Giới thiệu
Ngành cao su đã trở thành một trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 7,9 tỷ USD vào năm 2020, tăng 11% so với năm 2019 Trong đó, sản phẩm cao su chiếm 40% với hơn 3,1 tỷ USD, trong khi nhóm cao su thiên nhiên và các mặt hàng gỗ cao su mỗi nhóm đạt khoảng 2,4 tỷ USD, tương đương 30% Kim ngạch xuất khẩu của ngành cao su đóng góp khoảng 2,8% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2020, cho thấy xu hướng tích cực và tiềm năng tăng trưởng trong tương lai.
Năm 2019, Việt Nam có khoảng 941.300 ha cao su, trong đó 710.700 ha (75,5%) đang thu hoạch mủ, đạt gần 1,19 triệu tấn quy khô Khoảng 49% diện tích là cao su đại điền, chủ yếu do Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) quản lý, trong khi 51% còn lại thuộc về diện tích tiểu điền.
Cao su tiểu điền đóng vai trò quan trọng trong ngành cao su, đặc biệt trong chuỗi cung ứng cao su thiên nhiên xuất khẩu Năm 2019, Việt Nam có khoảng 265.000 hộ trồng cao su tiểu điền, với gần 89% diện tích đang trong giai đoạn thu hoạch mủ, cung cấp hơn 732.200 tấn mủ quy khô, chiếm 62% tổng lượng mủ khai thác cả nước Năng suất mủ của cao su tiểu điền năm 2019 đạt 1.719 kg/ha/năm, cao hơn 8% so với cao su đại điền, nhờ vào việc diện tích cao su tiểu điền đang vào thời kỳ cao điểm của chu kỳ năng suất.
Ngành cao su Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ vào thị trường toàn cầu, với các sản phẩm cao su thiên nhiên được xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và có mặt tại hơn 170 thị trường Mặc dù lượng tiêu thụ nội địa thấp hơn so với xuất khẩu, nhưng nhu cầu trong nước vẫn ở mức cao và đang có xu hướng mở rộng.
Nguồn cung cao su thiên nhiên của Việt Nam rất đa dạng, bao gồm hàng trăm công ty và hàng trăm ngàn hộ tiểu điền trồng cao su, cùng với lượng cao su nhập khẩu chủ yếu từ Campuchia và Lào, đạt khoảng 300.000 tấn mỗi năm theo thống kê chính thức Ngoài ra, còn có lượng cao su được nhập khẩu qua đường tiểu ngạch từ hai quốc gia này Trong quá trình chế biến, các nguồn cung này có thể được phối trộn để sản xuất các chủng loại cao su phù hợp cho xuất khẩu hoặc chế biến sâu trong nước.
Mặc dù cao su tiểu điền đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng cao su thiên nhiên, nhưng thông tin về chuỗi cung này, đặc biệt là về mối liên kết giữa các hộ tiểu điền và các tác nhân tiêu thụ, vẫn còn hạn chế Hơn nữa, việc thiếu hụt thông tin về các khía cạnh khác của cao su tiểu điền cũng là một vấn đề cần được giải quyết.
Cao su thiên nhiên bao gồm mủ cao su chưa qua chế biến và các sản phẩm chế biến như cao su khối (SVR), cao su tờ xông khói (RSS) và cao su cô đặc (latex), được gọi là “cao su nguyên liệu” Sản phẩm cao su cuối cùng bao gồm găng tay, lốp xe, băng tải, đế giày và nệm gối, tất cả đều được chế tạo từ cao su thiên nhiên Ngoài ra, "các mặt hàng gỗ cao su" bao gồm gỗ cao su nguyên liệu (gỗ tròn, gỗ xẻ) và các sản phẩm từ gỗ cao su như bàn, ghế và tủ.
Nguồn: VRA tổng hợp từ số liệu của TCHQ
2 VRA tổng hợp từ số liệu của TCHQ
Ngành cao su Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức và cần các giải pháp phát triển bền vững để nâng cao hiệu quả sản xuất Theo nghiên cứu của Trần Thị Thúy Hoa, Tô Xuân Phúc và Cao Thị Cẩm (2018), việc cải thiện quản lý và ứng dụng công nghệ mới là rất quan trọng Đồng thời, cần chú trọng đến bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng để đảm bảo sự phát triển lâu dài cho ngành cao su Các tổ chức như VRA, VIFORES và Forest Trends cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các sáng kiến bền vững cho ngành này.
4 Số liệu nhập khẩu chính thức năm 2019, được VRA, RRIV và Forest Trends tổng hợp và phân tích từ số liệu của TCHQ, TCTK và ITC
Bảy khía cạnh quan trọng trong liên kết thu mua bao gồm cách thức vận hành của các liên kết, hình thức tổ chức mạng lưới thu mua, và cách xác định giá cả Chất lượng sản phẩm và cơ chế kiểm soát chất lượng cũng là yếu tố then chốt, cùng với hình thức thỏa thuận mua bán giữa các bên Vấn đề cạnh tranh trong thu mua giữa các bên tham gia và vai trò của chính quyền địa phương cũng cần được xem xét, bao gồm cả những thuận lợi và khó khăn mà các bên gặp phải khi tham gia vào liên kết này.
Ngành cao su Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế, tuy nhiên, để thành công, các bên sản xuất và cung cấp cao su thiên nhiên cần tuân thủ các yêu cầu xuất khẩu, đặc biệt là từ các hộ tiểu điền Ngày càng nhiều thị trường yêu cầu cao su thiên nhiên phải được sản xuất bền vững với nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp Việc thiếu thông tin về chuỗi cung ứng, đặc biệt là mối liên kết giữa hộ tiểu điền và các đơn vị thu mua, có thể dẫn đến mất cơ hội mở rộng thị trường và tạo rủi ro cho ngành cao su Việt Nam Để giải quyết vấn đề này, Tổ chức Forest Trends phối hợp với Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam và Hiệp hội Cao su Việt Nam thực hiện nghiên cứu về các liên kết tiêu thụ cao su thiên nhiên Nghiên cứu này không chỉ làm rõ thực trạng mối liên kết giữa hộ tiểu điền và các cá nhân, đơn vị trong chuỗi cung ứng mà còn chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của các bên tham gia Từ thông tin thu thập được, nghiên cứu sẽ đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng cao su tiểu điền, đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và bền vững.
