LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ: “Nghiên cứu thực trạng quản lý rừng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế người dân sống dựa vào rừng tại vùng đệm rừng đặc dụng Tân Trào,
Trang 1LÊ KHẮC TIỆP
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỪNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN SỐNG DỰA VÀO RỪNG TẠI VÙNG ĐỆM KHU VỰC RỪNG ĐẶC DỤNG TÂN TRÀO
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2LÊ KHẮC TIỆP
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỪNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN SỐNG DỰA VÀO RỪNG TẠI VÙNG ĐỆM KHU VỰC RỪNG ĐẶC DỤNG TÂN TRÀO
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Lâm học
Mã số: 8 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tuấn Hùng
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ: “Nghiên cứu thực trạng quản lý rừng
và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế người dân sống dựa vào rừng tại vùng đệm rừng đặc dụng Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” là công trình
nghiên cứu của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS Nguyễn Tuấn Hùng, Giảng viên khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong Luận văn đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong Luận văn là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
Thái Nguyên, ngày …tháng năm 2021
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, phòng quản lý và đào tạo Sau Đại học, Khoa Lâm Nghiệp cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: Thầy giáo
TS Nguyễn Tuấn Hùng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân dân tại các địa điểm tiến hành thí nghiệm, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp
đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2021
Học viên
Lê Khắc Tiệp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 3
1.2 Những nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới và Việt Nam 9
1.2.1 Trên thế giới 9
1.2.2 ở Việt Nam 15
1.3 Nghiên cứu về sinh kế người dân sống dựa vào tài nguyên rừng trên thế giới và Việt Nam 19
1.3.1 Trên thế giới 19
1.3.2 Ở Việt Nam 21
1.4 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 23
1.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực rừng đặc dụng Tân Trào 23
1.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực rừng đặc dụng Tân Trào 34
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đối tượng nghiên cứu 38
2.2 Phạm vi nghiên cứu 38
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu 38
2.4 Phương pháp nghiên cứu 39
2.4.1 Cách tiếp cận của đề tài 39
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 39
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Đánh giá về thực trạng tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu 45
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất đai thuộc Ban quan lý rừng đặc dụng Tân trào 45
3.1.2 Trữ lượng rừng các xã thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Tân Trào 46
3.1.3 Hiện trạng chủ quản lý đất đai thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Tân Trào 47
3.2 Các hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại khu vực rừng đặc dụng Tân Trào 48
3.3 Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân sống dựa vào rừng 53
3.3.1 Thông tin chung về các chủ hộ được điều tra thuộc các xã 53
3.3.2 Các hoạt động sinh kế của người dân khu vực nghiên cứu 54
3.3.3 Đánh giá các nguồn lực tự nhiên của hộ điều tra 55
3.3.4 Đánh giá các nguồn thu nhập của các hộ điều tra 56
3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn sinh kế của người dân tại địa điểm nghiên cứu 58
3.6 Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng và phát triển sinh kế của người dân có cuộc sống dựa vào rừng tại vùng đệm khu rừng đặc dụng Tân Trào 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FAO : Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc
PEFC : Chương trình tiêu chuẩn chứng nhận rừng
FSC : Hội đồng quản lý rừng
ITTO : Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế
TFAP : Chương trình hành động rừng nhiệt đới
UNCED : Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển
CITES : Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý hiếmCBD : Công ước về Đa dạng sinh học
CGCC : Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu
CCD : Công ước về chống sa mạc hoá
ITTA : Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới
QLRBV : Quản lý rừng bền vững
SIDA : Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thuỵ Điển
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp các ngành thực vật tại khu vực nghiên cứu 32
Bảng 1.2 Tổng hợp 10 họ thực vật có số loài lớn nhất 33
Bảng 1.3 Tổng hợp 10 chi thực vật có số loài lớn nhất 33
Bảng 2.1 Tổng hợp số hộ điều tra trên địa bàn nghiên cứu 41
Bảng 2.2: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính 44
Bảng 3.1: Diện tích đất đai theo loại hình sử dụng các xã thuộc rừng đặc dụng Tân Trào 45
Bảng 3.2: Trữ lượng rừng khu rừng đặc dụng Tân Trào 46
Bảng 3.3: Hiện trạng chủ quản lý đất đai khu vực rừng đặc dụng Tân Trào 47
Bảng 3.4 Thông tin chung về các chủ hộ được điều tra 53
Bảng 3.5 Tỷ lệ các hoạt động sinh kế điển hình tại địa điểm nghiên cứu 54
Bảng 3.6 Diện tích đất các loại của các nhóm hộ điều tra 55
Bảng 3.7 Thu nhập bình quân các nhóm hộ 56
Bảng 3.8 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính 59
Trang 9vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, chắn sóng, chắn cát bay, đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, du lịch … và tham gia điều hòa khí hậu toàn cầu bằng cách hấp thụ CO2, tích lũy carbon và cung cấp oxi Khu rừng đặc dụng Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang được thành lập theo Quyết định số 310/QĐ-CT ngày 26/02/2007 của
Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang Khu rừng đặc dụng Tân Trào nằm cách thành phố Tuyên Quang khoảng 45 km về phía nam Tổng diện tích của Khu rừng đặc dụng là 10.939,83 ha, trong đó rừng tự nhiên có 3.699,68 ha, rừng trồng 5.009,39 ha
Hiện nay, có hơn 5000 hộ dân đang sinh sống tại vùng lõi và vùng đệm của rừng đặc dụng nên những năm trước, việc người dân vào rừng khai thác, vận chuyển lâm sản diễn ra khá phổ biến Điều này gây khó khăn rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ cho lực lượng chức năng.Tuy nhiên, tình hình khai thác và tác động của người dân vào rừng vẫn còn nhiều, không chỉ người dân
ở trong khu rừng đặc dụng mà còn có nhiều cộng đồng dân cư sống ở vùng đệm của khu rừng đặc dụng cũng có những tác động không nhỏ làm ảnh hưởng xấu đến tài nguyên rừng
Để giải quyết vấn đề này được hiệu quả thì việc khuyến khích người dân bản địa tham gia vào công tác bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học sẽ là lựa chọn tối ưu Trong những năm qua, người dân vào rừng khai thác tài nguyên,
Trang 10canh tác nương rẫy rất phổ biến, đặc biệt tại các khu vực vùng đệm quanh khu rừng đặc dụng, những năm gần đây hiện tượng này có giảm song vẫn còn rất nhiều tác động của người dân gây ảnh hưởng xấu đến rừng Vấn đề giải quyết sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống dựa vào rừng ổn định để không gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên rừng là vấn đề cấp thiết hiện nay ở vùng đệm khu vực rừng đặc dụng Tân Trào Xuất phát từ những lý do trên, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng quản lý rừng và các yếu tố
