1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo khoa học: Ngày tết trong thơ trào phúng Việt Nam doc

7 490 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngày tết trong thơ trào phúng Việt Nam doc
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2008
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 438,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thái Thuận, tự Nghĩa Hòa, đậu Tiến sĩ năm 1475, Phó nguyên súy Sái phu hội Tao Đàn thì cười mình ở giữa đất Kinh đô mà nhà quan vắng vẻ như nhà chùa, lòng phụ tiếng cuốc quê nhà, để rồi

Trang 1

V_Á N H

ếu như mùa thu

thường gợi nỗi

buồn thời gian,

nỗi nhớ thương những điều

không trở lại, nghĩa là luôn

gợi thuần túy nỗi buồn, với

nhà nho, mùa thu còn gợi

su khé héo, do chtt thu () có

bộ hỏa ( ), thì mùa xuân

không đơn điệu như vậy

Mùa xuân (ở đây chủ yếu

nói về thời điểm đầu xuân,

ngày Tết luôn tạo nên hai

trạng thái cảm xúc trái

1 ngược, thậm chí có thể dẫn

đến triệt tiêu nhau Một

mặt là niềm vui háo hức

đón năm mới, tâm trạng

say mê chờ đợi, hy vọng

những gì tốt đẹp đang ở

phía trước, với nhà nho,

mùa xuân còn gợi ánh sáng,

sự sống, sự ấm nóng, do chữ

xuân () có bộ nhật () Mặt

khác, nó còn là nỗi buồn, có

thể chỉ thoáng qua tùy

thuộc vào tuổi tác cảnh ngộ

nhưng chắc chắn trong đời

người nó càng ngày càng là

nỗi buồn thấm thía khi trớ

trêu thay mùa xuân đầy

sức sống lại nhắc nhở người

ta về cái dốc bên kia cuộc

đời Với những trạng huống

ấy, thời điểm đầu xuân,

ngày Tết càng dễ khiến

cảnh ngộ bộc lộ, hối thúc

con người xúc cảm, suy tư

Trong thời trung đại, thơ

trữ tình về

chiếm số lượng lớn, gần

ngang với thơ về mùa thu,

song thơ xuân trào phúng

thì không nhiều Tt

khoảng giữa thế kỷ XIX trở

về trước, các nhà nho chủ

yếu mỉm cười nhẹ nhàng

VHNT se zs+

Tháng 2 - 2008

C

mùa xuân

TRẦN THỊ HOA LÊ

Neay tet

PRONG THO TRÌUPHÍM vbr MAM

Trong tho ca cổ phương

Bông nói chung, thơ Việt

Nam thừi trung đại núi

riêng, hai mùa xuân - thu

có tần số xuất hién cao hon hai mia con lại Biểu

nay mang tính quy luật xét

về mặt cảm xúc sáng tạ0

nghệ thuật cũng như tâm

lý tự nhiên của con người

Đầu xuân và cudi thu trong

chu kỷ thời gian một năm, trong chu kỷ một doi sinh vật, một đời người là hai

thời điểm đặc biệt nhạy

cảm Khi hậu, phong cảnh

thiên nhiên cùng những

biến đổi của sự sống vào

hai thời điểm này dễ khiến

người ta rung động, suy tư,

chiêm nghiệm D0 vậy, mùa xuân và mùa thu có

sự tác động và được phản ánh khác biệt dễ thấy

nếu có hứng thú làm một bài thơ trào phúng nhân dịp xuân về Tết đến Tiếng cười đó phần lớn là tự trào,

tự vui với cảnh ngộ riêng Nguyễn Như Đổ, tự Mạnh

An, hiệu Khiêm Trai, đậu Bảng nhãn năm 1442, làm quan trải tâm đời vua Lê,

từng giữ các chức vụ cao

như Tế tửu Quốc Tử Giám, Thượng thư bộ Lễ, Thượng thư bộ Lại, ba lần đi sứ Trung Quốc, cũng là một nhà thơ rất dí đỏm Ông có

bài tho cha Han Xuân

nhật tức sự thể hiện nụ cười tự trào dễ mến của một ông già khao khát sắc xuân

cuộc đời: “Liêu loạn anh hoa tam nguyệt xuân/ Du quan đa thị thiếu niên nhân| Bạch đầu tự tiếu dung đài lão Diệc sách bi

nô đạp nhuyễn trần” (Chim oanh và hoa ríu rít tiết tháng ba mùa xuân/ Rất nhiều bạn trẻ đi chơi xuân vui vẻ/ Nực cười cho ta thuộc hàng ngũ ông già đầu bạc/ Mà cũng cưỡi ngựa gầy xông vào chốn bụi hồng) Thái Thuận, tự Nghĩa Hòa, đậu Tiến sĩ năm 1475, Phó nguyên súy Sái phu hội Tao Đàn thì cười mình ở giữa đất Kinh đô mà nhà quan vắng vẻ như nhà chùa, lòng phụ tiếng cuốc quê nhà, để rồi kết thúc bài bát cú bằng hai câu thơ tự giễu cảnh làm quan thanh đạm mà lại mắc nghiện rượu của bản thân: “Thé noa do vi hiém năng ổn/ Thời biện nang trung mới tửu tiên” (Vợ con vốn chưa nề rầy rà gì về