Báo cáo được cấu trúc thành 5 phần, bắt đầu với phần Giới thiệu Phần 2 trình bày phương pháp và địa điểm nghiên cứu, trong khi phần 3 mô tả tình hình sản xuất cao su thiên nhiên tại Việt Nam và các tỉnh khảo sát Phần 4, là phần quan trọng nhất, phân tích thực trạng liên kết tiêu thụ mủ cao su tiểu điền với các bên thu mua, bao gồm thông tin về hình thức vận hành, các bên tham gia, cũng như những thuận lợi và khó khăn trong quá trình liên kết, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chính quyền địa phương và các bên liên quan Cuối cùng, phần 5 đưa ra thảo luận và kiến nghị chính sách nhằm phát triển bền vững ngành cao su thiên nhiên, trong đó các hộ tiểu điền đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng.
Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo sử dụng nhiều nguồn dữ liệu đa dạng, bao gồm cả thông tin thứ cấp và sơ cấp Các số liệu thống kê về diện tích, sản lượng, năng suất và số hộ tiểu điền được thu thập từ các cơ quan thống kê như Tổng cục, Cục và Chi cục Thống kê, cũng như từ Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Thông tin về xuất nhập khẩu được lấy từ Tổng cục Hải quan, trong khi số liệu về cơ sở sản xuất và chế biến được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Sở Công Thương và UBND huyện, xã Ngoài ra, báo cáo cũng tham khảo các thông tin từ các tổ chức và cá nhân qua các báo cáo và số liệu điều tra.
Thông tin sơ cấp được thu thập từ khảo sát thực địa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2020 tại ba tỉnh Bình Phước, Kon Tum và Quảng Trị Ba tỉnh này đại diện cho ba vùng sinh thái khác nhau, có diện tích cao su lớn và là những khu vực có diện tích cao su tiểu điền lớn nhất trong vùng Nghiên cứu áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để thu thập dữ liệu.
5 VRA, 2020 Chính sách phát triển bền vững của một số doanh nghiệp https://drive.google.com/file/d/1hqSPDQ8dWXotZdJktTwQTg_GtSGm_qE3/view
Nghiên cứu của 6 Forest Trends, RRIV và VRA đã khám phá mối liên kết giữa các hộ tiểu điền và các đơn vị khác trong chuỗi cung ứng tiêu thụ gỗ cao su tiểu điền.
8 và phỏng vấn theo phiếu khảo sát để thu thập thông tin Tại 3 tỉnh này, nhóm đã thu thập thông tin từ các bên liên quan như sau:
- Cán bộ Sở NNPTNT, Sở Công Thương, Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, UBND cấp huyện và xã;
- Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn của công ty nhà nước và tư nhân chế biến và xuất khẩu cao su thiên nhiên;
- Tư thương hay đại lý thu mua mủ cao su từ hộ tiểu điền cung cấp cho các công ty chế biến;
- Trưởng thôn và đại diện Hội Nông dân nơi các hộ tiểu điền được khảo sát;
- Các hộ tiểu điền trồng cao su và tham gia liên kết tiêu thụ mủ cao su từ hộ
Nghiên cứu thực địa được thực hiện tại 12 thôn thuộc 10 xã/thị trấn và 7 huyện của 3 tỉnh, trong đó phỏng vấn hộ dân được tiến hành với đại diện của 47 thôn Hình 1 minh họa địa điểm khảo sát các hộ tiểu điền, doanh nghiệp và tư thương trong chuỗi cung ứng cao su thiên nhiên Phụ lục 1 tổng hợp số lượng cuộc phỏng vấn và các tổ chức, cá nhân được phỏng vấn.
Hình 1: Bản đồ các điểm nghiên cứu
Thực trạng sản xuất cao su tiểu điền tại Việt Nam và tại các điểm nghiên cứu
Cao su tiểu điền tại Việt Nam: Một số nét chính
Cao su tiểu điền đang ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong ngành cao su Việt Nam Theo thống kê chính thức, từ năm 2017, diện tích cao su tiểu điền đã vượt qua diện tích cao su đại điền, chủ yếu thuộc về các công ty nhà nước và một số công ty tư nhân, FDI Tuy nhiên, sản lượng của cao su tiểu điền vẫn cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Từ năm 2015, cao su tiểu điền đã vượt đại điền, và đến năm 2019, Việt Nam có khoảng 265.000 hộ tiểu điền trồng cao su trên diện tích 479.600 ha, chiếm 51% tổng diện tích cao su cả nước là 941.300 ha Gần 90% diện tích này được thu hoạch mủ, sản lượng đạt khoảng 732.300 tấn mủ quy khô, tương đương 62% tổng sản lượng cao su của cả nước.
Hình 2: Diện tích cây cao su trong nước phân theo đại điền và tiểu điền, 2015 – 2019
Nguồn: VRA và Forest Trends tổng hợp từ số liệu của TCTK, Cục Thống kê và Sở NNPTNT các tỉnh
Bảng 1: Diện tích, sản lượng và năng suất mủ cao su phân theo tiểu điền, đại điền năm 2019
Nguồn: VRA tổng hợp từ số liệu của TCTK, Cục Thống kê và Sở NNPTNT các tỉnh
Hình 3: Sản lượng mủ cao su trong nước phân theo đại điền và tiểu điền, 2015 – 2019
Nguồn: VRA và Forest Trends tổng hợp từ số liệu của TCTK, Cục Thống kê và Sở NNPTNT các tỉnh
7 Nghiên cứu của Ban Kinh tế Trung ương năm 2019 cho biết cao su tiểu điền chiếm tới 53,2% trong tổng diện tích cao su cả nước
Tính đến cuối năm 2020, tổng diện tích cao su trên toàn quốc đạt 926.000 ha, giảm khoảng 15.300 ha so với năm 2019, theo số liệu của Tổng cục Thống kê Hiện tại, chưa có số liệu phân tách rõ ràng giữa tiểu điền và đại điền, do đó báo cáo vẫn sử dụng số liệu của năm 2019.
