Tóm tắt Trích chọn các loại thực thể nói chung, cũng như trích chọn tên người nói riêng là một bước cơ bản trong trích chọn thông tin từ văn bản và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.. Vấn đề áp dụ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Lê Thu Thùy
TRÍCH CHỌN THỰC THỂ TÊN NGƯỜI TRONG
TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành: Công nghệ thông tin
HÀ NỘI – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Lê Thu Thùy
TRÍCH CHỌN THỰC THỂ TÊN NGƯỜI TRONG
TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành: Công nghệ thông tin
Cán bộ hướng dẫn: TS Nguyễn Trí Thành
HÀ NỘI – 2009
Trang 3Lời cảm ơn
Trước tiên, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo, TS Nguyễn Trí Thành, những người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những thầy cô giáo đã giảng dạy em trong bốn năm học qua, đã cho em những kiến thức quý báu để em có thể vững bước trên con đường đi của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bạn trong lớp K50 CA đã ủng hộ và khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Và lời cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng chân thành và biết ơn vô hạn tới cha mẹ và
em trai tôi, những người luôn ở bên cạnh tôi những lúc tôi khó khăn nhất, giúp tôi vượt qua những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh Viên
Lê Thu Thùy
Trang 4Tóm tắt
Trích chọn các loại thực thể nói chung, cũng như trích chọn tên người nói riêng
là một bước cơ bản trong trích chọn thông tin từ văn bản và xử lý ngôn ngữ tự nhiên
Nó được ứng dụng nhiều trong dịch tự động, tóm tắt văn bản, hiểu ngôn ngữ tự nhiên, nhận biết tên thực thể trong sinh/y học và đặc biệt ứng dụng trong việc tích hợp tự động các đối tượng, thực thể từ môi trường Web vào các ontology ngữ nghĩa và các cơ
sở tri thức
Trong khóa luận này, em trình bày một giải pháp trích chọn thực thể tên người cho các văn bản tiếng Việt trên môi trường Web Sau khi xem xét các hướng tiếp cận khác nhau, em đã lựa chọn phương pháp dựa trên giải thuật mở rộng quan hệ mẫu đối ngẫu lặp lại (Dual Interative Pattern Relation Expansion - DIPRE) [17] mà Brin đã đề xuất Đây là phương pháp sử dụng học bán giám sát (semi-supervised), dựa trên các ngữ cảnh (occurrences) xung quanh các thực thể để trích chọn quan hệ mẫu, từ đó đưa
ra được danh sách các thực thể cần nhận biết
Trang 5Mục lục
Lời cảm ơn i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Bảng từ viết tắt v
Danh sách hình vẽ vi
Mở đầu 1
Chương 1 Bài toán trích chọn 3
thực thể tên người 3
1.1 Trích chọn thông tin 3
1.2 Tổng quan về bài toán trích chọn thực thể tên 4
1.3 Bài toán trích chọn thực thể tên người trong văn bản tiếng Việt trên môi trường web 5
1.4 Ý nghĩa của bài toán trích chọn thực thể tên người 7
Chương 2 Các hướng tiếp cận trong trích chọn thông tin 9
2.1 Phương pháp dựa trên học máy 9
2.1.1 Mô hình Markov ẩn (HMM) 9
2.1.1.1 Tổng quan về HMM 9
2.1.1.2 Hạn chế của mô hình HMM 11
2.1.2 Mô hình Markov cực đại hóa Entropy (MEMM) 11
2.1.2.1 Tổng quan về mô hình MEMM 11
2.1.2.2 Vấn đề Label Bias 12
2.1.3 Mô hình trường điều kiện ngẫu nhiên (CRF) 13
2.1.3.1 Tổng quan về mô hình CRF 13
2.1.3.2 Hàm tiềm năng của mô hình CRF 14
2.2 Phương pháp tiếp cận dựa trên hệ luật 16
2.2.1 Tổng quan về tiếp cận dựa trên hệ luật 16
2.2.2 Giải thuật DIPRE 16
2.2.1.1 Tổng quan về học bán giám sát 16
2.2.1.2 Giải thuật DIPRE 18
2.3 Tổng kết chương 21
Chương 3 Hệ thống trích chọn tên người trong văn bản tiếng Việt trên môi trường Web 22
3.1 Hướng giải quyết bài toán 22
3.2 Thực nghiệm 27
3.2.1 Môi trường thực hiện 27
3.2.2 Thu thập dữ liệu 27
3.3 Khảo sát và xây dựng thủ công các tập dữ liệu từ điển ban đầu 27
3.3.1 Tập dữ liệu từ điển ban đầu và tập mẫu 27
3.3.2 Giới hạn vòng lặp 29
3.4 Đánh giá hệ thống nhận dạng thực thể 29
3.4.1 Kết quả 30
3.4.2 Đánh giá 31
Trang 6Kết luận 32 Tài liệu tham khảo 34
Trang 7Bảng từ viết tắt
Trang 8Danh sách hình vẽ
Trang 9Mở đầu
Trích chọn thực thể tên (Name Entity Extraction), đặc biệt là trích chọn tên người ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với sự phát triển ngày càng cao các ứng dụng của xử lý ngôn ngữ tự nhiên Tuy nhiên, việc trích chọn tên người cũng như sử dụng chúng một cách triệt để vẫn là một vấn đề không hề đơn giản
Thừa nhận rằng, một trong những cách tốt nhất để xác định tên người là sử dụng thông tin ngữ cảnh xuất hiện xung quanh tên người Do đó, vấn đề chính sẽ là làm thế nào để tìm ra các ngữ cảnh mà tại đó, tên người xuất hiện Các phương pháp có thể là thủ công, sử dụng hệ luật (rule-based) hay tự động…
Hiện nay, hầu hết các hệ thống nhận dạng tên thực thể đều dựa vào một tập nhỏ các loại thực thể tên thông thường Mặc dù đã có một vài đề xuất được đưa ra nhằm
mở rộng các cấp của các loại thực thể tên nhưng nó vẫn cố định một số lượng nhất định các loại thực thể tên Vấn đề áp dụng bài toán trích chọn các loại thực thể cho các miền dữ liệu có tính chất đặc trưng riêng khác với những dữ liệu bình thường, điều này rất đáng được quan tâm Trong khi đó, với những ứng dụng quan trọng trong web ngữ nghĩa, hay trong hệ thống hỏi đáp tự động, …thì các miền dữ liệu tên người cũng là một trong những miền dữ liệu được nhắc tới nhiều nhất
Ý thức được những lợi ích mà các bài toán trích chọn thực thể nói chung và trích chọn tên người nói riêng, em đã chọn hướng nghiên cứu nhằm giải quyết bài toán trích chọn thực thể tên người trong văn bản tiếng Việt trên môi trường Web làm đề tài luận văn của mình
Luận văn được tổ chức thành các chương như sau:
Chương 1 giới thiệu tổng quan về bài toán trích chọn thông tin, bài toán trích
chọn thực thể tên người cho văn bản tiếng Việt trên môi trường Web cùng những ứng dụng thực tế của nó
Chương 2 trình bày một số hướng tiếp cận nhằm giải quyết bài toán trích chọn
thực thể như phương pháp dựa trên hệ luật, phương pháp học máy như HMM, MEMM, CRF Đối với phương pháo dựa trên hệ luật, khóa luận sẽ giới thiệu về một
số hệ thống liên quan tới trích chọn thực thể Cụ thể đó chính là giải thuật DIPRE [17], một giải thuật được đề xuất bởi Brin, sử dụng tập dữ liệu ban đầu (seed) để tìm ra các
Trang 10mẫu (patterns) Phương pháp này đều đã có những kết quả thực nghiệm hết sức khả quan
Chương 3 trình bày hệ thống trích chọn thực thể tên người trong văn bản tiếng
Việt trên môi trường Web dựa trên giải thuật DIPRE (Dual Interative Pattern Relation Expansion)[17] mà Brin (1998) đã đề xuất kết hợp với một số luật mang những đặc điểm cơ bản của tên người trong tiếng Việt và đưa ra một số kết quả thực nghiệm
Trang 11Chương 1 Bài toán trích chọn
1.1 Trích chọn thông tin
Trích chọn thông tin là một lĩnh vực quan trọng trong khai phá dữ liệu văn bản, thực hiện việc trích rút các thông tin có cấu trúc từ các văn bản không có cấu trúc Cụ thể hơn, một hệ thống trích chọn thông tin sẽ trích ra những thông tin đã được định nghĩa trước về các thực thể và mối quan hệ giữa chúng từ một văn bản dưới dạng ngôn ngữ tự nhiên và điền những thông tin này vào một văn bản ghi dữ liệu có cấu trúc hoặc một dạng mẫu (template) được định nghĩa trước đó Ví dụ như việc trích chọn vị trí của một cuộc hẹn từ một bức thư điện tử hay trích chọn tên của một công ty từ một bài báo… Các kĩ thuật được sử dụng trong trích chọn thông tin gồm có: hướng tiếp cận dựa trên luật và dựa trên các phương pháp học máy
Có thể sử dụng trích chọn thông tin từ văn bản với nhiều mức độ khác nhau như nhận dạng các loại thực thể tên (Name Entity Recognition – NER), điền thông tin các mẫu kịch bản (Scenario Template), hay xác định quan hệ giữa các thực thể (Relation Extraction hay còn gọi là trích chọn quan hệ), ví dụ như liên kết các bản ghi (record association) trong cơ sở dữ liệu, hay để chuẩn hóa (nomalization) và tránh trùng lặp
thể tên và trích chọn quan hệ giữa chúng để giải quyết bài toán trích chọn tên người trong văn bản tiếng Việt trên môi trường Web
Có rất nhiều mức độ cũng như nội dung công việc trích chọn thông tin khác nhau Công việc nghiên cứu trích chọn ở đây là trích lại những thông tin từ văn bản Ví
dụ, tại hội thảo MUC-7 (Seventh Message Understanding Conmference), thông tin trích chọn mà người ta quan tâm đến là nhận diện những sự kiện liên quan đến việc
Trang 12phóng tên lửa trong 100 bài báo của NewYork Times Công việc này được thực hiện bằng cách làm sao trả lời được những câu hỏi như:
Tên lửa được phóng ra từ đâu?
Ai là chủ nhân điều khiển tên lửa đó?
Hình 1 dưới đây mô tả một hệ thống trích chọn thông tin
Hình 1 biểu diễn việc trích chọn các thực thể “NAME”, “TITLE” và thực thể
“ORGANIZATION” từ một đoạn văn bản Kết quả đưa ra là danh sách tên người (NAME) tương ứng với chức vụ (TITLE) và tổ chức (ORGANIZATION) của họ xuất hiện trong văn bản nêu trên
Như vậy, có thể hiểu đơn giản rằng công việc trích chọn thông tin ở đây đơn giản
là đi tìm những quan hệ giữa các đối tượng có tên được chỉ định trước
1.2 Tổng quan về bài toán trích chọn thực thể tên
Việc trích chọn các thực thể tên (còn được gọi là phân lớp tên riêng) là một công việc của xử lý ngôn ngữ tự nhiên trên máy tính Nhiệm vụ chính của nó là tìm kiếm và phân lớp các từ vào các nhóm đối tượng như: tên người (person), địa danh (location),
IE
Bill Gates CEO Microsoft Corporation
Bill Veghte VP Microsoft
Richard Stallman founder Free Software Foundation
October 14,2002, 4:00 a.m PT
For year, Microsoft Corporation CEO
Bill Gates railed against the economic
philosophy of open-source software
with Orwellian fevor, denouncing its
communal licensing as a “cancer” that
stifled technological innovation
Today, Microsoft clains to “love” the
open-source concept, by which
software code is made public to
encourage improvement and
development by outside programmers
Gates himself says Microsoft will gladly
disclose its crown jewels-the coveted
code behind the Windows opertating
system-to select customers
“We can be open source We love the
concept of shared source,” said Bill
Veghte , a Microsoft VP “That’s a
super-important shift for us in terms of
code access”
Richard Stallman , founder of the Free
Software Foundation , countered
saying…
Hình 1: Mô hình trích chọn thực thể
Trang 13tổ chức (organization), ngày tháng (date), thời gian (time), tỷ lệ (percentage), tiền tệ (moneytary) và cả những loại thực thể không thuộc những dạng kể trên
Bài toán trích chọn thực thể là bài toán đơn giản nhất trong số các bài toán trích chọn thông tin Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, để thực hiện được việc trích chọn các thông tin phức tạp, hệ thống phải có khả năng thực hiện một số công việc đơn giản hơn Và trích chọn thực thể chính là một trong những yêu cầu đầu tiên của hầu hết các
hệ thống đó, vì rõ ràng trước khi có thể xác định được các mối quan hệ giữa các thực thể, ta phải xác định được đâu là các thực thể tham gia vào mối quan hệ đó Do đó, bài toán trích chọn thực thể là một trong những bước cơ bản nhất trước khi tính đến việc giải quyết các bài toán phức tạp hơn trong lĩnh vực này
Có rất nhiều phương pháp đã được sử dụng để giải quyết các bài toán trích chọn thực thể, từ các phương pháp dựa trên hệ luật (rule-based) đến các phương pháp học máy (machine learning) Một số phương pháp học máy như: Mô hình Markov ẩn (Hidden Markov Model - HMM), mô hình cực đại hóa Entropy (Maximum Entropy Markov Model - MEMM), mô hình trường ngẫu nhiên điều kiện (Conditional Ramdom Field - CRF), phương pháp máy vector hỗ trợ (Support Vector Machine - SVM)….Các phương pháp ngày sẽ được giới thiệu chi tiết ở chương 2
1.3 Bài toán trích chọn thực thể tên người trong văn bản tiếng Việt trên môi trường web
Các thực thể đóng vai trò quan trọng rất nhiều trong ứng dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên Hiện nay, hầu hết các hệ thống nhận dạng thực thể tên đều dựa vào một tập nhỏ các loại thực thể tên thông thường Mặc dù đã có một vài đề xuất được đưa ra nhằm
mở rộng các cấp của các loại thực thể tên nhưng nó vẫn cố định ở một số lượng nhất định các loại thực thể tên Trong các ứng dụng thực tế: hệ thống hỏi đáp hay hệ thống tìm kiếm ngữ nghĩa, người dùng có thể sẽ hứng thú hơn với riêng từng loại thực thể Khi đó, vấn đề đặt ra sẽ là áp dụng bài toán trích chọn các loại thực thể cho các miền
dữ liệu có tính chất đặc trưng riêng biệt, khác với những dữ liệu thông thường Đây là điều rất đáng được quan tâm Và miền dữ liệu tên người cũng là một trong những miền
dữ liệu được nhắc tới nhiều nhất Chính vì vậy, nội dung chính của khóa luận nhằm đưa ra một phương pháp trích chọn thực thể tên người từ văn bản tiếng Việt trên môi trường Web
Thực thể tên người luôn song hành, gắn bó với cuộc sống của mỗi con người từng giờ, từng phút, đóng một vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân Nó không chỉ có
Trang 14chức năng phân biệt người này với người khác mà còn có chức năng thẩm mỹ nên đối với người Việt Nam, tên người cũng thường được chọn lựa khá kỹ về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa Do đó, việc khai thác tối ưu vấn đề này để áp dụng cho nhiều bài toán cụ thể khác cũng là một đề tài quan trọng
Tuy nhiên, đối với hệ thống tên người trên thế giới nói chung hay của Việt Nam nói riêng đều không có một nguyên tắc chung nào trong việc đặt tên Cũng như sự phong phú về ngôn ngữ dẫn tới thực thể tên người sẽ có cấu trúc phức tạp hơn, do đó, không tránh khỏi sự nhập nhằng điều này khiến cho việc trích chọn tên người cũng như trích chọn quan hệ giữa chúng trở nên khó khăn hơn so với các văn bản tiếng Anh
Một số trường hợp dễ dàng xuất hiện đối với tên người trong tiếng Việt như sau:
“Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn nhất ở Việt Nam.” (2)
Xét trường hợp (1) và (2), dễ dàng nhận thấy sự nhập nhằng, điều này sẽ phát sinh những vấn đề như:
“Hồ Chí Minh” nào là tên người?
Chữ “Hồ” đầu câu viết hoa, do đó, thông tin viết hoa đầu câu thường không mang nhiều ý nghĩa
Xét tới trường hợp (3), (4), và (5), có thể thấy cùng một nội dung nhưng có nhiều cách để diễn đạt, nhưng không phải cách diễn đạt nào cũng khiến người lập trình có thể dễ dàng lấy ra được tên người
Trang 15Trường hợp (3) hoàn toàn không có tên người, nhưng đây cũng là trường hợp dễ nhầm lẫn khi thực hiện trích chọn
Trường hợp (5) tồn tại hai loại thực thể,
“Mỹ” chỉ địa danh
“Obama” chỉ tên người Rất có thể kết quả trích chọn sẽ đưa ra kết quả là “Mỹ Obama” → đó là một kết quả hoàn toàn không chính xác
Như vậy, bài toán đưa ra nhằm đánh giá các chiến lược khai phá dữ liệu tên người, đặc biệt tập trung vào hai bài toán con: trích chọn thực thể và trích chọn quan
hệ Bởi vì, trước khi xác định được quan hệ giữa các thực thể để thực hiện trích rút thì
ta phải nhận biết được thực thể cần trích chọn Việc trích chọn thực thể tên người đòi hỏi phải nhận biết được các thành phần cơ bản và đặc trưng của dữ liệu tên người, ví
dụ như các chức danh luôn đi kèm với tên người trong văn bản: ông, bà, học sinh, anh, chị, thầy giáo, cô giáo, giám đốc, tổng giám đốc, …dựa vào sự xuất hiện của các thực thể, thuật toán đưa ra sẽ giữ lại các ngữ cảnh xung quanh thực thể tên để từ đó trích chọn ra quan hệ các mẫu, cuối cùng, dựa vào các mẫu đã trích chọn được để tiếp tục đưa ra các thực thể tên người cần trích chọn Đây chính là phương pháp mà khóa luận
đề cập tới để áp dụng cho bài toán này dựa trên cơ sở giải thuật DIPRE (Dual Interative Pattern Relation Expansion)[17] của Brin Với phương pháp này ta sẽ khắc phục được những vấn đề đặt ra đối với thực thể tên người trong tiếng Việt cũng như việc tìm kiếm để sinh ra các mẫu khác nhau Cụ thể về cách giải quyết bài toán sẽ được trình bày chi tiết ở chương 3
1.4 Ý nghĩa của bài toán trích chọn thực thể tên người
Trích chọn thông tin luôn là bước đi đầu tiên của nhiều ứng dụng thực tế và việc trích chọn, nhận biết tên người cũng tương tự như vậy Tên người là một thành phần chủ chốt để xử lý câu đầu vào Do đó, trích chọn tên người được sử dụng một cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như xử lý ngôn ngữ tự nhiên, thu thập thông tin, dịch tự động…Cụ thể như sau:
Hỗ trợ Web ngữ nghĩa Web ngữ nghĩa là các trang Web có thể biểu diễn
dữ liệu “thông minh”, ở đây “thông minh” chỉ khả năng kết hợp, phân lớp
và khả năng suy diễn trên dữ liệu đó Sự thành công của các Web ngữ nghĩa phụ thuộc vào các ontology, cũng như sự phát triển của các trang
Trang 16Web được chú giải bởi các siêu dữ liệu tuân theo các ontology này Mặc
dù các lợi ích mà các ontology đem lại là rất lớn nhưng việc xây dựng chúng một cách tự động lại hết sức khó khăn Vì lý do này, các công cụ trích chọn thông tin tự động từ các trang Web để “làm đầy “ các ontology như hệ thống nhận biết thực thể là hết sức cần thiết
Xây dựng các máy tìm kiếm hướng thực thể theo các đặc trưng riêng biệt Người dùng có thể lấy ra được danh sách chỉ có riêng thực thể tên người
mà họ cần tìm thay vì một loạt danh sách bao gồm cả các thực thể khác
Như đã được đề cập trên đây, một hệ thống nhận biết thực thể tên người
có thể đóng vai trò là một thành phần cơ bản cho các bài toán trích chọn thông tin phức tạp hơn, phụ thuộc vào mục đích sử dụng của con người
Trước khi đọc một tài liệu, người dùng có thể đọc lướt qua các tên người
Trang 17Chương 2 Các hướng tiếp cận trong trích
chọn thông tin
Có rất nhiều phương pháp đã được dùng để giải quyết bài toán trích chọn thực thể, từ phương pháp dựa trên hệ luật tới phương pháp học máy Một số phương pháp học máy như: Mô hình Markov ẩn (Hidden Markov Model - HMM), mô hình Markov cực đại hóa Entropy (Maximum Entropy Markov Model - MEMM), mô hình trường ngẫu nhiên điều kiện (Conditional Random Field - CRF), phương pháp máy vector hỗ trợ (Support Vector Machine - SVM)… Chương này sẽ giới thiệu một số hướng tiếp cận cùng với ưu và nhược điểm của chúng, từ đó lý giải tại sao phương pháp mà khóa luận sử dụng lại dựa trên giải thuật DIPRE để xây dựng hệ thống trích chọn tên riêng cho tiếng Việt
2.1 Phương pháp dựa trên học máy
Trong một mô hình Markov điển hình, trạng thái được quan sát trực tiếp bởi một người quan sát, vì vậy các xác suất chuyển tiếp trạng thái là các tham số duy nhất Mô hình Markov ẩn thêm vào các đầu ra: mỗi trạng thái có xác suất phân bổ trên các biểu hiện đầu ra có thể Vì vậy, nhìn vào dãy của các biểu hiện được sinh ra bởi HMM không trực tiếp chỉ ra các dãy trạng thái
Các trạng thái trong mô hình HMM được xem là bị ẩn đi bên dưới dữ liệu quan sát sinh ra do mô hình Quá trình sinh ra chuỗi dữ liệu quan sát trong HMM thông qua một loạt các bước chuyển trạng thái xuất phát từ một trong các trạng thái bắt đầu, chuyển tiếp tới một trạng thái mới, quan sát một dữ liệu được lựa chọn bởi trạng thái
đó, quá trình chuyển tiếp lại làm tương tự, quan sát một dữ liệu khác và cứ tiếp tục như
Trang 18vậy cho tới một trạng thái đích cuối cùng được đưa ra Kết hợp các dữ liệu thu được thành một tập dữ liệu của các trạng thái:
Từ đây ta có thể tìm ra chuỗi các trạng thái mô tả tốt nhất cho chuỗi dữ liệu quan sát bằng cách tính:
) (
) , ( )
| (
O P
O S P O
S
Ta có thể mô hình hóa HMM dưới dạng một đồ thị có hướng như sau:
Ở đây, Si là trạng thái tại thời điểm t=i trong chuỗi trạng thái S, Oi là dữ liệu quan sát được tại thời điểm t=i trong chuỗi O Sử dụng tính chất Markov thứ nhất (trạng thái hiện tại chỉ phụ thuộc vào trạng thái ngay trước đó) và giả thiết dữ liệu quan sát được tại thời điểm t chỉ phụ thuộc trạng thái tại t, ta có thể tính xác suất P(S,O) như sau:
S P S
O P S P O S P
2
1 1
1
( ) , (
Hình 2: Ví dụ về mô hình Markov
Trang 19Quá trình tìm ra chuỗi trạng thái tối ưu mô tả tốt nhất chuỗi dữ liệu quan sát cho trước có thể được thực hiện bởi một kĩ thuật lập trình quy hoạch động sử dụng thuật toán Viterbi [6]
2.1.1.2 Hạn chế của mô hình HMM
Chúng ta phải cần nhiều chuỗi dữ liệu quan sát hơn để tính P(S,O) Tuy nhiên, S
là chuỗi các trạng thái ẩn, số lượng có hạn thì có thể liệt kê được nhưng chuỗi dữ liệu quan sát được O thì rất đa dạng, ta không thể nào có thể liệt kê ra hết được
Khi áp dụng vào các bài toán phân lớp dữ liệu dạng chuỗi, các mô hình thường
sử dụng xác suất đồng thời để mô hình hóa các bài toán có tính điều kiện.Với các bài toán này sẽ thích hợp hơn nếu ta dùng một mô hình điều kiện có thể tính toán P (S|O) trực tiếp thay vì P (S, O) ban đầu
2.1.2 Mô hình Markov cực đại hóa Entropy (MEMM)
2.1.2.1 Tổng quan về mô hình MEMM
Một mô hình khác được đưa ra nhằm khắc phục những hạn chế mà mô hình HMM đã gặp phải, đó là mô hình MEMM Mô hình MEMM sử dụng một hàm xác suất duy nhất P S S( i| i1,O i) để thay thế cho xác suất chuyển trạng thái và xác suất quan sát trong HMM Đối với MEMM, các dữ liệu quan sát được cho trước nên ta chỉ cần quan tâm tới xác suất chuyển trạng thái
Xác suất P(S|O) được tính theo công thức:
t
t t s t
t
s o Z o s P o
s s P
) , (
1 )
| ( )
,
| (
Trang 20Với:
k
là các tham số cần được huấn luyện (ước lượng)
Z (Ot, St-1) là thừa số chẩn hóa để tổng xác suất chuyển từ trạng thái St-1sang tất cả các trạng thái St kề đều bằng 1
fk (Ot, St) là hàm thuộc tính tại vị trí thứ i trong chuỗi dữ liệu quan sát và trong chuỗi trạng thái Mỗi hàm thuộc tính fk (Ot,St) nhận hai tham số, một là dữ liệu quan sát hiện tại Oi và một là trạng thái hiện tại St
k = <k’,St> với: k’ là thuộc tính nhị phân chỉ phụ thuộc vào dữ liệu quan sát hiện tại
St là trạng thái hiện tại
Hình 4: Vấn đề Label Bias
Trang 21P(0453|rob) = Pr(4|0,r)/Z1’ * Pr(5|4,i)/Z2’ * Pr(3|5,b)/Z3’
Khi đó, giả sử như trong tập huấn luyên, từ “rob” xuất hiện nhiều hơn từ “rib” thì khi đó, xác suất P(4|0,r) sẽ lớn hơn xác suất P(1|0,r), hay xác suất của P(0123|rib) sẽ nhỏ hơn xác suất của P(0453|rob), hay chuỗi trạng thái “0453” sẽ được chọn cho dù chuỗi quan sát là “rib” hay “rob”
2.1.3 Mô hình trường điều kiện ngẫu nhiên (CRF)
2.1.3.1 Tổng quan về mô hình CRF
CRF là mô hình dựa trên xác suất có điều kiện dựa trên việc gán nhãn và phân đoạn dữ liệu liên tục CRF là mô hình đồ thị vô hướng để từ đó có thể định nghĩa một phân phối xác suất của toàn bộ chuỗi trạng thái với điều kiện đã biết chuỗi quan sát cho trước Ưu điểm cơ bản của CRF so với mô hình Markov ẩn đó chính là tính có điều kiện của chúng, làm giảm nhẹ các giả định không phụ thuộc được yêu cầu bởi HMM để bảo đảm kết quả dễ xử lý Thêm vào nữa, CRF cũng tránh được vấn đề label bias gặp phải trong mô hình Markov cực đại hóa Entropy cũng như đồ thị có hướng trong mô hình Markov điển hình
CRF được thể hiện bằng mô hình đồ thị vô hướng, hoặc bằng trường Markov ngẫu nhiên, bao toàn bộ điều kiện lên X, biến ngẫu nhiên biểu hiện qua các chuỗi quan sát
Cho một đồ thị vô hướng không có chu trình G=(E,V) với:
+ V là tập các đỉnh của đồ thị
+ E là tập các cạnh vô hướng nối các đỉnh đồ thị
+ Các đỉnh V biểu diễn các thành phần của biến ngẫu nhiên Y sao cho tồn tại ánh xạ một-một giữa một đỉnh và một thành phần của Yv của Y
+ Một node v V tương ứng với mỗi biến ngẫu nhiên biểu diễn một thành phần Y v của Y Nếu mỗi biến ngẫu nhiên của Y v tuân theo đặc tính của Markov đối với G thì (Y,X) là một CRF