1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật

109 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mạng lưới tổ chức thực hiện TGPL đã giải quyết trên 1,5 triệu vụ, việc cho gần 1,4 triệu lượt đối tượng được TGPL có nhu cầu, qua đó khẳng định vai trò, ý nghĩa của chính sách TGPL đối v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN HỮU VĂN

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN BÍNH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đoàn Hữu Văn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 7

1.1 Các Điều ước quốc tế đa phương quy định về hoạt động trợ giúp pháp lý 7

1.2 Pháp luật nước ngoài về hoạt động trợ giúp pháp lý 11

1.2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của trợ giúp pháp lý trên thế giới 11

1.2.2 Quy định cơ bản của một số quốc gia về trợ giúp pháp lý 14

Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 31

2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 31

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1987 31

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1997 36

2.1.3 Giai đoạn từ năm 1997 đến nay 41

2.2 Một số quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý 50

2.2.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý 50

2.2.2 Mô hình tổ chức, đối tượng và người thực hiện trợ giúp pháp lý 52

2.2.3 Hình thức, lĩnh vực và kinh phí trợ giúp pháp lý 65

Trang 4

2.2.4 Quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý 73

2.3 Các Hiệp định tương trợ tư pháp ký kết giữa Việt Nam với

một số quốc gia liên quan đến vấn đề trợ giúp pháp lý 77 Chương 3: SO SÁNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP

PHÁP LÝ GIỮA VIỆT NAM VỚI NƯỚC NGOÀI MỘT

SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP 83 3.1 So sánh tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý giữa Việt

Nam với nước ngoài 83

3.1.1 Những điểm tương đồng 83 3.1.2 Những điểm khác biệt 84

3.2 Một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện tổ chức, hoạt động

trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 85 KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT Viết tắt Nội dung từ

1 CHXH Cộng hòa xã hội

2 CTV Cộng tác viên

3 ĐDNTT Đại diện ngoài tố tụng

4 ĐƯQT Điều ước quốc tế

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, TGPL được hình thành khá sớm, khởi nguồn từ thành cổ A-then vào khoảng thế kỷ thứ V trước Công nguyên Tiếp đến là Anh (thế kỷ XV), Na Uy (thế kỷ XVII), Pháp (thế kỷ XVIII), Mỹ (nửa cuối thế kỷ XIX) Sau đó, phát triển rộng khắp ở nhiều quốc gia trên thế giới kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2: Hà Lan (1970), Thụy Sỹ (1972), Hàn Quốc (1972), Đức (1981), Trung Quốc (1996) Ở khu vực Đông Nam Á, TGPL đã xuất hiện ở Singgapore, Inđônêxia, Thái Lan, Malaysia, Philippine và Campuchia Cùng với tiến trình mở rộng, tăng cường hội nhập, hợp tác kinh tế- quốc tế giữa các quốc gia, TGPL đã được quy định trong nhiều Công ước quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền của LHQ năm 1948, Công ước Châu Âu về quyền chính trị

và dân sự năm 1976, Công ước Châu Âu về nhân quyền năm 1953… và trong nhiều ĐƯQT song phương được ký kết giữa các quốc gia liên quan đến vấn

Việt Nam xuất phát từ chủ trương: “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn, đáp

nghĩa”, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất

của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Xuất phát từ yêu cầu, tình hình thực tế đặt ra trong

xã hội gắn liền với nhu cầu tìm hiểu pháp luật, TGPL của người dân và trên

cơ sở nghiên cứu sâu rộng hoạt động của mô hình TGPL các nước trên thế giới, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện TGPL thí điểm ở thành phố Cần

Trang 7

Thơ và tỉnh Hà Tây (cũ) Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-TTg về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo

và đối tượng chính sách, theo đó, Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp và các Trung tâm TGPL nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố ra đời với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động TGPL và quản lý nhà nước về TGPL

Trải qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, mô hình TGPL nước ta đã

có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu, tổ chức cơ bản đi vào ổn định, đang từng bước thể hiện tính chuyên nghiệp, hiện đại Mạng lưới tổ chức thực hiện TGPL đã giải quyết trên 1,5 triệu vụ, việc cho gần 1,4 triệu lượt đối tượng được TGPL có nhu cầu, qua đó khẳng định vai trò, ý nghĩa của chính sách TGPL đối với đời sống xã hội, đặc biệt là vấn

đề “xóa đói, giảm nghèo”, nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, hỗ trợ

bảo đảm quyền con người trong xã hội qua việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đóng góp ý nghĩa vào việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật Việt Nam về chính trị- kinh tế- văn hóa- xã hội- an ninh- quốc phòng và vào công tác thực thi, thi hành pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Đi cùng với sự thành công trong hoạt động TGPL thời gian qua là sự quyết tâm cao của của Đảng và Nhà nước ta trong công tác hoàn thiện thể chế, chính sách điều chỉnh hoạt động này Với một khối lượng văn bản khá

đồ sộ, đặc biệt quan trọng phải kể đến là Luật TGPL được Quốc hội khóa

XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006, Quyết định số 792/QĐ-TTg

ngày 23/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án: "Quy hoạch

mạng lưới Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 - 2010, định hướng đến năm 2015" và Quyết định số 678/QĐ-

TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát

Trang 8

triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã tạo hành lang, cơ sở pháp lý vững chắc cho TGPL Việt Nam không ngừng lớn mạnh và phát triển ở hiện tại và trong tương lai, là nền tảng định hướng quan trọng để đáp ứng đầy đủ, đạt chất lượng, hiệu quả mọi nhu cầu, nguyện vọng, vướng mắc cần được TGPL của người dân đặc biệt là của người nghèo

và các đối tượng chính sách

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì TGPL Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức từ thực trạng tổ chức, bộ máy, nguồn lực phục vụ đến thực tiễn hoạt động Vì vậy, để TGPL nước ta thực sự thể hiện tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cao, theo kịp với xu thế phát triển TGPL trên thế giới nhất là với các nước có mô hình TGPL tiên tiến, hiện đại

để đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu TGPL của người dân với chất lượng cao thì còn nhiều việc phải làm, nhiều biện pháp phải giải quyết liên quan đến yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế về TGPL, đẩy mạnh kiện toàn bộ máy tổ chức thực hiện, đổi mới cách thức hoạt động, đầu tư mạnh mẽ về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm việc cùng sự quan tâm ủng hộ, đóng góp tích cực, mạnh mẽ của đông đảo nguồn lực trong xã hội dành cho TGPL

Từ những vấn đề trên, để nhận thức đầy đủ, sâu sắc về một chính sách

xã hội nhân đạo, nhân văn gắn với việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

và các quốc gia trên thế giới cả về lý luận và thực tiễn, từ đó xây dựng những luận điểm, giải pháp, kiến nghị khoa học, xác đáng nhằm đẩy mạnh hiệu quả

tổ chức, hoạt động TGPL nước ta Tôi chọn đề tài: “Pháp luật quốc tế, pháp

luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về hoạt động TGPL” làm luận

văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu và tính mới của Đề tài

Trước khi nghiên cứu, xây dựng đề tài này đã có một số công trình

Trang 9

nghiên cứu khoa học cấp bộ và luận văn thạc sĩ chuyên ngành nghiên cứu về thể chế, chính sách, mô hình tổ chức, hoạt động TGPL như: Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Vũ Hồng Tuyến về hoàn thiện pháp luật về người thực hiện TGPL ở Việt Nam (năm 2004), Luận văn thạc sĩ luật của tác giả Nguyễn Huỳnh Huyện về thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách ở Việt Nam (năm 2006), Luận văn thạc sĩ luật của tác giả Đỗ Xuân Lân về hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp về mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay (năm 1999), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ cùng Viện về luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh TGPL (năm 2004)…

Nội dung của các luận văn, công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích, làm rõ một số nội dung quan trọng, thiết yếu trong quá trình tổ chức, hoạt động TGPL, cơ bản, trọng tâm là tổng hợp, đánh giá thực trạng, đưa ra giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách TGPL ở Việt Nam Tuy nhiên, xét trên phương diện khách quan, hiện vẫn chưa có công trình, luận văn nào tập trung nghiên cứu khái quát, bao trùm hoạt động TGPL trên diện rộng, từ những quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia cho đến pháp luật Việt Nam cùng việc chứng minh thực tiễn tổ chức, hoạt động và tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển

Vì vậy, việc xây dựng Luận văn thạc sĩ này sẽ có nhiều điểm mới, mở rộng hơn so với các đề tài nghiên cứu, luận văn thạc sĩ trước đó Nội dung luận văn là những tổng hợp, nghiên cứu các ĐƯQT đa phương và song phương, cơ bản và chủ yếu là các văn bản mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập liên quan đến TGPL, những quy định cơ bản trong chính sách, pháp luật và thực tiễn tổ chức, hoạt động TGPL ở một số quốc gia trên thế

Trang 10

giới và ở tại Việt Nam Trên cơ sở xác định những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức tổ chức, bộ máy, tác giả đưa ra những giải pháp tích cực với mong muốn đóng góp một phần sức nhỏ vào công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL Việt Nam ở giai đoạn hiện nay và các giai đoạn kế tiếp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ tập trung nghiên cứu đối tượng chính là TGPL, một chính sách nhân đạo, từ thiện, mang đậm bản chất nhân văn đang được các quốc gia đầu tư phát triển Xoay quanh đối tượng chính là những nội dung được quy định trong pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam, cùng với việc tổng hợp, đánh giá tiến trình hình thành, phát triển, cách thức xây dựng, quá trình tổ chức, hoạt động ở một số nước và ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi rộng, bao gồm: Các ĐƯQT đa phương về TGPL mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập; Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam với các quốc gia có