Trang 2

tính mình hay chè chén/

Lại thường dành sẵn trong

túi ít tiến mua rượu)

(Tràng An xuân mộ) Cho

đến hai nhà thơ đánh dấu

hai chặng đường thở trào

phúng chữ Hán thời trung

đại là Nguyễn Bỉnh Khiêm

và Nguyễn Hành, cảm

hứng ngày xuân vẫn mang

phong vị nụ cười hài hước

riêng tư Nguyễn Binh

Khiêm có bài Xudn đán

cảm tác tự thuật cảnh sớm

đầu năm ông già ngoài bảy

mươi tư về thăm nhà cũ,

trước quang cảnh đổi thay

với căn nhà trống, ông bất

giác tự cười mình lười nhác

việc đời: "Thùy thị thùy phi

hưu thuyết trước! Lão

cuồng tự tiếu thái dụng sơ”

(Ai phải ai trái thôi không

nói làm gì/ Già ngông tự

cười mình lười nhác quá)

Nguyễn Hành viết Tần

niên hý đề bộc lộ con mat

hóm hỉnh của một nhà nho

vốn từng trải cuộc sống

thanh bần trước cái vẻ đặc

biệt “hào hùng” đáng mơ

ước của ngày Tết: “Tần niên

bát cửu nhật! Khí tượng hà

hùng tai!/ Chi hitu cao

bằng tại! Cánh uô trái gia

lai” (Tam chin ngày năm

mới Khí tượng thật hào

hùng/ Chỉ thấy bạn quý đến

thăm/ Không thấy chủ nợ

mo tdi)

Nha thơ tiên phong của

đòng thơ trào phúng nửa

sau thế ký XIX, đầu thế kỷ

XX Nguyễn Khuyến cũng

chưa có nhiều thơ trào

phúng về năm mdi, von ven

5 bài, 3 bài chữ Nôm và 2

bài chữ Hán, cũng vẫn là tiếng cười tự trào hài hước, tuy đã khác các bậc tiền bối

ở xu hướng tiến gần đến ngôn ngữ đời sống Nguyễn Khuyến viết Khai bút để đùa vui chứ không phải để nói đạo lý, giọng điệu cười mang đậm chất dân gian,

thậm chí pha màu sắc tiếu

lâm: “nh ¡ích đêm qua trống các làng! Ai ai ma chẳng rước xuân sang!

Rượu ngon nhấp giọng đưa vai chén/ But moi x6 tay thử một hàng/ Ngoài lũy nhấp nhô cò cụ Tổng! Cách

ao let det phdo thay Nhang! Một năm một tuổi trời cho tới Tuổi tớ trời cho

tớ lạt càng ”

Đến Tú Xương, hứng trào phúng về ngày xuân, ngày Tết mới hình thành rõ rệt Tú Xương có

11 bài thơ cười Tết Sau Tú Xương, có thêm ba nhà thd hứng thú với tiếng cười trong thơ Tết nữa là Tản

Đà 4 bài, Huỳnh Thúc

Kháng 8 bài và Phan Bội

Châu 24 bài

Từ Tú Xương cho tới các

tác giả đầu thế kỷ XX, tiếng

cười trong thơ Tết đã trải qua một biến đổi lớn Nếu như Tú Xương hoàn thiện hơn tiếng cười tự trào của nhà nho truyền thống, đồng thời mang lại chất thành thị cho tiếng cười đó thì Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng hướng tiếng cười ngày Tết vào những vấn để chính trị xã hội Quá trình phát triển của thơ cười Tết như vậy đã đi theo

2 cam

hướng từ cá nhân hóa đến

xã hội hóa, từ tiếng cười có tính riêng tư đến tiếng cười mang tính cộng đồng dân tộc