Chỉ tiêu ĐVT Đại điền Tiểu điền Tổng
Diện tích thu hoạch Ngàn ha 284,7 426,0 710,7
Sản lượng Ngàn tấn quy khô 452,9 732,3 1.185,2
Năng suất Kg/ha/năm 1.591 1.719 1.668
Cao su tiểu điền không chỉ có diện tích lớn hơn mà còn có sản lượng và năng suất cao hơn so với đại điền Trong giai đoạn 2015 – 2019, sản lượng cao su hàng năm từ vườn tiểu điền luôn vượt trội hơn từ 33 – 64% so với đại điền Đặc biệt, năng suất của cao su tiểu điền cũng cao hơn đáng kể, với mức chênh lệch lên đến 8% vào năm 2019, nhờ vào việc áp dụng giống năng suất cao và diện tích đang ở thời kỳ cao điểm của chu kỳ năng suất.
Hình 4: Năng suất cây cao su trong nước phân theo đại điền và tiểu điền, 2015 – 2019
Nguồn: VRA và Forest Trends tổng hợp từ số liệu của TCTK, Cục Thống kê và Sở NNPTNT các tỉnh
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2016, 87% các vườn cao su tiểu điền có diện tích dưới 3 ha, trong khi chỉ có dưới 1,5% số hộ sở hữu diện tích trên 10 ha.
Hình 5: Số hộ cao su tiểu điền và tỷ lệ hộ phân theo quy mô diện tích, năm 2016
Nguồn: VRA và RRIV tổng hợp theo số liệu của TCTK (Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản, 2016)
Cao su tiểu điền tại 3 tỉnh nghiên cứu
3.2.1 Sản xuất cao su tại Bình Phước, Kon Tum và Quảng Trị
Năm 2019, tỉnh Bình Phước, Kon Tum và Quảng Trị có diện tích trồng cao su lần lượt là 242.013 ha, 74.198 ha và 19.264 ha Đáng chú ý, diện tích cao su tiểu điền ở các tỉnh này lớn hơn so với diện tích đại điền.
N ă n g su ấ t (k g/ h a/ n ă m ) Đại điền Tiểu điền
11 điền ở Bình Phước và Quảng Trị Đặc biệt, tỉnh Quảng Trị có diện tích tiểu điền lớn gấp hơn 3 lần diện tích đại điền (Hình 6)
Hình 6: Diện tích cao su năm 2019 tại 3 tỉnh khảo sát phân theo đại điền, tiểu điền
Nguồn: VRA tổng hợp từ số liệu 2019 của Tổng cục Thống kê và Sở NNPTNT các tỉnh
Sản lượng cao su thiên nhiên tại Bình Phước, Kon Tum và Quảng Trị lần lượt đạt 369.037 tấn, 65.864 tấn và 17.844 tấn quy khô, trong đó nguồn cung từ tiểu điền vượt trội hơn so với đại điền, đặc biệt tại Bình Phước và Quảng Trị Mặc dù năng suất cao su tiểu điền thấp hơn một chút so với đại điền ở Bình Phước và Kon Tum, nhưng lại cao hơn tại Quảng Trị Thông tin chi tiết về diện tích trồng, thu hoạch và sản lượng cao su của tiểu điền và đại điền trong giai đoạn 2015 – 2019 tại ba tỉnh này được tổng hợp trong Phụ lục 3.
Hình 7: Sản lượng cao su thiên nhiên năm 2019 tại 3 tỉnh khảo sát, phân theo đại điền, tiểu điền
Nguồn: VRA tổng hợp từ số liệu 2019 của TCTK, Sở NNPTNT các tỉnh
Hình 8: Năng suất cây cao su năm 2019 tại 3 tỉnh khảo sát, phân theo đại điền, tiểu điền
Nguồn: VRA tổng hợp từ số liệu 2019 của Tổng cục Thống kê, Sở NNPTNT các tỉnh
3.2.2 Sản xuất của hộ cao su tiểu điền tại 3 tỉnh nghiên cứu
Trong 3 tỉnh nghiên cứu, Bình Phước là tỉnh có số hộ và diện tích cao su tiểu điền bình quân trên hộ lớn nhất, trong khi Quảng Trị là tỉnh có số hộ cao su tiểu điền ít nhất và diện tích cao su bình quân trên hộ nhỏ nhất (Hình 9)
Hình 9: Số hộ cao su tiểu điền và diện tích trung bình mỗi hộ tại 3 tỉnh khảo sát
Nguồn: Tỉnh Bình Phước: Số liệu năm 2020 Sở NNPTNT cung cấp; Tỉnh Quảng Trị: Số liệu năm 2019
Sở NNPTNT cung cấp; Tỉnh Kon Tum: Số liệu 2019 Chi cục Trồng trọt và BVTV cung cấp
Nghiên cứu thực địa tại ba tỉnh cho thấy cao su tiểu điền chủ yếu được đầu tư bằng vốn gia đình, với một số hộ nhận hỗ trợ từ các chương trình như Chương trình 327, Chương trình 661, và Dự án Đa dạng hoá Nông nghiệp Các chương trình này đã cung cấp vốn vay dài hạn cho khoảng 27.000 hộ ở Tây Nguyên và miền Trung, trong khi Dự án Phát triển cao su tiểu điền hỗ trợ khoảng 19.000 hộ với lãi suất thấp Hỗ trợ bao gồm cây giống và kỹ thuật trồng cao su, được thực hiện bởi Sở NNPTNT theo quy hoạch tỉnh và các khuyến cáo từ Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam Thêm vào đó, Chương trình Khuyến nông quốc gia do RRIV thực hiện cũng đã giúp một số hộ nhận cây giống, phân bón và vật tư cần thiết.