ảnh hưởng đến sinh kế người dân sống dựa vào rừng tại vùng đệm rừng đặc dụng Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” thực sự có ý nghĩa cả về
khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu đề tài
- Đánh giá thực trạng quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng sinh kế của người dân sống dựa vào rừng tại vùng đệm khu vực rừng đặc dụng Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sống dựa vào rừng tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp tăng cường sinh kế của người dân sống dựa vào rừng tại vùng đệm khu vực rừng đặc dụng Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
* Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ Nó phản ánh bức
tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như trồng trọt nông nghiệp, lâm nghiệp) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài (external supporters) cơ hội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơncho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo (FLITCH, 2012) Vì mục tiêu này, chúng ta xem xét khái niệm sinh kế và phân tích sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng đệm khu vực rừng đặc dụng Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
a) Khái niệm vùng đệm
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực
từ 01/01/2019) thì nội dung này được quy định như sau: Vùng đệm là vùng
rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng
Theo D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản, (1999) cho rằng: Vùng đệm được xây dựng chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống cho các cộng đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho họ
để họ giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên
họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn
"Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc
không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại
Trang 12lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm" b) Sinh kế của người dân địa phương
Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống Có quan điểm khác cho rằng:
Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế
Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn
an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên (Oxfam và ActionAid, 2013)
c) Sinh kế bền vững của người dân địa phương
Hướng phát triển sinh kế cho người dân tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia trong và ngoài nước là sinh kế bền vững Trước khi xem xét vấn đề sinh kế bền vững chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm về phát triển bền vững
Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ Môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Bế Trung Anh, 2013)
Trang 13Phát triển là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau (Bế Trung Anh, 2013) Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải
có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ (Bế Trung Anh, 2013)
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai (Lê Diên Dực, 2002)
Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, Có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ
bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động (Lê Diên Dực, 2002)
Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Trần Tiến Khai và cộng
sự, 2012)
d) Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân
Tài nguyên rừng bao gồm đất rừng, bãi chăn thả gia súc, cây cối, động vật rừng, các nguồn lâm sản khác và dược liệu, nguồn gen, nguồn nước, được xem là tài sản sinh kế (vốn tự nhiên) của mỗi hộ dân và cả cộng đồng
Xét trong mối quan hệ với các nguồn lực khác, tài nguyên rừng là nguồn lực tạo ra các nguồn lực khác: Bán sản phẩm thu lượm từ rừng sẽ cho những khoản tiền mặt, bổ sung cho nguồn lực tài chính; Quản lý và sử dụng tài
Trang 14nguyên rừng dưới hình thức cộng đồng làm tăng mối liên kết và quan hệ giữa các cá nhân, bổ sung cho nguồn vốn xã hội (Nguyễn Thị Phương, 2003)
Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc, rừng cung cấp
gỗ và năng lượng cho con người Giá trị các loại sản phẩm gỗ được buôn bán trên thị trường thế giới hàng năm lên đến 36000 triệu USD Lượng tiêu thụ củi đốt và than củi của cả thế giới lên đến 1800 triệu m3 Rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ bao gồm thực phẩm, thảo dược, nhựa, sợi, thức ăn cho gia súc và những sản phẩm cần thiết khác Động vật rừng chiếm từ 70 - 90% tổng lượng protêin động vật được tiêu thụ
Người dân nông thôn dùng lâm sản để ăn (măng tre nứa, lá một số loại cây, cá suối và thịt chim thú), làm vật liệu xây dựng (mây tre, cây quanh nhà,
lá lợp), công cụ săn bắn và canh tác Có nhiều vùng dân cư sống ở vùng nông thôn có đến 50% thu nhập của các hộ dân nông thôn là từ lâm sản ngoài gỗ (Nguyễn Thị Phương, 2003)
Rừng mang lại những lợi ích về môi trường cho con người Rừng có chức năng bảo vệ môi trường không những ở địa phương mà còn cả khu vực
Ở những vùng có độ dốc cao, rễ cây rừng có tầm quan trọng trong việc ngăn chặn xói mòn, sạt lở đất Rừng giúp ngăn cản gió, giữ và điều hòa lượng nước mưa và nước ngầm Trong hệ thống canh tác nông nghiệp, rừng giúp duy trì
độ màu mở của đất thông qua chu trình dinh dưỡng của cây rừng Rừng tạo bóng mát, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm không khí (Nguyễn Thị Phương, 2003) Rừng là nơi phát triển các dịch vụ khác như du lịch sinh thái, khu nghỉ mát, địa điểm giải trí Nó còn là nơi chứa đựng nguồn gen không những có giá trị kinh tế mà còn có giá trị khoa học và xã hội Nguồn gen này luôn luôn được tái tạo và nó có thể được sử dụng mãi mãi nếu như được quản lý tốt Rừng có ý nghĩa quan trọng như là một nguồn tiết kiệm và sự bảo đảm cho người nghèo đối phó với những rủi ro và bất thường xảy ra Rừng cung cấp sản phẩm bù đắp sự thiếu hụt ở thời kỳ giáp hạt (vụ) Những bất thường
Trang 15xảy ra trong cuộc sống như điều trị bệnh, ma chay, xây dựng nhà cửa yêu cầu một lúc lượng tiền lớn Cây rừng có thể mang lại cho những người nghèo một khoản tiền lớn để họ có thể đáp ứng yêu cầu này (Mạc Đường, 2005)
Ở Việt Nam, rừng và đất rừng chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của Việt Nam, là nơi sinh sống của hơn 2/3 dân số cả nước, 75% dân số cả nước sống phụ thuộc vào nông nghiệp và rừng như là nguồn sống chủ yếu Dân số ngày càng tăng tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên rừng, nhu cầu về các sản phẩm rừng ngày càng cao (Nguyễn Hải Tuất, 2003)
Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong sản xuất lương thực, sau nhiều năm thiếu hụt lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, nhưng những tiến bộ này chỉ giới hạn chủ yếu ở vùng đồng bằng có hệ thông thủy lợi tốt Hàng triệu người nông dân ở vùng miền núi vẫn còn đối mặt với sự thiếu hụt lương thực Sản xuất nông nghiệp ở vùng miền núi vẫn còn nhiều hạn chế lớn Điều này đã làm cho người dân vùng núi phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng như là nguồn sống của họ
e) Phương thức hưởng dụng đất, rừng và sinh kế của người dân