Trong thơ Tú Xương,

tiếng cười ngày Tết chủ yếu

xoay quanh những câu

chuyện sinh hoạt đời sống của bản thân nhà thơ Người đọc có thể thấy nhà thơ cười cợt cảnh Tết nghèo của mình (4 bài), của cô đầu (2 bà), cười Tết làng thơ (1 bài), cười Tết phố phường (3 bài), cười Tết ngông của

anh tú tài (1 bài), trong đó tiếng cười chế giễu sự thiếu thốn chiếm quá nửa

Thời trung đại Việt Nam

có một mạch thơ Nôm trào lộng sự thiếu hụt vật chất trong quan hệ thù tạc hàng ngày, đặc biệt trong những địp xã giao lễ tết Người Việt Nam trọng lễ nghĩa khi quan niệm '?ời chào cao hơn mâm cổ” song lại cũng nói “có thực mới oực được đạo” Nhiều lúc vật chất có tác dụng quyết định mức độ đậm nhạt thân sơ của mối giao lưu cá nhân, như Trạng Trình từng than thở:

“Con bạc còn tiên còn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông

tôi” Bởi vậy không phải ngẫu nhiên từ thế kỷ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhìn mối quan hệ xã hội đó bằng con mắt hải hước:

“Gượng đến mừng nhau một mặt không! Nhiều thì chẳng có, íL chăng thông/ Hươu nai hãy đợi trên rừng

Bắc! Thu uược còn chờ dưới

bể Đông/ Nam Sách rượu

VHNT sơ 2s+

Tháng 2 - 2008

Trang 3

V_A_N H Oo C¢

*

nồng còn mượn cút/ Ty

Chân quýt ngọt mới đâm

bông/ Cực mong, rắp đợi,

song còn muộn/ Vậy đến

mừng nhau một mặt

không" (Thơ Nôm số 88)

Hai liên thơ giữa, mỗi câu

đều chia hai vế cân xứng Ở

vế một, tác giả liệt kê các

loại sơn hào hải vị bốn

phương (hươu, nai, thu,

Uược, rượu nông Nam Sách,

quýt ngọt Tây Chân),

những thứ có thể giúp

người ta bộc bạch cái sự

“đến mừng nhau” Sang vế

hai, mới vỡ lẽ tất cả những

quý hiếm đó đều chỉ là “cực

mong, rắp đợi”, rốt cục

đành một cái tặc lưỡi trống

không: “Vậy đến mừng

nhau một mặt không"

Đằng sau lời lẽ có vẻ trần

tình về sự thiếu hụt đáng

tiếc chính là nụ cười hài

hước trước những điều

không phù hợp trong đời

sống cũng như quan niệm

của con người Một mặt, lẽ

tự nhiên, con người thích

hưởng thụ, hưởng thụ tỉnh

thần hay vật chất đều là

ước muốn chính đáng

Nhưng mặt khác, thói quen

hưởng thụ vật chất thái

quá nhiều khi lại làm méo

mó nhân cách cá nhân Để

rồi không biết từ bao giờ

hình thành quan niệm quà

cáp lễ lạt Con người đến

với nhau, mừng nhau mà

chỉ mãi lo lắng băn khoăn

về “vật cầm tay”, vô tình đã

làm hụt bớt tấm chân tình

tương ái Sau này Nguyễn

Khuyến phát triển thêm

tiếng cười hài hước của

VENT so 284

Thang 2 - 2008

Nguyén Binh Khiém khi

viết bài thơ Bạn đến choi

nhà Suốt cả bài thơ là lời

“thanh minh” về nỗi không

có gì tiếp bạn mặc đù hình như cái gì cũng đều có Câu thơ kết “Bác đến chơi đây ta uới tœ” ẩn chứa nụ cười chế nhạo cái cách tác giả dai đòng kể lể, cười cái sự “ta”

(tình cảm bạn hữu) không cần “nó” (vật chất lễ lạt) hay là cười sự “ta” đã mất nhiều thời gian loay hoay

với “nó”? Có lẽ là cả hai

Mạch thơ Nôm về nỗi

“thiếu hụt” trong ngày Tết

có lẽ được mở đầu với Nguyễn Công Trứ: “Tết nhất anh ni ai nói nghèo J Nghèo mà lịch sự đố ai theo Bánh chưng chất chật chừng ba chiếc) Rượu thuốc ngâm đây độ nửa siêu ” (Tết nhà nghèo)

Truyền thống người Việt

“đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, chính bởi vậy mà

“bơ ngày Tết" sẽ làm lộ rõ nhất nỗi túng quẫn (vật chất) đồng thời sự giàu có (tỉnh thần) của những nhà nho vốn quanh năm không

dư đật Tiếng cười hài hước cất lên như muốn át đi mọi

lo toan vất và Mặt khác,

“nỗi túng quẫn” được cường điệu lại chính là cách nhà nho “khoe sang”, “khoe” sự thanh bần để đối lập với cái trọc phú Tú Xương thừa kế được mạch thơ cười sự thiếu hụt vật chất trong quan hệ thù tạc nói chung, cười sự nghèo ngày Tết của Ủy Viễn tướng công nói riêng