Bình Phước Kon Tum Quảng Trị
Số hộ DT cao su trung bình hộ
Tham gia 13 khóa tập huấn về kỹ thuật đầu tư, chăm sóc và thu hoạch mủ cây cao su là rất quan trọng Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình ngoài chương trình hỗ trợ thường tự tìm nguồn giống và tự học hỏi Một số hộ đã có kinh nghiệm làm công nhân hoặc có người thân làm việc tại các nông trường cao su, từ đó tích lũy được kiến thức cần thiết trong trồng, chăm sóc và thu hoạch cây cao su.
Sau giai đoạn kiến thiết cơ bản (5 – 9 năm đầu), các hộ tiến hành thu hoạch mủ trong thời gian
Cây cao su có thời gian khai thác mủ từ 20 đến 25 năm, với thời gian cạo mủ hàng năm kéo dài từ 7 đến 9 tháng, thường bắt đầu từ tháng 4 hoặc tháng 5 năm trước và kết thúc vào tháng 1 hoặc tháng 2 năm sau Trong thời gian không cạo mủ, khi cây thay lá vào mùa khô, các hộ trồng cao su tập trung vào việc chăm sóc, phòng chống cháy và vệ sinh cây để chuẩn bị cho vụ thu hoạch tiếp theo Thời gian cạo mủ hàng ngày có thể bắt đầu từ 1 đến 2 giờ sáng, tùy thuộc vào từng vùng.
Vào lúc 7 giờ sáng, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, một số hộ trồng cao su có lao động hạn chế hoặc diện tích lớn từ 5 đến 6 ha trở lên cần thuê nhân công để cạo mủ Thời gian cạo mủ thường bắt đầu từ 9 giờ tối hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau, khi cây cao su cho lượng mủ nhiều nhất.
Các hộ thu hoạch mủ cao su thường áp dụng nhịp độ cạo d2 (2 ngày cạo 1 lần) hoặc d3 (3 ngày cạo 1 lần) Những hộ sở hữu diện tích lớn thường chia khu vực thành 2-3 phần, mỗi ngày cạo khoảng 400-500 cây, giúp có mủ để bán hàng ngày Ngược lại, các hộ có diện tích nhỏ thường cạo toàn bộ diện tích một lần, dẫn đến việc phải chờ 2-3 ngày mới có mủ để bán.
Hầu hết các hộ sản xuất mủ cao su đều bán mủ ngay trong ngày thu hoạch, với hơn 88% lượng mủ tiêu thụ ở dạng mủ nước và phần còn lại ở dạng mủ đông Các hộ có mủ đông thường là những hộ mới thu hoạch, có năng suất mủ thấp và mủ đông nhanh sau khi cạo trong đầu mùa Ngoài ra, một số hộ thu mủ đông do diện tích vườn cao su nhỏ, số cây cạo ít, vị trí xa điểm thu mua, hoặc điều kiện thời tiết không thuận lợi như mưa, gió, bão, khiến họ không thể thu mủ nước.
Trong bối cảnh giá thu mua mủ cao su giảm, nhiều hộ tiểu điền đã giảm đầu tư vào việc chăm sóc vườn cao su, như bón phân và phun thuốc diệt cỏ Một số hộ đã kéo dài thời gian khai thác lên 4-5 ngày mới cạo mủ một lần hoặc tạm ngừng khai thác Đáng chú ý, một số ít hộ đã chặt bỏ vườn cao su để chuyển sang trồng cây khác có lợi nhuận cao hơn Khảo sát tại Bình Phước, Kon Tum và Quảng Trị cho thấy khoảng 3-5% diện tích tiểu điền tại các tỉnh này đã bị thanh lý mặc dù vẫn trong độ tuổi khai thác.
3.2.3 Số lượng và công suất của doanh nghiệp chế biến mủ cao su tại 3 tỉnh khảo sát
Theo số liệu từ Sở NNPTNT tỉnh Bình Phước, tính đến tháng 5/2020, tỉnh có 54 nhà máy chế biến cao su, trong đó có 50 nhà máy chế biến mủ cao su và 4 nhà máy chế biến sản phẩm cao su Tổng công suất chế biến mủ cao su đạt khoảng 380.000 tấn/năm, với 7 doanh nghiệp nhà nước chiếm 52% và 44 doanh nghiệp tư nhân chiếm 48% trong tổng công suất Nguyên liệu mủ cao su cho các nhà máy tư nhân chủ yếu được cung cấp từ tiểu điền, cùng với một phần từ nguồn nhập khẩu chính thức hoặc qua mậu biên Một số nhà máy của doanh nghiệp nhà nước cũng thu mua cao su từ hộ tiểu điền nhằm tạo mặt bằng giá hợp lý và nâng cao hiệu suất sản xuất.
Tại Kon Tum, có 4 doanh nghiệp nhà nước và 3 doanh nghiệp tư nhân chuyên chế biến cao su thiên nhiên với tổng công suất khoảng 56.000 tấn mỗi năm Bên cạnh đó, tỉnh còn có một doanh nghiệp tư nhân khác hoạt động trong lĩnh vực chế biến.
Công ty Cổ phần Kỹ thuật Cao su Đồng Phú chuyên sản xuất nệm và gối cao su, trong khi Công ty TNHH SX -TM-DV Nam Cường tập trung vào sản xuất găng tay cao su cho thị trường xuất khẩu và nội địa Công ty TNHH KJ Glove (Hàn Quốc) hoạt động tại KCN Đồng Xoài và chuyên sản xuất găng tay bảo hộ lao động Ngoài ra, Công ty Liên doanh MEDEVICE 3S cũng tham gia vào ngành công nghiệp cao su với sản phẩm bao cao su.
