâng nhiệt độ qua
các giai đoạn hồ hoá dịch hoá và tiến tới là đun sôi (nấu) ở nhiệt độ cao trong 1giờ Hỗn hợp Malt và nước cũng phải trải qua giai đoạn như trên Khi trộn lẫn, Malt sẽ dịch hoá các tinh bột của gạo và Malt biến thành đường Malt, dung dịch này sẽ được trải qua một khâu lọc làm trong
Trang 33
Giai đoạn lên men: Dung dịch có độ đường theo quy định, sau khi
được đun sôi và lọc trong sẽ được hạ nhiệt độ và bắt đầu lên men theo công nghệ lên men ngắn ngày (21 ngày) Quá trình lên men được chia thành 2 bước:
+ Bước 1 (lên men chính): Cho men vào dung dịch nước mạch nha, quá trình
này sẽ biến đường thành cồn và khí cácbonic (trong thời gian 7 ngày) Nhiệt độ lên men từ 7 độ tới 10 độ
+ Bước 2 (lên men phụ): Sau khi kết thúc lên men chính thì chuyển sang lên
men phụ nhằm bão hoà cácbonic và ổn định thành phần hoá học của bia, chất men
sẽ lắng lại ở khâu lên men chính Thời gian lên men phụ là 14 ngày, được bảo quản trong nhiệt độ là 2 độ (lúc này bia đã ở dạng thành phẩm)
Giai đoạn chiết bia: Sau khi kết thúc quá trình lên men phụ, bia ở
nhiệt độ 2 độ sẽ được chiết ra bom và bảo quản trong phòng lạnh Thời gian bảo đảm chất lượng của bia hơi là 36 giờ
Trang 35
2.1.2.2 Quy trình công nghệ sản xuất nước Opal
Nước khoáng tinh khiết Opal được sản xuất trên dây chuyền công nghệ theo kiểu chế biến liên tục Nước được khoan hút từ dưới nguồn lên, sau đó được dẫn vào bồn chứa Tại đây sẽ diễn ra quá trình xử lý nước với công nghệ rất phức tạp (sửa dụng phương pháp thẩm thấu ngược vsg ozon) nhằm tách tạp chất, sau đó sửa dụng tia cực tím để tiệt trùng Sau đó nước dẫn vào hệ thống lọc và đảm bảo là tinh khiết Các yếu tố kĩ thuật của nước tinh khiết được bộ phân KSC kiểm tra rất kỹ trước khi cho đóng chai, đóng bình và nhập kho
Bảng 03: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất nước khoáng opal
2.1.3 Đặc điểm bộ máy tổ chức
Nước
Xử lý (làm mềm thanh trùng)
Trang 36
Việc tổ chức sản xuất sản phẩm được tiến hành là hoàn toàn phù hợp với
quy trình công nghệ nêu trên Ở một phân xưởng thì bao gồm các tổ sản xuất chính
và các tổ sản xuất phụ trợ
Các tổ sản xuất chính: là những tổ có liên quan trực tiếp tới việc sản xuất tạo
ra sản phẩm gồm có:
Tổ nấu: có 10 người thực hiện toàn bộ công việc của giai đoạn nấu
Tổ men: có 12 người chia thành các nhóm làm các nhiệm vụ là ủ men lên
men chính lên men phụ
Tổ chiết: có nhiệm vụ chiết bia vào bom, thùng với các kích cỡ khác nhau
Tổ lạnh: có 6 người làm theo ca có nhiệm vụ cung cấp lạnh cho quá trình lên
men và bảo quản bia
Các tổ phụ trợ: là những tổ có liên quan gián tiếp đến việc sản xuất sản
phẩm bia nhưng cũng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, bao gồm:
Tổ lò hơi: có 10 người làm theo ca với nhiệm vụ cung cấp nóng cho quá
trình nấu bia
Tổ điện: có 5 người có nhiệm vụ quản lý và cung cấp điện phục vụ cho sản
xuất và sửa chữa khi có sự cố về điện
Tổ vận chuyển: có 3 người làm nhiệm vụ vận chuyển nguyên liệu thô từ kho
tới phân xưởng phục vục cho sản xuất
Tổ xử lý nước có 5 người có nhiệm vụ xử lý nước sạch phục vụ cho sản xuất