Khác bậc tiền bối là tiếng

cười của ông Tú Vị Xuyên ngông nghênh hơn nhiều:

“Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo/ Tiên bạc trong kho chủa lĩnh tiêu | Rượu cúc

nhắn đem hàng biếng

quấy! Trà sen mượn hỏi gia con kiéu/ Banh chung sắp gói e nêm chảy/ Giò lụa toan làm sợ nắng thiul Thôi thế thì thôi đành Tết khác! Anh em đừng nghĩ

Tết tôi nghèo" (Cảm Tết)

Sự thiếu hụt vật chất trong hai bài thơ của Nguyễn Bính Khiêm và Nguyễn Khuyến phần lớn

do yếu tố bên ngoài (khách quan) quyết định, thực tế

có mà chưa có vì nếu chờ đợi có thể sẽ có Trong bài Tết nhà nghèo, thực tế vật chất có ít nhưng chủ nhân phóng đại thành thật nhiều Với Tú Xương, cái nghèo hoàn toàn như không thật, thực tế ngày Tết @iên bạc, rượu cúc, trà sen, bánh chưng, giò lụa) đều đầy đủ, chỉ vì chủ nhân chưa chịu có mà thành thiếu thôi, như vậy cái sự thiếu nghèo của ông Tú là

đo ông tự quyết định, ông thích như thế

Còn ngông hơn nữa khi ngày Tết chẳng có gì để đãi khách, ông Tú chế ngay một món “đặc sản”: “Tế: nhất năm nay khéo thật là Í Một mâm mứt rận mới bày

rai Xanh đồng thắng lại

den rung ritc/ Ao dup bò ra báo thực thà | Kẹo chú Triêu Châu đâu đọ được! Bánh

bà Hanh Tụ cũng thua xa/ Sang năm quyết mở ngôi

Trang 4

hàng mứt Lại rưới thêm

ào tí nước hog” (Sắm Tết)

Tại sao lại làm mứt bằng

“tân” mà không làm với

nguyên liệu khác? Đơn giản

có lẽ bởi chỉ người nghèo

mới sẵn “rận” để chế biến

món đó Hai câu thực quả

đã tả thực cái cảnh người

nghèo thường “xử lý” đám

chấy rận nhưng đồng thời

cũng là miêu tả “quy trình”

xào “mứt” Hai câu luận

đẩy sự hài hước thêm một

mức nữa, đem “mứt rận”

sánh vai cùng hai món đặc

san truyén thống vốn là

niềm tự hào của người dân

thành Nam (mặc dù là món

du nhập của người Tàu

nhưng đã được Việt hóa)

Câu kết mới thật cười

thành tiếng khi tác giả cho

người ta “thưởng thức” mùi

nước hoa “rưới” khéo vô tội

vạ, khéo đến mức sẽ làm

“dậy mùi” cái “hương vị”

khó tả của món “mứt rận”

Cùng với tiếng cười tự

trào cảnh Tết nghèo, Tú

Xương đặc biệt có hứng thú

trào lộng trước những sự

nhé nhăng nghịch mắt

trong đời sống ngày Tết

Phần lớn đó là cảm nhận cá

nhân cảm tính, là thái độ

bình phẩm cái trái khoáy

theo chủ quan cua tac gia,

nhiều khi những cảm nhận

đó không có căn cứ rõ rệt,

thậm chí có về vô lý Chẳng

hạn như khi ông Tú giễu

cợt “bàn dân thiên hạ” xôn

xao đón Tết: “Đì đẹt ngoài

sân, tràng pháo chuộtj

Loet lòe trên uách, bức

tranh gà Chí cha chí chát

khua giày đép/ Đen thủi đen thui cũng lượt là”

(Xuân); “Khăn là bác nọ to tày rế/ Váy lĩnh cô bia quét sạch hè Công đúc tu hành

sư có lọng/ Xu hào rủng rình Mán ngôi xe” (Năm mới) Bản thân những

“ràng pháo” “bức tranh”

