Hiện nơy, trong trường cơo đẳng sự phạm, VIN từ sau nẽm 1975 phần lớn thuộc học phân «VHVN hién dai 2” Chuong trinh déio tao GVTHCS, ngénh Su pharm Ngữ văn] và chiếm một thời lượng không
Trang 1KHAI THAC YEU TO NGON NGI TRONG GIANG DAY VAN HOC VIET NAM SAU 1975
lác phẩm văn học Việt Nam (VHVN) sau
1975 được đưa vào ngày còng nhiều hơn
Tuy nhiên, do VHVN giai đoạn này vẫn dang
nằm trong trọng thái «động”, việc nghiên cứu
tìm hiểu chủ yếu dừng lại ở các sự kiện văn học
đến thời điểm kết thúc thế kí XX
1 Hiện nơy, trong trường cơo đẳng sự phạm,
VIN từ sau nẽm 1975 phần lớn thuộc học phân
«VHVN hién dai 2” (Chuong trinh déio tao GVTHCS,
ngénh Su pharm Ngữ văn] và chiếm một thời lượng
không nhiều (1 1/é0 liết, tương ứng với 18,3% thời
_ lượng trong chương trình liên ngành; 22/90 Hết,
ứng với 24,4% thời lượng trong ch nh
đơn ngènh] - dù đây là một nội dung hấp
không kém phần quan trọng Hon ne dey et
một phân tương đối khó; vì vậy, nếu chỉ với một thời
lượng hẹn chế, sinh viên (SV] khó có thể tiếp cộn với
cỏ một giai đoạn văn học phitc tap, dang trong
trọng thái biến động không ngừng Do đó, việc ty
học, lự nghiên cứu đối với họ sẽ là vô cùng cồn thiết
dưới sự hướng dẫn của giỏng viên
Ngôn ngữ là một trong những phương diện
thể hiện rõ sự phát triển đột biến của văn học gioi
đoạn nờy, góp phần tạo ra một gương mặt mới
khóc trước trong văn học - đặc biệt trong lĩnh vực
văn xuôi Khai thác yếu lố ngôn ngữ văn xuôi trong
giảng dạy VHVN sau 1975 là một cách thức giúp
SV tiếp cộn sâu hơn với một giai đoạn văn học
vẫn đang vươn mình trong quó trình phút triển
2 Mẫt nhà văn có có tính đều ý thức mình
như một «nghệ sĩ ngôn từ” Gắn liên với tình thần
dân chủ, cởi mở sau 1975, đặc biệt từ sau Đại
hội lần thứ VI của Dang, những fìm lồi thể nghiệm
lrên trang viết của các nha van lam cho kho tang
ngôn ngữ và khả năng biểu đạt của liếng Việt
dat được nhiều thành tựu Không còn những rào
cỏn «mực thước”, «quan phương”, «nhà văn và
công chúng chấp nhộn cới cao có lẩn cói thấp
hèn, cái thónh thiện lẫn cái đê hiện, cói hùng lẫn
Ts: chương trình của các cấp học, số lượng
OQ ThS NGUYEN THI THUY HANG*
cdi hài, cái bị như những chất liệu có quyển bình đẳng trong sự xử lí nghệ thuệt” Văn xuôi
sou 1975, đặc biệt là ngôn ngữ được giỏi phóng
khỏi «sự phân biệt đẳng cốp sang - hèn”, liến lới
sự dân chủ hoá Khảo sót ngôn ngữ văn xuôi
trong quá trình giảng dạy văn học sou 1975, chúng tôi định hướng cho SV nghiên cứu những
khía cạnh nổi bật sau đây:
2.1 Ngôn ngữ «phi thành kính*, «phi diễm lạ”
Đó là hiện hượng dòng chảy ngôn ngữ tự nhiên tràn vào kúc phẩm với hàng loạt các thủ pháp nói mỉa, nói ngược, chơi chữ, phản cú pháp
«xích lại với ngôn ngữ hàng ngày” Khổu ngỡ và thứ ngôn ngữ trần trụi đôi khi rở thành dụng ý
nghệ thuột Sự «sudng sd” nay giống như lời đối
thoại cùng cói trang nghiêm thành kính, những định nghĩa mới giễu cọt những định nghĩa, những khái niệm cũ mòn: « Yêu đương là một việc hay Mặt khác tôi cũng dụng tâm thứ xem khi người la hôn nhau, hoi chóp mũi có cộp vào nhau dau
diéng hay khong “ (Vườn yêu - V6 Thi Hao); «Tai
vì đây là thứ tinh yéu chdng có hôn hít gì cả, chi
có tinh yêu với Đức Thánh Trần mới như thế chứ