đề cập đến vấn đề này; Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia quy định về khái niệm, mô hình TGPL, người thực hiện TGPL, đối tượng thuộc diện TGPL, hình thức, lĩnh vực, kinh phí dành cho TGPL và quản lý nhà nước về TGPL Với những điểm tương đồng và khác biệt về TGPL giữa Việt Nam với một số quốc gia, qua thực tiễn tổ chức, hoạt động là những vấn đề trọng tâm, cần thiết theo phương diện cá nhân để hoàn thiện tổ chức, đẩy mạnh hoạt động TGPL ở Việt Nam trong tiến trình bảo vệ quyền lợi của người nghèo và các đối tượng chính sách

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa khoa học biện chứng và chủ nghĩa khoa học lịch sử trong mối quan hệ tổng hòa, tương

hỗ chặt chẽ lẫn nhau để làm sáng tỏ các vấn đề từ góc độ lý luận và thực tiễn

Trang 11

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng trong quá trình viết Luận văn là: Phương pháp tư duy trừu tượng; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống

5 Kết cấu của Luận văn

Không bao gồm mục lục, phần mở đầu, kết luận và nguồn tài liệu tham khảo, Luận văn được xây dựng với bố cục gồm 03 Chương:

Chương 1 Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về hoạt động TGPL Chương 2 Pháp luật Việt Nam về TGPL

Chương 3 So sánh tổ chức và hoạt động TGPL giữa Việt Nam với

nước ngoài Một số kiến nghị, giải pháp

Trang 12

Chương 1

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI

VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

1.1 Các ĐƯQT đa phương quy định về hoạt động TGPL

Để tăng cường bảo vệ quyền con người, các quốc gia đều quan tâm đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền cùng với việc đặt tổ chức và hoạt động của công quyền trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh đó, quyền con người cũng gắn liền với các trào lưu tiến bộ xã hội của nhân loại để không ngừng mở rộng và nâng cao giá trị dân chủ, xác lập vị thế, vai trò quan trọng của các cá thể- con người, chủ thể của mọi hành vi trong xã hội Pháp luật trở thành một trong các công cụ quan trọng của nhà nước pháp quyền điều chỉnh xã hội để bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia Trong đó, pháp luật với công chúng, nhất là những bộ phận dân nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội là một vấn đề mà các chế độ chính trị khác nhau ở tất cả các nước đều quan tâm nghiên cứu và giải quyết theo cách riêng sao cho hiệu quả, phù hợp với truyền thống pháp luật, điều kiện kinh tế-xã hội

Từ yêu cầu và trong xu thế hội nhập quốc tế, vấn đề bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong nhiều ĐƯQT, mà ở đó TGPL được khẳng định như một quyền độc lập của con người, đồng thời là công cụ để bảo vệ các quyền công dân khác

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (được thông qua và tuyên bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng LHQ) đã trịnh trọng tuyên bố:

…Tất cả mo ̣i người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau tro ng tình bằng hữu…

Trang 13

và … Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào…[21]

Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng LHQ đã đưa ra tuyên bố về nguyên tắc

và những hướng dẫn về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự, trong

đó TGPL được thừa nhận:

…Là một thành tố cơ bản của một hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác, bao gồm quyền có phiên toà xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến bộ của hệ thống tư pháp hình sự… và Nhà nước cần bảo đảm quyền được TGPL trong hệ thống pháp luật quốc gia ở mức độ cao nhất có thể [27]

Đồng thời, Tuyên bố xác định rõ nguyên tắc TGPL dành cho các đối tượng cụ thể như: người bị tình nghi hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, nạn nhân của tội phạm, nhân chứng, trẻ em, phụ nữ và nhóm người có yêu cầu đặc biệt cùng sự bảo đảm, bảo vệ người thực hiện TGPL, thẩm quyền, trách nhiệm của họ trong quá trình thực thi công vụ Từ những nguyên tắc, nội dung mang tính định hướng này sẽ góp phần hoàn thiện chính sách TGPL với

tư cách một bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống tư pháp hình

sự ở các quốc gia, từ đó khẳng định, phát huy giá trị mạnh mẽ của TGPL cho

các đối tượng trong quá trình tố tụng

Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng LHQ và có hiệu lực ngày 23/3/1976 (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982) đã đặt ra quy định khi xét xử về một tội

hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn bình đẳng việc

Trang 14

có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự TGPL theo sự lựa chọn của mình, được thông báo về quyền này nếu chưa có sự TGPL và được nhận sự TGPL theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả Ngoài ra, Công ước này còn quy định về quyền giúp đỡ khi bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do; quyền bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán; quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật; thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên; quyền được xem xét lại vụ việc, mức án tại Tòa án cao hơn; quyền được công nhận ở bất kỳ đâu là một con người trước pháp luật; quyền và cơ hội tiếp cận nói chung các dịch vụ công cộng ở đất nước mình; quyền của người dân tộc thiểu số; quyền suy đoán vô tội trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án [23]… Đây là những quyền cơ bản của con người trong hoạt động tố tụng, rộng hơn là ở đời sống xã hội liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến quyền TGPL

Công ước quốc tế về quyền trẻ em thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng LHQ và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990 (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990), theo điều 49 của Công ước thì trẻ em phải được đặc biệt trao

cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có liên quan đến trẻ, trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy tắc thủ tục trong pháp luật quốc gia và các quốc gia thành viên phải bảo đảm trẻ

em bị tước tự do có quyền được nhanh chóng tiếp cận sự TGPL và những trợ giúp thích hợp khác, cũng như quyền được chất vấn tính chất hợp pháp của việc tước tự do đó trước một Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền, độc lập, vô

tư khác và có quyền đòi hỏi một quyết định nhanh chóng liên quan đến bất kỳ hành động nào như vậy [24]

Trang 15

Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ được thông qua và để mở cho các nước ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết 34/180 ngày 18/12/1979 của Đại hội đồng LHQ và có hiệu lực từ ngày 3/9/1981 (Việt Nam phê chuẩn ngày 18/12/1982) đã quy định các quyền cơ bản của người phụ nữ được sự bảo vệ của luật pháp nhằm chống lại nạn phân biệt đối xử, bảo đảm bình đằng giới, trong đó cũng đề cập đến vấn đề TGPL

Công ước quốc tế về người khuyết tật được Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày 13/12 /2006 (Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước vào ngày 22/10/2007) quy định các quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp để tạo sự tiếp cận cho người khuyết tật đối với những hỗ trợ pháp lý mà họ cần khi thực hiện năng lực pháp lý và đảm bảo khả năng tiếp cận có hiệu quả đối với các dịch vụ tư pháp cho người khuyết tật [26]

Như vậy, các Tuyên bố, ĐƯQT đa phương mà Việt Nam là thành viên

ký kết hoặc gia nhập đã quy định một cách trực tiếp hay gián tiếp quyền được TGPL nằm trong các quyền cơ bản của con người và là cơ sở để các quốc gia thành viên cụ thể hóa phù hợp trong các văn bản QPPL nước mình

Tuy nhiên, tổng hợp tính đến thời điểm hiện tại, nội dung các ĐƯQT

đa phương quy định về TGPL mới chỉ điều chỉnh vấn đề theo cách chung, khái quát cho một số đối tượng nhất định và hiện chưa có văn bản quy định tập trung, thống nhất, đầy đủ về vấn đề này Điều này gây ra khó khăn không nhỏ trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, nắm vững các quy định về TGPL trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như việc pháp điển hóa vào pháp luật các quốc gia thành viên

Từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy các tổ chức quốc tế, các quốc gia cần hợp tác nghiên cứu, xây dựng một ĐƯQT thống nhất điều chỉnh toàn diện,

Trang 16

đầy đủ về vấn đề này, tránh những mâu thuẫn, trồng chéo giữa các văn bản đã

đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp vấn đề TGPL Nội dung của ĐƯQT chung cần xác định chính xác, hướng trọng tâm vào khái niệm TGPL, các đối tượng được TGPL, quyền và nghĩa vụ của họ, hình thức, lĩnh vực thực hiện, trình tự, thủ tục khi có yêu cầu và cách thức hợp tác quốc tế giữa các quốc gia về TGPL

1.2 Pháp luật nước ngoài về hoạt động TGPL

1.2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của TGPL trên thế giới

Hình thành bắt đầu từ thành cổ A- then vào khoảng thế kỷ thứ X trước Công nguyên Đến năm 224, Nhà nước Lã Mã ban hành đạo luật cấm những người biện hộ nhận tiền công Ở nước Anh, từ thế kỷ XV pháp luật Anh quốc

đã có quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng

quyền lợi mà pháp luật ban cho” Năm 1495, vua Henry VII trong một nghị

án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: “Chính nghĩa cần được dành

chung cho người nghèo để thực hiện quyền tự do họ được hưởng- điều đó là

tự nhiên không gì thay thế”

