1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo khoa học: Bạch Vân Quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm docx

5 749 5
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bạch vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả Lê Thị Hương
Trường học Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 232,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỐ 6 NGHIÊN CỨU NGỮ VĂN 2008 BACH VAN QUOC NGU THI TAP CUA NGUYEN BiNH KHIEM VOI NGHE THUAT SU DUNG NGON NGU VAN HOC DAN GIAN Trong kho tàng văn học Việt Nam, thành ngữ, tục ngữ, ca

Trang 1

SỐ 6

NGHIÊN CỨU NGỮ VĂN

2008

BACH VAN QUOC NGU THI TAP CUA NGUYEN BiNH KHIEM

VOI NGHE THUAT SU DUNG NGON NGU

VAN HOC DAN GIAN

Trong kho tàng văn học Việt

Nam, thành ngữ, tục ngữ, ca dao là

những viên ngọc quý, luôn giữ vai

trò quan trong trong việc hình thành

va phat trién tiếng nói dân tộc, phản

ánh những nhu câu của nhân din, biéu

hiện những nhận thức, suy tư của

nhân dân trong cuộc đầu tranh chế

ngự thiên nhiên, đấu tranh xã hội và

xây dựng đất nước Về mặt ngôn ngữ,

thành ngữ, tục ngữ, ca dao đóng vai

trò cực kì quan trọng Đó là nơi lưu

giữ tiếng nói cha ông Dưới những

hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian,

ngôn ngữ dân tộc ngày càng được trau

dôi Và đặc biệt, đó chính là nguồn

mạch ngầm trong mát, là không khí

nuôi dưỡng mọi hôn thơ dân tộc Không

một văn nhân nào bước tới được lâu

văn, nêu không được nuôi dưỡng,

được hít thở không khí, được tông

những giọt trong trẻo từ mạch ngâm

đó Đương nhiên Trạng Trình quộc

công Nguyễn Binh Khiêm không

phải là một ngoại lệ

Văn học dân gian ảnh hưởng

đến thơ Nguyễn Binh Khiêm từ thành

ngữ, tục ngữ, ca dao nhưng chủ yêu

từ nguồn tục ngữ Tục ngữ là những

câu nói ngắn gọn, thiên về lí trí, nhằm

nêu lên những nhận xét khái quát

những bài học trường đời sẽ phù

hợp với thơ triết lí thế sự của Nguyễn

LÊ THỊ HƯƠNG”

Binh Khiêm hơn là ca dao, bởi vì ca

dao là thơ trữ tình, thiên về tình cảm, nhằm phô diễn nội tâm con người Ca

dao là những câu hát tâm tình, còn tục ngữ là những tri thức về tự nhiên, xã hội, những phương châm ứng xử giữa

con người với con người, những kinh nghiệm sông, đạo lí dân tộc Đó chính

là nguôn tư liệu phong phú để rang

Trình khai thác, sử dụng Từ nguôn văn

hoá dân gian đó, Nguyên Binh Khiêm

đã viết lên những đòng thơ ngắn gọn,

hàm súc, phản ánh cách íng xử của con

người trong xã hội đầy rầy những

điều giả dối, bắt trac 6 thé ki XVI

Trong một xã hội mà “ở triểu

đình thì dành nhau cái danh, ở chợ

búa thì tranh nhau cái lợi” (Bi ki quan Trung Tân), Nguyễn Binh Khiém da phat hién ra nhiều biểu hiện của cái

xâu, cái ác đang lan quat ở mỗi con

người, ở mỗi hành vi, chang han thói

thực dụng trong mối quan hệ giữa

Con người với con người, người ta

đến với nhau để cầu danh, câu lợi,

đâu phải vì tình cảm:

“Tién dòng, bạc chảy tưng bừng dén, Nhà khó, tay không linh linh đi”

(Bài 110)

Trường cao đẳng sư phạm Hà Nội.

