Lịch sử chinh phục vũ trụ của Liên Xô qua ảnh Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô phát triển thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) đầu tiên trên thế giới tạo tiền đề sự ra đời của thế h[.]
Trang 1Lịch sử chinh phục vũ trụ của Liên Xô qua ảnh Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô phát triển thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) đầu tiên trên thế giới tạo tiền đề sự ra đời của thế hệ tên lửa đưa con người vào vũ trụ
Sau đây là một số hình ảnh các loại tên lửa đẩy do Liên Xô phát triển:
Cuối năm 1944, phát xít Đức đưa vào phục vụ tên lửa đạn đạo V - 2 Đây được xem là tên lửa đạn đạo đầu tiên trên thế giới V - 2 có tầm bắn 320 km mang đầu đạn nặng gần 1 tấn Tên lửa V-2 chính là cơ sở thực tiễn để các nhà khoa học Liên Xô phát triển tên lửa vũ trụ sau này
Trang 2Năm 1947, Liên Xô thiết kế tên lửa đạn đạo R - 1 (sao chép V - 2) R - 1 là khởi đầu cho các thế hệ tên lửa tiếp sau của Liên Xô R - 1 có tầm bắn khoảng 270 km thấp hơn so với V - 2
Trang 3Dựa trên R - 1, các chuyên gia Liên Xô phát triển thành công nhiều loại tên lửa mới như R - 2, R - 5, R - 7,
R - 9 Trong ảnh: tên lửa đạn đạo R - 11FM đầu tiên được phóng từ tàu ngầm của Liên Xô
Trang 4Tháng 8/1957, Liên Xô thử nghiệm thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa đầu tiên trên thế giới R - 7 Chỉ hai tháng sau, phiên bản sửa đổi của R - 7 đưa vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người vào vũ trụ
Trang 5Tên lửa R - 7 thiết kế với hai tầng đông cơ
Trang 6Tên lửa R - 7 phát triển thành nhiều biến thể sử dụng trong chương trình thám hiểm không gian của Liên
Xô Trong bốn phiên bản cải tiến (Vostok, Voskhod, Molniya, Soyuz) thì Soyuz là phiên bản tên lửa đẩy kỳ cựu nhất với thành tích khoảng 1.700 lần phóng từ 1966 tới nay Ảnh: Phiên bản tên lửa đẩy Soyuz FG rời
bệ phóng đưa hai phi hành gia Nga - Mỹ lên trạm không gian ISS (ngày 12/10/2008)
Trang 7Tên lửa đẩy N - 1 thiết kế cho chương trình đưa người lên mặt trăng của Liên Xô Ảnh: N - 1 đang được di chuyển vào bệ phóng
Trong cả bốn lần phóng thử nghiệm tên lửa đẩy N - 1 đều gặp trục trặc và nổ tung Ảnh: N - 1 chuẩn bị phóng thử nghiệm
Trang 8Tên lửa đẩy Energia trên bệ phóng
Tên lửa đẩy Energia mang tàu con thoi Buran rời bệ phóng Tàu con thoi được thiết kế để có thể thực hiện nhiệm vụ vận chuyển nhiều lần giữa mặt đất và vũ trụ, tiết kiệm hơn việc chế tạo các khoang lái hoặc tàu chỉ sử dụng một lần
Trang 9Tuy nhiên, tàu con thoi Buran (Bão tuyết) do Liên Xô chế tạo chỉ thực hiện một lần nhiệm vụ do thiếu kinh phí Trong ảnh, sau 206 phút trên quỹ đạo, tàu con thoi không người lái Buran hạ cánh xuống sân bay Baikonur