"giày dép” “lượt là" “khăn

1a” “vdy linh”, “long”, “xe”

vốn không đáng cười Đáng cười là ở con người và tình huống sử dụng những phương tiện đó Ông Tú không nói rõ cho người đọc biết con người và tình huống đáng cười vì lẽ gì mà chỉ mỉa mai, chế nhạo để người đọc tự liên hệ với hoàn cảnh thời đại, ngầm

hiểu cái đáng cười chính là

su mai mê chưng diện, hưởng thụ của những con người thờ ơ với cảnh xuân mất nước Đó là điểm hạn chế, đồng thời cũng còn là thế mạnh của thơ trào phúng so với loại hình văn xuôi trào phúng Thơ trào phúng không thể kể chuyện, trần thuật kỹ lưỡng, tỉ mỉ để người thưởng thức hình dung được tường tận chân dung

hoặc quá trình phát triển

của đối tượng hài Nhưng bằng hệ thống ngôn ngữ tượng hình tượng thanh phong phú (bao gồm từ láy, láy đôi, láy tư, từ so sánh

chỉ mức độ ), tác giả thơ lại có thể mô tả một cách sống động vẻ tức cười của hiện trạng, đông thời lối đối ngẫu Đường luật đã cho phép in chạm lại và nhân

lên những khoảnh khắc đáng cười của nhân thế Tản Đà tiếp tục mạch trào lộng của Nguyễn Công Trứ và Tú Xương về sự thiếu nghèo trong ngày Tết, chỉ với hai bài thơ, song, rất

ấn tượng Ấn tượng ngay từ nhan để Ông Tú cay chua thế vẫn chỉ dừng ở mức Cảm Tết, ông Âm Hiếu chưa chịu, phải Khóc Tết,

mà những hai bài, mà lại

phải là ông đồ “khóc TếP mới thật thấm, thật đã

Ông thứ nhất “khóc” rằng:

“Ngodnh di ngoanh lai, lai

dén Tét!/ Ong dén dé nay

lại thật chết!/ Trời cao đất thấp uợ chưa uề/ Tháng tận

năm cùng gạo cũng hết! Cỗ bàn duy có ba ông Công/

Xu kẽm cũng không một vay hén/ Ma ra luc quan vdn cang hay/ Lai duoc một bài thơ khóc Tết" Tết được hình dung như một “vị khách” đáng sợ không mời mà đến làm cho chủ nhà hớt hơ hớt hải nhìn trước ngó sau cầu cứu Anh

ta cầu từ đời đến đất rồi đến øợ, tất cả đều vô vọng; nhìn từ tháng đến năm rỗi đến gạo, tất cả sạch không, bếp trơ ra ba ông đầu rau, bàn thờ trống huếch Chủ nhân “khóc” mà người ta phải bật cười bởi vẻ luống cuống trông ngược bốn

phương đầy chủ ý của anh

ta, bởi giọng điệu than thở cuồng nhiệt ồn ã Tình cảnh tung quan năm hết Tết đến, vợ đi vắng, gạo hết, tiền hết, bếp lạnh, nhưng bài thơ không gây cảm xúc

VHNT so 284

Thang 2 - 2008 Mi

Trang 5

V_A_N H Oo Cc

+

buén bã xót thương mà

dường như trái lại, khiến

người ta buồn cười Đó là do

hệ thống ngôn từ được xếp

đặt một cách trào lộng tạo

nên trường liên tưởng hài

hước rộng rãi: “Trời - đất -

uợ” xếp bên nhau đối với

"tháng - năm - gạo”, “cỗ

ban” déi véi “xu kém”, “ba

ông Công" đối với “một udy

hến”, tất cả nhào lẫn trong

trạng thái phóng đại quá

mức “cao, thấp, tận, cùng,

duy có, không một”

Ông đổ thứ hai “khóc

Tết" theo kiểu khác, không

lớn tiếng kêu trời cao đất

thấp như bạn mà chú mục

vào những chuyện thiết

thân hơn: “Trời di! đi Tết ơi

la Tét!/ Bac hay con hơn tôi

mới chết!/ Gạo tẻ đong chịu

nếp thời không Áo uợ rách

tan, chồng cũng hết/ Con

theo cạnh nách mếu môi

sò/ Nợ réo ẩm tai cam

miệng hến/ Trời còn để

sống đến trăm năm Lại

mấy mươi bài thơ khóc

Tết" Nỗi khổ cơm áo gạo

tiền thúc ép đường như nhẹ

bớt một phần bởi những

hình ảnh ví von ngô ngộ

“mếu môi sò” “câm miệng

hến”, chúng khiến người ta

bật cười mà chốc lát quên đi

thực tại Cả hai bài thơ

Khóc Tết của Tân Đà đều

kết thúc bằng giọng điệu

hài hước, cái nhìn của tác

giả có vẻ lạc quan, coi

thường cảnh ngộ, đương

đầu với cảnh ngộ bằng con

mắt giễu cợt thách thức

(Mà ra lúc quẫn uốn càng

hay) Hai bài thơ còn gây ấn

„1 VHNT se 2s+

Tháng 2 - 2008

tượng đặc biệt ở cách tác giả chọn và sử dụng thật tài

tình vần tho “é?”, loại tử vận hóc hiểm Bốn chữ gieo vần ở bốn câu 1, 2,

4, 8 tạo thành một vòng tròn định nghĩa về Tết đầy

ý vị hài hước "Tế? - chết -

hết - Tết" Nghịch cảnh của đối tượng được bộc lộ ngay

từ cách chơi chữ gieo vần, Tết - mừng vui // Chết - đau khổ, hai trạng thái trái ngược đó song hành hút đẩy nhau suốt bài thơ tạo nên trường cảm xúc phức