(Aưa - Nguyễn Huy Thiệp]; «Anh ta dong déng cao, mặt mũi nhợt nhạt, thiếu đường nét có thể đâm thủng một lâm hồn dễ xúc động nhất bằng
ấn tượng” (Dịch quỷ sứ - Tạ Duy Anh], «Chị đẹp, sang trong và thùa thấi, áo quần, mỡ phần, không
gian và thời gian” (Vũ điệu của cới bộ - Nguyễn
Quang Thôn]; «Phố xớ, cuộc sống phố xó ồn ào đến tắt thở và giả dối để kiếm lời (Mười hơi
cửa bể - Lý Biên Cương)
Đối thoại với thứ ngôn ngữ hoa mĩ, óng mượt, cảm hứng phê phan trong van xudi sau 1975 cho phép sự phóng túng của ngôn ngữ bụi băm, thậm chí tục tằn Ngôn ngữ tục không xuốt hiện với mục dich tụ từ mà với mục dích lột tẩy bài trừ cái xốu, cái gid, cal phi li vẫn tổn lại đầy rẫy
* Trưởng Đại học Hùng Yưoag - Phú Thọ
Tap chi Glao due so 189 ta ¡ - s/2oos)
Trang 2trong hiện thực Trong văn xuôi giai đoạn này,
ngôn ngữ thông tục không còn lò xa lạ
Ngôn ngữ «phi thành kính”, «phi trang
nghiêm” đi liên với kiểu ngôn ngữ coi thường cú
phóp, đặc biệt dễ thấy trong kúc phẩm của những
côy bút trẻ (Phạm Thị Hoời, Phan Thị Vàng Anh,
Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Huy
Thiệp ) Ví dụ: kiểu ngôn ngữ mô tỏ dòng ý
thức miên mơn, xộc xệch trong cú phóp, giống
như những dòng chảy không ngừng, không định
trước trong dòng đời hối hả: «Con cdi vào là hết
ôi chao ôi thằng chó con của mẹ lại binh ra cả
đây rồi êu êu con mực lại đi đâu rồi, hôm nay
lại đi tưới rồi khốn khổ thân con đây ôi xôi me
xin lỗi con nhé để mẹ chùi" (Một chiều xa thành
phố - Lê Minh Khuê]; ngôn ngữ giỏn lược lối đa,
biểu thị nhịp sống gốp góp, hối hả, hỗn tạp,
không coi trong cdi gi: «Vd Ia một đứa léo khéo
thích đội mũ phớt kéo vĩ cầm xuất thân giáo sư
cả bế lẫn mẹ” (Man Nương - Phạm Thị Hoài];
«Cấn cầm dao mài soàn soạt vào miếng da bò,
lầm bẩm: Hôm noy cắt được chục cới đầu thị
hay” (Không có vua - Nguyễn Huy Thiệp)
Góp phần tạo nên ngôn ngữ phi thành kính,
phi nghiêm trang trong văn xuôi sau 1975 là lối
so sónh liên hưởng «lạt ngang hóc hiểm” Nghệ
thuệt nòy la đã gốp ở côy bút bộc thầy Vũ Trọng
Phụng Sự so sónh liên kưởng nòy không phải lam
rõ sự giống nhau giữ hai đối tượng mò nhằm
nêu một cách đánh giá chủ quan nhằm «đóng định”
đối tượng Nó thường xuốt hiện khi nhà văn truy
lim căn nguyên những điều phi Ïí, vạch trần sự giỏ
dối, cười cợt sự cứng nhắc gióo điều: «Nếu chúng
cứ sống như ông, liệu mặt chúng có nhàu đi như
dim vay rach?” (Chút thoáng Xuân Hương -
Nguyễn Huy Thiệp], «Nó bỏo nó kính trọng học
đường lắm Vò tết cỏ cóc cô gói Irong trường đều
được nó nhã ý tặng riêng kiểu đầu trông như sơ
mạc lầm thon” (Những con búp bê của bà cụ -
Phạm Thị Hoai), «Ba chanh dn dé, trang trong trong
chiếc áo dài bằng xoa trắng, trông bè cổ kính
như một quá khứ đóng tôn thờ.” (Con chó và vụ
l hôn - Dạ Ngôn)
Một điều đóng chú ý của ngồn ngữ văn xuôi
sau 1975 là sự sáng tạo những tổ hợp ngôn ngữ
mới, phục vụ nhu cầu lạo ra những định nghĩa
mới, giúp gọi đúng lên đối tượng, thêm giá trị
hài hước cho chức năng phản ánh hiện thực của
văn học Các cây bứt trẻ tỏ ra sở trường về phương
diện này, đặc biệt là Phạm Thị Hoài Đơn cử một
Tan chi Glao duc so 189 «a1 - 5/2008)
vời ví dụ: «Lòng tôi sao dịu dàng, nếu công cuộc thương mến cỏ thế gian đều dã chịu như lòng