Ở Châu Âu lục địa, TGPL có nguồn gốc từ quyền được tư vấn và xét

xử công bằng của công dân trước pháp luật Theo đó, người nghèo được miễn

án phí, được cung cấp luật sư miễn phí khi không có đủ khả năng tài chính để chi trả thù lao thuê luật sư Những năm đầu thế kỷ XX, một số nước Châu Âu chưa coi TGPL là trách nhiệm của mình mà dựa vào hoạt động TGPL mang tính từ thiện của luật sư Nhà nước sẽ chi trả một khoản thù lao nhất định cho luật sư khi thực hiện TGPL Tuy nhiên, để hạn chế việc chi trả thù lao cho luật sư miễn phí trong các vụ việc tố tụng, một số nước đã quy định nghĩa vụ TGPL bắt buộc của luật sư trong các văn bản pháp luật

Giữa các nước theo truyền thống pháp luật thành văn và các nước theo truyền thống án lệ có cách tiếp cận khác nhau về quyền có luật sư miễn phí Các nước theo truyền thống pháp luật thành văn thường nhấn mạnh về quyền

Trang 17

có luật sư trong tố tụng dân sự và đương sự được cung cấp dịch vụ TGPL thông qua một luật sư do khách hàng yêu cầu, trong khi các nước theo truyền thống án lệ thường nhấn mạnh đến quyền được tư vấn và cung cấp TGPL chủ yếu liên quan đến thủ tục tố tụng pháp luật hình sự

Tại Na Uy, từ thế kỷ XVII đã xuất hiện loại hình tranh tụng miễn phí Trong thời gian này, nhà vua đã ban hành một số Sắc lệnh cho người nghèo nộp đơn xin luật sư TGPL tại Tòa án để tránh sự bất công đối với người nghèo và sự bất bình của công chúng Những luật sư (hoặc công tố viên) được nhà vua chỉ định thực hiện những vụ việc TGPL này sẽ được nhận một khoản thù lao theo mức quy định

Tại Mỹ, ngay từ nửa cuối thế kỷ XIX, khi các bang của Mỹ thành lập Hiệp hội luật sư và các tổ chức tương tự đã quy định rõ quy phạm hành vi đạo

đức của luật sư, trong đó có một số nội dung tương đối đầy đủ là: “Quy tắc

hành vi TGPL của luật sư” Sau đó không lâu, để làm nổi bật hơn nội dung

TGPL, một Hiệp hội luật sư của Mỹ đã chuyển hướng tập trung sáng lập một hình thức mới để giải quyết vấn đề TGPL cho người nghèo Hình thức này có

tổ chức hơn và mang tính quy phạm hơn, coi đây là một thiên chức của luật sư

Tại Pháp- một nước tiêu biểu trong số các nước theo hệ thống pháp luật lục địa, sau khi giai cấp tư sản giành được chính quyền, ở các hiệp hội luật sư dần dần hình thành một tập quán là trước Tòa án, luật sư biện hộ cho người nghèo không thu phí Đến năm 1851, tập quán này trở thành một chính sách

trong các quy định pháp luật gọi là “Luật luật sư trợ giúp” Đối với vụ án bị

xử tội danh nặng thì phải chỉ định luật sư biện hộ cho bị cáo, còn những vụ án

xử tội danh nhẹ, Chánh án Tòa án cũng có thể chỉ định biện hộ nếu bị cáo yêu cầu và chứng minh được mình thực sự nghèo khó Ngoài ra, đối với các vụ án tranh chấp liên quan đến tiền dưỡng lão, tội phạm vị thành niên, tai nạn nghề nghiệp, tiền công lao động, thất nghiệp… pháp luật cũng quy định đều phải có

Trang 18

sự trợ giúp khi tiến hành xét xử

Sau đại chiến thế giới lần thứ II, sự tăng trưởng về kinh tế cùng với quan niệm tư tưởng xã hội hóa phúc lợi, các nhà nước đã thúc đẩy TGPL phát triển lên giai đoạn mới Trong giai đoạn này, hệ thống TGPL tương đối đầy đủ, chính thức đã được thành lập như: Tại Anh (Năm 1949), Ontario-Canada (1951), Hà Lan (1970), Thụy Sỹ (1972), Đức (1981), Hàn Quốc (1972), Trung Quốc (1996)… Trong khu vực Đông Nam Á, cùng với Việt Nam, TGPL đã xuất hiện tại Singgapore, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippine, Cămpuchia Bên cạnh đó, TGPL đã trở thành quy phạm chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế thể hiện trong Tuyên ngôn nhân quyền của LHQ năm 1948, Công ước Châu Âu về quyền chính trị và dân sự năm 1976, Công ước Châu Âu về nhân quyền năm 1953 và nhiều văn bản pháp luật quốc tế khác

Gần đây, dưới sức ép của công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực thi dân chủ, bảo đảm quyền con người, nhiều Chính phủ đã quan tâm hơn đến việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiết yếu cho người nghèo và đối tượng đặc biệt để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đặc biệt là quyền đại diện, quyền bào chữa tại các cơ quan tiến hành tố tụng

Cùng với sự phát triển của nghề luật sư và mạng lưới tổ chức dân sự, ngày càng có nhiều luật sư, tổ chức xã hội cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo và một số đối tượng có hoàn cảnh khó khăn Vì thế, hầu hết pháp luật các nước đều ghi nhận trách nhiệm của nhà nước và xã hội, đặc biệt là luật sư trong việc TGPL

Nhiều nước đã thiết lập mô hình TGPL hỗn hợp mà ở đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa TGPL của nhà nước với TGPL mang tính xã hội Các hình thức TGPL cũng đa dạng, phong phú như gặp trực tiếp, qua thư, điện thoại Người được TGPL không chỉ là người nghèo mà còn bao gồm trẻ em, phụ nữ là nạn

Trang 19

nhân của nạn buôn bán phụ nữ và bạo lực gia đình, người già cô đơn, người tị nạn, người dân tộc thiểu số Khái niệm TGPL được phát triển theo nghĩa rộng

hơn: “tiếp cận công lý”- tiếp cận có hiệu quả nhu cầu pháp luật, không chỉ đại

diện, bào chữa, TVPL mà còn là phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải nhằm nâng cao ý thức pháp luật của người dân

Trước nhu cầu phát triển của TGPL trong đặc điểm, tình hình mới, pháp luật về TGPL ở các nước trên thế giới đã có nhiều chỉnh sửa, hoàn thiện phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi nước và trở thành công cụ, hình thức hữu hiệu trong việc giúp đỡ, hỗ trợ những người nghèo, đối tượng đặc thù cần được quan tâm trong xã hội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần đảm bảo được sự bình đẳng giữa các tầng lớp xã hội và vào việc giữ gìn trật tự trị

an, thực hiện chính sách an sinh xã hội ở mỗi quốc gia

1.2.2 Quy định cơ bản của một số quốc gia về TGPL

1.2.2.1 Khái niệm TGPL

Với thuật ngữ khởi đầu bằng tiếng Anh là: “legail aid”, thì TGPL ở

mỗi quốc gia có cách định nghĩa khác nhau Giới hạn Luận văn này tập trung nghiên cứu khái niệm trong quy định của một số nước

Theo Luật TGPL của Bang Victoria năm 1978 thuộc Australia thì TGPL là: Giáo dục, tư vấn, thông tin pháp luật; Bất cứ dịch vụ pháp luật nào

do luật sư cung cấp; Các dịch vụ khác trong phạm vi thẩm quyền của TGPL, bao gồm dịch vụ của luật sư theo nghĩa vụ, TVPL và hỗ trợ pháp luật [2]

Là đại diện cho khách hàng trước Tòa án nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý (Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý năm 1995 của Singgapore) [43]

Là việc tư vấn và đưa ra ý kiến; soạn thảo các hợp đồng; cung cấp cách dịch vụ pháp lý phục vụ cho hoạt động tranh tụng cho những người nghèo và người bị đối xử bất công (Đạo luật về hành nghề luật B.E 2528 năm 1985 của

Trang 20

Là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp (Luật về công ty dịch vụ pháp lý của Hoa Kỳ sửa đổi năm 1977) [29]

Tại Đức: TGPL là giúp đỡ một phần hay toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán các chi phí về TVPL, đại diện hoặc bào chữa trước Toà án…

Tuy mỗi nước có cách quy định rộng hay mở về TGPL, song đặc điểm chung trong quy định khái niệm về TGPL đều thể hiện rõ nét bản chất nhân đạo, từ thiện, chính là: Giúp đỡ miễn phí cho những người không có khả năng thanh toán dịch vụ pháp lý được hưởng các hình thức TGPL theo quy định Điều này là điểm khác biệt giữa TGPL miễn phí cho đối tượng có hoàn cảnh khó khăn với hoạt động hành nghề có thu phí từ khách hàng của luật sư

1.2.2.2 Mô hình tổ chức, đối tượng và người thực hiện TGPL

* Mô hình tổ chức TGPL

Mô hình tổ chức TGPL là các thiết chế được lập ra để thực hiện TGPL cho những người thuộc diện được thụ hưởng loại hình dịch vụ này Các thiết chế đó có thể do Nhà nước hoặc một tổ chức xã hội thành lập hoặc cũng có thể do một cá nhân đảm nhiệm

Do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội chi phối nên các nước đã hình