hợp, một nguyên lý phát

sinh tiếng cười trào phúng

Nhưng thơ cười Tết nhằm phúng thích chính trị

xã hội thì phải đến Phan Bội Châu và Huỳnh Thúc Kháng mới thực sự nở rộ

Huỳnh Thúc Kháng làm thơ cười Tết trước tiên bởi ông muốn bày tỏ nỗi cảm thán trước tình cảnh muôn thuở của người nghèo mỗi khi xuân về Tết đến mà bản thân ông đang được chứng

kiến: “Xớ rớ năm hết/ Lại thấy ngày Tết! Ngày Tết là ngày gì?! Khắp cả mọi người lo chạy mệt / Pháo

nổ uang nhà / Liễn treo đẩy ng6/ Chén rượu chào xuân/ Thiếp danh mừng thọ/ Già trẻ lớn bé tha hồ chung/ Nao nức uài ngày, xuân đi khi nào khéng ai hay! Chỉ lưa cái đời sống chua va cay” (Tết) Bài thơ được làm theo lối câu hát dân gian (hát ví, hát dặm?), câu thơ vần thơ không hạn

định, phù hợp với sự thể hiện cái nhìn phá vỡ quan

vốn thuộc

niệm về một phong tục truyền thống Không còn thấy niềm vui đón xuân, không có cảm xúc thiêng liêng chờ năm mới, với tác giả, ngày Tết chỉ còn là những lễ nghi phù phiếm làm con người ta chết mệt Câu hỏi đơn giản “Ngày Tết

là ngày gi?” mà gói ghém nỗi suy tư lớn về ý nghĩa của truyền thống, phong tục đối với cuộc sống hiện

tại Bài thơ có 15 câu, 14 câu đầu diễn tả cảnh "náo nức" “uang nhà" “day ngõ”

“chao xuân” “mừng thọ”, chỉ một câu cuối cùng kéo tất

cả về lại “đời sống” hàng ngày “chưa uà cay” Một câu mà dựng nên được cả một cảnh huống trái ngược với Tết, làm mờ đi mọi náo nức của Tết, để lại trong lòng người bao nỗi mai mia Tiếng đời khốn khổ đội vào thơ trào phúng theo hướng như thế Nhà thơ phản ứng không phải với truyền thống mà chính là phản ứng trước cái cách người đương thời đối xử với truyền thống, phản ứng trước cảnh người ta dùng Tết để tạm xóa đi cuộc sống toàn chua và cay hay là chính những lễ nghi ngày Tết đã càng làm lộ rõ hơn nỗi chua cay

Một nội dung khá phổ biến của thơ trào phúng ngày Tết giai đoạn này là tiếng cười mỉa mai “sao mà lắm Tết: “Ngày qua tháng lại chóng như tên! Ngó quấn trông quanh, tết tết liên/ Nước cũ sao năm

Trang 6

thường thấy mới?! Già hư

mà trẻ cũng chưa nên” (Tết

Huỳnh Thúc Kháng);

“Vừa Tết Tây rồi lại Tết ta j

Tết nhà như nhắc chuyện

xưa nhà/ Phúc thần, pháo

rước không thèm đến/ Ma

đói, bùa đưa chẳng chịu

rai lượu uống say mèm,

trời muốn quyt/ Tuổi chồng

lên mỗi, đất thêm già” (Tết

năm Giáp Tuất 1934 -

Huynh Thúc Kháng);

“Chan Tét ta roi lại Tết

Tây! Khen di khéo đặt lắm

trò hay! Pháo xì ngũ sắc

tung trời bắn Cờ phất tam

tài rợp đất bay" (Tết Táy -

Phan Bội Châu); “Té? mới

qua đã lại Tết ngay/ Tết

mình hay Tết của ai đây?/

Ba tuông pháo chuột nghe

thêm điếc! Mấy ngọn đèn

ranh thấy đổ rấây” (Tết -

Phan Bội Châu)