Trang 2

Câu thơ được Trạng Trình lấy

hình ảnh nguyên mẫu từ thành ngữ

tiên dòng bạc chảy chỉ nơi giàu có,

quyền quý Bởi quan hệ giữa con người

ở đây không xuất phát từ tình nghĩa

nên họ đối với nhau luôn giả dỗi, bằng

mặt chăng bằng lòng mà thành ngữ

đã nói tới, mượn ý ây, Nguyễn Binh

Khiêm rút ra: “Người ta băng mặt

chẳng bằng lòng” (Bài 136); “Bạn dù

hay mặt chang hay long” (Bai 111)

Từ những câu thành ngữ, tục

_ ngữ: “Miệng thơn thới, dạ ớt ngâm”,

“Miệng nam mô, bụng bô dao gdm”,

“Lưỡi không xương nhiễu đường lắt

léo” chỉ những loại người độc ác nhưng

luôn được che đậy bởi cái ngọt ngào

nơi đầu lưỡi, những kẻ xảo trá có thể

dễ dàng đổi trắng thay đen, Nguyễn

Binh Khiêm đã vận dụng để chỉ ra

những biểu hiện của những thói tệ

ấy bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau:

“Miệng noi sau lung như dao nửa,

Lưỡi đưa trước mặt giống kim chi”

(Bài 110)

“Lưỡi thể ngẫm xem mềm tựa lạt,

Miệng người toan lại sắc như chong”

(Bài 136)

Sách Luận ngữ của Không tử

đã khái quát: “Xảo ngôn lệnh sắc,

tiễn hỹ nhân” (ở đời người nào nói

khéo và bề ngoài lúc nào cũng làm

ra vẻ dịu dàng, cung kính thì người

ấy ít có lòng nhân) Ý kiến có phần

cực đoan nhưng đã thực sự vạch trân

kiểu “xảo ngôn”, sống theo thuật “tình

thế” của những kẻ xảo quyệt Vừa tiếp

thu Nho giáo, vừa ảnh hưởng của văn

học dân gian cùng với một khả năng

khái quát trong nhận thức và suy ngẫm,

Nguyễn Binh Khiêm đã đưa ra những

kết luận nhiều khi là những chân lí

về cuộc đời mà không một ai phủ nhận

Bằng cái nhìn sắc sảo của một triết

gia, Nguyễn Binh Khiêm phát hiện ra

cái hợm hĩnh có trong mỗi con người,

đó là việc mượn sức mạnh của kẻ khác

để loè người và bịp người, từ hình

ảnh trong dân gian “Cáo mượn oai hùm rung nhát khí”, Trạng Trình viết:

“Cáo mượn oai hùm mà nát chúng,

Ruôi nương đuôi kí luồng khoe người”

(Bài 98)

“Nào lọ thời cơ đội lỗt beo"

(Bai 104)

Những hành động ấy vốn không

dé thấy, không dễ phát hiện bởi nó

đạt đến độ tinh vi, xảo quyệt

Xã hội Việt Nam thế ki XVI, đồng tiền đã bắt đầu ngự trị trên lương tâm nên sự lừa lọc, gian trả của con người là không tránh khỏi

Từ sự quan sát thực tiễn, Nguyễn Binh Khiêm chỉ ra điều đó: “Lận thế treo đê bán thịt chó” (Bài 133) 7reo

dê bán chó là hình ảnh lẫy từ thành

ngữ dân gian chỉ việc nói một đẳng làm một nẻo của những kẻ chuyên lừa bịp, chuyên làm điều gian dối Đạo lí của nhân dân ta khẳng định giá trị của con người hơn hẳn của cải: “Người sống đồng vàng”,

“Một mặt người bằng mười mặt của `

(Tục ngữ) nhưng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi đã “cân đong”

cán cân lại lệch về bên của:

“Người của lấy cân ta thử nhắc, Mới hay rằng của nặng hơn người”

(Bài 80)