Đối với người dân địa phương, rừng đóng vai trò rất quan trọng Ngoài việc cung cấp đất trong trường hợp người dân thiếu đất, rừng cũng là nơi cung cấp cho họ các nguồn năng lượng, lương thực, thuốc chữa bệnh cũng như các vật liệu để làm nhà, đóng thuyền và làm các lợi rổ rá Người dân sống dựa vào rừng ở hai khía cạnh Thứ nhất là phụ thuộc về thu nhập, liên quan đến tổng thu nhập và thu nhập họ có được từ bán các sản phẩm rừng; và thứ hai là sự phụ thuộc về sinh kế, được tính bằng các loại sản phẩm rừng sử dụng hàng ngày Đối với người dân cả nước nói chung và người dân miền núi nói riêng, rừng là một trong những nguồn thu nhập và sinh kế của họ (Lê Văn Kỳ và cộng sự, 2007) Rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Rừng có ảnh hưởng lớn đến đời sống tôn giáo và tinh thần (Phan Văn Hùng và cộng sự, 2007)
Trang 16Sự phụ thuộc của người dân vùng núi vào tài nguyên rừng đã được thể chế hoá thông qua rất nhiều thể chế xã hội và văn hoá Thông qua tôn giáo, văn hoá và truyền thống, các đồng bản địa đã tạo ra một vành đai bảo vệ xung quanh rừng (Lê Văn Kỳ và cộng sự, 2007)
Hệ thống văn hoá và tín ngưỡi của người Kasepuhan ở Sumatra, Inđônêxia có quan hệ chặt chẽ với rừng Người Kasepuhan gắn rừng cũng như các loại cây cối và động vật rừng với các lực lượng siêu nhiên Khi được tôn trọng và dưới những nghi lễ phù hợp, các thế lực này sẽ duy trì hoà bình và thịnh vượng cho cộng đồng Còn ngược lại sẽ làm các thế lực siêu nhiên phẫn
nộ Như vậy, rừng là một nơi linh thiêng, là nơi ở của tổ tiên và thần linh, nơi
mà mọi người tìm kiến sự chỉ dẫn thần thánh và hướng tới hoà bình, phẩm hạnh và hoà hợp (Trần Thị Thu Hương (2011)
Tài nguyên rừng cung cấp một vài dạng của các loại vốn cho người dân miền núi Chúng đóng góp đáng kể vào thu nhập của người dân, làm cho người dân trở nên giàu hơn bằng cách cung cấp cho họ nguồn sản phẩm vànguyên liệu,
bổ sung đầu vào cho hoạt động nông nghiệp và giữ gìn sinh khối mà con người
có thể dựa vào đó để tồn tại trong những lúc khó khăn như khi mùa màng thất bát, thất nghiệp hoặc các khó khăn khác (Lê Diên Dực, 2002)
Dưới hình thức quản lý tập trung Nhà nước, những chính sách bảo vệ rừng, đặc biệt là về hưởng dụng đất hoặc giao đất, quyết định ai là người cóquyền tiếp cận với tài nguyên rừng Ví dụ trường hợp của Việt Nam, tất cả đất đai đều thuộc
về Nhà nước và các chính sách của nhà nước về đất đi sẽ xác định trạng thái sử dụng đất và quyền đối với đất Vì thế, đất đai có ảnh hưởng đến những gì người dân có thể làm, hoặc sinh kế hay nguồn lực nào họ sẽ có
Đất là một tài nguyên tự nhiên có những lợi ích trước mắt hoặc tiềm năng đối với con người Nó là một trong những nhân tố quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với những người canh tác nương rãy, những người
có ít cơ hội kiếm sống từ các hoạt động phi nông nghiệp (GSO, 2013)
Trang 17Phương thức hưởng dụng đất đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định sản suất trong ngắn hạn và bảo tồn tài nguyên trong dài hạn Nó cũng là nhân tố quyết định tới rủi ro an ninh lương thực trong ngắn hạn và an ninh sinh kế trong dài hạn (Maxwell và Wiebe, 1999) Hưởng dụng lớn hơn sẽ thúc đẩy nhu cầu cải tạo đất của người dân bằng các làm cho họ tin tưởng hơn rằng
họ sẽ được hưởng lợi từ diện tích đất cải tạo về lâu dài (Trần Tiến Khai và cộng sự, 2012)
Tại vùng cao, Ở Việt Nam nơi có hàng triệu người canh tác nương rãy, hưởng dụng đất là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế Việc đảm bảo an ninh và sự minh bạch trong hưởng dụng, đối với những đối tượng canh tác nương rãy ở vùng cao, là một sự thúc đẩy hay một cú huých quan trọng cho sản xuất nông nghiệp của họ (Ngô Đức Thịnh, 2010)
1.2 Những nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được các nước có nền kinh
tế phát triển như: Thụy Điển, Nhật Bản, Pháp, quan tâm từ rất sớm Chính phủ các nước này đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm xây dựng và phát triển quỹ rừng của quốc gia như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển lâm nghiệp, hỗ trợ các hoạt động lâm sinh, cho vay vốn với lãi suất thấp, Tuy nhiên, hiện nay tài nguyên rừng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đang ngày càng suy giảm cả về số lượng và chất lượng Theo thống kê của tổ chức FAO, trong vài chục năm gần đây, trên thế giới đã mất đi khoảng trên 200 triệu ha rừng tự nhiên, đồng thời nhiều diện tích rừng còn lại trong tình trạng thoái hóa nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái (Võ Đại Hải, 2005)
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển Trong giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được quan
Trang 18tâm Vì vậy, họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai để canh tác nông nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà lâm học Đức (G.L Hartig -1840; Heyer-1883; Hundeshagen - 1926, dẫn theo Lê Thiên Vinh, 2007) cũng đã nghiên cứu và đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đều tuổi; các nhà lâm học Pháp (Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H Biolley - 1922) đã nghiên cứu và đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi (trích theo Lê Thiên Vinh, 2007)
Tại châu Âu, Phần Lan là quốc gia có diện tích rừng che phủ lớn nhất, 86% diện tích đất là rừng, theo Hiệp hội rừng Phần Lan Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quốc gia này bởi nó cung cấp gỗ, thực phẩm (nấm, các loại quả) và không khí trong lành Đồng thời rừng là nhà của nhiều loại
thực vật, động vật, côn trùng, vi sinh vật (Robert Munroe, 2013)
Người dân Phần Lan đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản lý rừng bền vững vì tầm quan trọng và sự cần thiết của rừng trong cuộc sống của họ Vào thế kỷ 19, Đạo luật Rừng đầu tiên đã được Chính phủ Phần Lan thông qua vào năm 1886, trong đó có điều luật cấm phá rừng (Robert Munroe, 2013) Ngày nay, quyền sở hữu rừng được pháp luật bảo vệ và chứng nhận tự nguyện Điều này có nghĩa là chủ rừng phải đảm bảo rằng sau khi khai thác thì một khu rừng mới sẽ được trồng thay thế rừng đã chặt Hầu hết các khu rừng thương mại trong cả nước đều được chứng nhận PEFC (Chương trình tiêu chuẩn chứng nhận rừng) và tiêu chuẩn FSC (Hội đồng quản lý rừng) với
tỷ lệ tương ứng mỗi loại là 90% và 6% Chứng nhận xác lập tiêu chuẩn về lâm sinh và giúp nâng cao sự đa dạng sinh học rừng của Phần Lan Theo số liệu của Hiệp hội Lâm nghiệp Phần Lan năm 2016, diện tích rừng được bảo vệ ở
Phần Lan đã tăng gấp 3 lần trong suốt 35 năm qua (Robert Munroe, 2013)
Trang 19Việc sử dụng gỗ từ các nguồn được chứng nhận giúp các công ty đảm bảo rằng tất cả gỗ đều được khai thác một cách hợp pháp và có thể truy nguyên lại môi trường tự nhiên của chúng, ngăn chặn việc xuất - nhập gỗ, bột giấy bất hợp pháp
Đối với mỗi cây được thu hoạch sẽ có 4 cây con mới được trồng thay thế Tính bền vững trong quản lý rừng hàm ý rằng hầu hết các phần của mỗi cây sẽ được sử dụng cho những mục đích phù hợp nhất, giúp giảm lượng chất thải trong toàn bộ quá trình Ví dụ, thân chính được sử dụng cho mục đích xây dựng, các phần nhỏ hơn của thân cây sẽ được dùng làm bột giấy, các phần khác như cành cây sẽ trở thành nguồn cung nguyên liệu cho lĩnh vực năng lượng sinh học (Robert Munroe, 2013)
Một quốc gia châu Âu khác có độ phủ xanh xếp thứ 15 thế giới đó là Thụy Điển (69,2% diện tích đất là rừng) Ở Thụy Điển, tính bền vững được xác định trên các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, sinh học và tính bền vững được tuyên bố
là nền tảng phát triển lâm nghiệp của quốc gia này (Robert Munroe, 2013)