Không có gì lạ khi các

nhà thơ tập trung mũi

nhọn trào phúng vào cái

Tết Tây Bởi ngoài tượng

trưng cho nền văn minh

của kẻ cướp nước, nó còn là

thành phần lễ nghi chất

thêm gánh phù phiếm màu

mè vừa che phủ vừa làm

nặng nề thêm đời sống

khốn nghèo của dân chúng

Phan Bội Châu đặc biệt

nhạy cảm trước thân phận

người dân mất nước nhân

chuyện tờ lịch năm mới:

"Quên lừng năm trời đã bấy

nay/ Ơn người tặng lịch

nhắc cho hay/ Á Âu xáo lẫn

den pha dé/ Tén cựu phân

mình tớ đội thầy! Tháng

Một đúng trên đầu tháng

Chạp! Ngày Nam nằm

dưới đít ngày Tây! Xem trên một giấy càng thêm cảm/ Năm mới đâu, nào mới ở đây?" (Tạ ơn người cho lịch năm mới)

Hai liên thơ giữa tả thực cách trang trí bố cục trên tờ lịch năm mới Nhưng lại tả thực bằng giọng mỉa mai, bằng cái nhìn kỳ thị, để nhân chuyện này mà phúng thích, cảnh tỉnh nỗi nhục “tớ đội thầy" “dưới đít Táy” đã không còn là của riêng một tầng lớp xã hội nào

Thơ trào nhúng ngày Tết

OR TEL

thản của các lác giá nhần CUE ee UP eee thực hiện thực cuộc sống

đương thời, đặc hiệt là hiện

thực lâm trạng của tầng

lúp trí thức Nhân nấm

hứng về một thời điểm trang trọng theo quan niệm truyền thống, các nhà nho

tràn nhúng đã tìm lược để

tài đắc địa đế hặc lộ cách

nhìn cach nghĩ mới về

những vấn để không trang trọng, phí truyền thống

mang tính thủi đại tốt

PEN

Cùng khuynh hướng với Huỳnh Thúc Kháng, trong thơ cười Tết, Phan Bội Châu nhận thấy rõ ràng cái màu mè ngày Tết luôn tìm cách lấp đi mà lấp không nổi cảnh đời nghèo khổ:

“Trái đất xoay hoài chả biết mỏi! Chạy quanh giáp vong lai chay lai/ Ba tram

sdu chục lẻ năm ngày/ Cái

tuổng năm mới thấy diễn mai/ Ngày tháng như nước

cứ chảy xuôi! Âm lịch, dương lịch thêm lôi thôi

Trời già thính thính chẳng

thèm nói / Để trẻ xôn xao ăn

Tết chơi! Thịt xôi hương

vang dom ba bita/ Quan

hang do lua di hén ho!/

Tiéng phdéo rude xuân nổ bang trời ( Chén rượu mừng năm say tha ctta/ Quanh năm trừ ra mấy ngày Tết/

Chỉ nghe tiếng than va

tiếng rên " (Tết) Thơ viết

nhân dịp Tết, nhan đề Tết, nói cảnh Tết mà không thấy cảm xúc Tết, không

khí Tết, tỉnh thần Tết Chỉ thấy bộc lộ tâm trạng chán chường sốt ruột trước vòng quay kiên nhẫn của thời gian, trước tấn tuông đời lộ

rõ nhất vào dịp Tết Nghịch cảnh đời sống được dựng lên, một bên là “mấy ngày Tết” “xôn xao” “hớn hở"

“uang trời" “thả cửa”, một bên là “quanh năm” “than

uè rên” Thời khắc vui say

ngắn ngủi càng làm nổi bật

những khốn khổ kéo dài

Tiếng cười mỉa mai và ngậm ngùi cất lên như thế nhiều lần trong thơ trào phúng của các nhà chí sĩ

Phan Bội Châu châm biếm ngày Tết đương thời ở một khía cạnh khác

mà nếu chỉ cười với ngôn ngữ trào phúng của bài thơ không thôi, người ta đã có thể cảm nhận phần nào sự thâm trầm cua tac gia: “Cai Tét ndm nay, tết những gi?! Pháo đời Tự Đức, đốt

còn

VHNT so 282

Thang 2 - 2008

Trang 7

v_A_N H CC

doi ni!/ “Dit cua” chodng

uáng trời nghe điếc/ “Cốt

nhắc" l¡ bì đất phải say/ Xe

ngựa rộập rinh con “nước

mẹ” Râu mày lế nhố uợ

ông Tay! Thònh lâu thêm

tuổi thêm cao ngất! “Bông

dua”, “béng dua” mdi thang

ngày" (Mừng xuân Dinh

Sửu - 1937) Năm 1937, đời

Tự Đức cách đó già nửa thế

kỷ, nếu tính từ lúc vua Tự

Đức lên ngôi, đã ngót nghét

trăm năm, thế thì làm gì

còn pháo đời Tự Đức mà

đết! Nỗi nhục mất nước mất

thành từ mùa xuân những

năm năm mươi thế kỷ trước

ngấm vào trong tiếng pháo

đời vua tưởng còn đến bây

giờ! Lại nữa, tác giả muốn

nói “pháo” nào đây? “Pháo”