Trong tục ngữ ta bắt gặp cặp hình

ảnh Mật - Ruỗi với quan hệ “A⁄4f

ngọt chết ruôi” Con kiến cũng là hình ảnh quen thuộc trong văn học

dân gian, nó là hiện thân của kiếp

người nhỏ bé, nghèo hẻn với cuộc

Trang 3

sống bể tắc và luẫn quản: “Con kiến

mà leo cành đa - Leo phải cành cụt -

keo ra leo vào ” (Ca dao) Tho Nguyén

Binh Khiêm cũng nói về thế sự thông

qua những hình ảnh mật, mỡ, ruôi,

kiến Nhưng khác văn học dân gian,

nếu văn học dân gian xây dựng hình

tượng trên cơ sở những liên tưởng

cụ thể, gần gũi với sự ' vật, hiện tượng

quen thuộc thì Nguyễn Binh Khiêm

trên cơ sở những hình ảnh này đã nâng

lên thành hình tượng theo những liên

tưởng giá trị để chỉ thói đời với những

môi quan hệ đạo đức suy thoái trong

xã hội Phải đến Trạng Trình thì những

hình ảnh kiến, ruồi, thớt, ang, mật

mỡ mới có sức ám ảnh nghệ thuật

ghê gớm, chúng cứ trở đi trở lại trong

thơ ông, có đến tám bài thơ chứa

những hình ảnh này, mỗi bài có một

cách diễn đạt mới, khai thác một khía

cạnh mới mà chỗ nào cũng thẩm thía:

“Ang thịt mỡ bùi ruôi đến đỗ,

Bát bô hòn đẳng kiến bỏ chi”

(Bài46)

“Kiến thác bởi ang bùi mật ngọt,

Rudi qua vì bát đẳng cay”

(Bài 62)

“Mat ngot ruôi vào ruôi đắm đuối"

(Bài 67)

“Miệng người tựa một mùi càng ngỌf `

(Bài 65)

Hình ảnh lặp lại nhưng ý tứ thì

không lặp Bạch Vân cư sĩ đã xây

dựng nên những hình tượng nghệ

thuật mới trên nên tảng truyền thông

từ chương cổ Với cách diễn đạt mới

lạ như vậy, ông đã dựng lên những

hình tượng để chỉ thói đời, dựng lên

bức tranh thời đại này bằng những

vật liệu đơn giản và gần gũi Nguyễn

Binh Khiêm đã khai thác thật linh

hoạt những hình tượng cụ thể từ trong

văn học dân gian nhờ đó mà biểu hiện được một cách đậm nét, sắc sảo hiện

thực xã hội thời ông

Với vị trí của một phu tử, trước mọi biểu hiện của thói đời xấu xa, người thầy chốn sông Tuyết đã hết lòng khuyên răn người đời hãy biết

sông trong sạch, trọng lẽ phải: "Ở

lầm nào có nhiễm mùi lâm" (Bài 121),

hãy nhường nhịn nhau:

“Người hơn ta thiệt thì dầu vậy, Ddy thang day ching chẳng đít đâu”

(Bài 64)

“Người dữ thì ta miễn có lành"

(Bài 29)

Những câu thơ được rut ra từ

lời day bao 4n can cia co nhan: “Mér

diéu nhin bang chin điều lành”, “Già

néo đứt dây”, “Chồng giận thì vợ bớt lời - Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi

hạt nào” Cha ông luôn khuyên chúng ta phải biết nhường nhịn, hãy nồi rộng vòng tay yêu thương

Tất cả những vốn sống day ngộn, phong phú ây, Trạng Trình tiếp thu

tử suôi nguồn dân gian Song cũng

như các thi nhân xưa, cách tiếp thu

của Nguyễn Binh Khiêm vô cùng uyễn chuyển, linh hoạt Bởi thế, đọc

những câu thơ, bài thơ giầu chất triết

lí giáo huấn nhưng người đọc không

cảm thấy khô khan, nặng nễ mà có

phần ngược lại, rất hấp dẫn Từ túi trí khôn dân gian, thi sĩ am Bạch Vân

đã rút ra được những triết lí có giá

trị khái quát cao nên người đọc đã

dễ nhớ và dễ tiếp thu

Có được những điều đó là nhờ

sự khéo léo vận dụng thành ngữ, tục

ngữ của thi sĩ Bạch Vân

Khảo sát số bài thơ có sử dụng

thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Đạch

Trang 4

Vân quốc ngữ thi tập, chúng tôi có

số liệu sau: Có 41 trên tông số 177

bài thơ của tập thơ được Nguyễn Binh

Khiêm sử dụng thi liệu từ văn học

dân gian Trong đó:

Bài có sử dụng 5 câu: 1 (bai 120)

Bài có sử dụng 4 câu: 2 (bài 58,

114)

Bài có sử dụng 3 câu: 3 (bài 4ó,

110, 136)

Bài có sử dụng 2 câu: 12 (bài

29, 62, 64, 71, 80, 81, 82, 83, 85,

88, 96, 118, 146)