Trang 21

thành nhiều mô hình TGPL khác nhau với những hoạt động rất đặc thù Sự khác nhau được thể hiện ở chỗ, đối với các Nhà nước đơn nhất có một hệ thống pháp luật và việc phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ thống nhất trong toàn quốc như Philippine, Trung Quốc, Nepal, Nam Phi, Singapore… thì tổ chức thực hiện TGPL về cơ bản là thống nhất Tuy nhiên,

ở các quốc gia liên bang với sự tồn tại của hai hệ thống pháp luật: liên bang

và bang, với sự độc lập tương đối của chính quyền bang như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Thụy Sỹ, Australia… thì mỗi bang có một mô hình tổ chức TGPL riêng biệt của mình

Nghiên cứu pháp luật về TGPL ở một số nước cho thấy, trên thế giới hiện nay tồn tại ba mô hình tổ chức TGPL phổ biến là: mô hình từ thiện, mô hình luật sư trợ giúp được trả lương từ ngân sách nhà nước và

ở hầu hết các nước trên thế giới đều kết hợp duy trì mô hình này cùng với các

mô hình khác, nhưng có tính tổ chức hơn và được pháp luật quy định

Mô hình này có những đặc điểm sau: Hoạt động TGPL hoàn toàn miễn phí, người được trợ giúp không phải đóng góp bất cứ khoản chi phí nào; Hoạt động TGPL mang tính tự phát, không phải là nghĩa vụ bắt buộc mà xuất phát

từ ý chí của mỗi luật sư, do luật sư hành nghề tự do thực hiện trên cơ sở tự nguyện; Phụ thuộc vào lòng từ thiện của luật sư và các tổ chức tư vấn

Hạn chế của mô hình này không mang tính thường xuyên, liên tục, không giúp đỡ được nhiều người, không đáp ứng được tất cả các nhu cầu TGPL trong xã hội, chỉ được thực hiện khi có luật sư tình nguyện giúp đỡ

Trang 22

miễn phí Chất lượng vụ việc đôi khi hạn chế do các vụ việc chủ yếu do luật

sư trẻ, luật sư tập sự, chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện

Thứ hai, mô hình luật sư trợ giúp được trả lương từ ngân sách nhà nước

Đây là mô hình TGPL do Nhà nước tài trợ và hoạt động được thực hiện chủ yếu do đội ngũ luật sư công và luật sư tư thực hiện Nhà nước tuyển dụng các luật sư làm việc thường xuyên cho tổ chức TGPL và trả lương họ theo tháng mà không theo vụ việc Các tổ chức TGPL được thành lập và hàng năm được Nhà nước cấp một khoản kinh phí theo dự toán và được phép sử dụng, quản lý nguồn kinh phí này một cách độc lập để thực hiện các hoạt động liên quan đến TGPL Theo mô hình này, tổ chức TGPL có thể chủ động đến gặp đối tượng cần trợ giúp mà không cần chờ họ đến gặp mình Hiện nay, mô hình này được áp dụng ở Mỹ và bang Quebec (Canada) và một số nước khác

Mô hình này có đặc điểm sau: Hoạt động TGPL được thực hiện miễn phí, toàn bộ chi phí cho hoạt động TGPL do ngân sách nhà nước cấp, đối tượng trợ giúp không phải đóng góp một khoản tiền nào; đội ngũ luật sư công

và luật sư tư thực hiện TGPL được Nhà nước trả lương cố định mà không hưởng lương theo vụ việc; đương sự được lựa chọn trong số các luật sư của tổ chức TGPL; số vụ việc TGPL rất hạn chế, một số tổ chức TGPL bó hẹp phạm

vi trợ giúp trong lĩnh vực tư vấn, kiến nghị, nếu là đại diện bào chữa thì phải mời luật sư tư

Điểm yếu có bản của mô hình này là nguồn kinh phí hoàn toàn phụ thuộc vào Chính phủ, do vậy không thể đáp ứng được nhu cầu TGPL ngày càng tăng của xã hội

Thứ ba, mô hình hỗn hợp

Là một mô hình hữu hiệu và phổ biến nhất hiện nay do kết hợp được tất

cả các điểm mạnh của các mô hình khác nhau Đó là sự kết hợp giữa hoạt động TGPL của Nhà nước (luật sư công) với tổ chức luật sư tư được Nhà

Trang 23

nước tài trợ hoặc do các luật sư tư thực hiện trên cơ sở tự nguyện mang tính

từ thiện, nhưng được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các nước: Anh, Nhật, Hà Lan, Australia, Nam Phi, Thụy Điển, Trung Quốc Theo mô hình này, ở các nước đều có một Ủy ban TGPL Trung ương điều hành Dưới Ủy ban có các Ban hỗ trợ pháp lý (Thụy Điển) hoặc Văn phòng TGPL (Anh, Nam Australia) Dưới Văn phòng TGPL

là Trung tâm TGPL Hoạt động TGPL chủ yếu do luật sư công (Australia, Philipine, Trung Quốc) và luật sư tư hành nghề tự do thực hiện Đây là mô hình trợ giúp được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng

Mô hình này có các đặc điểm sau đây: Cơ quan nhà nước đóng vai trò chủ đạo như một cơ quan trung gian giữa khách hàng và luật sư, do vậy tiết kiệm được thời gian và thuận lợi cho khách hàng vì các luật sư không phải làm các công việc hành chính hàng ngày, đối tượng TGPL được tự do lựa chọn luật sư theo nguyện vọng; được Nhà nước tài trợ một phần kinh phí để giúp đỡ cho các đối tượng được trợ giúp miễn phí, một phần kinh phí do đối tượng nộp, nghĩa là đối tượng phải nộp một phần chi phí trợ giúp khoảng 10,

20 hoặc 30% chi phí, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh khó khăn của đối tượng; trợ giúp được nhiều loại vụ việc khác nhau; việc đưa ra ý kiến sẽ dễ dàng hơn

vì khách hàng không nhất thiết phải đến luật sư mà vẫn nhận được sự tư vấn; những người không phải làm chuyên môn có nhiều cơ hội tiếp cận pháp luật khi làm việc ở các tổ chức của Nhà nước

Như vậy, dù theo bất kỳ mô hình nào, đặc trưng mang tính bản chất của TGPL là một loại nghề nghiệp đặc biệt vừa mang tính chính trị - pháp lý, vừa

mang tính nhân đạo, từ thiện: “giúp đỡ pháp lý cho những người không có

khả năng thanh toán chi phí khi tiếp cận công lý” Hoạt động này trở thành

một trong những chức năng xã hội của bất kỳ Nhà nước nào

* Đối tượng TGPL

Do sự khác biệt về chế độ chính trị, tình hình kinh tế- xã hội nên pháp

Trang 24

luật mỗi nước đều có những quy định khác nhau về điều kiện, tiêu chuẩn được TGPL, song đều dựa trên một số tiêu chí cơ bản

Đầu tiên phải kể đến, đối tượng được TGPL là những người nghèo, không có hoặc không đủ khả năng tài chính để chi trả cho các dịch vụ pháp lý Chính vì vậy, khi gặp phải những vướng mắc pháp luật hay khi TGTT, họ thường phải chịu thiệt thòi vì không có tiền mời luật sư Bản thân họ lại không hiểu biết đầy đủ về pháp luật nên không tự bảo vệ được quyền lợi cho mình Người nghèo là đối tượng trợ giúp phổ biến ở tất cả các nước, thậm chí

là đối tượng duy nhất được TGPL theo pháp luật một số nước như Mỹ, Hà Lan, Nam Phi, Nê-pan

Bên cạnh người nghèo, đối tượng được TGPL là những người không có khả năng tự bảo vệ như người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người tàn tật, người chưa thành niên, người già, nạn nhân của bạo lực gia đình, người đòi bồi thường trong các vụ án hình sự… cần được TGPL về pháp luật (áp dụng ở Trung Quốc, Đức, Singgapore)

Hay là những người có vụ việc liên quan đến cơ quan tiến hành tố tụng như người bị tạm giữ, tạm giam, người bị truy tố theo mức hình phạt chung thân hoặc tử hình,… cần được giúp đỡ để thực hiện các quyền của bị can, bị cáo trước các cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm rằng các cơ quan này không lạm dụng quyền hạn để có những xử sự bất lợi cho họ (như Anh, Thụy Điển, Úc…)

Ngoài ra, còn một số đối tượng khác được thụ hưởng chính sách TGPL như: người tị nạn, công dân nước ngoài làm thuê, người dân tộc thiểu số, người nước ngoài, người không có quốc tịch (như Trung Quốc, Cămpuchia)

Tuy nhiên, ở một số quốc gia như Thụy Điển, Nam Phi thì đối tượng được TGPL là tất cả công dân

Theo quy định trong pháp luật của đa số các nước thì để được TGPL,

Trang 25

đối tượng phải chứng minh được mình thuộc diện được trợ giúp Chẳng hạn, đối với những người nghèo, họ phải chứng minh được điều kiện kinh tế của

họ nằm dưới mức quy định Một số nước có quy định tổ chức TGPL phải thực hiện việc xác minh về khả năng kinh tế của đối tượng để biết họ có thuộc diện được trợ giúp pháp hay không

Về tiêu chí xác định người nghèo, ở mỗi nước đều quy định một mức thu nhập nhất định để làm tiêu chí xác định một người có thuộc diện nghèo hay không Mức quy định này có thể khác nhau giữa các vùng, miền trong cùng một quốc gia