Tập đoàn VRG bao gồm 9 công ty nhà nước, trong đó có Công ty Cao su Đồng Phú, Phú Riềng, Bình Long, Lộc Ninh, và Phú Thịnh Ngoài ra, Công ty Cao su Sông Bé thuộc tỉnh và Công ty TNHH MTV 16 thuộc Bộ Quốc phòng cũng là một phần của tập đoàn này.
Tại Quảng Trị, có tổng cộng 8 doanh nghiệp tham gia chế biến cao su thiên nhiên, bao gồm 2 doanh nghiệp nhà nước và 6 doanh nghiệp tư nhân, với tổng công suất khoảng 42.850 tấn/năm Bên cạnh đó, tỉnh còn sở hữu 1 doanh nghiệp chuyên chế biến các sản phẩm cao su.
Liên kết tiêu thụ cao su thiên nhiên từ hộ tiểu điền
Chuỗi cung cao su thiên nhiên từ hộ tiểu điền: Một số nét chính
Khảo sát tại ba tỉnh Bình Phước, Kon Tum và Quảng Trị cho thấy chuỗi cung ứng cao su thiên nhiên từ hộ tiểu điền, được thể hiện rõ trong Hình 12 dưới đây.
Hình 12: Sơ đồ chuỗi cung cao su thiên nhiên từ hộ tiểu điền tại Việt Nam
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu
Thông tin thu thập tại ba tỉnh cho thấy có ba chuỗi cung ứng cao su thiên nhiên từ hộ tiểu điền đang hoạt động Thứ nhất, chuỗi cung ứng qua trung gian bao gồm hộ tiểu điền, các cấp đại lý mủ nguyên liệu, các công ty chế biến và các công ty thương mại/xuất khẩu Thứ hai, chuỗi cung ứng trực tiếp từ hộ tiểu điền không qua trung gian, kết nối trực tiếp với các công ty chế biến và thương mại Cuối cùng, chuỗi cung ứng trực tiếp từ nhóm hộ tiểu điền cũng không qua trung gian, hoạt động tương tự như chuỗi thứ hai.
Nhìn chung, các chuỗi cung này có một số đặc điểm chung như sau:
Khâu từ hộ tiểu điền đến đại lý, công ty chế biến
Chuỗi cung ứng cao su thiên nhiên từ hộ tiểu điền đến xuất khẩu và tiêu thụ trong nước bao gồm năm khâu chính: trồng và sản xuất mủ, thu mua mủ nguyên liệu, sơ chế, tinh chế sản phẩm, và xuất khẩu nguyên liệu hoặc sản phẩm cao su.
Các hộ dân trồng cao su đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng, cung cấp mủ cho ngành chế biến Mủ cao su từ các hộ được tiêu thụ chủ yếu qua hai hình thức: mủ nước chiếm 88% (97% tại Bình Phước, 89% tại Kon Tum, 77% ở Quảng Trị) và mủ đông (bao gồm mủ chén và mủ tạp/mủ tận thu) chiếm khoảng 12% tổng lượng cung từ các hộ ở ba tỉnh này.
Mủ cao su từ hộ tiểu điền được đưa vào chuỗi cung qua 3 hình thức sau:
Sản xuất cao su thiên nhiên/mủ
Nguyên liệu (mủ nước, mủ đông)
Cao su khối, ly tâm cô đặc, tờ,…
Lốp xe, đế giày, nệm gối,…
Cao su sơ chế, sản phẩm tinh chế
Hộ tiểu điền thu gom Đại lý (nhỏ, trung bình, lớn)
Xuất khẩu Công ty (nhà nước, tư nhân, FDI)
Công ty (nhà nước, tư nhân, FDI)
Hỗ trợ từ bên ngoài
Hộ bán cho tư thương hay đại lý thu mua mủ nguyên liệu thường là những tổ chức hoặc cá nhân chuyên thu mua mủ nguyên liệu và cung cấp cho các cơ sở chế biến Nhiều tư thương hoặc đại lý này cũng là hộ tiểu điền, vừa trồng và khai thác mủ trên diện tích riêng, vừa thu mua mủ từ các hộ xung quanh để bán kiếm lời, được gọi là “hộ tiểu điền kết hợp thu mua.”
(ii) Hộ bán trực tiếp cho các công ty chế biến
(iii) Hộ tổ chức thành các Nhóm hộ Nhóm cử đại diện bán mủ trực tiếp cho công ty chế biến
Khảo sát tại ba tỉnh cho thấy, hình thức bán mủ thông qua đại lý là phương thức tiêu thụ cao su tiểu điền phổ biến nhất hiện nay Kênh này chiếm tỷ lệ lớn trong giao dịch, với hơn 79% lượng mủ được tiêu thụ từ 91% số hộ.
Hình thức bán mủ trực tiếp từ hộ và nhóm hộ cho các nhà máy chế biến hiện không phổ biến, chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng mủ cung cấp ra thị trường Sự kết nối trực tiếp giữa hộ và công ty chế biến bị hạn chế do hộ cá thể thường có lượng mủ nhỏ, dẫn đến việc thu mua từ nhiều hộ với khối lượng ít, làm tăng chi phí và rủi ro về chất lượng cho doanh nghiệp Thông thường, các công ty chế biến chỉ thu mua từ những hộ có diện tích lớn, có khả năng cung cấp khối lượng mủ lớn và gần nhà máy chế biến Trong trường hợp này, các hộ phải tự vận chuyển mủ đến điểm thu mua hoặc nhà máy chế biến của công ty.
Hình thức tiêu thụ mủ qua nhóm hộ đã xuất hiện trong vài năm gần đây, với mô hình tổ chức gồm 20 – 30 hộ thành viên Các nhóm này tự thu mua mủ từ các hộ thành viên và bán trực tiếp cho công ty chế biến Hiện tại, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị có 5 nhóm hộ hoạt động ổn định và hiệu quả.