Trang 10ên lửa đẩy Proton do Liên Xô thiết kế đưa vào sử dụng năm 1965 và hoạt động cho tới ngày nay Ảnh: phiên bản Proton - K mang theo mô đun Zvezda lên trạm ISS (tháng 7/2000)
Trang 11Tên lửa đẩy Proton thường xuyên sử dụng đưa vệ tinh viễn thông, thời tiết lên quỹ đạo Ảnh: Tên lửa đẩy Proton - M mang vệ tinh định vị Glonass M rời bệ phóng
Tên lửa đẩy Zenit do Liên Xô thiết kế những năm 1980, lần phóng đầu tiên năm 1985 Zenit thường sử dụng phóng vệ tinh viễn thông, tàu vận tải không người lái lên quỹ đạo Ảnh: Zenit vận chuyển tới bệ phóng
Trang 12Phiên bản phóng trên biển Zenit - 3SL do Ukraine và tập đoàn Boeing (Mỹ) hợp tác nghiên cứu và phát triển, đưa vào sử dụng năm 1999
Tên lửa đẩy R - 7 chuẩn bị cho chuyến bay lịch sử đưa vệ tinh đầu tiên của nhân loại lên vũ trụ
Trang 13Vệ tinh đầu tiên của nhân loại chỉ đơn giản là một quả cầu nhôm, bốn ăng ten, hai máy vô tuyến điện, khi tách khỏi tên lửa đẩy Sputnik chỉ phát ra tiếng "bíp, bíp"
Trang 14Ngày 3/11/1957, tàu vũ trụ Sputnik 2 phóng lên quỹ đạo mang theo sinh vật sống đầu tiên - chó Laika Chuyến đi của Laika được xác định là chuyến bay cảm tử, đơn giản tàu Sputnik 2 không được thiết kế khoang đổ bộ Vài giờ sau khi lên quỹ đạo, Laika đã chết vì hoảng sợ, nhiệt độ trong khoang lái tăng quá cao
Ngày 19/8/1959, tên lửa đẩy R - 7 đưa tàu Sputnik 5 mang hai chú chó Belka và Strelka lên quỹ đạo Một ngày sau, khoang đổ bộ tàu Sputnik 5 hạ cánh an toàn trên thảo nguyên gần trung tâm Baikonur và hai chú chó đều khỏe mạnh Sau đó, "cặp vợ chồng" này còn sinh 6 chú chó con
Trang 15Điện tâm đồ thể hiện sức khỏe ổn định của Yuri Gagarin trước chuyến bay lịch sử ngày 12/4/1961
Trong chuyến bay có người lái đầu tiên vào vũ trụ, có ba phi hành gia được lựa chọn là Yuri Gagarin (bay chính), Gherman Titov và Grigori Nelyubov
Trang 16Đúng 9h7 giờ Moscow ngày 12/4/1961, tàu Vostok 1 (Phương đông 1) mang nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin rời bệ phóng tại trung tâm Baikonur Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ
Trang 17Báo Pravda (Sự thật) đưa tin về sự kiện phi hành gia Yuri Gagarin bay vào vũ trụ Theo một nguồn tin, phải chờ sau 5 ngày, sự kiện mới được công bố hoành tráng trên hệ thống truyền thông Trước đó, cơ quan báo chí của Liên Xô đã chuẩn bị hai bản tin, một dành cho trường hợp chuyến bay thành công, một dành cho trường hợp chuyến bay thất bại
Trang 18Ngày 16/6/1963, tàu Vostok 6 đưa Vlentina Vladimirovna Tereshkova - nữ phi hành gia đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ Vostok 6 ở trên quỹ đạo gần 3 ngày và quay 48 vòng quanh trái đất
Hai người đầu tiên đại diện cho nhân loại bước vào con đường chinh phục không gian Yuri Gagarin và Tereshkova.’