yêu một người bạn như thể này thì tuyệt quá” (Chuyện lão tượng Phật Di Llặc - Phạm Thị Hoài); «Tuổi day thi Ming cũng ưa nhìn, bộ ngực
bả bện, nước da ngồm nêu, hai húng nở căng
cứ hực lên sức sống của xứ sở hoang dợi” (Đất xóm chùa - Đoàn tê] Có thể nói, «văn học hiện đại thể hiện một xu hướng đặc trưng: xích lại với ngôn ngữ hùng ngày, liếp nhộn nhiều yếu
tế khẩu ngữ” (Dao Than) - chính yếu tế này đã kéo gần khoảng cách nhà văn với bạn đọc 2.2 Thành phần phụ mạng tư tưởng chính Nhiều khi người đọc bắt gặp trong văn xuôi
sou 1975 hình thức ngược” này, Ở đó ẩn mội nụ cười hài hước, giễu cọt về một hiện thực đóng buồn
và những «căn bệnh” mà con người mắc phỏi:
- Bệnh sính chữ nghĩa: «Cấn làm nghề cắt tóc
(khi mới quen Sinh anh nói làm nghề dịch vụJ” (Không có vua - Nguyễn Huy Thiệp]
- Thói quen hô khẩu hiệu, lấp liếm, bao che:
«Kẻ nèo xâm phạm lài sản lập thể, kẻ đó sẽ bị trừng trị that nghiêm khắc - Ông định nói «xử fi
nội bộ” theo thói quen nhưng may kìm được”
- Mốt sinh ngoại: «Trông thấy trước lương loi
của đàn bò, ông giám đốc đã làm luận chứng kinh tế xin vay vài H đồng để xây dựng Cônthiboxukha (Aở ngoặc: Công ï thịt bò khô xuất khẩu) để đón sự phát triển râm rộ của đèn bò nay mdf" (Người chăn bò thần thánh - Võ Thị Hảo]
- Bệnh coi thường luột phép, dôn hí thếp: «Rœ
là người đi xe máy, người cẩm lới trong mội khoảnh
khác quay lợi hỏi chuyện người đằng squ (chỉ một
câu thôi], không biết đằng trước mặt lò lù một chiếc
xe ô tô điện (được phép đi ngược chiều] không
kèn không trống liến thẳng kới như ông từ vào dén” (Ngày thường - Dương Phương Vinh)
Tóc giả Phạm Thị Hoài còn có một kiểu đóng
mở ngoặc không giống ơi khiến cho thành phần phụ càng được chú ý: «Ti cùng đám chúng sinh
mở ngoặc giỏi thích là gồm đội bình, lư, chân
đèn, ống nhổ, kiểng đeo cổ, vũ nữ Chèm, ấm
chén, bát địa đóng ngoặc, ở nhà một tay buôn
đồ cổ” (Chuyện lão tượng Phật Di Lac} 2.3 Ngôn ngữ nhiều ngụ ý và những «điển
tích” mới Ngôn ngữ văn xuôi sau 1 975 thể hiện sự dung
ngp rộng rõi những thành phần ngôn ngữ sinh hoạt nhưng vẫn hướng tới tính hẻm súc và nhiều
ngụ ý Đặc điểm này bắt nguồn từ tính đối thoại
Trang 3ngắm, tính đa thanh của văn học, lạo sức mạnh
tối đa cho ngôn ngữ trong chuyển tới thông tin về
đời sống đương đại Ví dụ: «Em đưa cho mẹ
một trong chin cdi gat tan chính quy nằm rồi rác
khắp nơi” (Kiêm di - Phạm Thị Hoài]; «Chị cần
tống khứ ngoy giọt máu được đầu tư vội vã của
nhà kinh doanh trế” (Vũ điệu của cái bô -
Nguyén Quang Than); «Nguoi ta chuẩn bị lòm
lã «khánh thành bò” (Người chăn bò thôn thánh
- V6 Thi Hao); «Mung di tinh nhu di cho, thi thodng
để lợi một đứa con không bố, cai khoản lãi suốt
đó dã kiếm"; «sau bốn năm cầm quyền, bằng
cách nhử mỗi câu cá, sợi dây bảo hiểm của gõ
hoạn lợn đã dòi tận huyện, tôn thành phố, gõ
cóc sợ di nữa”; «Sở lên gáy khắc biết xóm Chùa
hết thời quy ra gạo” (Đất xóm Chia - Đoòn Lê];
«AMột như sườn mậu dịch thời bao cấp” (Tình
yêu ơi ở đâu - Nguyễn Thị Thu Hué)
Thứ ngôn ngữ đo nghĩa, nhiều ngụ ý với vô
số điển tích, điển cố mới chứa đựng dấu ốn sâu
đệm của người hiện đại cho phép người đọc
phát huy cao độ sức liên tưởng và kinh nghiệm
cá nhân vào cảm thụ văn học
Có thể thấy, cùng với sự vận động tích cực
của tư duy văn học, ngôn ngữ ngòy còng sinh