Khâu từ đại lý thu mua đến nhà máy chế biến
Tư thương và đại lý có thể mua mủ cao su từ các hộ dân và bán trực tiếp cho công ty chế biến Tuy nhiên, do phần lớn vườn cao su tiểu điền nằm xa nhà máy chế biến, nên thường xảy ra tình trạng các đại lý phải thực hiện giao dịch qua 2 đến 3 cấp Các đại lý nhỏ sẽ cung cấp nguyên liệu cho các đại lý lớn hơn, trước khi chuyển giao cho công ty chế biến.
Hoạt động chế biến mủ cao su thiên nhiên tại Việt Nam bao gồm sự tham gia của ba nhóm doanh nghiệp: công ty nhà nước, công ty tư nhân và công ty có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Các doanh nghiệp này chế biến nhiều loại cao su thiên nhiên như cao su khối, cao su tờ xông khói và cao su cô đặc Sản phẩm chế biến được sử dụng làm nguyên liệu cho các công ty sản xuất sản phẩm hoàn thiện như lốp xe, găng tay và nệm gối, hoặc phục vụ cho xuất khẩu.
Các công ty chế biến mủ cao su thường tiến hành giao dịch mua bán mủ nguyên liệu và sản phẩm chế biến với nhau Ngoài ra, một số công ty còn ký hợp đồng gia công chế biến cao su cho các đơn vị khác.
Khâu từ công ty chế biến mủ cao su đến tiêu thụ
10 Có nhiều cách gọi đối với nhóm đối tượng này tư thương, đại lý, tiểu thương, thương lái
Công ty chế biến thường thu mua trực tiếp từ các hộ cá thể nhằm duy trì mối quan hệ tốt đẹp với cộng đồng xung quanh cơ sở chế biến.
Trong lĩnh vực tiêu thụ, một số công ty chế biến mủ cao su chủ động tìm kiếm đối tác và thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm tự sản xuất Trong khi đó, một số công ty khác lựa chọn bán hàng thông qua các công ty thương mại hoặc xuất khẩu ủy thác qua doanh nghiệp khác.
Các bên liên quan khác
Trong chuỗi cung ứng mủ cao su tiểu điền, ngoài các bên trực tiếp tham gia, còn có nhiều cơ quan và tổ chức hỗ trợ sản xuất và kinh doanh cao su thiên nhiên Các đơn vị quản lý địa phương như Sở NNPTNT và Sở Công Thương, cùng với các tổ chức nghiên cứu, giáo dục và tín dụng, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực kỹ thuật cho các hộ tiểu điền Họ cung cấp giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, cũng như hỗ trợ tài chính và cây giống Chính quyền địa phương cũng góp phần quan trọng bằng cách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác nhận nguồn gốc gỗ cao su, và cung cấp dịch vụ khuyến nông Phần tiếp theo sẽ phân tích thực trạng mối liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng này.
Các mối liên kết trong chuỗi cung ứng mủ cao su tiểu điền
Với 3 chuỗi cung ứng mủ cao su từ hộ tiểu điền nêu trên, phần này sẽ tập trung phân tích thực trạng mối quan hệ hay liên kết giữa các mắt xích của mỗi chuỗi tại các điểm nghiên cứu Các thông tin mô tả về liên kết bao gồm: cách thức tổ chức và vận hành mạng lưới thu mua và vai trò, trách nhiệm của mỗi bên; cách xác định giá cả và phương thức thanh toán; các yếu tố tác động/có ảnh hưởng đến quyết định tham gia/dừng tham gia liên kết của các bên; thuận lợi và khó khăn của các bên khi tham gia liên kết; khả năng đáp ứng các yêu cầu về phát triển bền vững và đảm bảo các yêu cầu của thị trường thế giới/khách hàng lớn (tính pháp lý, truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, tính ổn định của lượng cung,…) Thông tin về vai trò của chính quyền địa phương hay cơ quan quản lý trong việc hỗ trợ hay kiểm soát các hoạt động giao dịch mủ nguyên liệu cũng được thảo luận trong phần này
Báo cáo chỉ phân tích thực trạng các mối liên kết trong chuỗi cung ứng mủ cao su, do hạn chế về tiếp cận thông tin Cụ thể, báo cáo tập trung vào hai chuỗi cung ứng: Thứ nhất, chuỗi qua đại lý trung gian, với các liên kết giữa Hộ tiểu điền và Đại lý, cũng như giữa các Đại lý và Công ty chế biến mủ cao su (nhà nước/tư nhân) Thứ hai, chuỗi cung ứng trực tiếp từ Hộ tiểu điền và Nhóm hộ đến Công ty chế biến mà không qua trung gian.
Báo cáo cũng đề cập đến mối liên kết trong chế biến giữa các công ty nhà nước và tư nhân, đặc biệt là trường hợp một công ty chế biến gia công sản phẩm cho công ty chế biến khác Hình thức hợp tác này hiện diện trong tất cả các chuỗi cung ứng đã nêu.
4.2.1 Liên kết cung ứng mủ tiểu điền thông qua đại lý trung gian
Một số khía cạnh trong liên kết giữa hộ và đại lý thu mua
Liên kết giữa hộ tiểu điền và đại lý thu mua mủ nguyên liệu được xây dựng trên nền tảng uy tín và lòng tin Tùy thuộc vào quy mô, một đại lý có thể thu mua mủ từ vài hộ đến hàng chục hộ mỗi ngày, đồng thời các hộ tiểu điền cũng có thể thiết lập mối quan hệ lâu dài hoặc ngắn hạn với các tư thương.
Mối liên kết giữa thương/đại lý và hộ nông dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm quan hệ họ hàng, hàng xóm, uy tín trong kinh doanh, giá thu mua, và độ tin cậy trong việc xác định chất lượng mủ Sự hỗ trợ từ đại lý, như cho vay hoặc ứng trước tiền và vật tư, cũng đóng vai trò quan trọng Thêm vào đó, chính sách chăm sóc khách hàng của đại lý, như thăm hỏi khi ốm đau và biếu quà trong dịp lễ tết, cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ này.