Trang 19Phi hành gia Alexei Leonod bước ra khỏi tàu Voskhod 2 thực hiện chuyến đi bộ trên vũ trụ đầu tiên trên thế giới trong 12 phút ngày 18/3/1965
Ngày 17/11/1970, tàu Luna - 17 đưa xe tự hành Lunokhod - 1 hạ cánh xuống mặt trăng Lunokhod 1 được điều khiển nhóm kỹ thuật viên ở trái đất Tổng cộng, Lunokhod 1 hoạt động 322 ngày, hành trình 10.540m
và gửi về trái đất hàng nghìn tấm ảnh
Trang 20Điều khiển xe tự hành Lunokhod 1 từ trung tâm chỉ huy mặt đất Ngày 4/10/1957, trung tâm chỉ huy mặt đất mất tín hiệu Lunokhod 1 Tuy nhiên, sau 53 năm, vô tình các chuyên gia của NASA bắt được tín hiệu của tàu bộ hành này và tỏ ý ngưỡng mộ hệ thống máy móc do Liên Xô chế tạo
Dấu bánh xe tự hành Lunokhod để lại trên mặt trăng
Trang 21Cái bắt tay lịch sử của phi hành gia Liên Xô Alexei Leonov và phi hành gia Mỹ Thomas Stafford trong dự án thử nghiệm Apollo - Soyuz năm 1975
Ngày 29/11/1970, trạm Salyut 6 được đưa lên quỹ đạo Đây được coi là đại diện trạm không gian thế hệ thứ hai với những cải tiến mới so với trạm Salyut 1/2/3/4/5 Trong 5 năm hoạt động, trạm đón 16 lượt phi hành đoàn lên làm việc tại trạm Ngoài các phi hành gia Liên Xô làm việc trên trạm, Salyut 6 cũng là nơi 'viếng thăm' của 8 phi hành gia tới từ 8 quốc gia trong khối XHCN gồm: Tiệp Khắc, Ba Lan, CHDC Đức, Hungary, Việt Nam, Cuba, Mông Cổ, Romania
Trang 22Những người bạn thân Xô - Việt trên trạm không gian Saluyt 6, cách đây gần 30 năm
Trạm vũ trụ Mir (Hòa bình) do Liên Xô (sau này là Nga) xây dựng từ năm 1986-1996 Theo dự định ban đầu trạm hoạt động trong vòng 5 năm Tuy nhiên, trạm Mir ở trên quỹ đạo tới 15 năm Trong thời gian tồn tại, có tới 23.000 thí nghiệm khoa học diễn ra Trạm đón 104 lượt phi hành đoàn lên làm việc, trong số đó phi hành gia Valeri Polyakov lập kỷ lục ở trên trạm 437 ngày Năm 2001, chính phủ Nga quyết định đưa Mir trở về trái đất Phần còn lại của Mir chọn vùng biển Nam Thái Bình Dương làm nơi yên nghỉ cuối cùng, sau khi những phần khác bốc cháy trên bầu khí quyển
Trang 23Sau khi phóng thành công vệ tinh Sputnik 1 (năm 1957), 9 năm sau, Liên Xô bắt đầu triển khai ứng dụng công nghệ vũ trụ vào đời sống, mở màn bằng việc hệ thống vệ tinh khí tượng Meteor hoạt động
Trang 24Phiên bản cải tiến Meteor M tại xưởng lắp ráp
Trang 25Sau vệ tinh khí tượng, các vệ tinh viễn thông được triển khai Dự án nổi bật nhất là vệ tinh Molniya 1 được Liên Xô đưa lên quỹ đạo tháng 4/1965 Nhờ đó, lần đầu tiên người đã thực hiện được việc trao đổi truyền hình giữa Moscow và Vladivostok
Mô hình trạm thu phát Obirta và vệ tinh viễn thông Molniya
Trang 26Vệ tinh viễn thông Ekran hoạt động trên quỹ đạo địa tĩnh
Mạng vệ tinh viễn thông Gorizont xây dựng từ năm 1978 Năm 1980, thông qua hệ thống vệ tinh này đã truyền được chương trình tường thuật thế vận hội mùa đông Moscow tới nhiều nước trên thế giới
Trang 27Tháng 12/1982, Liên Xô phóng vệ tinh Uragan lên quỹ đạo Đây là bước đầu tiên của dự án xây dựng hệ thống định vị toàn cầu Glonass Mặc dù ít được biết đến hơn so với hệ thống GPS nhưng Glonass thực sự
có những vai trò to lớn trong phát triển kinh tế và quốc phòng của Liên Xô và Nga ngày nay
Phiên bản cải tiến vệ tinh định vị Glonass mang tên Glonass - M tại xưởng lắp ráp
Trang 28Thiết bị bắt tín hiệu hệ thống định vị toàn cầu Glonass của quân đội Nga
Không chỉ dừng lại ở phát triển vệ tinh ứng dụng dân sự, Liên Xô xúc tiến hệ thống vệ tinh trinh thám quân
sự, vũ khí chống vệ tinh Ảnh: vũ khí chống vệ tinh IS Có ý kiến cho rằng, việc chạy theo kịch bản "chiến tranh giữa các vì sao" do Mỹ vẽ ra, là một trong những nguyên nhân làm Liên Xô suy yếu do tốn tiền của vào hệ thống vệ tinh quân sự Từ đó mất dần khả năng phục hồi kinh tế, dẫn tới sự sụp đổ Liên Bang vào năm 1991