Sự bền vững về kinh tế có nghĩa là sản xuất gỗ lâu dài có lợi nhuận đủ để đảm bảo cho các hoạt động lâm nghiệp và công tác quản lý Sự bền vững xã hội bao gồm các vấn đề như dân số địa phương, quyền lợi của người lao động, các vấn đề liên quan đến giải trí, các cơ hội cho người dân ở cả địa phương và toàn quốc để tồn tại lâu dài dựa vào lâm nghiệp Tính bền vững sinh học đề cập đến năng lực sản xuất lâu dài của đất đai, việc bảo tồn các quá trình sinh thái tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học (Robert Munroe, 2013)
Tại Thụy Điển, việc quản lý rừng bền vững phải tuân thủ các quy định pháp luật Tất cả các khu rừng sau khi thu hoạch phải được tái sinh, trồng rừng mới theo kế hoạch Ngoài Luật về lâm nghiệp, Thụy Điển cũng áp dụng
hệ thống các chứng nhận quốc tế tự nguyện FSC và PEFC Khoảng 2/3 diện tích đất lâm nghiệp của Thụy Điển đã được chứng nhận theo các quy tắc này (Robert Munroe, 2013)
Trang 20Chính phủ Thụy Điển luôn đánh giá cao tầm quan trọng của nguồn tài nguyên vô hạn là rừng, khi được quản lý đúng cách Trong quá trình phát triển, cây xanh hấp thụ CO2 từ khí quyển Trong suốt vòng đời, các sản phẩm
gỗ tiếp tục hấp thụ và cô lập CO2 Trong một năm điển hình, sự kết hợp giữ việc thu hoạch rừng của Thụy Điển và tổng lượng CO2 hấp thu đã vượt hơn lượng phát thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong vận tải (Robert Munroe, 2013)
Thông qua sự kết hợp giữa quản lý rừng và sử dụng dư lượng gỗ đã khai thác để sản xuất năng lượng và các sản phẩm từ gỗ, Thụy Điển có thể giảm đáng kể lượng khí thải CO2
Kinh nghiệm quản lý rừng bền vững của Thụy Điển kích thích tăng trưởng ròng, đồng thời bảo vệ đa dạng sinh học Đây có thể được xem như một mô hình quan trọng để giảm tác động của khí hậu trên toàn thế giới Canada nắm giữ 9% diện tích rừng trên thế giới Một hệ thống rừng sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh sẽ đóng góp không nhỏ vào sức khỏe của hệ sinh thái toàn cầu Quản lý rừng bền vững rất quan trọng đối với Canada, không chỉ giúp cân bằng sự cạnh tranh trong ngắn hạn mà còn bảo đảm các thế hệ sau có thể hưởng lợi từ rừng (Nguyễn Hồng Nhung, 2017)
Quản lý rừng bền vững ở Canada được hỗ trợ bởi luật pháp, các quy định, chính sách, quy trình lập kế hoạch quản lý rừng nghiêm ngặt và cách tiếp cận dựa vào khoa học để đưa ra quyết định (Nguyễn Hồng Nhung, 2017) Năm 1992, Canada thông qua các nguyên tắc quản lý rừng bền vững trên toàn quốc Cho đến nay, Canada là nước đứng đầu thế giới về quản lý rừng bền vững, áp dụng trên khoảng 94% diện tích đất lâm nghiệp của quốc gia này (Nguyễn Hồng Nhung, 2017)
Một khuôn khổ lớn về luật, quy định, chính sách liên bang và hướng dẫn thực hành quản lý rừng bền vững đã được áp dụng rộng rãi ở Canada Luật và chính sách được thực hiện trong sự cởi mở và hợp tác tham vấn rộng rãi của
Trang 21công chúng Người dân Canada mong muốn tham gia vào quá trình ra quyết định và cân bằng các lợi ích (Nguyễn Hồng Nhung, 2017)
Các công ty lâm nghiệp của Canada muốn khai thác trên đất công phải xây dựng kế hoạch quản lý rừng phù hợp với luật về rừng, phù hợp với các nguyên tắc quản lý rừng bền vững Các công ty này cũng cần tham khảo ý kiến từ công chúng và các chuyên gia trong ngành để đảm bảo rằng kế hoạch phát triển của mình không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng (Nguyễn Hồng Nhung, 2017)
Một điểm mạnh của kế hoạch quản lý rừng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững đó là nó có thể được điều chỉnh để đáp ứng các tình huống thay đổi Những tiến bộ về khoa học, kỳ vọng của công chúng và hoàn cảnh thị trường mới liên tục làm ảnh hưởng đến việc xem xét và đưa ra quyết định Bằng cách này, các nhà quản lý rừng có thể áp dụng những thích ứng cho kế hoạch dài hạn cũng như hoạt động ra quyết định hàng ngày
Canada đóng vai trò lãnh đạo trong việc hợp tác với các quốc gia khác để xây dựng một khuôn khổ các tiêu chí và chỉ số theo dõi và báo cáo tiến độ quản lý rừng bền vững Các tiêu chí mô tả các giá trị xã hội, kinh tế và môi trường cơ bản mà người dân Canada muốn duy trì hoặc bảo tồn đối với hệ sinh thái rừng (Nguyễn Hồng Nhung, 2017)
Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia có đến 68,6% diện tích đất là rừng che phủ, đứng thứ 17 trên thế giới Cách đây hơn 300 năm, quốc gia này đã phải trải qua giai đoạn rừng bị tàn phá nghiêm trọng, biến cảnh quan thành những vùng đất hoang hóa Việc quản lý rừng cộng đồng của các địa phương đã khởi đầu cho một kỷ nguyên mới trong phục hồi rừng và phát triển lâm nghiệp của Nhật Bản (Oli Krishna Prasad et al,1999)
Nhật Bản đã đối mặt với những thách thức về môi trường bằng những phương pháp tích cực từ việc sử dụng rừng không bền vững trở nên bền vững hơn bắt đầu từ những năm 1670 Các cộng đồng địa phương đóng vai trò
Trang 22trung tâm của các hoạt động xúc tác và tăng cường mối quan hệ phản hồi tích cực, tạo thuận lợi cho các quá trình xã hội được thực hiện (Oli Krishna Prasad
Nhật Bản cũng xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên rừng dựa trên các thông số về điều kiện rừng hiện tại, chi phí vận chuyển gỗ và phát triển các kỹ thuật để dự báo tăng trưởng rừng và xác định hiệu quả quản lý (Oli Krishna Prasad et al, 1999)
Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước về bảo vệ
và phát triển rừng trong đó có Chiến lược bảo tồn (năm 1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường
và phát triển (UNCED tại Rio de Janeiro năm 1992), Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hoá (CCD, 1996), Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) (Lê Thiên Vinh, 2007)
Với mong muốn tái lập một lâm phận sản xuất ổn định của các nước sản xuất các sản phẩm gỗ nhiệt đới, đồng thời các khách hàng tiêu thụ sản phẩm
gỗ nhiệt đới lại có mong muốn các nhà sản xuất phải điều tiết việc khai thác rừng sao cho đáp ứng các chức năng sinh thái toàn cầu, từ đó đã thúc đẩy sự
Trang 23hình thành hệ thống QLRBV Vấn đề đặt ra là phải xây dựng những tổ chức đánh giá QLRBV và Hội đồng quản trị rừng thế giới đã được thành lập để xét công nhận tư cách của các tổ chức xét và cấp chứng chỉ rừng (Tổ công tác quốc gia quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, 2002)
Với mục đích quản lý bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền vững các khu bảo vệ Nhiều chính sách và giải pháp được đứa ra
để áp dụng quản lý rừng bền vững Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu giải pháp quản lý, khai thác bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa Ban quản lý vườn và cộng đồng dân cư
Theo Shuchenmann (1999), tại Vườn quốc gia Andringitra của Madagascar, để thực hiện quản lý rừng bền vững, Chính phủ đảm bảo cho người dân được quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi
để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như
có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực
Tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng (Oli Krishna Prasad et al,1999)
Trang 24đai kém phì nhiêu, thực bì bị tàn phá nặng nề và nghèo nhất trong công đồng
nông thôn ở nước ta
Kể từ thời pháp thuộc (nửa cuối thế kỷ XI) nhiều rừng ở nước ta đã bị khai phá để trồng các cây nông nghiệp như cà phê, chè, cao su và một số loại cây khác, tuy vậy đến năm 1943 diện tích rừng nước ta vẫn còn khoảng 14,3 triệu ha với độ che phủ là 43,3 diện tích cả nước những năm 30 tiếp theo diện tích rừng nước ta bị tàn phá hơn 2 triệu ha và nguyên nhân chủ yếu là do chiến tranh và nhân dân khai phá rừng để sản xuất nông nghiệp, đến năm
1976 tỷ lệ tre phủ rừng ở nước ta chỉ còn 33,8% và tiếp tục giảm xuống còn 30% vào năm 1985, cho đến năm 1995 diện tích rừng nước ta chỉ còn vào khoảng 9,3 triệu ha với độ che phủ 28,2% Với vị thế đất lâm nghiệp dốc độ che phủ rừng giảm như vậy là đáng báo động, nhất là hàng năm nước ta phải trải qua từ 8-10 trận bão lụt, đất sói mòn hàng năm mất tới hàng triệu tấn đạm, 0,5 triệu tấn kali, 0,5 triệu tấn lân bị 40 con sông lớn nhỏ quấn trôi Việt Nam
là một trong nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới trong thời gian qua sản xuất nông nghiệp đã thu được những kết quả sau: Đổi mới đường lối phát triển lâm nghiệp, thực hiện đường lối phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước ngành lâm nghiệp chuyển từ ngành lâm nghiệp truyền thống với phương thực khai thác lợi dụng rừng là chính sách sản xuất lâm nghiệp xã hội lấy phát triển xây dựng vốn rừng và nông lâm kết hợp, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình, lấy lâm trường quốc doanh đóng vai trò chủ đạo, Xây dựng pháp luật, chiến lược và hệ thống chính sách phát triển lâm nghiệp đã được quốc hội phê
chuẩn, chính phủ đã ban hành các luật như sau:
Quản lý và bảo vệ rừng chiến lược phát triển lâm nghiệp sau năm 2000, chương trình tạo mới 5 triệu ha mới được 120.000 ha rừng tập chung và 400.000 cây phân tán, các trang trại, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả được hình thành ngày một phát triển đã từng bước hạn chế khai thác rừng tự nhiên
Trang 25đưa lượng khai thác xuống 1 triệu m3 củi hàng năm phục vụ nhu cầu xã hội
mà đối tượng khai thác chủ yếu là rừng trồng
Trên địa bàn toàn quốc đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài nguyên; một số đề tài nghiên cứu đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng cho một số vùng như:
- Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững ở vůng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
của Suree và Đào Thị Minh Châu (2004), các tác giả đã đánh giá thực trạng
và ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ đồng thời đã nêu
ra được một số giải pháp về xã hội và kỹ thuật nhằm quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống;
- Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San của
Phạm Đức Lâm và Lê Huy Cường 1998, các tác giả đã đưa ra các giải pháp
về quản lý và sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại lưu vực sông Sê San;
- Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia của Trần Ngọc Lân và cộng sự (1999) thực hiện tại Vườn
Quốc gia Pù Mát, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp về mặt xã hội và kinh tế để phát triển bền vững vùng đệm của Vườn Quốc gia Pù Mát;
- Nghiên cứu giải pháp quản lý rừng bền vững tại BQL rừng phòng hộ
Hướng Hóa-Đakrông, tỉnh Quảng Trị của Lê Thiên Vinh (2007)
- Sử dụng đất tổng hợp bền vững của Nguyễn Xuân Quát năm 1996, tác
giả đã phân tích tình hình sử dụng đất, các mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam, đồng thời đã đề xuất tập đoàn cây trồng nhằm sử dụng bền vững và ổn định đất rừng;
- Quản lý bền vững rừng khộp ở EaSúp - Đắc Lắc của Hồ Viết Sắc 1998
[19], tác giả đã đề xuất một số giải pháp về xã hội và quản lý nhằm quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp - Đắc Lắc;
Trang 26Ngoài ra, các chính sách về quản lý bảo vệ rừng cảu nước ta đã hỗ trợ cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng như:
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 đã đánh dấu một bước chuyển
biến mới trong công tác quản lý bảo vệ rừng, đã được sửa đổi bổ sung năm 2004
- Nghị định số 163/1999 -NĐ/CP ngày 16/11/1999 về giao đất cho thuế
đất lâm nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng lâu dài
- Chỉ thị 12/2003 - CT/CP tăng cường các biện pháp cấp bách bảo vệ
rừng
- Nghị định số 32 - CP ngày 30/10/2006 của chính phủ về quy chế và
danh mục các loại thực vật, động vật quý hiếm và nguy cấp
Nghị định số 48/2007-NĐ/CP ngày 16/3/2007 về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng
- Quy định số 100/2007/QĐ-TTG ngày 06/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi bổ xung một số điều của quy định số 661/QĐ ngày 29/7/1998
về mục tiêu, nhiệm vụ chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng Qua đó ta thấy hàng loạt các hệ thống chính sách đã ban hành tương ứng ở các thời kỳ là các đoạn khác nhau và chính sách đó ngày càng hợp lý hơn điều đó chứng tỏ sự quan tâm cảu Đảng, nhà nước tới sự phát triển của ngành lâm nghiệp nói chung góp phần ổn định kinh tế xã hội đảm bảo tính bền vững về mặt sinh thái môi trường trong tương lai
- Quyết định 1288/QĐ-TTg ngày 01/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt đề án quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng;
- Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050;
- Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030;
Trang 27- Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp;
Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng;
- Luật Lâm nghiệp năm 2017;
1.3 Nghiên cứu về sinh kế người dân sống dựa vào tài nguyên rừng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
SIDA (2000) (trích theo UNICEF 2018) chỉ ra rằng, việc gia tăng chất lượng cuộc sống không chỉ là vấn đề đơn giản đối với cải thiện thu nhập cho
người nghèo Hơn hết, nó có ý nghĩa tăng cường năng lực cho con người để giúp
họ vươn lên thoát nghèo dựa trên nỗ lực của chính họ Một vấn đề khác là có thể
sử dụng bền vững rừng nhiệt đới cho các dịch vụ như thực phẩm, gỗ, nhiên liệu
và bảo tồn tính đa dạng sinh học đồng thời được không? Điều này đang được tranh luận giữa các nhà nghiên cứu về bảo tồn và phát triển Một số nghiên cứu khẳng định rằng, điều này là có thể (nhưng có điều kiện), đặc biệt khi địa
phương là đối tượng của quản trị và hoạch định chính sách từ rừng
Độ giàu có về số loài cây gỗ là chỉ thị của tài sản rừng đã được đánh giá bởi Lauren Persha (2011) tại 84 làng thuộc 6 quốc gia Tỷ lệ phần trăm số Hộ gia đình có sinh kế phụ thuộc vào rừng đã được sử dụng làm chỉ thị của kinh
tế rừng và sự tham gia của xã hội Nghiên cứu này đã xác định rằng, hệ thống rừng bền vững là một hệ thống trong đó các mức độ đa dạng sinh học và sự đóng góp cho kinh tế của người dân đều đạt ở mức trên trung bình Dẫn liệu
này cũng xác định rằng, có 27% là tốt, chủ yếu trong trường hợp quyền của
người sử dụng rừng ở địa phương được tham gia vào quản trị rừng Đây là bài học cho việc lập chính sách để quản lý và quản trị rừng của hộ gia đình Một
số trường hợp khác chưa đạt được sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển là do: Chưa nắm vững nhu cầu của cộng đồng Cộng đồng cũng cần được phát
Trang 28triển vốn sinh kế Cơ sở tài nguyên rừng chưa đạt được trạng thái như mong muốn Các hoạt động chưa đủ để đạt được sự cân bằng giữa kinh tế và sinh thái Nghiên cứu 360 làng ở 26 nước, Belcher (2004) đưa ra dẫn liệu là thu nhập từ rừng chiếm 10 - 60% tổng thu nhập của hộ gia đình: hầu hết lâm sản
là có sẵn cho người nghèo vì chúng có giá trị kinh tế thấp Những loại có giá trị kinh tế cao hơn có xu hướng đòi hỏi nhiều việc hoặc thiết bị để thu hái và
vì vậy được thực hiện bởi những người giàu hơn Các nghiên cứu cũng cho thấy, tác dụng của chính sách với các đối tượng khác nhau, khu vực khác nhau, dân tộc khác nhau, thì hiệu quả cũng khác nhau Cho nên chính sách cũng cần được phân theo khu vực, thời hạn Kinh nghiệm của Ấn Độ là nên
hỗ trợ chính sách lâm nghiệp ở cấp huyện vì huyện có chiến lược, có giải pháp, có chính sách, sau đó phân khai đến xã để thực hiện
Leissher đã đánh giá hơn 400 công trình nghiên cứu và tài liệu về dự án
đề cập đến bảo tồn đa dạng sinh học và giảm nghèo Trong đó đã xác định
150 trường hợp có bằng chứng là có lợi cho người nghèo, gồm các dự án về
du lịch, bảo tồn, phục hồi rừng ngập mặn và nông lâm kết hợp Tác giả cũng phát hiện nhiều dự án không có lợi gì cho những người nghèo nhất
Kinh nghiệm ở Nigeria cho thấy, Sinh kế bền vững sẽ giúp cho giảm nghèo nhanh và giảm sự phụ thuộc vào nhà nước Tính bền vững của sinh kế người nông dân là chìa khóa được dựa trên sự cân bằng giữa các tài sản sinh
kế và mức độ chống chịu đối với các thay đổi
Chương trình sinh kế và lâm nghiệp ở Nepan (2008 - 2013) để hỗ trợ các nhu cầu về quản trị rừng và biến đổi khí hậu, lãnh đạo và quản lý, tầm nhìn chiến lược và giảm nghèo Chương trình này đã xây dựng năng lực thể chế cho sinh kế dựa vào rừng Chương trình được bắt đầu bằng việc đánh giá nhu cầu của các bên có liên quan, thiết kế 14 hạng mục xây dựng năng lực và tư vấn chương trình cho hơn 150 cán bộ lâm nghiệp nhà nước và các nhóm cộng đồng Thành quả của chương trình là tạo được thu nhập từ rừng thông qua tạo
Trang 29việc làm cho người nghèo với 2,8 triệu ngày công Bài học của chương trình này là: Tiếp cận nhiều bên có liên quan để hỗ trợ cho lâm nghiệp cộng đồng là khả thi và có thể cải thiện cả các kết quả về lâm nghiệp và xã hội
Không có tiếp cận đơn lẻ cho cộng đồng cận nghèo dựa trên quản lý rừng đã được phát triển như là mô hình có sức sống nhất, mặc dù một số trong
đó có triển vọng Lâm nghiệp cộng đồng có thể là nhân tố chính cho việc giảm nghèo ở nông thôn Đa dạng hóa sở hữu rừng của các bên có liên quan kết hợp với sử dụng nhiều nguồn tài chính là một hướng đi tốt Tài liệu hóa cho cộng đồng đã tạo được sự cải cách trong việc chuyển đổi lâm nghiệp cộng đồng sang những người nghèo, phụ nữ
Hệ thống giám sát có sự tham gia là rất quan trọng Kinh nghiệm về tăng cường sinh kế bền vững với quản lý rừng ở Ethiopia cũng rất ấn tượng Họ đã đánh giá tác động của quản lý rừng có sự tham gia đến tài sản sinh kế của các thành viên trong khu rừng Gebradima ở miền Nam Ethiopia Tổng số 322 hộ gia đình đã được điều tra, bao gồm hộ tham gia và không tham gia vào chương trình quản lý rừng Kết quả cho thấy, giá trị vốn tài sản của những người tham gia (0,76) cao hơn so với của những người không tham gia (0,63)
Sự khác nhau chủ yếu nằm ở vốn tài chính và vốn con người Riêng vốn vật chất thì không khác biệt Vốn tài chính và vốn con người được cải thiện một chút, nhưng vốn tự nhiên và vốn xã hội được cải thiện đáng kể
1.3.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu sinh kế trong nước được thực hiện vào những năm 90, đầu tiên tập trung vào việc xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số Việc hỗ trợ cho phát triển sinh kế thông qua các dự án phát triển nông thôn hướng tới cải thiện đời sống người nghèo, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, giáo dục và y tế Tuy nhiên các hoạt động hỗ trợ vẫn mang tính bao cấp dẫn đến nhiều vùng đồng bào trở nên phụ thuộc, hiệu quả và năng suất công việc thay đổi không nhiều (Trần Thị Thu Thủy, 2021)
Trang 30lựa chọn sinh kế bền vững cho người dân vùng nông thôn, đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số đang được nhiều tác giả quan tâm
Đặng Thị Kim Phụng (2012), nghiên cứu sinh kế người dân vùng đệm tại Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát Khảo sát trên 150 hộ gia đình cho thấy, có
23 hoạt động sinh kế chính, trong đó 5 HĐSK nông nghiệp và 18 HĐSK phi nông nghiệp Hoạt động sinh kế chính gồm trồng trọt, chăn nuôi, lao động tiền lương Kết quả nghiên cứu trên 4 nhóm hộ (giàu, khá, trung bình, nghèo) chỉ ra thực trạng vốn con người thấp chỉ có 46%, người giàu và 33% người khá; 23% người nghèo; tỷ lệ mù chữ cao chiếm 32%; số người có trình độ đại học chủ yếu là hộ giàu và khá; chỉ có 6% chủ hộ có kỹ thuật sản xuất nông nghiệp; người giàu sở hữu đất gấp 3-4 lần người nghèo và có đến 33% số hộ khảo sát không có đất và chủ yếu làm công ăn lương Bên cạnh đó người nghèo cũng bất lợi hơn trong tiếp cận vốn vì thiếu tài sản đất đai, 84% người nghèo, 83% cận nghèo và 54% hộ khá còn sống ở nhà tạm
Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016), khi nghiên cứu về sinh kế của người
Châu Mạ ở vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên cũng đã phân tích điểm mạnh
và điểm yếu của 5 nguồn vốn sinh kế: (1) Vốn con người gồm: đội ngũ y tế,
cơ sở y tế, trình độ văn hóa và học vấn; (2) Vốn xã hội: mạng lưới xã hội, quan hệ đoàn thể, quan hệ vay mượn; (3) Vốn vật chất: điện, đường, trường, trạm; (4) Vốn tài chính gồm trợ cấp…; (5) Vốn tự nhiên
Nguyễn Xuân Hòa (2018), nghiên cứu về sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo, tác giả đã chỉ ra nguồn thu của người Sán Dìu từ 6 từ các hoạt động sinh kế gồm: (1) Ruộng, (2) Vườn nhà, (3) Vườn Rừng, (4) Thu nhập từ hoạt động chăn nuôi gia súc, (5) Chăn nuôi gia cầm, (6) Thu từ khai thác tự, tổng thu bình quân của một hộ gia đình là 12,5 triệu đồng ở năm 2016 Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh các tiêu chí theo thời gian trước và sau thành lập Vườn quốc gia nhằm làm rõ khả năng thay đổi các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm Trong khi đó
Trang 31nghiên cứu của Đinh Thị Hà Giang (2017), tại cộng đồng cư dân tại vùng đệm
Vườn quốc gia Xuân Sơn cho thấy, nguồn thu nhập chủ yếu là từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, có 88,9% có thu nhập dưới 1 triệu đồng/tháng/người Nghiên cứu cũng chỉ ra 5 nguồn vốn sinh kế mà người dân vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn cho thấy, vốn sinh kế nghèo Nghiên cứu đánh giá tính bền vững sinh kế được chia thành 4 mức: (1) Chưa bền vững; (2) bền vững ở mức thấp; (3) bền vững ở mức trung bình; và (4) bền vững ở mức cao và có hơn 50% số chỉ tiêu đặt ra là chưa bền vững
Đặng Đình Đào và Cộng sự (2014) xây dựng mô hình phân tích sinh kế
bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam Nghiên cứu đánh giá các nguồn lực ảnh hưởng trực tiếp đến năm hoạt động sinh kế gồm: trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, TMDV và mô hình sinh kế khác Từ đó nhận định các lợi thế về nguồn lực sinh kế trồng trọt là ngành có điều kiện và thế mạnh hơn các hoạt động sinh kế khác, là ngành tạo thu nhập chính cho người dân Trong đó, thể chế chính sách tác động tích cực đến mọi mặt của đời sống của người dân nhưng cũng tạo ra tư tưởng ỷ lại, lười thay đổi, thiếu mạnh dạn để cải thiện sinh kế và thu nhập cho hộ gia đình
Phan Xuân Lĩnh (2015), cũng xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk gồm ba thành phần chính: nguồn vốn sinh kế làm trung tâm chịu tác động của thể chế, chính sách và các thách thức
về tính bền vững (kinh tế, môi trường, xã hội) Chiến lược sinh kế được đề cập gồm: nông nghiệp, phi nông nghiệp, đa dạng hóa
1.4 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực rừng đặc dụng Tân Trào
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Khu rừng đặc dụng Tân Trào nằm trên địa bàn 5 xã: xã Tân Trào, Trung Yên, Minh Thanh, Bình Yên và Lương Thiện, thuộc khu ATK (an toàn khu)
Trang 32Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Có toạ độ: từ 210 43' 54" đến
210 50' 52" Vĩ độ Bắc; từ 1050 23' 56" đến 1050 31' 23'' Kinh độ Đông
- Phía Đông giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Tây giáp xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương;
- Phía Nam giáp xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương;
- Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Khu rừng đặc dụng Tân Trào gồm 110 khoảnh, với 10.939,83 ha; trong đó: Tân Trào: 26 khoảnh, với 2.734 ha; Trung Yên: 24 khoảnh, với 2.402,60 ha; Minh Thanh: 28 khoảnh, với 2.412,89 ha; Bình Yên: 10 khoảnh, với 665,67 ha
và Lương Thiện: 22 khoảnh, với 2.724,67 ha
1.4.1.2 Địa hình
- Khu rừng đặc dụng Tân Trào nằm trong kiểu địa hình núi trung bình thấp (dưới 700 m); độ cao trung bình toàn khu vực là 400 mét Địa hình Khu rừng đặc dụng Tân Trào chia thành một số kiểu sau:
- Kiểu địa hình vùng núi trung bình và núi thấp: Phân bố ở phía Đông
của các xã: Tân Trào, Trung Yên, phía Đông Bắc xã Lương Thiện và khu vực tiếp giáp với huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Địa hình chia cắt phức tạp với các đỉnh cao từ 500 m đến xấp xỉ 700m, độ dốc lớn, trên
250, cao nhất là đỉnh núi Khau Nhì (độ cao 686 m) thuộc địa phận các xã Trung Yên và Tân Trào huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Kiểu địa hình vùng núi đá và lẫn đá lộ đầu: Phân bố ở các xã: Tân
Trào, Trung Yên, có độ dốc trung bình trên 300, càng lên đỉnh độ dốc càng lớn; độ cao phổ biến khoảng 250m đến 300m, chạy dọc bờ sông Phó đáy; địa hình cực kỳ hiểm trở nhưng cũng rất hùng vĩ Hướng sử dụng là bảo vệ tốt hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi
Trang 33- Kiểu địa hình vùng đồi cao: Phân bố ở hầu hết ở các xã; độ cao trung
bình từ 200m đến 300m, độ dốc trung bình 200 - 250; vùng này thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, trồng cây gỗ lớn kết hợp trồng rừng nguyên liệu
- Kiểu địa hình vùng đồi thấp và thung lũng: Phân bố ở hầu hết các xã,
kiểu địa hình là đồi bát úp, độ cao dưới 200m, xen kẽ là các thung lũng Vùng này thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng nguyên liệu
1.4.1.3 Khí hậu
- Khu rừng đặc dụng Tân Trào có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa và chia làm 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 250C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 - 1.800mm, phân bố không đều trong năm Mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, lượng mưa chiếm khoảng 85% lượng mưa của cả năm; mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15% lượng mưa của cả năm Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.600 giờ Các tháng mùa Đông có số giờ nắng thấp, khoảng 40 - 50 giờ/tháng Các tháng mùa Hè có số giờ nắng cao, khoảng từ
150 - 170 giờ Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 80 đến 85% Có 2 hướng gió chính: Mùa Đông là hướng gió Đông Bắc hoặc Bắc; mùa Hè là hướng
Đông Nam hoặc Nam
1.4.1.4 Thuỷ văn
- Trong khu vực có 3 sông, ngòi chính: Sông Phó Đáy chảy qua địa phận từ xã Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên; hướng chảy từ Đông Bắc xuống Tây Nam, chiều dài gần 7 km Ngòi Thia hợp lưu từ suối núi Khau Nhì và Tống Thinh, tại Nà Lừa rồi đổ ra sông Phó Đáy Suối Vực Vầm (suối Lê) chảy từ hướng tây bắc xuống đông nam qua địa phận xã Minh Thanh rồi đổ ra sông Phó Đáy Hệ thống sông suối đều có nước chảy quanh năm, cung cấp đủ nước cho sản xuất nông lâm nghiệp Ngoài ra, trong khu vực còn có khoảng 80 ha các ao hồ, suối, đập, là nguồn dự trữ nước cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô hạn
Trang 341.4.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
b) Địa chất, thổ nhưỡng
(1) Địa chất: Khu rừng đặc dụng Tân Trào có các loại đá mẹ chính là: Phiến thạch sét, Sa thạch, Granit và Đá vôi
(2) Thổ nhưỡng: Khu rừng đặc dụng Tân Trào có các loại thổ nhưỡng sau:
- Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: Có diện tích 172,17 ha, chiếm
4,8%, phân bố dọc theo triền sông Phó Đáy, Ngòi Thia qua địa phận các xã: Trung Yên, Tân Trào, Bình Yên, huyện Sơn Dương; tầng đất dày trên 1m Đây là diện tích trồng cây lương thực và cây hòa mầu hàng năm
- Đất phù sa ven sông suối: Là do tích tụ phù sa của các sông suối, như:
Sông Phó Đáy, suối Ngòi Thia và các suối nhỏ bắt nguồn từ các khe nước được tích tụ và lắng đọng lại qua thời gian dài, có diện tích 252,58 ha, chiếm 8% Đất có tầng phù sa dày, có màu xám đen, hàm lượng đạm, lân và kali ở mức trung bình, loại đất này nằm ở vùng có độ dốc thấp (< 30) nên thích hợp cho các loại cây lương thực và loại cây hoa màu
phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ dốc thấp (8-150); dốc tụ được hình thành ở các thung lũng thấp do sự ngưng tụ và rửa trôi các sản phẩm từ trên đồi xuống, đất có màu nâu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ, lẫn nhiều mảnh đá dăm sắc, cấu tượng tầng đất tơi xốp; thường bị ngập về mùa mưa lũ nhưng lại bị hạn về mùa khô, phù hợp với trồng lúa và cây màu ngắn ngày
trình cải tạo trồng lúa nước, với diện tích 138,42 ha, chiếm 3,7%; loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng tiếp giáp với đồi núi, thung lũng sông suối, đất có thành phần cơ giới thịt nặng đến sét thích hợp với trồng lúa, mía Do vậy cần
bố trí cây trồng thích hợp để có hiệu quả kinh tế cao
hết các xã trong khu vực, diện tích lớn, tầng đất dày, cấu trúc tơi xốp, thoát
Trang 35nước tốt, một diện tích lớn đã được khai thác trồng chè, cọ và cây nông nghiệp, một số diện tích nhỏ đã trồng rừng nguyên liệu
khu vực đồi bát úp, thấp thoải, với diện tích 1.250,75 ha, chiếm 34% Đất có tầng đất dày, có nhiều mùn, đây là loại đất có diện tích lớn phù hợp với nhiều loại cây chè và cây lâm nghiệp
đạm trung bình, thường bị khô do mất nước, có diện tích 124,45 ha, chiếm 4%
1.4.1.6 Rừng và thực vật rừng
Theo báo cáo Quy hoạch rừng đặc dụng Tân Trào, địa hình của Khu rừng đặc dụng Tân Trào có độ cao dưới 700m nên Khu rừng đặc dụng Tân Trào có các kiểu rừng, thực vật rừng, như sau:
b) Rừng thứ sinh nghèo kiệt sau khai thác
Rừng thứ sinh sau khai thác kiệt gặp phổ biến trong phạm vi toàn khu vực do người dân khai thác gỗ, củi và các lâm sản qua thời gian dài nên trữ lượng rừng thấp; cây còn lại hầu hết là cây nhỏ, tái sinh yếu, vì núi đá điều kiện quá khắc nghiệt, đất nghèo kiệt nên chúng không thể phát triển được; kiểu rừng này còn được gọi là núi đá có cây (NĐCC)
Đặc điểm: tầng cây gỗ mật độ thưa, đường kính nhỏ, chiều cao 5 - 7m, không phân rõ tầng; thành phần thực vật gồm: Đa thắt nghẹt, Si, Sanh, sung quả nhỏ, Cọc
Trang 36rào, Nóng nâu, Màu cau, Mùng quân, Lòng trứng, Màng tang, Thẩu tấu, Thành ngạnh, Găng gai
* Rừng trên núi đất
a) Rừng thứ sinh sau khai thác
Rừng trên núi đất là đối tượng bị tác động mạnh nhất Tùy theo khu vực
có mức độ tác động của con người mà thành phần các loài cây của tầng cây
gỗ (ưu thế sinh thái) và tầng cây bụi thảm tươi, dây leo dưới tán có sự thay đổi Sự suy giảm của những loài cây quý, cây to, tầng rừng bị phá hoại cùng
sự xuất hiện của nhiều loài cây gỗ ưa sáng trong các họ Euphorbiaceae,
Hypericaceae, Malvaceae, Rutaceae, Lauraceae, Moraceae, Alangiaceae
như loài Ba soi, Bùm bụp, Cánh kiến, Đa, Sung, Ngái, Sau sau, Thành ngạnh, Thẩu tấu, Lòng mang, Lò bo, Ràng ràng lá vải, Ràng ràng xanh, Côm lá đào, Côm mấn nhội, Sồi ghè, Dẻ gai, Chò nhai, Bời lời nhớt, Sòi tía, Thôi chanh xoan, Thôi ba, Đỏm gai, Cọc rào Rừng trên núi đất còn lại hầu hết là rừng nghèo, không có khả năng cung cấp gỗ, tuy nhiên vẫn có tác dụng tốt trong phòng hộ môi trường, tạo cảnh quan khu di tích
Đặc điểm: Kiểu rừng này chiếm tới 70% diện tích các khu rừng tự nhiên trong khu đặc dụng, qua điều tra cho thấy, trên đỉnh núi cao, khu vực xa khu dân cư, sự tác động của con người ít, còn có một số cây gỗ nhiều năm tuổi như: Chò chỉ, Chò nâu, Táu mật, Táu muối, Sến, Thông tre , từ đỉnh núi cao xuống các đỉnh thấp hơn đều là rừng thứ sinh, tổ thành loài cây gồm Sồi, Giẻ, Sến, Phay, Ràng ràng mít, Trám, Sau sau, Côm tầng
Các trạng thái rừng thứ sinh của kiểu rừng này:
- Với loại đất có tầng đất dày, nhiều mùn, độ ẩm cao, tổ thành loài gồm Giẻ, Chò nâu, Muồng, Trám trắng, Sâng, Phay, Dổi
- Với loại đất có tầng đất trung bình, độ cao thấp, tổ thành loài thường gặp Giẻ, Muồng, Trám, Ràng ràng mít, Bồ đề
Trang 37- Với loại đất có tầng đất mỏng, ít mùn, thường có các loài cây Sau sau, Nhội, Kè đuôi dông; ven khe có Gáo, Chân Chim; thảm thực vật dưới tán rừng có Quế dây, Mã tiền, Sâm nam, Hà thủ ô, Ba kích, Soài sơn, Thiên niên kiện
b) Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, lửa rừng
Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy và sau chặt phá của dân cư sinh sống trong khu vực nằm sát vùng dân cư và trên các nương rẫy cũ, có độ tàn che 0,4 - 0,5 Những cây to sót lại không đáng kể, chủ yếu là cây tái sinh chồi, cây thường thấp và cong queo, chiều cao phổ biến từ 5 - 7m; thành phần cây rừng gồm: Sau sau, Thẩu tấu, Lòng mang, Chòi mòi, Thanh thất, Dâu da, Xoan nhừ, Bời lời, Ngái, Mùng quân rừng, Đỏm gai, Đại phong tử, Sơn, Chò nhai, Đăng, Lò bo, Muồng trắng, , hầu hết không còn những cây gỗ tốt
Do đất còn tốt và nhiều ánh sáng nên ở những chỗ trống có tầng thảm tươi phát triển mạnh, thường gặp Lau, Chít, Cỏ lá tre, Cỏ tranh, Cỏ lào, Tía tô dại, đặc biệt có nhiều cây Đơn buốt, Ngũ sắc, Cỏ đuôi chuột, Cỏ dĩ
ổn định Tuy nhiên, đây cũng là nơi tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao, vần phải có biện pháp đề phòng lửa rừng trong mùa khô
* Rừng trồng
Rừng trồng trong khu vực được trồng chủ yếu bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc Chương trình 327, Dự án 661 từ năm 1993 đến nay; ngoài ra một số diện tích do người dân địa phương tự bỏ vốn trồng hàng năm, gồm các loài cây chủ yếu sau:
Trang 38- Rừng Keo tai tượng và Keo lai hom: Cả hai loài keo đều đang phát triển
tốt, có diện tích chiếm tỷ lệ lớn nhất trong khu vực (khoảng 70% diện tích rừng trồng), một phần diện tích đã đến tuổi khai thác, một phần đang trong thời kỳ chăm sóc Đối với loại rừng này cần từng bước thu hoạch đồng thời tiếp tục trồng bổ sung chu kỳ mới để tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân bản địa
- Rừng Lát hoa: Rừng này chủ yếu được trồng bằng nguồn vốn ngân
sách nhà nước, diện tích chiếm khoảng 25% khu vực, rừng trồng với mật độ
từ 1.660 đến 2.500 nên sinh trưởng, phát triển chậm, chu kỳ kinh doanh trên
25 năm, có giá trị về mặt cảnh quan, môi trường tuy nhiên về mặt kinh tế chậm cho sản phẩm, người dân trồng rừng Lát hoa sẽ rất khó khăn về mặt đời sống kinh tế nếu không có thu nhập thay thế Hướng sử dụng của rừng Lát hoa là bảo vệ tốt để phục vụ mục đích tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường sống
- Rừng Mỡ, Xoan, Trám, Sấu, Tre, Mai: Các loại rừng này chiếm diện tích
nhỏ, phân tán khoảng 5%, chủ yếu do người dân tự bỏ vốn trồng tại những khu vực đồi núi thấp, gắn với trang trại nông nghiệp, vườn rừng, thổ cư ; được dùng chủ yếu để sử dụng làm nhà, chất đốt, một số hộ trồng nhiều có thể bán cho các thương buôn
- Tập hợp các loài cây ăn quả: Nhãn, Vải, Soài, Mơ, Cam, Chanh là
những loài cây ăn quả sống lâu năm được trồng ở tất cả các xã, trong vườn rừng và vườn nhà các gia đình; quy mô thường nhỏ, phân tán nên chưa tạo được thành vùng sản phẩm lớn; trong tương lai cần đầu tư phục vụ nhu cầu cho khách du lịch
* Trảng cây bụi
(a) Trảng cây bụi nguyên sinh trên núi đá
Kiểu rừng này có mặt ở những đỉnh núi đá trọc, nơi có điều kiện sống khắc nghiệt, chỉ có những loài cây nhỏ ưa Kiềm, chịu nghèo, chịu nóng, chịu hạn mới có thể tồn tại; không liền khu, liền khoảnh, phân bố rải rác Trạng
Trang 39thái này cây nhỏ, ắt loài thưa thớt, độ tàn che rất thấp <0,3; nhiều chỗ hoàn toàn không có cây, những tập đoàn cây ở đây phân bố theo vệt hoặc theo dải Cây thân gỗ, gồm: Nóng sổ, Tu hú, Đa thắt nghẹt, Si, Sanh, Sung vè, Ruối leo, Kháo nhớt, Kháo đá, Dẻ gai, Lòng trứng, Vối thuốc, Chè đuôi lươn, Màng tang, Sầm, Bọt ếch, Bồ cu vẽ, Vỏ rộp, Việt quất, Đa quả nhỏ, Cọc rào, Mùng quân, Găng gai
Cây bụi: Lá han, Lá han tắa, Lá gai rừng, cây Áng sơn, cây Phị nước Các loài cây khác: Trên trạng thái này ta còn gặp một số loài có thân như: Phị nước, Đùng đình, dây Đùm đũm, dây Bướm lông, Dạ cẩm lông, Chua ngút, dây Đồng tiền, dây Muồng, dây Mỏ quạ, Chiên chiến, Bạc thau, dây Móc câu, dây Sống rắn, Tóc tiên, Huệ đá, Mua đất, Trúc đũa
(b) Trảng cây bụi thứ sinh trên núi đất
Trảng cây bụi thứ sinh trên núi đất là kiểu phổ biến, được gặp ở khắp các vùng trong 5 xã; đây là hậu quả của quá trình phá hủy rừng nhiệt đới vùng núi Việt Nam; được hình thành từ đời này qua đời khác do khai thác lạm dụng gỗ quá mức tiếp đến khai thác củi thường xuyên, liên tục, chăn thả trâu bò, phát đốt rừng làm nương rẫy nhiều lần Thực vật đặc trưng có nhiều loài ưa sáng ở các mức độ khác nhau do hoàn cảnh đất đá quyết định
Các loài cây gỗ tái sinh: Cà muối, Màu cau, Cọc rào, Nhò vàng, Đáng, Ruối gai, Đa, Thôi ba, Nóng sổ, Đỏm lông, Hu đay, Ba soi, Bui bui, Chè đuôi lươn, Chạc hươu, Màu cau, Dền, Đáng, Mua bà, Ô rô
Các loài cây bụi chắnh: Huyết giác, Lấu, Quanh châu, Bồ cu vẽ, Thao kén, Mua thường, Găng, Cỏ lào, Bòn bọt, Mẫu đõn, Bồ cu vẽ, Chòi mòi lông, Mua bà, Ngũ sắc
Các loài dây leo như: Móng bò chanh, Móng bò tắm, dây Lang rừng, dây Muống, Cuồng cuồng, Đùm đũm
Thảm tươi: Cỏ lau, Cỏ lá cao cây, Có tranh, Có lá, Cỏ chắt, Chè vè, Cỏ
dĩ, Cỏ sâu róm, Cỏ lông, Đơn buốt, Mua đất, Rau má, Bồ công anh, Tàu bay
Trang 40Theo phân loại rừng, trạng thái cây bụi được xếp vào trạng thái Ib, Ic, đây là đối tượng có thể được đưa vào trồng rừng
* Thực vật rừng
Khu rừng đặc dụng Tân Trào có 231 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc
161 chi của 69 họ trong 4 ngành thực vật, được tổng hợp trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Tổng hợp các ngành thực vật tại khu vực nghiên cứu
TT Ngành thực vật Số họ Số chi Số loài Ghi chú
(Nguồn: Báo cáo quy hoạch rừng đặc dụng Tân Trào 2020)
- Sự đa dạng về loài và chi thực vật: Trong khu nghiên cứu đã thống kê được
10 họ có số loài lớn nhất chiếm 45,45% về số loài và 32,85 % về số chi, họ nhiều nhất là họ Thầu dầu Euphorbiaceae, họ Dâu tằm Moraceae với 20 loài chiếm 19,05% tổng số loài Như vậy, có thể nói, hệ thực vật ở đây được coi là đa dạng về loài và chi thực vật
- Sự đa dạng về họ thực vật được đánh giá theo 2 chỉ tiêu: Tổng số các
họ có loài lớn hơn số loài trung bình của các họ chiếm không quá 40% tổng