Trang 37
Bảng 04: Sơ đồ bộ máy sản xuất
2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Hiện nay, bộ máy quản lý và sản xuất kinh doanh của công ty Việt Hà được
tổ chức gọn nhẹ theo hình thức trực tuyến dễ điều hành có hiệu lực Gồm có:
Tổng Giám đốc: là người có quyền cao nhất có trách nhiệm quản lý mọi
hoạt động của công ty trên cơ sở thực hiện, chấp hành đúng đắn các chủ trương của Nhà nước
Các phó tổng giám đốc: giúp tổng giám đốc giải quyết các công việc được
phân công có quyền gia lệnh cho các bộ phận mà mình quản lý với quan hệ mang tính chất chỉ huy và phục tùng
Phân xưởng
sx chính
Các tổ sản xuất chính
Các tổ phụ trợ
Tổ nấu Tổ men Tổ chiết Tổ lạnh Tổ lò
hơi
Tổ điện Tổ vận
chuyển
Tổ xử lý nước
Trang 38
Kế toán trưởng: ngoài việc chấp hành sự chỉ đạo của tổng giám đốc còn
được thực hiện một số quyền hạn theo quy định hiện hành của Nhà nước về vấn đề liên quan khi có ý kiến trái ngược với ban giám đốc
Phòng Marketing: Xây dựng kế hoạch và thực hiện các chính sách Marketing
như: Thực hiện công tác quảng cáo sản phẩm Tổ chức nghiên cứu mẫu mã, thiết kế kiểu dáng, bao gói và trang trí bao bị sản phẩm Tổ chức nghiên cứu chiến lược tiếp thị nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Phòng Hành chính: Thực hiện chức năng hành chính quản trị, trợ giúp Tổng
giám đốc điều hành sản xuất, giúp Tổng Giám Đốc và Phó Giám Đốc tiếp khách, sắp xếp nơi làm việc, hội họp, mua sắm, cấp phát văn phòng phẩm, tổ chức nhà ăn tập thể
Phòng Tổ chức: Thực hiện công tác tổ chức xây dựng cơ cấu bộ máy tổ chức,
phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh Xây dựng nội dung phân cấp quản lý nhân viên Đánh giá đề bạt, điều động cán bộ nhân viên Quản lý hồ sơ nhân viên
Trang 39
quản lý tình hình sử dụng lao động Thực hiện công tác đào tạo cán bộ, công tác tiền lương, công tác bảo hộ lao động
Phòng kỹ thuật: Có chức năng nghiên cứu, triển khai đưa tiến bộ khoa học công
nghệ vào sản xuất Xây dựng quy trình an toàn lao động Sử dụng các thiết bị kiểm tra, lập kế hoạch tu sửa, bảo dưỡng máy móc, trang thiết bị
Tổng hợp các sáng kiến, nghiên cứu sản phẩm mới, khắc phục nhược điểm về phẩm chất của sản phẩm
Phòng KSC: Kiểm tra chất lượng, nghiệm thu sản phẩm Kiểm tra giám sát
công nghệ và quá trình sản xuất trên dây chuyền Kiểm tra vật tư, nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất Tham gia nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm
Phòng Kế hoạch vật tư: Giúp Giám đốc Công ty chỉ đạo trong công tác kế
hoạch, thống kê và các hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác cung ứng vật tư, thiết bị, quản lý việc sử dụng có hiệu quả vật tư, thiết bị trong toàn Công ty
Phòng Tài chính kế toán: Là đơn vị tham mưu, giúp Giám đốc về quản lý tài chính
và tổ chức công tác hạch toán kế toán của toàn Công ty
Trang 40
Bảng 05: Sơ đồ bộ máy quản lý
2.1.5 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà
kế toántrưởng
Phó TGĐ sản xuất
Phó TGĐ
tổ chức hành chính
Phòng Hành chính
Phòng Tổ chức
Nhà máy bia Việt Hà
Phòng bán hàng
Phòng marketting
Nhà máy nước Opal