động, linh hoạt và giàu chốt đời thường Sự phút
triển có tính đột biến của ngôn ngữ văn xuôi sou
1975 cũng không phải hoàn toàn không có hiện
tượng cực đoạn, tao ra không ít sự lo ngợi trong
dư luận Chắc chắn rằng, với sự sàng lọc khắc
nghiệt, nghiêm túc của thời gian, văn xuôi [rong
đó có ngôn ngỡ) sẽ đợt được độ chín mới
3 Sự thay đổi trong ngôn ngữ văn xuôi sau
1975 là một vấn đề nổi bật thể hiện những đối thoại sốc sảo so với ngôn ngữ giai đoạn văn học trước đó Đó cũng là những nét vẽ, góp phần đổi mới gương mặt văn xuôi Với định hướng khai
thác yếu lố ngôn ngữ, SV có thêm một cách thức
tiếp cộn với một giơi đoạn văn học còn nhiều Gn
số Tuy nhiên, vì thời lượng trên lớp không nhiều, giỏng viên có thể xử lí theo hướng thu gọn nội
dung hoặc đưa ra những gợi ý cho SV tự nghiên
cứu dưới dạng những bi tập lớn thay cho kiểm tra học phần Tổ chức seminor cũng là một hình thức cần thiết củng cố những nhộn thức của 5V,
giúp họ hiểu đúng, sôu về van dé, phat huy kha
năng độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạt động
tự nghiên cứu của mình L]
Tài liệu tham khảo
1 Vũ Tiến Anh “Những vấn đề của văn học hiện đại qua ba cuộc hội thảo”, Tạp chí Vấn học, số 1/1994
2 Nguyễn Thị Bình Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những đổi mới cơ bản NXB Giáo dục, H, 2007
3 Hoàng Ngọc Hiến “Thời kì văn học vừa qua và xu
thế phát triển”, Chuyên san Văn nghệ, tháng 4/1990
4 Huỳnh Như Phương “Văn xuôi những năm 1980
và vấn đẻ dân chủ hoá nền văn học”, Tạp chí Văn học
thang 4/1991,
5 Nhiều tác giả Giáo trình văn học Việt Nam hiện
dai, tap II, NXB Dai hoc su phạm, 2007
Sir dung tài liệu
(Tiếp theo trang 51)
nhén dan da ndi day dau tranh chéng ché dé
phong kiến Như vậy, từ việc tìm hiểu một công
trình văn hóa - nghệ thuật, HS hiểu rõ hơn giai
dogn LS minh dang hoc va thể hiện Rnh cảm,
thai độ, tư tưởng của mình
4 Việc sử dụng tòi liệu VH để giảng dạy LS
dân tộc phải đảm bảo tính khoa học, chú trọng
đến việc phút huy tính tích cực học tập của HS
Gióo viên phải xác định được những kiến thức
cơ bón để khơi thác những tài liệu chủ yếu phục
vụ cho việc làm rõ những vốn đề L§ mà HS cần
nắm vững, không nên đi vào những chỉ tiết vụn
vặt, làm quá tỏi bài học Ngoài ra, tai liệu LS VH
còn sử dụng trong hoạt động ngoại khóa, kiểm
tra, đánh giá Không những thế, những yêu cầu
sử dụng tài liệu VH trong dọy học L§ dân lộc cũng
có thể vận dụng một cách phù hợp đối với các
khóo trình LS thé gidi O
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Như Ý (chủ biên) Từ điển Tiếng Việt
NXB Văn hoá Thông tin H 1999
2 Luật Giáo dục NXB Chính trị quốc gia H 2005
3 Nguyễn Hữu Chí - Lê Ngọc Thu Thiết bị dạy học dưới góc độ đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới
việc đạy học lịch sử “Lấy học sinh làm trung tâm” NXB Đại học quốc gia Hà Nội 1996
4 Bảo tàng tổng hợp Thừa Thiên - Huế Di tích lịch
sử văn hóa Thừa - Thiên Huế NXB Thuận Hóa 2002
5 Phan Khanh Bảo tàng - Di tích - Lễ hội NXB
Thông tin H 1992
6, Phan Ngọc Liên (chủ biên) Phương pháp dạy học
Lịch sử Tap I, Il NXB Đại học sư phạm H 2002
7.Văn học dân gian Bình - Trị - Thiên Về chống Pháp,
Thất thủ Kinh Đô, Thất thủ Thuận An NXB Thuận Hóa 1983
Tạp chí Biáo tlục số ]B9' œ ï - s/2oos)