- Tác phẩm chính: SGK - Được truy tặng giải thưởng HCM về VHNT 2000 Ở VN khoảng những năm 30 của thế kỉ XX đã xuất hiện phong trào Thơ Mới - được coi là một cuộc CM trong thơ ca gắn liền
Trang 1BUỔI 1: ÔN LUYỆN THƠ MỚI
I ÔN TẬP BÀI THƠ: NHỚ RỪNG
1.Đọc:
- Đoạn 1,4 giọng buồn ngao ngán, bực bội, u uất, có những từ ngữ kéo dài, dằn giọng, mỉa mai, khinh bỉ
- Đoạn 2,3,5 hào hứng, vừa tiếc nuối, bay bổng, mạnh mẽ hùng tráng
2 Tìm hiểu chú thích:
a Tác giả:(1907-1989)
- Tên thật: Nguyễn Thứ Lễ
- Quê: Phù Đổng- Từ Sơn- Bắc Ninh
- Trước CM: Là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới chặng đầu, hồn thơ dồi dào, lãng mạn, góp phần quan trọng vào đổi mới thơ ca dân tộc, đem lại chiến thắng cho thơ mới
- Sau CM: hoạt động sân khấu, góp phần vào xây dựng nền kịch nói hiện đại ở nước ta
- Tác phẩm chính: SGK
- Được truy tặng giải thưởng HCM về VHNT (2000)
Ở VN khoảng những năm 30 của thế kỉ XX đã xuất hiện phong trào Thơ Mới - được coi là một cuộc CM trong thơ ca gắn liền với tên tuổi của các nhà thơ: Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,Tế Hanh…Phong trào Thơ mới mở đầu bằng cuộc tranh luận về thơ mới- thơ cũ diễn ra sôi nổi, gay gắt trên báo chí và trên nhiều diễn đàn từ Bắc vào Nam Nhưng rồi thơ mới đã thắng, không phải bằng lí lẽ, mà mà bằng một loạt bài thơ mới hay, tiêu biểu là bài thơ Nhớ rừng Bài thơ được đánh giá là bài thơ hay nhất của Thế Lữ và TM ở chặng đầu…
Thế Lữ, tên khai sinh Nguyễn Thứ Lễ), sinh ngày 10 tháng 6 năm 1907 tại ấp Thái Hà, Hà Nội Quê cha ông ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội), quê mẹ ở Nam Định[1] Tên
Nguyễn Đình Lễ sau đó được đổi thành Nguyễn Thứ Lễ vì ông là con thứ Khi lên 10 tuổi, người anh trai (hơn ông một tuổi) mất, ông lại đổi tên lại thành Nguyễn Đình Lễ Lớn lên ông dùng lại tên Nguyễn Thứ Lễ,
Trang 2khi viết văn nói lái lại là Nguyễn Thế Lữ, sau rút gọn thành Thế Lữ Bút danh Thế Lữ, mang nghĩa "người khách đi qua trần thế" lại phù hợp với quan niệm sống của ông khi ấy[1] Thế Lữ là một trong các tác giả Tự Lực có nhiều tác phẩm nhất được Nhà xuất bản Đời nay phát hành Từ
1934 đến 1943, ông cho ra mắt 12 cuốn sách, trung bình mỗi năm một cuốn, có những năm hai (1937, 1942), ba cuốn (1941) Đáng chú ý nhất
là tập truyện đầu tay Vàng và máu (1934, được Khái Hưng viết lời giới thiệu), tập thơ thứ nhất Mấy vần thơ (1935), sau được sửa chữa và bổ sung nhiều bài mới trong Mấy vần thơ, tập mới (1935)
Thơ Thế Lữ nói lên khát khao được sống tự do, thoát khỏi tù túng để đến với thế giới bao la hơn[89] Bài thơ Nhớ rừng mượn lời con hổ trong vườn bách thảo, được xem là đã diễn tả tâm sự của một lớp người đang đau khổ trong cuộc sống "bị nhục nhằn tù hãm", chán ghét thực tại tầm thường giả dối, nhưng bất lực và chỉ biết chìm đắm vào dĩ vãng oai hùng, thể hiện tư tưởng giải phóng cá nhân và khát vọng tự do; bài Tiếng hát bên sông lại có hình ảnh người "khách chinh phu" dũng cảm gạt tình riêng ra đi trong lúc "non sông mờ cát bụi", thể hiện những ưu ái về thời thế và đất nước của Thế Lữ[25][75][89] Dù muốn thoát ly, nhưng cái tôi của Thế Lữ trong Mấy vần thơ vẫn buồn, chân trời thoát ly còn chưa được mở ra hết Thế Lữ được xem là người có đóng góp đáng kể vào việc hiện đại hóa thơ Việt Nam
Đánh giá
Hà Minh Đức nhận xét: "Thơ Thế Lữ giàu chất lãng mạn, trữ tình Hình ảnh thơ đẹp, giọng điệu thơ mềm mại, trau chuốt Tuy nhiên, cảm hứng thơ ít phát triển, hình tượng thơ có ít biển hóa và trong một số trường hợp rơi vào đơn điệuDù như thế nào, ảnh hưởng và vai trò tiên phong của Thế Lữ đối với thơ mới vẫn được công nhận[75][89][98] Vũ Ngọc Phan ghi nhận: "Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai của thơ mới"[85] Và Hoài Thanh hoa
mỹ hơn: "Độ ấy thơ mới vừa ra đời, Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam Thế Lữ không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng, mà trong
khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ"[84]
Trang 3b Tác phẩm:
- Sáng tác 1934, in trong “Mấy vần thơ” 1935
- Thể thơ tự do 8 chữ
- Đề tài: Hình ảnh con hổ ở vườn thú và tâm trạng nhớ rừng của nó-> bày tỏ kín đáo chủ đề tự do và cuộc sống nô lệ
* Thơ mới: 1 phong trào thơ có tính chất lãng mạn của tầng lớp trí thức trẻ từ năm 1932 đến năm 1945
3 Bố cục: 5 đoạn
- Đoạn 1: 8 câu đầu: Nỗi uất hận ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú
- Đoạn 2, 3: Nhớ tiếc quá khứ oai hùng tự do
- Đoạn 4: Nỗi chán chường trước thực tại tầm thường giả dối
- Đoạn 5: Lời nhắn gửi thống thiết với cảnh nước non hùng vĩ xưa kia
4 Phân tích văn bản:
1/.Tâm trạng con hổ và cuộc sống nơi vườn thú
a Hoàn cảnh và tâm trạng của con hổ:
- Cảnh ngộ:- Trong cũi sắt
\ Sa cơ, tù hãm; làm trò lạ, đồ chơi
=> Cảnh ngộ trớ trêu: bị giam cầm, mất tự do
- Tâm trạng:
Gậm một khối căm hờn
-> ĐT mạnh, giàu tính biểu cảm;
->căm hờn: tính từ trừu tượng+ số từ, DT ->giàu tính tạo hình ->diễn tả lòng căm giận tích tụ không giải toả được như có hình khối rõ ràng
=> Thể hiện sự bất lực khi bị giam cầm mất tự do, không thể làm gì, chỉ biết gậm khối căm hờn cho hả nỗi u sầu, uất ức
Nằm dài, trông ngày tháng dần qua: tâm trạng ngao ngán chán chường, buông xuôi bất lực, không thiết hoạt động
- Thái độ:
+Với bản thân: xưng ta-> kiêu hãnh, biết rõ giá trị, sức mạnh của mình +Với con người: khinh, lũ, ngạo mạn, ngẩn ngơ-> coi thường, giễu cợt +Với gấu báo: dở hơi, vô tư lự
-> Coi thường khinh bỉ sự hèn kém, bằng lòng với số phận
( Từ chỗ là chúa tể muôn loài, tung hoành nơi núi rừng hùng vĩ nay bị giam hãm không được tự do trong một thời gian dài, bị biến thành trò
Trang 4chơi của con người, ở chung cùng kẻ tầm thường, hèn kém, không có cách gì để thoát khỏi môi trường tù túng, tầm thường chán ngắt ấy Tất
cả nỗi khổ, nỗi nhục, nỗi bất bình uất ức kết đọng trong tâm hồn trở thành “khối căm hờn” cứ lớn dần không có cách nào giải thoát , không cách nào làm tan bớt, vợi bớt)
=> Ngạo mạn, xem thường tất cả, chán ghét cuộc sống tầm thường tù túng, khát vọng tự do sống đúng với phẩm chất của mình
( Trong cảnh khổ đau, tù hãm, nhục nhằn, con hổ vẫn tự phân biệt mình với những kẻ mà tinh thần đã bị hoàn cảnh tầm thường đồng hóa Sự đối lập giữa hai cách sống là cách thức nghệ thuật dùng để làm nổi bật cái kích thước cao cả và tô đậm cảm hứng đầy tính bi kịch của một tâm hồn thà bị khổ đau, quyết không hạ mình trong bất hạnh)
b Cảnh vườn bách thú qua cái nhìn của hổ
- Ghét cảnh không đời nào thay đổi
- Sửa sang, tầm thường, giả dối: hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng; dải nước- giả suối; mô gò thấp kém; vừng lá hiền lành- học đòi
=> Biện pháp liệt kê, ngắt nhịp ngắn dài xen kẽ, giọng giễu nhại gợi khung cảnh đơn điệu, nhàm tẻ, vô hồn, tù túng, giả dối- hoàn toàn là cảnh nhân tạo, không phải cảnh của thế giới tự nhiên hoang dã, to lớn, bí hiểm
->Sự cảm nhận của những tâm hồn lãng mạn (thanh niên trí thức Tây học) về tình hình thực tại XH đương thời đen tối, ngột ngạt, tù túng Thái độ ngao ngán, chán ghét cảnh vườn bách thú của con hổ cũng chính
là thái độ của họ đối với xã hội đương thời
Đoạn hay nhất của bài thơ miêu tả cảnh sơn lâm hùng vĩ và hình ảnh hổ-chúa sơn lâm hoàn toàn ngự trị trong vương quốc của nó
2/.Tâm trạng của hổ khi nhớ tiếc quá khứ oai hùng tự do
a Cảnh rừng xưa và hình ảnh của hổ
+ Cảnh rừng xưa
- Sơn lâm, bóng cả, cây già
- Tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi
- Thét dữ dội
-> Động từ mạnh, điệp ngữ “với ”, từ ngữ gợi tả
Trang 5-> Cảnh núi rừng đại ngàn thâm nghiêm, hoang sơ, hùng vĩ, bí hiểm với những âm thanh mạnh mẽ, dữ dội Cảnh làm nền cho chúa sơn lâm xuất hiện
+ Hình ảnh của hổ: (Miêu tả từng động tác, là những động tác có chọn lựa của bàn chân, tấm thân, ánh mắt)
- Đầu tiên: bước chân dõng dạc, đường hoàng, đầy tự tin
- Tiếp đó: Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng-> rất từ tốn mà rất oai hùng để vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc
- Cuối cùng: ánh mắt “ Quắc”- mọi vật im hơi- lột tả uy quyền của hổ
=> Những câu thơ sống động, giàu chất tạo hình sử dụng từ láy, so sánh
đã diễn tả chính xác vẻ đẹp vừa uy nghi, dũng mãnh vừa mềm mại uyển chuyển với tư thế oai phong lẫm liệt của chúa sơn lâm
b Hoài niệm về cuộc sống thường ngày nơi rừng sâu hùng vĩ
Cấu trúc của đoạn thơ độc đáo
(như một bộ tranh tứ bình với 4 cảnh 4 thời điểm)
* Cảnh đêm trăng:
- Nào đâu những đêm vàng- bên bờ suối- uống ánh trăng tan
->ẩn dụ gợi không gian tràn ngập ánh trăng cảnh thơ mộng kì ảo, quyến
rũ, hổ say mồi, say trăng, hiện ra như một thi sĩ lãng mạn, mơ màng thưởng thức cái đẹp
* Cảnh ngày mưa:
- Đâu những ngày mưa chuyển 4 phương ngàn- lặng ngắm giang san đổi mới
->cảnh mưa rừng mãnh liệt dữ dội, hổ bình tĩnh ung dung ngắm cảnh- với cái nhìn mê say kiêu hãnh, bao quát cả giang sơn đang đổi mới sau những biến động
* Cảnh bình minh:
- Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, tiếng chim ca- giấc ngủ tưng bừng
->Bức tranh đầy màu sắc, âm thanh (có màu hồng của bình minh, vàng nhạt của nắng sớm, rộn rã tiếng chim ca, chan hoà ánh sáng)- hổ mang dáng vẻ của bậc đế vương đang chìm dần vào giấc ngủ bởi khúc ca hào hùng của thiên nhiên
* Cảnh hoàng hôn:
- Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng- đợi chết mảnh mặt trời
Trang 6-> Cảnh mãnh liệt dữ dội với gam màu đỏ Trong cảm nhận của mãnh thú, hoàng hôn trời chiều không đỏ rực mà là “lênh láng máu”, mặt trời chỉ là “mảnh”-một sinh thể nhỏ bé tầm thường đang hấp hối “chết” trong cuộc đọ sức với chúa sơn lâm Mãnh thú đã hạ gục mặt trời, chiếm lấy phần bí mật của rừng đêm để tung hoành, ngự trị -> H/ả đẹp nhất diễn tả
tư thế chủ động đắc thắng cùng uy quyền, sức mạnh tuyệt đối của vị bạo chúa
=> Điệp ngữ “ đâu”, “ đâu những”; hàng loạt câu hỏi tu từ vang lên dồn dập; từ ngữ giàu hình ảnh, gợi tả màu sắc , âm thanh, ánh sáng cụ thể sinh động đã diễn tả thấm thía nỗi nhớ tiếc khôn nguôi những cảnh hùng tráng, hoang sơ, thơ mộng của cuộc sống tự do không bao giờ còn thấy nữa; diễn tả tâm trạng day dứt, đau xót Tất cả chỉ là một giấc mơ về qúa khứ huy hoàng đã qua Qúa khứ càng đẹp càng oanh liệt bao nhiêu thì nỗi nhớ tiếc càng đau đáu bấy nhiêu
=> Bốn cảnh hiện lên như 1 bộ tranh tứ bình đẹp lộng lẫy, tráng lệ, hổ là trung tâm của bức tranh với tư thế lẫm liệt, kiêu hùng, đầy uy lực
*Tâm trạng:
+ Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
-> Câu cảm, câu hỏi tu từ =>Biểu hiện nỗi thất vọng chua xót khi đối diện với thực tại, nuối tiếc day dứt cuộc sống đã qua
* Lời nhắn gửi với đại ngàn:
- Hỡi oai linh- nước non hùng vĩ- thênh thang ngự trị- không còn được thấy
=> Câu cảm thán, câu hỏi tu từ đan xen câu trần thuật
-> Bị giam cầm nhưng vẫn hướng về rừng xanh, vẫn sống với đại ngàn trong mộng, giam cầm về thể xác không giam hãm được tâm hồn-> Khao khát được tự do
=> Hai cảnh đối lập sâu sắc
Cuộc sống tù túng, tầm thường, giả dối >< Cuộc sống oanh liệt, tự do, phóng khoáng
=> Tâm trạng nhớ rừng, khát khao cuộc sống tự do của hổ
(Càng ngao ngán, căm uất cho số phận mình lúc sa cơ thất thế, càng luyến tiếc quá khứ oai hùng oanh liệt, càng chối từ coi khinh cuộc sống thực tại giả dối, tầm thường, hổ càng khao khát được về với núi rừng hùng vĩ tự do)
Trang 7-> chính là nỗi bất hoà sâu sắc với thực tại khao khát tự do mãnh liệt của các thi sĩ lãng mạn- của người dân Việt Nam khi đó sống nô lệ tù hãm, uất ức, nhớ tiếc thời oanh liệt với chiến công chống giặc ngoại xâm vẻ vang trong lịch sử dân tộc Lời con hổ nhưng là tiếng lòng sâu kín của người dân mất nước
(Tâm sự của con hổ nhưng khát vọng tự do là khát vọng của con người) Tổng kết:
1 Nghệ thuật:
- Giàu cảm hứng lãng mạn, mạch cảm xúc sôi nổi , với nhiều biện pháp nghệ thuật như nhân hóa, đối lập, phóng đại, sử dụng từ ngữ gợi hình, giàu biểu cảm
- Hình ảnh thơ giàu chất tạo hình, đầy ấn tượng: sắc màu rực rỡ, đường nét hình khối tạo vẻ đẹp tráng lệ, khoáng đạt phi thường, thơ mộng
- Ngôn ngữ, nhạc điệu phong phú, giọng thơ biến hoá phù hợp cảm xúc:
u uất đau khổ, hùng tráng, mãnh liệt say sưa, sảng khoái; ngao ngán thống thiết Ngắt nhịp linh hoạt
- Xây dựng hình tượng nghệ thuật có nhiều tầng ý nghĩa
+ Con hổ: người anh hùng chiến bại mang tâm sự u uất
+ Cảnh rừng đại ngàn: cuộc sống tự do
+ Vườn thú, cũi sắt: thực tại tù túng, giả dối, tầm thường
2 Nội dung:
- Mượn lời con hổ để diễn tả kín đáo tế nhị tâm trạng của con người: nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng; tình cảm yêu nước niềm khát khao tự do mãnh liệt
- Khơi gợi lòng yêu nước của người dân mất nước thủa ấy
Trang 8II ÔN TẬP BÀI THƠ: ÔNG ĐỒ
Từ đầu thế kỉ XX, nền Hán học và chữ Nho ngày càng mất vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam Chế độ khoa cử phong kiến bị bãi bỏ, cả thành trì văn hóa cũ hầu như sụp đổ Các nhà nho, từ chỗ là nhân vật trung tâm của đời sống văn hóa dân tộc, được xã hội tôn vinh, bỗng trở nên lạc bước trong thời đại mới, bị cuộc đời bỏ quên và cuối cùng là vắng bóng Bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên là một bài thơ bày
tỏ nỗi niềm cảm thương và nỗi nhớ tiếc ngậm ngùi về một lớp người, một nét đẹp văn hóa cổ truyền gắn với chữ nho…
Vũ Đình Liên (1913 – 1996) sinh tại Hà Nội, nhưng quê gốc ở thôn Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Ông đỗ tú tài năm 1932, từng dạy học ở các trường: Trường tư thục Thăng Long, Trường Gia Long, Trường nữ sinh Hoài Đức để kiếm sống Ông học thêm trường Luật đỗ bằng cử nhân, về sau vào làm công chức ở Nha Thương chính (còn gọi là sở Đoan) Hà Nội
Năm 1936, ông được biết đến với bài thơ "Ông đồ" đăng trên báo Tinh Hoa
Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia giảng dạy nhiều năm và từng
là chủ nhiệm khoa tiếng Pháp của Đại học Quốc gia Hà Nội [1].Vũ Đình Liên còn là một trong những nhà thơ lớp đầu tiên của phong trào Thơ mới
Ngoài thơ ông còn hoạt động trong lĩnh vực lý luận, phê bình văn học và dịch thuật Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam
Tác phẩm
• Một số bài thơ: Ông đồ, Lòng ta là những hàng thành quách cũ, Luỹ tre xanh, Người đàn bà điên ga Lưu xá
• Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (cùng Nhóm Lê Quý Đôn – 1957) [2]
• Nguyễn Đình Chiểu (1957)
• Thơ Baudelaire (dịch – 1995)
Trang 91 Đọc
- Hai khổ đầu đọc giọng chậm, nhẹ nhàng
- Còn lại giọng ngậm ngùi, tiếc nuối
2 Tìm hiểu chú thích:
a Tác giả: Vũ Đình Liên(1913-1996)
- Quê: Châu Khê- Bình Giang-Hải Dương
- Thuộc lớp nhà thơ đầu tiên của phong trào thơ mới Ông làm thơ từ năm 13 tuổi Đỗ tú tài, học Luật, đi dạy học, viết báo, làm thơ
- Sau CM, dạy học ĐHSP, ĐHSPNN, nghiên cứu văn học và dịch thuật
- Đặc điểm phong cách: Mang nặng lòng thương người và niềm hoài cổ
- TP chính: Đôi mắt (thơ 1957); Sơ thảo lịch sử Văn học VN (nghiên cứu-viết chung 1957); Nguyễn Đình Chiểu (nghiên cứu 1957); Thơ Bôđơle (dịch 1995)
b Tác phẩm:
- Đăng trên báo “Tinh hoa” 1936
- Thể thơ ngũ ngôn
Hoàn cảnh sáng tác
- Từ đầu thế kỉ XX, nền văn Hán học và chữ Nho ngày càng suy vi trong đời sống văn hóa Việt Nam, khi mà Tây học du nhập vào Việt Nam, có
lẽ vì đó mà hình ảnh những ông đồ đã bị xã hội bỏ quên và dần vắng bóng Vũ Đình Liên đã viết bài thơ Ông đồ thể hiện niềm ngậm ngùi, day dứt về cảnh cũ, người xưa
Bài thơ được đánh giá cao, được tuyển vào tập “Thi nhân Việt Nam” Theo Hoài Thanh: “ Theo đuổi nghề văn mà làm được bài thơ như thế cũng đủ Nghĩa là đủ để lưu danh, đủ với người đời”
3 Bố cục: 2 phần
a …bụi bay: Hình ảnh ông đồ
b Còn lại: Tâm sự của nhà thơ
4 Phân tích văn bản:
1/ Hình ảnh ông đồ:
a Ông đồ thời chữ Nho còn được chú ý
*: Sự xuất hiện của ông đồ:
- Xuất hiện: - Mỗi năm đào nở
\ Lại thấy ông đồ
Trang 10\ Bên phố…
->hoa đào: gợi sắc màu tươi thắm rực rỡ, vẻ đẹp của mùa xuân quê
hương
-> cụm từ “mỗi năm”, “lại thấy” gợi sự x/hiện đều đặn, thường kì của ông đồ mỗi dịp tết đến, xuân về Hình ảnh ông đã trở thành thân quen, không thể thiếu trong dịp tết cổ truyền
- Công việc: -Bày mực tàu, giấy đỏ
\ Bên phố…
-> Viết chữ, bán câu đối- công việc thể hiện nét đẹp VH cổ truyền của dt (thú chơi chữ, treo câu đối tết)
*: Tài năng của ông đồ và thái độ của mọi người:
- Thái độ mọi người:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Tấm tắc: nói luôn miệng, thốt từ đáy lòng nhg lời khâm phục, ngợi ca
- Tài năng:
Thảo nét chữ - phượng múa, rồng bay: SS gợi nét chữ đẹp sắc sảo mà mềm mại, uyển chuyển
->Ngưỡng mộ thán phục tài viết chữ đẹp, thưởng thức ý nghĩa thâm thuý của từng câu đối tết-> tài hoa của ông còn được XH tôn vinh, trọng vọng Hình ảnh ông đồ cùng những câu đối đỏ góp phần tô điểm thêm cho hương vị của Tết xưa: “ Thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ Cây nêu, tràng pháo, bánh trưng xanh” Ông và những người thuê viết làm nên một nét đẹp văn hóa truyền thống
( Dấu hiệu vẻ đẹpVH cổ truyền một thời ở VN khi nền Hán học, chữ Nho còn chỗ đứng trong XH)
=> Ông đồ là trung tâm của cảnh vật được mọi người chú ý, ngưỡng
mộ , trân trọng Ông góp phần làm nên một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc
b Ông đồ thời Nho học suy tàn
Khổ 3: Ông đồ dần bị lãng quên
- Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
-> “ Mỗi” điệp ngữ hai lần gợi cái lặp lại, tuần tự của thời gian Mỗi năm vắng dần, thưa dần người thuê viết -> Không còn ai