, Bài có sử dụng | câu: 22 (bài

3, 13, 42, 57, 59, 65, 67, 75, 98, 99,

104, 106, 111, 119, 121, 133, 135,

155, 157, 162, 167, 169)

Khi sử dụng các thi liệu dân gian,

có lúc ông tiếp thu gần như nguyên

vẹn, tưởng chẳng cần gọt rũa gì thêm

(Bai 85, 98) Chang hạn câu thơ: "Người

ba dang, của ba loài" (Bài 85) là câu

từ sách cô và từ lâu đã trở thành tục

ngữ được lưu truyền rộng rãi chỉ một

thực tế: xã hội có nhiều loại người

khác nhau, ứng với mỗi loại người

sẽ có một vị trí dành cho họ Chỗ

ngôi báu, chức trọng phải dành cho

người có tài năng, có tâm huyết: "Tiệc

ngọc còn chờ người quý giá - Mâm

son dành đợi kẻ cao tai" (Bai 85)

Nếu gươm trời, búa nguyệt tượng

trưng cho quyển lực nghiêm minh

của chế độ mà giao nhằm người tất

sẽ dẫn đến hậu hoạ Có rất nhiều câu

thơ thi nhân chỉ thay đổi vài từ trong

thành ngữ, tục ngữ để điễn đạt theo

cách của mình (các bai: 3, 13 59,

69, 75, 82, 96, 99, 114, 133, 136)

Chăng hạn: "Giàu ba bữa, khó hai

niêu" (Bài 3), tục ngữ: "Giàu ba bữa,

khó cũng đỏ lửa hai lần” Đôi khi

ông chỉ thay một vài chữ nhưng làm

cho ý của câu thơ cụ thể hơn rất nhiều

so với câu tục ngữ: "Cờ đến tay ai ai

mới phá " (Bai 75), tục ngữ: “Cờ đến

tay ai người ấy phat”, Ai 1a phiém chỉ Nhưng "ai mới phất" trong thơ

Trạng Trình lại ám chỉ một đối tượng

cụ thể nào đó đang phất lên nhờ tận dụng cơ hội Có khi thi nhân thay

thế một vài từ cho phù hợp với ngữ cảnh: "Gần son thì đỏ mực thì đen” (Bài 69), tục ngữ: “Gần mực thì đen gần đèn thì rạng" hoặc "Nhà đột bởi đâu nhà đột nóc” (Bài 114), tục ngữ:

“Nhà dột từ nóc dột xuôi”, với hàm

ý ở trên mà không nghiêm, không tốt thì sẽ dẫn đến "ngôi nha" sẽ nhanh

ải, mục Chỉ cần mượn ba tiếng "nhà

dột" và "nóc" là lập tức dẫn người đọc vào sự liên tưởng đó - và "cai nóc" của xã hội thời Nguyễn Binh

Khiêm chính là lũ vua quan vừa bat

tài vừa thiếu đức, như vậy thì “căn

nhà xã hội” sụp đỗ là điều không

tránh khỏi "Thế chon von" là tình

thế nguy hiểm ở mức độ cao Đó là lời cảnh báo mà Trạng Trình muốn gửi găm tới tất cả những kẻ có trách nhiệm đương thời

Trong những từ ngữ, hình ảnh Trạng Trình khai thác từ văn học dân gian, chúng tôi chú ý đến những hình ảnh được ông sử dụng từ hai lần trở lên, bởi chắc hắn đó không phải là

sự vô tình, thông qua những tín hiệu

nghệ thuật ây giúp ta hiểu hơn thái

độ của ông trước hiện thực đương thời Có lẽ điều ám ảnh ông nhiều nhất là thói thực dụng của con người

Nguyễn Binh Khiêm mượn các hình

ảnh mật, mỡ, ruôi, kiến từ tục ngữ,

ca dao (được ông nói tới trong 8 bài

thơ: các bài: 29, 46, 58, 62, 65, 67,

71, 88) để chỉ ra những biêu hiện của chúng Sự giả dối của người đời làm Trạng Trình nhức nhối tâm can, điều

đó được ông diễn đạt qua các hình ảnh miệng người như dao nứa, như

Trang 5

chông mác, lưỡi mêm tựa lại, tựa

kim chỉ (trong các bài: 110, 136) và

sự bằng mặt chăng bằng lòng (các

bài 126, 111, 169), chính là sự mâu

thuẫn giữa cái bề ngoài thơn thớt với

cái bên trong nham hiểm của thế gian

Chỉ ra các thói xấu ấy, một mặt Trạng

Trình đã phơi bày đúng hiện trạng

thời ông sông, mặt khác là lời cảnh

báo của ông với con người rằng:

“Gần son thì đỏ, mực thì đen” (Bài

69); “Đỏ thì son đỏ, mực thì đen”

(Bài 13) Nhưng con người hoàn toàn

có thê chủ động giữ gìn nhân cách

mình, qua hình ảnh loài sen Nguyễn

Bỉnh Khiêm đã khẳng định được điều

đó: “Ở lầm nào có lệ chỉ lầm” (Bài

121); “Sen kia nao có lệ chỉ: lam” (Bai

135) Trang Trinh da gửi gam cả ước

vọng và niềm tin đối với con người

vào những lời khuyên răn như thê

“Nguyễn Binh Khiêm đã tận dụng

nguồn ngữ liệu dồi dào, quý báu của

nhân dân từ trong văn học dân gian

để diễn đạt một cách giản dị, chân

thành và sâu sắc những suy ngẫm

của mỉnh về nhân tình thế thái, để

nêu lên những bài học đạo lí nhằm

giáo dục người đời

Ảnh hưởng của văn học dân gian

đến thơ Trạng Trình không chỉ về

mặt nội dung mà cả về hình thức nghệ

thuật Lối ngắt nhịp chắc khỏe, gieo

vần lưng, tạo ra những cụm tử cân

đối, đối nhau về thanh điệu và từ loại

ngay trong một câu của tục ngữ

được Nguyễn Binh Khiêm vận dụng

sáng tạo Bởi vậy, thơ ông gần gũi,

dễ thuộc, dễ hiêu đối với đông đảo

tầng lớp nhân dân và thơ Trạng Trình

đã neo lại bền vững trong lòng người

đọc cũng bởi những lí do đó

“Ta có thê đơn cử một sô câu thơ như:

“Giàu chĩnh chén/ khé lai rai”

(Bai 2)

“Giầu sang/ người đến đăm chiêu,

Ban tién/ ai ké trong yêu”

(Bai 63)

“Nguoi hang thit/ nguyt nguoi hang cd,

Duta ban bo/ rém dita ban trdu”

(Bai 120)

Nguồn trị thức từ văn học dân

gian còn đem lại cho thơ Nguyễn

Binh Khiêm một phong vị dân tộc

đậm đà, một tính chất bình dị, dân

đã và sự hàm súc cô đọng

Văn học dân gian quả là dòng

sữa ngọt ngào, là mạch nguôn trong trẻo đê nuôi dưỡng những tâm hôn dân tộc Những nhà thơ lớn của dân tộc đã biết chất lọc, khơi gợi, có khi chỉ bằng một từ, một hình ảnh, có lúc là cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách nói ngăn gọn, giàu hình ảnh, đôi khi nhà thơ chỉ cân khai thác cải ý tiềm ấn của thành ngữ, tục ngữ, ca đao đưa vào thơ, làm câu thơ ấy bỗng

có một sức sông lâu bên, lắp lánh một

thứ ánh sáng âm áp, thân quen và ý

thơ tuôn mãi không ngừng Có lúc

chúng ta tự hỏi, không biết các nhà thơ chịu ảnh hưởng từ văn học dân gian hay văn học dân gian chịu ảnh

hưởng từ những nhà thơ? Có lẽ từ

cả hai phía Đó là sự băt gặp điệu kì

của những tâm hôn dân tộc, thê hệ

này tiêp nôi thê hệ khác làm thành

dòng chảy liên tục cho muôn đời

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Thơ văn Nguyễn Bình Khiêm, Táp 1, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Bửi Văn Nguyên phiên âm - chủ thích - giới

thiệu, Nxb GD, H., 1989

2 Đào Thản, Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Binh Khiêm, 7 Ngôn ngữ, Số 1, 1986

3 Trân Thị Băng Thanh, Vũ Thanh tuyển chọn, giới thiệu, Nguyễn Binh Khiêm - về tác gia, tác phẩm, Nxb G7,

H, 2001

4 Lã Nhâm Thìn, Thơ Nôm Đường

luat, Nxb GD, H., 1997

Ngày đăng: 18/02/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w