truyền thống mừng Tết hay

“pháo” đánh trận mất

thành, “pháo” nước ta hay

“pháo” từ Tây lại? Bởi ngay

đời Tự Đức đã nếm trải sự

lẫn trộn nháo nhào đó Đến

“đời nữ, những nháo nhào

đó tăng cấp tột bực làm

kinh động đất trời khiến

trời phải choáng uáng mà

điếc, đất phải I¡ bỉ mà sưy

Còn người thì lải nhải “đứ

cua” “cốt nhắc” “nước mẹ”

“bông dud” những “mỹ từ

mới” theo cách phiên âm

của người Việt rất dễ gây

nụ cười mai mỉa

Phan Bội Châu nối tiếp

lối nhại tiếng Tây của Tú

Xương, tiếp tục thể hiện

thái độ phản ứng gay gắt

của lớp nhà nho truyển

thống đối với cái gọi là văn

minh “nước mẹ”: “Tết nhất

4

VENT so 284

Thang 2 - 2008

lâu nay đã hững hời On người trí kỷ níu Rhuén xua/

Sâm banh, bứ tết thây trò

quy/ Sen đắng, gừng cay thich cua nha ” (Ta on

người cho bánh Tết) Lối hưởng thụ vật chất cũng như những sản phẩm vật chất phương Tây thể hiện sức mạnh của chúng rõ nhất là vào ngày Tết Cho nên các nhà nho ghét Tây

có mượn thơ Tết để đập lại

sự hoành hành lấn lướt đó

thì mới trúng

Các nhà nho ghét Tây không phải chỉ từ góc độ tinh thần đân mất nước mà còn từ góc độ thực tế trải nghiệm đời sống hàng ngày Trong mười hạng người xã hội, có tới bảy hạng cùng quẫn vì Tết, Phan Bội Châu sáng tác hẳn một chùm thất ngôn Đường luật liên hoàn mười bài nhan dé Tho vinh Tét - mười hạng người Dảy hạng cùng quẫn theo thứ tự như sau: đân cày, thợ thuyên, dân công thương,

cu ly, phu xe, lang van ghe, nhà uăn Bây hạng người này đều giống nhau ở tâm trạng kinh hãi ngày Tết, sợ Tết như sợ tai họa Ngoài tang lép hoe sinh con trẻ còn vô tư với “mốt”, “va căng phét", “banh", chỉ có hai tầng lớp thực sự thích Tết, vui Tết đó là £hẩy tu và nhà quan Thầy tu có niềm vui chơi không ăn bám trong bộ lốt tu hành, trên

sự u mê dại dột của người

đời “Rằng: tết thời vui chẳng mấy ail Duy mình

uui Tết nhất trên đời! Hương hoa uô số người mê

cúng! Chè oẳn tha hồ Phật

sống xơi| Sướng tột là không xâu thuế tới/ Giờ thừa lại có hiệu cờ chơt Nhưng nhà quan mới thực

là thưởng thức thú Tết bất tận: “Xe hơi chen chúc dừng đẩy ngõi Áo gém vao ra nhộn cả nhài Tiếng chúc, tiếng mừng xen tiếng pháo l Câu cười, câu tán lẫn câu ca( Tết như thế mãi 0ui đâu hết ”" Thơ vịnh mười hạng người ngày Tết về cơ bản là thơ phúng thích châm biếm xã hội Tiếng cười chủ yếu toát ra từ lối dựng nghịch cảnh và lớp từ

ngữ mang màu sắc trào

lộng

Cũng xin lưu ý thêm tính chất hai mặt của tiếng cười phúng thích những vấn đề xã hội có liên quan đến sự du nhập văn minh phương Tây Tiếng cười nhiều khi cực đoan của nhà nho chống dị đoan không phải lúc nào cũng có lý Mặc dù vậy, đúng như các nhà nghiên cứu từng nhận định, thơ trào phúng ngày Tết nói riêng, thơ trào phúng giai đoạn cuối thế kỷ

XIX - đầu thế kỷ XX nói

chung đã bổ sung sức mạnh cho văn thơ yêu nước cách mạng cũng như góp phần chuẩn bị nền móng vững chắc cho sự ra đời và phát triển của trào lưu văn xuôi hiện thực phê phán những năm ba mươi bốn mươi thế

kỷ XX +

T.T.H.L

Ngày đăng: 18/02/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm