1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giáo trình: CÔN TRÙNG NÔNG NGHIỆP (DÙNG CHO ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CHUYÊN NGÀNH CÂY TRỒNG)

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 723,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Côn trùng nông nghiệp là môn học về Bảo vệ thực vật nằm trong chương trình đào tạo kỹ sư nông nghiệp và cao đẳng chuyên ngành cây trồng.. Môn học này cung cấp cho sinh viên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I

PGS.TS NGUYỄN ĐỨC KHIÊM (Chủ biên)

Giáo trình CÔN TRÙNG NÔNG NGHIỆP

(DÙNG CHO ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CHUYÊN NGÀNH CÂY TRỒNG)

HÀ NỘI – 2005

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Côn trùng nông nghiệp là môn học về Bảo vệ thực vật nằm trong chương trình

đào tạo kỹ sư nông nghiệp và cao đẳng chuyên ngành cây trồng Môn học này cung

cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lớp côn trùng, về những loài côn trùng

thường gây hại cho sản xuất nông nghiệp, về các biện pháp phòng chống sâu hại cây

trồng nhưng không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và những sinh vật có ích

ngoài tự nhiên, không ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người

Cấu trúc cuốn giáo trình chia làm 2 phần tương ứng với 2 học phần là: phần đại

cương và phần chuyên khoa Phần đại cương trình bầy những kiến thức cơ bản nhất về

côn trùng liên quan với hình thái, giải phẫu - sinh lý, sinh vật, sinh thái và phân loại

Phần chuyên khoa trình bầy những kiến thức về nguyên lý và các biện pháp phòng

chống sâu hại, về sâu hại của các cây trồng chính và biện pháp phòng chống từng loài

cụ thể

Điểm mới của giáo trình này so với các giáo trình đã xuất bản trước đây là trong

một quyển giáo trình bao gồm cả đại cương và chuyên khoa, phù hợp để giảng dạy với

thời lượng ngắn (3-4 đơn vị học trình) Giáo trình được viết xúc tích nhưng vẫn đảm

bảo được tính khoa học, cập nhật các kiến thức mới, phù hợp cho sinh viên sử dụng

trong khi học ở trường đại học và cũng là cẩm nang gọn nhẹ dùng sau khi ra trường

Giáo trình được phân công biên soạn như sau:

Chủ biên: PGS.TS Nguyễn Đức Khiêm

Phần đại cương:

- PGS.TS Nguyễn Đức Khiêm: các chương I,II,III,IV,V,VI

Phần chuyên khoa:

- PGS.TS Nguyễn Đức Khiêm: các chương VII, XI và phụ lục

- PGS.TS Nguyễn Văn Đĩnh: chương VIII

- PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh: chương IX

- GVC.TS Trần Đình Chiến: chương X

- GS.TS Nguyễn Viết Tùng: chương XI

- KS Nguyễn Đức Tùng: phần hình ảnh

Một số hình ảnh minh hoạ của giáo trình được trích từ giáo trình côn trùng nông

nghiệp (Chủ biên Hồ Khắc Tín, NXBNN 1981)

Do điều kiện biên soạn và trình độ nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi

mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp để lần xuất bản sau sẽ hoàn

chỉnh hơn

Các tác giả

Trang 3

Phần A ĐẠI CƯƠNG

Trang 4

Chương I KHÁI NIỆM VỀ CÔN TRÙNG HỌC

1 Định nghĩa môn Côn trùng nông nghiệp

Côn trùng nông nghiệp là môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản

về lớp côn trùng, về những loài côn trùng có hại cho sản xuất nông nghiệp, về những

côn trùng có ích cần bảo vệ, những biện pháp nhằm giảm thiểu sự mất mát do sâu hại

gây ra nhưng bảo vệ được đa dạng sinh vật trong hệ sinh thái, không gây ô nhiễm nông

sản và môi trường sống

2 Vị trí phân loại và đặc điểm của lớp côn trùng

Côn trùng là động vật không xương sống Lớp Côn trùng có tên khoa học là Insecta

hay Hexapoda, thuộc ngành Tiết túc Arthropoda

Hình 1.1 Cấu tạo cơ thể châu chấu

1 Đầu; 2 Ngực; 3 Bụng; 4 Râu đầu; 5 Mắt kép; 6 Mắt đơn; 7 Miệng; 8 Ngực

trước; 9 Ngực giữa; 10 Ngực sau; 11 Chân trước; 12 Chân giữa; 13 Cánh trước; 14

Cánh sau; 15 Chân sau; 16 Lỗ thính giác; 17 Lỗ thở; 18 Lông đuôi; 19 Bộ phận

sinh dục ngoài (theo Frost) Côn trùng có những đặc điểm chung sau đây:

- Cơ thể chia ra 3 phần rõ rệt là đầu, ngực và bụng (Hình 1.1)

- Đầu có 1 đôi râu đầu, miệng, 1 đôi mắt kép và 2-3 mắt đơn (một số loài không có mắt

đơn)

- Ngực có 3 đốt, mỗi đốt có 1 đôi chân ngực và thời kỳ trưởng thành có thể có 2 đôi

cánh

- Lỗ sinh dục và lỗ hậu môn nằm ở cuối bụng

- Da làm chức năng của bộ xương ngoài (Hình 1.2)

- Hô hấp bằng hệ thống khí quản

- Trong quá trình sinh trưởng phát dục có biến thái bên trong và bên ngoài

Trang 5

Hình 1.2 So sánh bộ xương trong và bộ xương ngoài

1 Bộ xương trong của động vật có xương sống

2 Bộ xương ngoài của côn trùng

(theo Chu Nghiêu)

3 Nguồn gốc tiến hoá của lớp côn trùng

Về nguồn gốc của lớp côn trùng có nhiều ý kiến khác nhau Handlirsch cho rằng côn

trùng cổ xưa tiến hoá từ lớp tam diệp (Trilobita) Các học giả Hancea, Carpenter,

Crampton cho rằng côn trùng tiến hoá từ lớp giáp xác (Crustacea) Các học giả Brauer,

Packard, Tyllygard và Imms lại cho rằng côn trùng tiến hoá từ lớp đa túc (Myriapoda)

Như vậy, côn trùng tiến hoá từ 1 lớp nào đó trong ngành tiết túc (Arthropoda), có thể

là động vật sống trên cạn (Myriapoda), có thể sống dưới nước (Trilobita, Crustacea),

tổ tiên của côn trùng đều có miệng nhai, kiểu miệng nhai ở côn trùng là nguyên thuỷ

nhất, từ đó mới biến đổi thành các kiểu miệng khác, bộ máy tiêu hoá kiểu tiêu hoá thức

ăn rắn là nguyên thuỷ nhất, cánh mới xuất hiện ở lớp côn trùng và không phải từ chi

phụ của đốt cơ thể ở phần ngực biến đổi thành

Côn trùng có số loài và số cá thể từng loài nhiều, phân bố rộng bởi vì chúng có

những ưu thế hơn các động vật khác: (1) Cơ thể côn trùng được bao bọc một lớp da có

cấu tạo đặc biệt, giúp cho chúng có thể thích nghi với những điều kiện khắc nghiệt của

ngoại cảnh (2) Chúng có cánh nên có thể bay để tìm kiếm thức ăn, tìm đôi giao phối,

chọn lựa nơi đẻ trứng và tìm nơi sinh sống tốt nhất, có thể di cư và mở rộng vùng phân

bố dễ dàng Do có cánh nên côn trùng đã tiến bộ vượt xa tổ tiên của chúng, làm cho

chúng chiếm ưu thế trong cạnh tranh sinh tồn và hình thành các loài mới, khiến cho số

loài nhiều, chiếm ưu thế trong sinh quần (3) Cơ thể côn trùng bé nhỏ, khiến cho chúng

có thể ẩn náu ở mọi nơi, với một lượng thức ăn ít ỏi cũng đủ để hoàn thành một thế hệ

và sinh ra thế hệ sau Những nghiên cứu hoá thạch cho thấy côn trùng đã xuất hiện trên

mặt đất cách đây hơn 300 triệu năm, trải qua thời kỳ băng hà, những động vật có kích

thước lớn như khổng long bị tiệt chủng, còn côn trùng lại tồn tại và phát triển (4) Côn

trùng có sức sinh sản lớn và vòng đời ngắn, có loài như rệp muội (họ Aphididae) vòng

đời chỉ 5-7 ngày Vì vậy sức tăng mật độ cao (5) Côn trùng có sức sống và khả năng

thích nghi cao với những biến đổi của điều kiện ngoại cảnh, khiến cho chúng vượt xa

các loài khác trong giới động vật về tính đa dạng

4 Vai trò của côn trùng đối với tự nhiên và con người

4.1 Với tự nhiên

Côn trùng là lớp động vật có số loài nhiều nhất Đến nay đã biết khoảng trên 1,5

triệu loài côn trùng, chiếm đến 3/4 số loài đã được ghi nhận của 60 lớp thuộc giới động

Trang 6

vật Số lượng cá thể mỗi loài cũng rất lớn Thí dụ, 1 tổ kiến ước tính 50 vạn con, 1 tổ

ong lớn khoảng 8 vạn con Vì lẽ đó côn trùng có vai trò quan trọng số một trong đa

dạng sinh học và trong cân bằng sinh học của mỗi hệ sinh thái

Côn trùng thụ phấn cho khoảng 85% số loài thực vật hiển hoa khoả tử (thực vật có

hoa và bầu nhị để lộ ra ngoài) Vì vậy, người ta cho rằng sự phát sinh lớp côn trùng

trên mặt đất đã làm xuất hiện sau đó những thực vật hiển hoa khoả tử Côn trùng là

nguyên nhân làm đa dạng màu sắc và hương thơm của các loài hoa trên trái đất

Côn trùng ăn những thức ăn khác nhau có nguồn gốc thực vật, động vật, xác chết

động vật, phân động vật, tàn dư thực vật, nên mỗi loài tham gia một khâu trong tuần

hoàn vật chất trong tự nhiên Chúng được coi là đội quân vệ sinh thiên nhiên ở mọi nơi,

tạo độ màu mỡ cho đất, tăng tính bền vững của hệ sinh thái

4.2.Với con người

Một số loài côn trùng ăn thực vật gây hại cho cây trồng, ảnh hưởng đến năng suất,

phẩm chất nông sản, gây tổn thất kinh tế đáng kể cho nông dân Những loài này gọi là

sâu hại cây trồng Sâu hại thường làm giảm 5-10% năng suất, sản lượng cây trồng Khi

chúng phát sinh với số lượng lớn có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, buộc người nông

dân phải phòng chống, nên không những làm tốn kém tiền của mà các thuốc trừ sâu

còn làm ô nhiễm môi trường sống, để lại dư lượng chất độc trong nông sản và làm mất

cân bằng sinh học trong tự nhiên

Ở nước ta đã xảy ra nhiều dịch sâu hại trong 50 năm qua Thời kỳ 1961-1970, dịch

bệnh vius lúa vàng lụi do bọ rầy xanh đuôi đen (Nephotettix spp.) là môi giới truyền

bệnh đã xảy ra ở khắp các tỉnh miền bắc (như Lạng Sơn, Sơn Tây, Thái Nguyên, Bắc

Ninh, Bắc Giang, Hà Giang, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam,

Thanh Hoá ) Bệnh đã gây hại nghiêm trọng hàng chục vạn ha Thời kỳ 1971-1975,

dịch sâu năn (Pachydiplosis oryzae) xảy ra khắp các tỉnh đồng bằng sông Hồng (Nam

Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Phòng ) Những năm 1977-1979, rầy nâu

(Nilaparvata lugens) và rầy lưng trắng (Sogata furcifera) phát sinh ở các tỉnh đồng

bằng sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long, Hậu Giang, Đồng

Tháp ) với mật độ hàng vạn con/m2 trên diện tích đến 200 ngàn ha Những năm

1979-1981, sâu năn (Pachydiplosis oryzae) gây hại đến 11 ngàn ha ở các tỉnh miền

trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Phú Khánh) với tỷ lệ dảnh hại 30-50%

Những năm 1986-1987, bọ xít đen (Scotinophara lurida) gây hại hàng ngàn ha lúa vụ

xuân và vụ mùa ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh Chỉ tính trong vụ xuân năm

1986, nông dân các tỉnh này bắt bằng dụng cụ thô sơ được 200 tấn bọ xít Dịch sâu

cuốn lá nhỏ hại lúa (Cnaphalocrocis medinalis) xảy ra trên phạm vi cả nước, và năm

2001 phát sinh gây hại 885 ngàn ha ở các tỉnh đồng bằng bắc bộ và miền núi phía bắc,

cả vụ đông xuân và vụ mùa, mật độ hàng trăm con/m2 Năm 2001 hơn 120 ngàn ha

ngô và mía ở các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa, Vũng Tàu, Tây Ninh bị cào cào phát sinh

thành dịch gây hại nghiêm trọng (Theo báo cáo của Cục BVTV, năm 2002) Trên các

cây trồng khác cũng xảy ra các dịch sâu, khiến cho con người luôn luôn phải phòng

chống

Đê điều, nhà cửa, đồ gỗ, sách thư viện, nông sản sau thu hoạch bị mối và sâu mọt

gây hại Thiệt hại do chúng gây ra rất lớn Chúng có thể là nguyên nhân gây vỡ đê, làm

sập nhà cửa và những thảm hoạ khác

Nhiều loài côn trùng là ký sinh trên người và động vật nuôi Chấy, rận, bọ chét, muỗi,

rệp giường, ruồi vàng không những hút máu, mà còn truyền các bệnh truyền nhiễm

cho người và động vật

Số loài có thể gây hại hay gây phiền toái cho con người chỉ chiếm không quá 1%,

còn lại là vô hại hoặc là có lợi cho con người Có những loài như tằm nhà (Bombyx

Trang 7

mori), ong mật (Apis spp.), cánh kiến (Laccifer spp.) là vật nuôi để tạo ra sản phẩm có

giá trị kinh tế cao Sản phẩm tạo ra của hàng chục loài côn trùng là nguyên liệu để làm

thuốc chữa bệnh Hàng vạn loài là kẻ thù tự nhiên của sâu hại cây trồng, chúng góp

phần hạn chế số lượng của sâu hại trên đồng ruộng, và chúng chính là “bạn của nhà

nông" Côn trùng thụ phấn cho cây trồng, góp phần làm cho cây có hoa thơm quả ngọt

Chúng làm vệ sinh thiên nhiên, làm sạch môi trường sống của con người và làm tăng

độ màu mỡ cho đất canh tác Như vậy, cần phải nhận biết loài nào gây hại để có biện

pháp phòng chống, loài nào là vô hại hoặc là có ích để bảo vệ và tạo điều kiện cho

chúng phát triển trên đồng ruộng, làm thay đổi sinh quần đồng ruộng theo hướng có lợi

cho con người

5 Một số mốc lịch sử nghiên cứu về côn trùng

5.1 Trên thế giới

Ba ngàn năm trước công nguyên ở Trung Quốc đã bắt đầu nuôi tằm Gần 400 năm

trước công nguyên Aristote (người Hy Lạp) đã viết về 60 loài côn trùng trong tác

phẩm của mình Đầu thế kỷ 18 Reaumer (nhà tự nhiên Pháp) viết 6 tập “Hồi ký về lịch

sử côn trùng” Cuối thế kỷ 18 Pallas (Viện sĩ người Nga) đã nghiên cứu và viết về

thành phần loài của côn trùng Vào thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của các ngành

khoa học khác, côn trùng học đã thực sự trở thành một khoa học Có rất nhiều người

chuyên sâu về côn trùng học và hàng loạt các “Hội côn trùng” được thành lập ở các

nước, như ở Pháp năm 1832, ở Anh năm 1833, ở Nga năm 1859 Các hội côn trùng giữ

vai trò chỉ đạo phát triển côn trùng học ở mỗi nước Từ thế kỷ 20 các lĩnh vực côn

trùng thực nghiệm ra đời, trong đó có côn trùng nông nghiệp, côn trùng lâm nghiệp

5.2 Ở Việt Nam

- Vào năm 1905 đoàn nghiên cứu người Pháp công bố 1020 loài côn trùng thu thập

được ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam

- Từ đầu thế kỷ 20 đến 1945 có nhiều kết quả nghiên cứu được công bố liên quan

đến côn trùng ở Việt Nam của các tác giả: Dupasquier (Côn trùng hại chè),

Fleutiaux (Mối, xén tóc và côn trùng hại mía, đậu đỗ), Joannis (Lepidopteres

heteroceres du Tonkin), Trần Thế Tương (Les Chrysomelinae du Sud de la Chine

et du Nord Tonkin), Salvaza (Faune entomogique de l’Indochine), Paulian R

(Scarabaeidae), Lemee A (Lepidoptera)

- Sau 1945: Năm 1953 thành lập “Phòng côn trùng” thuộc Viện trồng trọt Năm

1961 thành lập Cục bảo vệ thực vật Năm 1966 thành lập Hội côn trùng học Việt

Nam

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I

1 Vị trí phân loại và đặc điểm chính của lớp côn trùng là gì?

2 Nguồn gốc tiến hoá của lớp côn trùng và những gì là ưu thế của côn trùng so

với tổ tiên của chúng?

3 Vai trò của côn trùng đối với tự nhiên và với con người như thế nào?

4 Từ nhận thức về vai trò của côn trùng đối với tự nhiên và với con người, suy

nghĩ gì về việc phun thuốc trừ sâu trên đồng ruộng của nông dân trong những

năm qua?

5 Nêu một số mốc lịch sử chính của việc nghiên cứu côn trùng trên thế giới và

trong nước

Trang 8

Chương II HÌNH THÁI HỌC CÔN TRÙNG

1 Định nghĩa

cấu tạo của cơ thể côn trùng đều có chức năng nhất định, là kết quả của sự biến đổi rất

phức tạp và lâu dài qua chọn lọc tự nhiên để thích ứng với hoàn cảnh sống và với đặc

tính sinh vật học của mỗi loài, đồng thời cấu tạo của các bộ phận trong cơ thể có tương

quan với nhau Nghiên cứu hình thái cho ta biết được nguyên nhân hình thành nên

từng cấu tạo và quan hệ giữa cấu tạo với phương thức sống Qua nghiên cứu hình thái

có thể nhận biết những đặc điểm chung của từng nhóm loài và đặc điểm riêng của mỗi

loài giúp cho công tác phân loại Đó là cơ sở quan trọng để phân biệt các bộ, họ, giống,

loài của côn trùng Vì lẽ đó, khi tìm hiểu về một loài côn trùng nào đó, bao giờ cũng

bắt đầu từ việc nghiên cứu các đặc điểm hình thái học

2 Cấu tạo khái quát cơ thể côn trùng

da này giúp cho cơ thể côn trùng có hình thù nhất định và là chỗ bám cho các hệ cơ,

nên người ta gọi da côn trùng là “bộ xương ngoài ” để phân biệt với các động vật có

xương bên trong Cơ thể côn trùng được các vòng hẹp bằng chất màng phân cắt thành

các vòng rộng hơn, tạo nên các đốt cơ thể Những vòng hẹp bằng chất màng đó gọi là

màng giữa đốt Nhờ cơ thể được chia đốt như vậy nên có thể cử động dễ dàng

thời kỳ phôi thai (còn gọi là đốt nguyên thuỷ) có 2 mấu lồi ở 2 bên gọi là mầm chi phụ

Chúng tập hợp thành 3 phần là đầu, ngực và bụng Các đốt ở phần đầu kết lại với nhau

rất khít, có thể thấy được vết tích chia đốt ở thời kỳ phôi thai, còn ở thời kỳ sau phôi

thai chỉ nhận biết qua các chi phụ là 2 râu đầu, 2 hàm trên, 2 hàm dưới, 2 nửa môi dưới

Vì vậy, có người cho rằng đầu là do 4 đốt phôi thai tạo nên (Holmgren, Hanstrom,

Snodgrass), do 5 đốt (Schwanvitch), do 6 đốt (Heymons, Viallanes) Phần ngực của tất

cả các loài đều có 3 đốt Chúng gắn kết rất chặt với nhau làm điểm tựa cho các cơ quan

vận động là 3 đôi chân và 1-2 đôi cánh Phần bụng do 11 đốt tạo nên (ở giai đoạn

trưởng thành thường chỉ thấy 6-10 đốt) Cuối bụng của côn trùng trưởng thành có bộ

phận sinh dục bên ngoài, ở một số loài có lông đuôi, còn các chi phụ khác không còn

nữa

3 Cấu tạo chi tiết cơ thể côn trùng

3.1.Phần đầu

3.1.1 Cấu tạo cơ bản của đầu

Đầu côn trùng được bao bọc bằng một vỏ cứng, có 4 đôi chi phụ là một đôi râu

đầu và ba đôi chi phụ miệng, có một đôi mắt kép và phần lớn có 3 mắt đơn Râu đầu,

mắt kép, mắt đơn là cơ quan cảm giác Miệng là cơ quan thu nhận thức ăn Vì vậy, đầu

là trung tâm cảm giác và thu nhận thức ăn

Trên bề mặt vỏ đầu có các ngấn Ngấn là đường lõm xuống của da tạo nên,

phần lõm vào trong đó được gọi là sống nổi trong Các sống nổi này để cơ bám và tăng

thêm độ cứng của vỏ đầu Các ngấn phân chia vỏ đầu thành các khu và các mảnh, như

khu trán- chân môi, khu cạnh-đỉnh đầu, khu ót, khu ót sau, khu dưới má, và đặc biệt

môi trên và lưỡi cũng là một mảnh của vỏ đầu tạo thành Trên đỉnh đầu ở giai đoạn ấu

trùng thấy rất rõ ngấn lột xác hình chữ Y ngược Mỗi khi ấu trùng lột xác thì ngấn này

Trang 9

tách ra để cơ thể côn trùng chui ra khỏi lớp da cũ Ở giai đoạn trưởng thành không

nhìn thấy ngấn này

Hình 2.1 Cấu tạo cơ bản đầu côn trùng

A Đầu nhìn mặt trước; B Đầu nhìn mặt bên; C Đầu nhìn mặt sau

1 Râu đầu; 2 Mắt kép; 3 Mắt đơn; 4 Trán; 5 Chân môi; 6 Đỉnh đầu; 7 Sau đầu; 8

Má; 9 Ngấn ót; 10 Ót; 11 Khu dưới má; 12 Ót sau; 13 Môi trên; 14 Hàm trên; 15

Hàm dưới; 16 Môi dưới; 17 Lỗ sọ (lỗ chẫm);

(theo Chu Nghiêu)

Căn cứ vào vị trí của miệng trên đầu, chia ra 3 kiểu đầu:

Hình 2.2 Các kiểu đầu côn trùng

A Kiểu đầu miệng dưới; B Kiểu đầu miệng trước; C Kiểu đầu miệng sau

(theo Trường Đại học Nông nghiệp Hoa Nam)

- Đầu miệng trước: có miệng hướng về phía trước đầu, trục dọc của đầu song song

với trục dọc cơ thể Kiểu đầu này thuận lợi cho những loài lao về phía trước tấn

công con mồi (như bọ chân chạy Carabidae, bọ hổ trùng Cicindellidae) và đục

khoét thực vật (như bọ đầu dài Curculionidae)

- Đầu miệng dưới: có miêng ở phía dưới đầu, trục dọc của đầu gần thẳng góc với

trục dọc cơ thể Kiểu đầu này gặp phổ biến ở các loài ăn thực vật, theo kiểu vừa bò

vừa gặm ăn (như châu chấu, dế mèn, dế dũi bộ cánh thẳng Orthoptera)

- Đầu miệng sau: có miệng kéo dài ra phía sau đầu hướng về mặt bụng, trục dọc đầu

cùng trục dọc thân tạo thành góc nhọn Kiểu đầu này gặp ở côn trùng có kiểu

miệng chích hút (như ve sầu, bọ rầy, rệp muội bộ cánh đều Homoptera và bọ xít bộ

cánh nửa Hemiptera)

3.1.2 Các phần phụ của đầu

a) Râu đầu Hầu hết các loài côn trùng có một đôi râu đầu mọc trên ổ chân râu nằm ở vị trí giữa 2

mắt kép Chức năng chính của râu đầu là cơ quan khứu giác và xúc giác Có một số

loài côn trùng râu đầu còn có các chức năng khác, như ở muỗi đực là cơ quan thính

giác, niềng niễng Hydrophilus dùng râu đầu để bắt mồi, ban miêu đực Mylabris dùng

Trang 10

Hình 2.3 Cấu tạo râu côn trùng

1 Chân râu; 2 Cuống râu; 3 Roi râu

(theo Chu Nghiêu)

râu đầu để giữ con cái khi giao phối, bọ bơi ngửa Notonecta dùng râu đầu để giữ thăng

bằng khi bơi v.v

Cấu tạo chung của râu đầu gồm 3 phần:

chân râu (1 đốt), cuống râu (1 đốt) và roi

râu (chia làm nhiều đốt, rất đa dạng)

Hình dạng và kích thước râu đầu của các

loài, của con đực và của con cái cùng một

loài không giống nhau Thường râu đầu con

đực phát triển hơn, có tổng diện tích bề mặt

tiếp xúc với không khí nhiều hơn so với con

cái cùng loài Vì vậy, có thể dựa vào đặc

điểm cấu tạo râu đầu để phân biệt các loài,

phân biệt con đực với con cái cùng một loài

Đặc điểm hình thái râu đầu được sử dụng

trong phân loại, nên cần phân biệt một số

kiểu râu đầu thường gặp sau đây (Hình 2.4):

Hình 2.4 Các dạng râu đầu

1 Râu hình sợi chỉ (Châu chấu Locusta migratoria Linn.); 2 Râu hình chuỗi hạt (Mối

thợ Calotermes sp.); 3 Râu hình lông cứng (Chuồn chuồn Anax parthenope Selys); 4

Râu hình răng cưa (Xén tóc Prionus insularis Motsch.); 5 Râu hình lưỡi kiếm (Cào

cào Acrida lata Motsch.); 6 Râu muỗi cái (Culex fatigas Wied ♀); 7 Râu muỗi đực

(Culex fatigas Wied ♂); 8 Râu hình lông chim (Sâu róm chè Semia cynthia Drury); 9

Râu hình răng lược (Ptilineurus marmoratus Reitt.♂); 10 Râu hình rẻ quạt mềm

Ngày đăng: 08/04/2022, 14:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w