Còn đối với các đối tượng khác là những giấy tờ tùy thân, văn bản của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà căn cứ vào đó có thể chứng minh là người thuộc diện được TGPL

* Người thực hiện TGPL Tùy từng mô hình TGPL khác nhau mà người thực hiện TGPL sẽ được quy định khác nhau, điều đó phụ thuộc vào thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội, sự phát triển của nghề luật, đặc biệt là sự can thiệp và quan tâm của nhà nước đối với hoạt động TGPL Tuy vậy, người thực hiện TGPL dù ở bất

kỳ quốc gia nào cũng đều có những tiêu chí nhất định

Điểm chung trong pháp luật của các nước đều xác định người thực hiện TGPL phải đáp ứng được những điều kiện về kiến thức hiểu biết pháp luật hoặc chí ít là những người có tri thức pháp luật do đặc thù của TGPL là một nghề nghiệp chuyên môn sâu gắn với pháp luật

Hầu hết các nước khi xác định người thực hiện TGPL đều dựa trên sự phát triển của nghề luật, đặc biệt là nghề luật sư và đều thừa nhận luật sư là người thực hiện TGPL và hoạt động TGPL chủ yếu dựa trên đội ngũ luật sư

Sở dĩ như vậy, vì luật sư là người có tính chất, hoạt động nghề nghiệp thường xuyên tiếp xúc với pháp luật, hành nghề pháp luật và có đủ kiến thức pháp

Trang 26

luật nên thường là người có điều kiện nhất để có thể cung ứng dịch vụ TGPL Ngoài luật sư thì người thực hiện TGPL cũng có thể là cán bộ chuyên trách của nhà nước được nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện TGPL Họ có thể là viên chức trong bộ máy nhà nước, được nhà nước tuyển dụng hoặc ký hợp đồng vào làm việc TGPL có trả lương theo vụ việc hoặc trả lương theo tháng

Mặt khác, người thực hiện TGPL phải đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định về phẩm chất đạo đức, công tâm khi thực hiện TGPL xuất phát từ đặc thù của TGPL là việc cung ứng dịch vụ pháp luật cho những người không

có điều kiện kinh tế bằng việc miễn phí hoặc giảm phí

Qua nghiên cứu pháp luật các nước có thể khái quát những đối tượng sau đây được thực hiện TGPL:

Luật sư công: Là công chức nhà nước hoặc được nhà nước tuyển dụng vào làm việc tại tổ chức TGPL để trực tiếp thực hiện TGPL, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và thực hiện vụ việc theo sự phân công của tổ chức TGPL Luật sư công hiện có ở các nước như: Philippine, Hà Lan, Mỹ, Litva, Israel, Hàn Quốc, Canada, Bang New South Wales của Australia, Phần Lan…

Luật sư hành nghề tự do theo pháp luật về luật sư: Các luật sư là thành viên của Hiệp hội luật sư (hoặc Đoàn luật sư) tự nguyện tham gia thực hiện TGPL theo yêu cầu của khách hàng hoặc thực hiện TGPL theo yêu cầu của Chính phủ và được Chính phủ chi trả một phần thù lao như: Hàn Quốc, Mỹ, Nê-pan, Hà Lan, Mỹ, Singapore, Malaysia, Ailen, Thái Lan, Trung Quốc, Hồng Kông, Đức…

Các cán bộ nhà nước không phải là luật sư nhưng có trình độ tương đương luật sư: Những cán bộ này là viên chức nhà nước, ăn lương từ ngân sách nhà nước và chủ yếu làm TVPL theo phân công của tổ chức, không tham gia tranh tụng, không được tự do lựa chọn khách hàng và thực hiện TGPL đối với các vụ việc TGPL đơn giản, mang tính hành chính như: Nam Phi, Hàn

Trang 27

Quốc, Nê-pan, bang Ontari của Canada…

Và một số đối tượng khác như: Sinh viên luật, người làm việc trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về luật như: Trung Quốc, Hà Lan, Canada…; Người tự nguyện làm việc trong các tổ chức đoàn thể xã hội để thực hiện TGPL: Trung Quốc; Thành viên của tổ chức TGPL cộng đồng: Australia, Hà Lan, Philippine, Mỹ…; Các công chứng viên: Nhật Bản…

1.2.2.3 Hình thức, lĩnh vực và kinh phí TGPL

* Hình thức TGPL

Để giúp đỡ cho các đối tượng TGPL giải quyết được các vướng mắc pháp luật, các tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL phải sử dụng một số hình thức TGPL nhất định Tùy thuộc vào loại đối tượng trợ giúp, chủ thể thực hiện trợ giúp, điều kiện, chính sách trợ giúp của mỗi quốc gia… mà pháp luật mỗi nước có quy định những hình thức TGPL khác nhau Song nhìn chung,

có một số hình thức TGPL cơ bản gồm: Đại diện pháp lý, TVPL, phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải

Đại diện pháp lý là việc tổ chức TGPL cử người thực hiện đại diện, bào chữa cho đối tượng TGPL trước cơ quan tiến hành tố tụng Đây là hình thức TGPL cơ bản nhất, được quy định trong công ước quốc tế và tất cả chế định TGPL của các nước Về thời điểm đại diện, nhìn chung các nước đều cho phép thực hiện đại diện TGPL cho đối tượng trong mọi giai đoạn của quá trình tố tụng Tuy nhiên, phạm vi đại diện và việc bảo đảm đại diện có thể khác nhau tùy theo pháp luật tố tụng của từng nước

TVPL là hình thức TGPL được áp dụng ở hầu hết các nước có hoạt động TGPL như: Trung Quốc, Phần Lan, Litva, Slovania, Ạnh…TVPL được coi là một loại dịch vụ pháp luật nhằm giải thích pháp luật và hướng dẫn việc thực hiện pháp luật cho các đối tượng TGPL TVPL được thực hiện bằng lời nói (tư vấn miệng) hoặc bằng văn bản; có thể tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 28

(qua thư tín, thư điện tử, fax, điện thoại…) TVPL bao gồm nhiều nội dung khác nhau: Phân tích tình huống, đưa ra các giải pháp lựa chọn và kết quả dự kiến của các giải pháp đó; giải đáp pháp luật; hướng dẫn soạn thảo, đóng góp

ý kiến vào đơn từ, hướng dẫn những thủ tục cần thiết; cung cấp địa chỉ cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ, việc

Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động giới thiệu, thông tin về các văn bản pháp luật, giải thích nội dung, cơ chế hoạt động và đào tạo, nâng cao nhận thức pháp luật cho cộng đồng của TGPL Đây là hoạt động nhận được

sự tham gia của nhiều tổ chức, đoàn thể, thành phần xã hội, đặc biệt tiêu biểu như các sinh viên luật, các tổ chức TGPL cộng đồng Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu là diễn thuyết, cấp phát tờ gấp pháp luật,…

Hòa giải là việc TGPL thực hiện dàn xếp giữa các bên tham gia tranh chấp để các bên đạt được thỏa thuận về giải quyết tranh chấp Hòa giải là hình thức TGPL được áp dụng ở một số nước như: Anh, Ấn Độ, Mỹ, Bỉ…

Trong quá trình thụ lý vụ việc TGPL về giải quyết tranh chấp giữa các bên, nếu thấy vụ việc có thể hòa giải được thì tổ chức TGPL cử người thực hiện hòa giải Việc hòa giải có hiệu quả lớn là tôn trọng sự định đoạt của các bên, nâng cao hiệu quả tự thực hiện các quyết định hòa giải, giảm bớt chi phí tranh tụng Về phạm vi hòa giải, tại một số nước (Ấn Độ), hòa giải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực, tuy nhiên, một số nước như: Anh, Bỉ, hòa giải chỉ được thực hiện đối với tranh chấp hôn nhân- gia đình Một số lãnh thổ như: Canbera, Australia, đối với các tranh chấp hôn nhân- gia đình, tổ chức TGPL bắt buộc phải tổ chức hội nghị hòa giải giữa các bên, trên cơ sở đó các bên tự thương lượng, thỏa thuận về việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp

* Lĩnh vực TGPL Lĩnh vực TGPL là một trong những chế định quan trọng của hệ thống TGPL các nước Trong khi tại một số quốc gia chỉ chấp nhận việc TGPL

Trang 29

trong lĩnh vực hình sự thì hầu hết các nước lại thực hiện TGPL trên cả hai lĩnh vực: Dân sự và hình sự Trên cơ sở lĩnh vực TGPL, một số nước xây dựng hệ thống TGPL chung, nhưng một số nước khác lại xây dựng hai bộ phận TGPL dân sự và hình sự độc lập

TGPL trong lĩnh vực hình sự: Hầu hết các nước đều thực hiện TGPL đối với tất cả các vụ việc trong lĩnh vực hình sự vì đây là vấn đề cơ bản, gắn liền với quyền chính trị, nhân thân của đối tượng Đặc biệt, các nước đều có quy định về những vụ việc có mức án tử hình, đối với trẻ vị thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải thuê luật sư đại diện cho bị cáo trong trường hợp bị cáo không có người đại diện hợp pháp cho mình

TGPL trong lĩnh vực dân sự: Khái niệm dân sự trong pháp luật TGPL các nước được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như hôn nhân-gia đình, đất đai, lao động, việc làm, di cư, kinh doanh thương mại Từ khái niệm thì phạm vi TGPL trong lĩnh vực dân sự tại chế định TGPL các nước có nhiều điểm khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa của từng nước Theo truyền thống, TGPL của Anh tập trung chủ yếu vào luật sư tư và các vấn đề hôn nhân gia đình, tuy nhiên, trong cải cách hệ thống TGPL của mình, TGPL của Anh đã hướng sang lĩnh vực luật phúc lợi xã hội Tại các nước khác, đặc biệt là những nước thiết lập hệ thống trung tâm pháp luật cộng đồng thì lĩnh vực phúc lợi xã hội được quan tâm, chú trọng Điều đó có thể dễ dàng nhận thấy tại Hà Lan, Australia và bang Ontaria Vấn đề bạo lực gia đình được hầu hết các quốc gia chấp nhận TGPL, trong khi đó, một số nước lại chuyển sang Tòa hình sự, luật sư bắt buộc tham gia trong những vụ việc này

TGPL trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại: Đa số các nước không TGPL trong vụ việc kinh doanh thương mại bởi đối tượng tham gia kinh doanh thương mại là những người giàu có, đủ khả năng chi phí cho dịch vụ pháp lý có thu phí, trong khi bản chất của hoạt động TGPL mang tính nhân

Trang 30

đạo, dành cho một số đối tượng đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn Tuy nhiên, trên thực tế, một số nước vẫn chấp nhận thực hiện TGPL đối với các vụ việc phá sản Tại Nhật Bản, năm 2003, số vụ việc trợ giúp đại diện pháp lý dân sự

là 27.814 vụ việc, chiếm 68,5% tổng số vụ việc được thực hiện Trong tổng số

vụ việc hỗ trợ soạn thảo văn bản, số vụ việc hỗ trợ liên quan đến phá sản lên tới 95,7% (2.267 vụ việc)[28]

Việc TGPL được thực hiện trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở một số nước vì những lý do sau:

Một là, trong pháp luật nội dung của đa số các nước, lĩnh vực kinh

doanh, thương mại nằm trong lĩnh vực dân sự Các quan hệ thương mại vẫn được điều chỉnh bởi các QPPL dân sự, do đó, các yêu cầu TGPL trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại được nằm trong nội dung TGPL trong lĩnh vực dân sự

Hai là, xuất phát từ bản chất TGPL nhằm hỗ trợ cho các đối tượng yếu

thế để đạt được sự bình đẳng trong việc tiếp cận pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có quyền và lợi ích trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại Đối với những đối tượng này, đặc biệt là những người nghèo, việc TGPL trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại còn đặc biệt

có ý nghĩa nhằm giúp họ thoát khỏi điều kiện kinh tế khó khăn để vươn lên thoát nghèo

* Kinh phí TGPL Chế độ TGPL của các nước trên thế giới tồn tại hai mô hình cơ bản: loại thứ nhất là chế độ TGPL do luật sư tư cung ứng dịch vụ pháp lý dựa trên việc lấy quỹ công cộng để chi trả các chi phí; loại thứ hai là chế độ TGPL do đội ngũ luật sư chuyên trách được hưởng thù lao cung cấp dịch vụ pháp lý, có

cơ quan chuyên môn công cộng quản lý và thực hiện TGPL Cho dù hình thức nào thì nguồn gốc chính của loại kinh phí này vẫn là do Chính phủ đầu tư tài chính Ngoài ra, nguồn kinh phí từ các quỹ chuyên TGPL do nhân dân quyên

Trang 31

góp và có nguồn gốc khác cũng do tác dụng hỗ trợ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của chế độ TGPL

Thứ nhất, kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước

Đại đa số các nước kinh tế phát triển, kinh phí TGPL do nhà nước đầu

tư tài chính Đó là do cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nâng cao về trình độ dân chủ hóa chế độ chính trị của đất nước, TGPL lấy việc phục vụ quần chúng là nội dung chính, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm nhân quyền, giúp đỡ những người bị tước đoạt quyền lợi xã hội cơ bản đã trở thành một trong những trách nhiệm của nhà nước mà các quốc gia phúc lợi đều phải gánh vác Vì vậy, nhà nước có nghĩa vụ cung cấp kinh phí cho các hoạt động TGPL để đáp ứng nhu cầu về TGPL ngày càng tăng

Tại nhiều quốc gia, Luật Tố tụng dân sự đã xác lập quyền được luật sư giúp đỡ của đương sự, đồng thời quyền này còn được quy định trong Hiến pháp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với số lượng lớn về tài chính để đảm bảo cho những người nghèo trong xã hội được hưởng quyền lợi này

Sự cấp phát về tài chính đã chiếm một phần lớn trong tổng kim ngạch

về TGPL của các nước và đã phát huy vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy việc

mở rộng quy mô sự nghiệp TGPL ở các nước, đa dạng hóa hình thức và tăng cường mở rộng các tập đoàn kiếm lời, từ đó trở thành nguồn gốc quan trọng nhất của kinh phí TGPL ở các nước

Ở các nước đang phát triển do hạn chế về điều kiện kinh tế và xã hội khó

có thể đáp ứng toàn bộ sự chi trả cần thiết cho kế hoạch TGPL mà nhà nước phải đầu tư kinh phí, từ đó việc cấp phát của nhà nước cũng rất có hạn Phương thức cấp phát của nhà nước bao gồm 02 cách thức chủ yếu: Trực tiếp trích tiền từ ngân sách nhà nước và gián tiếp thông qua việc miễn, giảm chi phí tố tụng

Trực tiếp cấp kinh phí từ ngân sách: Đại đa số các quốc gia đã thiết lập chế

độ TGPL đều tự liệt kê ra hạng mục chi phí ngân sách TGPL trong dự án Luật

Trang 32

Ngân sách nhà nước Ngoài ra, kinh phí tài chính đã được đưa vào dự toán ngân sách nhà nước, được pháp luật bảo đảm và cơ quan quyền lực giám sát, việc đầu

tư và sử dụng mang tính ổn định, đáng tin cậy và có thể kiểm nghiệm, điều này khiến cho việc đầu tư kinh phí có nguồn gốc khác không thể so sánh nổi

Đầu tư gián tiếp bằng phương thức miễn trừ phí tố tụng: Phí tố tụng bao gồm chi phí Tòa án và chi phí luật định trong quá trình tố tụng Chi phí luật định trong quá trình tố tụng bao gồm chi phí tư pháp, chi phí nhân chứng, chi phí giám định, chi phí đăng ký xét xử và trong một số trường hợp đặc biệt, người đưa đơn cần phải chi các khoản phí cho người thứ ba đứng ra bảo lãnh Quy định về điều kiện và phạm vi miễn trừ chi phí tố tụng ở mỗi nước một khác, đa số đều quy định trong Bộ luật Tố tụng (như Nhật Bản, Đan Mạch…)

hoặc trong “Luật Miễn phí tố tụng” chuyên môn (như Phần Lan) Đầu tư gián

tiếp bằng phương thức miễn trừ phí tố tụng có ưu điểm là chi phí tương đối thấp mà lại hiệu quả, những nước thi hành chế độ này gồm Thụy Sỹ, Áo, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Đan Mạch, Na uy, Phần Lan, các nước Đông Âu và thậm chí cả các nước Châu Phi như Ruanđa, Namibia… Điều cần chỉ ra là trong chế độ miễn phí tố tụng ở các nước Đông Âu, do cách xử lý chi phí pháp lý khác nhau, trong một số trường hợp miễn phí tố tụng với điều kiện tiên quyết

là do tranh chấp đặc biệt (như lao động, phí cấp dưỡng, tiền bồi thường tai nạn lao động…) mà không liên quan đến tình hình kinh tế của đương sự

Thứ hai, kinh phí từ Quỹ TGPL

Để thích ứng với nhu cầu pháp lý ngày càng tăng của người nghèo và

bổ sung những thiếu sót trong hoạt động đầu tư của nhà nước và để thể hiện ý nghĩa của TGPL với tư cách là một sự nghiệp công ích Một số quốc gia và khu vực đã thành lập Quỹ TGPL, đồng thời dùng thu nhập của Quỹ làm nguồn quan trọng của kinh phí TGPL Nguồn thu nhập của quỹ không thống nhất, có số thu được từ lợi tức trong khoản mục quỹ tín dụng luật sư như Quỹ

Trang 33

tín dụng luật sư tranh tụng của Australia và kế hoạch quỹ ủy thác dịch vụ pháp lý của Hiệp hội luật sư Mỹ; có số thu được từ một phần tiền do đương sự được trợ giúp bồi hoàn lại theo nguyên tắc chia sẻ chi phí và cả chi phí bồi thường từ phía đương sự đối phương thua kiện như Quỹ kế hoạch TGPL ở Anh; còn một số có nguồn gốc từ kinh phí công cộng, các khoản tiền phạt của nhà nước… Nhà nước thường có những chính sách ưu đãi như miễn thuế đối với loại quỹ riêng này

Thứ ba, từ sự ủng hộ, quyên góp của nhân dân

TGPL vừa là một nhiệm vụ của nhà nước và là sự nghiệp công ích xã hội, ngoài đầu tư nhà nước và lợi nhuận thu được từ quỹ chuyên ngành ra, sự quyên góp của nhân dân cũng là một trong những nguồn kinh phí quan trọng đối với sự nghiệp TGPL Sự quyên góp chủ yếu từ hiệp hội luật sư, cá nhân luật sư chuyên nghiệp, quỹ, tập đoàn từ thiện công cộng, các tổ chức nhân dân

và cá nhân khác

Thứ tư, một số nguồn khác

Chế độ bảo hiểm tố tụng với hình thức bảo hiểm công cộng hoặc tư nhân được tiến hành ở Ý và các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na – uy… được coi là chế độ dịch vụ pháp lý trả trước và là một nguồn mới của kinh phí TGPL

Trong chế độ bảo hiểm tố tụng các nước, quy định về điều kiện áp dụng

và phạm vi trách nhiệm bảo hiểm đối với mỗi vụ án đều khác nhau nhưng nhìn chung do phải chi trả một số lượng tiền bảo hiểm nhất định, chế độ này chỉ phù hợp với những người thuộc tầng lớp có thu nhập ở mức trung bình, cảm thấy mình có đủ khả năng tham gia vào các vụ tranh chấp pháp lý, chứ không thể thỏa mãn nhu cầu pháp lý chính đáng của dân nghèo, cho nên mặt bằng phổ cập tương đối hẹp Ngoài ra, chế độ bảo hiểm tố tụng làm cho luật

sư ỷ lại vào công ty bảo hiểm để nhận được tiền thù lao, dễ gây ra hậu quả xấu là việc công ty bảo hiểm thao túng vụ án

Trang 34

Bảo hiểm tố tụng không phải là một loại bảo hiểm độc lập, theo quy định không thể tự mua một mình mà phải mua kèm cùng với các loại bảo hiểm khác như: Ở Thụy Sỹ, bảo hiểm tố tụng thường đi liền với bảo hiểm nhà

ở, phương tiện giao thông và bảo hiểm thương mại Ở Thụy Điển, bảo hiểm tố tụng mua kèm bảo hiểm hỏa hoạn và bảo hiểm gia đình Ở Đan Mạch, bảo hiểm tố tụng được coi là một bộ phận của các loại bảo hiểm khác như bảo hiểm gia đình hoặc bảo hiểm ô tô Loại thường gặp nhất là kết hợp với bảo hiểm gia đình, bảo hiểm tố tụng được cung cấp cho người mua bảo hiểm

1.2.2.4 Quản lý nhà nước về TGPL

Nghiên cứu TGPL các nước cho thấy, TGPL đều giao cho một cơ quan trung ương thuộc Chính phủ đảm nhận Tuy tên gọi của cơ quan quản lý nhà nước có khác nhau những tựu chung lại, việc quản lý nhà nước giao cho Bộ

Ở Canada, trước năm 1998, hoạt động TGPL do Hội Luật gia quản lý Sau khi đạo luật mới về TGPL ra đời năm 1998, Cục TGPL được thành lập để thay thế các chức năng quản lý và thực hiện TGPL của Hội Luật gia Theo quy định của đạo luật thì Cục TGPL là một tổ chức độc lập nhưng chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của mình và Bộ trưởng Bộ Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ bổ nhiệm hoặc đề cử thành viên trong Ban lãnh đạo Cục

Trang 35

TGPL, phê duyệt kế hoạch hoạt động, kế hoạch tài chính của Cục Cục TGPL

có trách nhiệm báo cáo hoạt động hàng năm lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp

Ở Anh, Văn phòng Tổng chưởng lý quản lý nhà nước về TGPL Tại Singgapore, giao cho Bộ Pháp luật quản lý Các nước: Pháp, Mỹ, Nhật Bản…đều giao quyền quản lý tổ chức, hoạt động TGPL cho Bộ Tư pháp:

Nội dung quản lý nhà nước về TGPL nói chung bao gồm: Lập kế hoạch TGPL theo từng năm và qua các giai đoạn; Quản lý việc xây dựng, tổ chức, đào tạo đội ngũ những người làm công tác TGPL; Tập trung quản lý và sử dụng ngân sách TGPL, đồng thời chịu trách nhiệm duy trì và tăng ngân sách TGPL, kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách và lợi ích xã hội; Triển khai việc nghiên cứu lý luận về TGPL, đề xuất ý kiến cải cách và hoàn thiện chế định TGPL; Chịu trách nhiệm kiểm tra pháp luật có liên quan đến công tác TGPL,

tổ chức soạn thảo xây dựng pháp luật về TGPL, đưa ra ý kiến đề nghị để xây dựng hoàn thiện pháp luật về TGPL; Chịu trách nhiệm thẩm tra các vụ án về TGPL, tổ chức kiểm tra hành chính đối với các vụ về TGPL có kiến nghị; Thu thập tài liệu, thông tin về công tác TGPL, cung cấp dịch vụ thông tin cho cơ cấu TGPL trong nước hoặc địa phương; Chịu trách nhiệm liên lạc đối ngoại

về công tác TGPL của Nhà nước hoặc khu vực, triển khai rộng rãi việc giao lưu TGPL giữa khu vực và quốc tế…

Qua quá trình nghiên cứu các chế định TGPL ở một số nước, mặc dù tùy đặc điểm, tình hình mỗi nước có cách thức xây dựng mô hình khác nhau, diện người thực hiện, hình thức, lĩnh vực, nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động TGPL, chế độ quản lý nhà nước về TGPL có những nét khác biệt Song, TGPL đều thể hiện bản chất nhân đạo, nhân văn, không vì mục đích lợi nhuận

và hướng đến đối tượng được thụ hưởng dịch vụ chủ yếu là người nghèo, đối tượng chính sách và những đối tượng khác cần được xã hội quan tâm Và TGPL đã và đang khẳng định vai trò sâu sắc trong tính xã hội ở nhiều quốc gia, dù ở quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển

Trang 36

sư cũng như thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác Có thể khái quát quá trình hình thành, phát triển như sau:

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1987

Dưới chế độ phong kiến, vấn đề giúp đỡ, hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi của những người nghèo khổ đã được nhiều triều đại quan tâm giải quyết và tổ chức thực hiện khá tốt, đặc biệt là các chế độ gần dân, thân dân

“Quốc triều hình luật” đã có những quy định về việc phải quan tâm,

giúp đỡ người nghèo, đồng thời đưa ra đường lối xử lý đối với quan lại không thực hiện tốt chính sách đối với người nghèo Chương Hộ hôn quy định quan

sở tại có trách nhiệm thu nuôi, bảo vệ người góa vợ, góa chồng, mồ côi và người tàn tật nặng, nghèo khổ không có người thân tích để nương tự, không thể tự mình mưu sống được, nếu không thực hiện sẽ bị xử phạt; ưu tiên người nghèo, kẻ yếu thế trong đánh thuế hay bắt đi sau dịch (trước phải phân bổ người giàu, người khỏe, sau đến người nghèo, người yếu), nếu không thực hiện hoặc thực hiện không công bằng, quan sở tại sẽ bị phạt

Bên cạnh đó, các quy định về cứu tế, tương bần, thành lập phường, hội

để hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo khi khó khăn đột xuất do thiên tai, địch họa,

Trang 37

đói kém, mất mùa đã được thể hiện và trở thành truyền thống “lá lành đùm lá

rách”, “tương thân, tương ái” của dân tộc ta

Đáng tiếc sau đó, chính quyền và pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc lại là công cụ chính trị để đế quốc Pháp duy trì chế độ thuộc địa nửa phong

kiến; tư bản và đế quốc chủ nghĩa “lấy tôn giáo và văn hóa làm cho ngu dân,

lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham” Vì thế, pháp luật không còn là công cụ để duy trì trật tự pháp luật

có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân mà là công cụ để trấn áp, cai trị Vì vậy, những tư tưởng về giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo gần như không được đề cập theo tinh thần dân chủ, tiến bộ

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam

Dân chủ cộng hòa ra đời, với phương châm: “Muốn giữ vững nền độc lập,

muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” Vì vậy, Nhà nước ta rất chú

trọng nâng cao dân chí, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho nhân dân về quyền làm chủ, trách nhiệm của người làm chủ đất nước và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để nhân dân trực tiếp thực hiện được quyền làm chủ, tham gia kiến quốc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà Cùng với việc diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính

phủ rất quan tâm diệt giặc dốt, bởi: “Nạn dốt là một trong những phương

pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta”; “Phải làm sao cho mọi người dân ai cũng ăn no, mặc ấm, ai cũng được học hành”; “Làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm” và “Phải giáo dục lại nhân dân chúng ta”

Trong bối cảnh đó, các quy định về bảo trợ tư pháp gắn với quyền bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa đã được ghi nhận trong Hiến pháp để thực

Trang 38

hiện tốt nhất các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không phân biệt giàu

nghèo Theo Hiến pháp năm 1946: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy

hoặc mượn luật sư”

Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời về việc tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán (được sửa đổi bởi Sắc lệnh số

111 ngày 28/6/1946 và Sặc lệnh số 88/SL ngày 22/5/1950) quy định: “Trong

việc đại hình, nếu trước Tòa Thượng thẩm một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho hắn”; “Các Luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Tòa án, trừ những Tòa sơ cấp” Đồng thời,

Hội thẩm nhân dân có nhiệm vụ:

Giáo dục nhân dân tham dự chính quyền nói chung và tư pháp nói riêng; tuyên truyền giải thích chính sách của Chính phủ cho dân trong xã và gửi cho Tòa án nhân dân…vì Hội thẩm nhân dân có điều kiện gần dân hơn…sát dân, hiểu biết dư luận, nguyện vọng, tình hình của dân làng thì mới giúp được cho Tòa án nhận định và chủ trương sát với quyền lợi nhân dân địa phương” [17] Theo Sắc lệnh số 46 ngày 10/10/1945 của Chủ tịch lâm thời về việc

quy định tổ chức các đoàn thể luật sư: “Các luật sư có quyền bào chữa ở

trước tất cả các Tòa án hàng tỉnh trở lên và trước các Tòa quân sự” [16] và

quyền bào chữa này được mở rộng cho công dân theo quy định tại Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949

Một công dân muốn được “tư pháp bảo trợ” thì phải làm đơn Nếu

“người đương sự” được kiện thì việc được hưởng “tư pháp bảo trợ” có hiệu lực cho đến khi thi hành xong hẳn bản án mà “người đương sự” không phải

nộp một khoản lệ phí nào, kể cả việc cấp trích lục án, phí tổn này sẽ do công khố chịu Các quy định này đã thể hiện nhận thức đúng đắn của chế độ ta về

vị trí của quyền tự do bào chữa của công dân là “thành trì cần thiết cho các

Trang 39

quyền tự do khác” Nhà nước ta đã ghi nhận quyền bào chữa và bảo đảm thực

hiện quyền bào chữa cho bị cáo không phân biệt họ giàu hay nghèo khi cho phép họ được nhờ luật sư hoặc người công dân khác không phải luật sư đứng

ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và coi đây là nguyên tắc Hiến pháp Nó giúp cho công tác xét xử được tiến hành toàn diện và khách quan, bênh vực được các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị can, đồng thời bảo

vệ pháp luật của Nhà nước, hơn nữa, trong chế độ dân chủ nhân dân, “nếu bị can không được sử dụng đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý”

Thực hiện tốt quyền bào chữa không chỉ nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của Nhà nước ta mà còn bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc quan trọng của tố

tụng là: “trước khi tuyên án, bị can phải được coi như người vô tội” Sắc lệnh số

69/SL ngày 18/6/1949 và Sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949 về việc mở rộng

tổ chức bào chữa, cho phép người công dân không phải là luật sư có thể bào chữa cho đương sự trước các Tòa án xử việc hộ và thương mại cho bị can trước các Tòa án xử việc hình

Ngày 12/01/1950, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ-VY ấn định điều kiện để làm bào chữa viên nhân dân và phụ cấp của bào chữa viên nhân dân và Thông tư số 101/HCTP ngày 28/9/1957 của Bộ Tư pháp quy định về việc tổ chức bào chữa viên nhân dân Thông tư số 101/HCTP nêu rõ:

“Trong lúc chưa có sự sửa đổi gì về chế định bào chữa viên nhân dân của ta,

thì vẫn phải thi hành các Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 và Nghị định số 1/NĐ-VY ngày 12/01/1950 quy định về tổ chức bào chữa viên nhân dân” [3]

Năm 1951, vì nhu cầu kháng chiến, đoàn thể luật sư tạm ngừng hoạt động Sau ngày tiếp quản thủ đô, đoàn thể luật sư đã hoạt động trở lại với một Hội đồng luật sư ở Hà Nội

Năm 1963, Văn phòng Luật sư thí điểm được thành lập và có nhiệm vụ:

“giải đáp pháp luật cho nhân dân và cán bộ; làm giúp cho đương sự những

Trang 40

đơn từ và các văn kiện pháp luật như hợp đồng, khế ước” Lúc đầu, Văn

phòng Luật sư nhận bào chữa những vụ án do Tòa án yêu cầu

Năm 1972, Ủy ban pháp chế của Chính phủ được thành lập Ngày 22/11/1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 143-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp Theo văn bản này, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ quản lý hoạt động hành chính tư pháp trong đó

có nhiệm vụ quản lý công tác Luật sư, TVPL

Trên nền tảng Hiến pháp năm 1946, ở các bản Hiến pháp năm 1959,

1980, vấn đề “tư pháp bảo trợ” được tiếp tục thể hiện gắn với nguyên tắc bảo

đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo

Năm 1982, Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị Theo Điều 14, điểm 3 phần d Công ước, quá trình xét xử một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu như là:

Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ về pháp lý do mình chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ

về pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí cho người đó một

sự giúp đỡ pháp lý mà người đó không phải trả tiền nếu không có

đủ điều kiện trả” [23]

Việc tham gia Công ước này đòi hỏi Nhà nước ta phải đổi mới tư duy

về quyền được tiếp cận luật sư, người có kiến thức pháp luật của mọi công dân không phân biệt giàu nghèo, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định tư pháp bảo trợ với nội dung và phương thức mới, không chỉ dừng lại ở bảo đảm quyền bào chữa mà còn gắn với quyền được tiếp cận và

sử dụng pháp luật của công dân, nhất là những người có hoàn cảnh đặc biệt (không có đủ điều kiện trả tiền) nhằm đảm bảo công bằng xã hội

Ngày đăng: 08/04/2022, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Tư pháp (1957), Thông tư số 101/HCTP về việc tổ chức bào chữa viên nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 101/HCTP về việc tổ chức bào chữa viên nhân dân
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1957
4. Bộ Tư pháp (2008), Báo cáo sơ kết 02 năm thực hiện Chiến lược phát triển TGPL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 02 năm thực hiện Chiến lược phát triển TGPL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
5. Bộ Tư pháp (2008), Quyết định 02/2008/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 02/2008/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
6. Bộ Tư pháp (2008), Quyết định 03/2008/QĐ-BTP về việc ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 03/2008/QĐ-BTP về việc ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ TGPL
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
7. Bộ Tư pháp (2008), Thông tư số 05/2008/TT-BTP hướng dẫn về nghiệp vụ TGPL và quản lý nhà nước về TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 05/2008/TT-BTP hướng dẫn về nghiệp vụ TGPL và quản lý nhà nước về TGPL
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
8. Bộ Tư pháp (2012), Thông tư số 07/2012/TT-BTP hướng dẫn về CTV TGPL của Trung tâm TGPL nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2012/TT-BTP hướng dẫn về CTV TGPL của Trung tâm TGPL nhà nước
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
9. Bộ Tư pháp (2012), Thông tư số 02/2013/TT-BTP về Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2013/TT-BTP về Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
11. Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ (2008), Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT- BTP-BNV hướng dẫn về tổ chức và biên chế của Trung tâm TGPL nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn về tổ chức và biên chế của Trung tâm TGPL nhà nước
Tác giả: Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ
Năm: 2008
12. Bộ Tư pháp – Thanh tra Chính phủ (2011), Thông tư liên tịch số 10/2011/TTLT-BTP-TTCP hướng dẫn thực hiện TGPL trong việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 10/2011/TTLT-BTP-TTCP hướng dẫn thực hiện TGPL trong việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính
Tác giả: Bộ Tư pháp – Thanh tra Chính phủ
Năm: 2011
13. Bộ Tư pháp - Ủy ban Dân tộc (2012), Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT- BTP-UBDT hướng dẫn thực hiện TGPL đối với người dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BTP-UBDT hướng dẫn thực hiện TGPL đối với người dân tộc thiểu số
Tác giả: Bộ Tư pháp - Ủy ban Dân tộc
Năm: 2012
14. Chính phủ (2007), Nghị định số 07/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 07/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
16. Chủ tịch nước (1945), Sắc lệnh số 46 về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 46 về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật sư
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1945
17. Chủ tịch nước (1946), Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1946
18. Cục TGPL (2007), 10 năm TGPL ở Việt Nam 6/9/1997-6/9/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 năm TGPL ở Việt Nam 6/9/1997-6/9/2007
Tác giả: Cục TGPL
Năm: 2007
19. Cục TGPL (2008), 10 năm hoạt động TGPL ở Việt Nam- Hướng phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 năm hoạt động TGPL ở Việt Nam- Hướng phát triển
Tác giả: Cục TGPL
Năm: 2008
20. Cục TGPL (2009), Cẩm nang tổ chức thực hiện TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tổ chức thực hiện TGPL
Tác giả: Cục TGPL
Năm: 2009
28. Phan Thị Thu Hà (2006), “TGPL- Quan niệm và mô hình TGPL ở một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, (71), (tháng 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: TGPL- Quan niệm và mô hình TGPL ở một số nước trên thế giới”," Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Năm: 2006
30. Hội đồng Bộ trưởng (1989), Nghị định số 15/HĐBT ban hành Quy chế Đoàn Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 15/HĐBT ban hành Quy chế Đoàn Luật sư
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1989
31. Đỗ Xuân Lân (2013), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm TGPL, http://www.moj.gov.vn/, ngày 30/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm TGPL
Tác giả: Đỗ Xuân Lân
Năm: 2013
32. Trần Huy Liệu (2010), Những mô hình TGPL và bài học kinh nghiệm thực hiện TGPL cho phụ nữ, http://www.hoilhpn.org.vn/, ngày 20/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mô hình TGPL và bài học kinh nghiệm thực hiện TGPL cho phụ nữ
Tác giả: Trần Huy Liệu
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Lĩnh vực TGPL Về cơ bản đều giống nhau (như hình sự, dân - Tài liệu Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật
nh vực TGPL Về cơ bản đều giống nhau (như hình sự, dân (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w