Giữa các hộ tiểu điền và đại lý không tồn tại sự cạnh tranh trong việc cung cấp mủ cao su, vì các đại lý đều thu mua toàn bộ sản phẩm mà hộ tiểu điền bán ra, bất kể khối lượng hay loại mủ Không có hợp đồng mua bán chính thức giữa hai bên, và các thỏa thuận chỉ là miệng, được xác định hàng ngày dựa trên chuyến hàng Điều này cho phép hộ tiểu điền hoàn toàn tự do trong việc quyết định bán mủ cho ai, trong khi sự thành công của giao dịch phụ thuộc vào sự đồng thuận giữa bên mua và bên bán về giá cả, chất lượng mủ và hàm lượng cao su.
Giá mua bán mủ cao su được xác định dựa trên độ mủ (TSC), phản ánh tổng hàm lượng chất rắn quy đổi ra hàm lượng cao su khô (DRC) trong một đơn vị khối lượng Độ mủ càng cao thì lượng cao su càng lớn Tư thương đưa ra giá cả dựa trên thông tin từ các doanh nghiệp chế biến trong khu vực qua điện thoại, tin nhắn hoặc thông báo trên website Giá mủ nước thường dựa vào độ mủ, trong khi giá mủ đông phụ thuộc vào quan sát trực tiếp và kinh nghiệm Mức giá thu mua có thể thay đổi hàng ngày tại từng địa bàn, với một số nơi duy trì giá trong khoảng 10 ngày Các đại lý có thể thu mua mủ tại vườn cao su hoặc các hộ tự vận chuyển đến điểm thu mua Sau khi thỏa thuận về giá và phương thức giao hàng, đại lý thanh toán ngay cho hộ, vì thu nhập từ cao su là nguồn sống chính của họ Một số ít hộ ký sổ xác nhận và nhận tiền bán theo từng chuyến hàng hoặc sau vài chuyến trong tối đa 15 ngày.
Trong mối quan hệ giữa đại lý và hộ tiểu điền, mặc dù không có ràng buộc pháp lý chặt chẽ, hai bên vẫn duy trì các thỏa thuận phi chính thức để hỗ trợ lẫn nhau Các đại lý thường cung cấp tiền vay không lãi cho hộ khi cần thiết và ứng trước tiền bán mủ Đối với những đại lý có điểm thu mua cố định, họ cũng cung cấp công cụ sản xuất và vật tư nông nghiệp cho hộ, với khả năng hoàn trả bằng mủ hoặc tiền mặt Ngoài ra, nhiều đại lý thực hiện các hoạt động chăm sóc khách hàng như tặng quà vào dịp lễ, đặc biệt cho những hộ có sản lượng mủ lớn Đổi lại, đại lý mong muốn nhận được mủ từ các hộ, nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định và chất lượng.
Khảo sát tại Bình Phước, Kon Tum và Quảng Trị cho thấy 88,7% hộ tiểu điền bán toàn bộ hoặc phần lớn mủ cho các đại lý, trong khi số còn lại bán trực tiếp cho công ty chế biến mủ tư nhân hoặc nhà nước.
Hình 13: Tỷ lệ hộ tiểu điền bán mủ qua các kênh khác nhau (%)
Mủ nước chiếm phần lớn trong tổng lượng mủ của các hộ tiểu điền, vì vậy việc giao mủ nước đến cơ sở chế biến kịp thời là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng Do đó, mủ nước thu hoạch trong ngày thường được bán ngay cho đại lý trong ngày Ngược lại, mủ đông, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng thu hoạch, được các hộ gom lại và bán khi có giá tốt, khi có nhu cầu hoặc khi đạt đủ khối lượng.
Nguồn: Phỏng vấn trực tiếp hộ tiểu điền (tháng 5, 6, 7/2020)
Thuận lợi và khó khăn trong liên kết giữa hộ và đại lý
Thị trường tiêu thụ sản phẩm cao su tiểu điền luôn ổn định, với đại lý thu mua toàn bộ sản phẩm, bất kể khối lượng hay chất lượng mủ, nhưng giá cả phụ thuộc vào chất lượng Các hộ có thể bán mủ tại chỗ hoặc mang đến điểm thu mua gần vườn cao su, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển Khi bán cho đại lý, hộ nhận thanh toán ngay và có thể được ứng tiền, vay không lãi suất, cũng như nhận vật tư và công cụ cần thiết Hộ cũng có quyền tự quyết trong việc chọn đại lý để bán mủ cao su.
Các đại lý hiện đang chiếm ưu thế trong mối quan hệ với các hộ tiểu điều, khi các công ty chế biến ưu tiên mua mủ nguyên liệu từ họ thay vì từ các hộ Điều này khiến cho các hộ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc bán mủ qua đại lý, tạo ra lợi thế cho đại lý trong việc định giá thu mua Nhiều ý kiến từ các hộ tiểu điều tại ba tỉnh cho thấy họ bị đại lý ép giá, với phương thức thu mua thường là “giảm nhanh, tăng chậm” Cụ thể, khi công ty chế biến giảm giá thu mua, đại lý lập tức giảm giá mua từ hộ, nhưng khi giá tăng, đại lý lại chậm trễ trong việc điều chỉnh giá mua Hơn nữa, độ mủ, chỉ số quan trọng để xác định giá trị, hiện hoàn toàn do đại lý kiểm soát, gây bất lợi cho các hộ Phương pháp xác định độ mủ chủ yếu là lấy mẫu và nướng/đốt, yêu cầu kỹ năng và quy trình chính xác Tuy nhiên, một số đại lý có thể áp dụng “thủ thuật” để hạ thấp độ mủ, như lấy mẫu không đủ hoặc nướng quá mức, dẫn đến sai số lớn về hàm lượng cao su Nhiều hộ đã bức xúc về vấn đề này, và đã xảy ra nhiều tranh cãi giữa hộ và đại lý về kết quả đo độ mủ, nhưng nhiều hộ vẫn buộc phải bán mủ dù không đồng tình với kết quả.
Bình Phước Kon Tum Quảng Trị Tổng
% Đại lý Công ty chế biến nhà nước Công ty chế biến tư nhân
Có 21 lý do chính dẫn đến tình trạng thiếu đại lý trong các khu vực lân cận, bao gồm việc không có đại lý nào khác trong khu vực và các hộ gia đình không có đủ lao động hoặc phương tiện để vận chuyển mủ đến các đại lý xa hơn.
Mặc dù các hộ có thể tham khảo thông tin giá từ mạng lưới đại lý, nhưng vẫn tồn tại nghi ngờ về việc các đại lý có thể thông đồng để áp đặt mức giá không công bằng Tại một số địa phương, các đại lý còn phân chia khu vực thu mua, khiến cho một số hộ tiểu điền chỉ có thể bán sản phẩm cho 1-2 đại lý cố định, gây khó khăn trong việc tìm kiếm đại lý khác Thông tin từ dự án của Viện Mekong tại Quảng Trị cho thấy tình trạng này cần được xác minh thêm để đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động thu mua.
Một số đại lý thường đánh giá người nông dân dựa trên vẻ bề ngoài, dẫn đến bất lợi cho các hộ, đặc biệt là những hộ đồng bào dân tộc thiểu số có kỹ năng đàm phán yếu Các hộ này thường nhận mức giá thấp hơn giá thị trường do diện tích nhỏ và lượng cung mủ hạn chế, khiến họ không được ưu tiên thu mua Ngoài ra, các đại lý cũng áp dụng các tiêu chí đánh giá khắt khe hơn đối với những hộ thường xuyên thay đổi đại lý hoặc có lượng bán không ổn định, dẫn đến sự bất công trong giao dịch.
Vai trò của các bên liên quan khác trong liên kết hộ tiểu điền – đại lý – DN chế biến
Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung cao su thiên nhiên, đặc biệt trong việc kết nối các hộ tiểu điền, đại lý và công ty chế biến Họ có nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương và định hướng của nhà nước về cây cao su, bao gồm quy mô diện tích, vùng trồng và kỹ thuật trồng trọt Các trung tâm dạy nghề và khuyến nông cùng Hội Nông dân tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn cho nông dân về quy trình trồng, chăm sóc và cạo mủ Tuy nhiên, các chương trình này thường không được tổ chức thường xuyên do hạn chế về nguồn lực.
Chính quyền tỉnh và huyện có trách nhiệm cấp phép và giám sát hoạt động của các đại lý kinh doanh mủ nguyên liệu, yêu cầu các đại lý phải đăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý địa phương Một số địa phương, như Quảng Trị, còn quy định vị trí thu mua để bảo vệ môi trường Tuy nhiên, nhiều đại lý hoạt động tự phát, chưa được cấp phép, và một số điểm thu mua gây ô nhiễm trong khu dân cư Chính quyền không can thiệp vào giao dịch giữa các hộ và đại lý, mà các bên tự thỏa thuận Trong sản xuất của hộ tiểu điền, vai trò của cơ quan khuyến nông và bảo vệ thực vật khá mờ nhạt, với các hộ chủ yếu canh tác tự phát và học hỏi lẫn nhau, mặc dù một số hộ nhận được hỗ trợ kỹ thuật từ các dự án ngắn hạn.
4.3.2 Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV)
Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) có nhiệm vụ nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cao su RRIV sở hữu nhiều phòng và trung tâm nghiên cứu chuyên sâu về giống, đất, phân bón, bảo vệ thực vật, thu hoạch mủ và quản lý chất lượng cao su thiên nhiên Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cao su Tiểu điền của RRIV hỗ trợ phát triển cao su tiểu điền thông qua các nghiên cứu và dự án nhằm giúp đỡ nông hộ trồng cao su tại Việt Nam Theo Quyết định số 5505/QĐ-BNN-KHCN của Bộ NNPTNT vào năm 2016, RRIV đã thực hiện Chương trình Khuyến nông quốc gia từ 2017 đến 2020, xây dựng mô hình thâm canh tổng hợp tại 6 tỉnh: Nghệ An, Quảng Trị, Phú Yên, Gia Lai, Kon Tum và Bình Thuận Dự án này đã cung cấp giải pháp kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho các hộ tham gia, đồng thời sản phẩm cao su được chế biến và đóng gói với nhãn mác và thông tin xuất xứ rõ ràng từ Việt Nam.
Trong những năm qua, RRIV đã cung cấp giống cao su mới chất lượng cao cho cao su tiểu điền thông qua hợp tác với các dự án và chính quyền địa phương Tuy nhiên, các hoạt động của RRIV chủ yếu tập trung vào nâng cao năng suất và chất lượng, mà chưa chú trọng đến việc xây dựng liên kết giữa các hộ và các bên liên quan.
4.3.3 Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA)
VRA không phải là đại diện chính thức cho các hộ tiểu điền, nhưng đã thực hiện một số hoạt động hỗ trợ sự phát triển của ngành cao su thông qua các hội viên Cụ thể, VRA đã đóng góp vào việc xây dựng thương hiệu cao su Việt Nam và cấp quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, giúp nâng cao giá trị sản phẩm cao su trong nước.
VRA khuyến khích các hội viên đạt tiêu chí Chất lượng và Uy tín trong việc thu mua mủ cao su tiểu điền với giá thị trường hợp lý và đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc Đồng thời, VRA cũng khuyến khích hội viên thiết lập liên kết với các hộ/nhóm hộ tiểu điền để xây dựng chứng chỉ nhóm về quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc gia (VFCS) và quốc tế (FSC, PEFC).