1 ĐẠI VIÊN MÃN TỰ NHIÊN NYOSHUL KHENPO 2 NỘI DUNG Lời nói đầu của nhà xuất bản Mở đầu – Tự Do và Thong Dong Một Bài Ca Kim Cương Tự Phát, Lama Gendun Rinpoche 1 Một kẻ lang thang chứng ngộ Một phác họ[.]
Trang 1ĐẠI VIÊN MÃN TỰ NHIÊN
NYOSHUL KHENPO
Trang 2NỘI DUNG
Lời nói đầu của nhà xuất bản
Mở đầu – Tự Do và Thong Dong:
Một Bài Ca Kim Cương Tự Phát, Lama Gendun Rinpoche
1 Một kẻ lang thang chứng ngộ: Một phác họa tiểu sử Giáo lý
GIÁO LÝ
2 Phật Pháp Căn Bản: Một thuyết giảng ở Vương quốc Bhutan
3 Bạn là Đại Viên Mãn: Một lời dạy về Bồ đề tâm Tương đối và Tuyệt đối vào dịp Ẩn cư hai tháng ở Hoa Kỳ
4 Nền Tảng, Con Đường và Quả: Những chỉ dạy Bản Tánh-Tâm về Tri Kiến, Thiền Định và Hành Động của Dzogchen, Đại Viên Mãn Vốn Sẵn Đủ
5 Đại Viên Mãn và Phật giáo Tây Tạng: Một giảng dạy ở Cambridge, Masschusetts Bài Ca và Bình Giải
8 Tấm Gương Kim Cương của Tỉnh Giác: Một bài ca tự phát
9 Bài ca Kim Cương của Chỗ Ẩn Tu Công Viên Nai
10 Bài ca Như Huyễn: Lá Thơ Giáo Huấn của Khenpo Jamyang Dorje gởi cho các đệ tử
11 Một Bài Ca Ngẫu Phát cho Damchư Zangmo:
Trang 3Tâm Yếu Thiêng Liêng của Những Giáo Huấn Cốt Lõi
12 Ý Nghĩa Thiết Yếu Lịch Sử
Trang 4Lời nói đầu của Nhà Xuất Bản
Có thể nói một cách không sai lầm, Đại viên mãn (Dzogchen) và Đại Ấn (Mahamudra) là Thiền Tây Tạng Chúng ta đã từng biết đến Thiền Việt nam, Thiền Trung Hoa, Thiền Nhật Bản, nhưng quả thật chúng ta biết rất ít về Dzogchen, Tối Thượng Thừa, thừa Tối Cao trong sự phân định chín thừa của
Cổ phái Nyingma Tây Tạng Với Kiến (cái thấy, tri kiến), Thiền (thiền định)
và Hành (hành động sống tương ưng với chân lý) để hoàn toàn chứng ngộ Phật tánh là đã trọn vẹn con đường đốn ngộ tiệm tu (hay diệu tu) của Thiền Việt Nam và Trung Hoa Trạng thái tự nhiên của Đại viên mãn và Đại Ấn đích thị là “Bình thường Tâm thị Đạo” của Thiền Tông
Tổng quát là vậy, nhưng chắc chắn Đại viên mãn Dzogchen sẽ giúp chúng ta nhiều điều mới lạ do bởi con đường đặc trưng của Phật giáo Tây Tạng Ngay trong phần tiểu sử những vị Tổ Đại viên mãn trong sách này, chúng ta cũng tìm thấy những cách thực hành quý báu của một hành giả trước và sau ngộ như thế nào Hơn nữa, còn có những lời tiên tri mà khởi đầu là của Padmasambhava cho đến các đạo sư hiện tại về sự phát triển rộng rãi của Đại viên mãn ở Tây phương và sự ích lợi của nó nổi bật trong thời mạt pháp Đặc biệt là tính rộng rãi và công khai so với các tantra đòi hỏi một sự trao truyền riêng tư nghiêm ngặt (xem Một Con Đường Lồng Lộng Đến Tự Do – Gyatrul Rinpoche, chương Ati Yoga – Kim Cương dịch, NXB Thiện Tri Thức)
Việt Nam xưa nay vẫn tự xem mình là nơi hội tụ của những nền văn hóa Chúng ta vẫn thường nói đây là nơi hội tụ xưa kia là văn hóa Ấn-Hoa, và nay
có thêm văn hóa Tây phương Chính vì là nơi hội tụ để chắt lọc những tinh hoa của những nền văn hóa trên căn bản nội lực của mình đó, mà sự hiểu biết thêm những tinh hoa của nền văn hóa thuần túy Phật giáo của Tây Tạng
là một điều bổ ích Hơn nữa, chúng ta đều biết Thiền tông là dòng chảy
Trang 5chính trong mạng mạch của Phật giáo Việt Nam, thì sự hiểu biết thêm về Thiền Đại viên mãn của Tây Tạng sẽ là một điều tốt đẹp hun đúc cho sinh lực của dòng chảy ấy
Trong ý nghĩa đó, chúng tôi xin được giới thiệu cùng độc giả cuốn Đại Viên Mãn Tự Nhiên, phát xuất từ dòng thiền cổ sơ nhất của Phật giáo Tây Tạng, Ati Yoga hay Dzogchen, pháp thiền cao nhất của Guru Padmasambhava, vị cha khai sanh ra Phật giáo Tây Tạng
Tháng 3 năm 1999
Kỷ niệm 700 năm ngày vua Trần Nhân Tông về Yên Tử xuất gia
và lập nên phái Thiền Trúc Lâm
Nhà xuất bản Thiện Tri Thức
Trang 6Mở Đầu
Tự Do và Thong Dong: Một Bài Ca Kim Cương Tự Phát
Thượng tọa Lama Gendun Rinpoche
Hạnh phúc không thể được tìm thấy qua cố gắng và ý chí lớn lao,
mà đã sẵn hiện tiền, trong sự buông xả trống trải và để mặc
Chớ có ráng sức, không có cái gì để làm hay không làm
Cái gì chốc lát khởi lên trong thân tâm không có chút quan trọng thực sự nào,
không có chút thực tại nào
Tại sao đồng hóa với, và trở nên bám chấp vào nó, đặt phán xét lên nó và lên chính chúng ta?
Tốt hơn là đơn giản để cho toàn bộ trò chơi xảy ra riêng phần nó,
khởi lên và lặng xuống như những cơn sóng – không biến đổi hay mó tay vào bất cứ cái gì –
và nhận thấy mọi sự tan biến và lại xuất hiện như thế nào, trở đi trở lại như huyễn thuật, thời gian không có lúc chấm dứt
Chỉ sự tìm kiếm hạnh phúc của chúng ta
Đã ngăn cản chúng ta thấy nó
Nó giống như một cầu vồng sống động bạn theo đuổi
mà không bao giờ nắm bắt được,
Trang 7hay như một con chó rượt theo cái đuôi của mình
Dù an lạc không hiện hữu như một sự vật và nơi chốn hiện thực,
nó luôn luôn hiện tiền và đi cùng bạn mỗi một phút giây
Chớ tin vào thực tại của những kinh nghiệm tốt xấu, chúng như khí hậu phù du của ngày hôm nay, như những cầu vồng trong bầu trời
Muốn nắm bắt cái không thể nắm bắt, bạn tự làm kiệt sức mình vô ích
Ngay khi bạn mở trống và buông xả nắm tay siết chặt của sự bám nắm này, không gian vô biên là ở đấy – rỗng rang, mời mọc và thoải mái tiện nghi
Hãy dùng lấy cái trống rộng này, cái tự do và thoải mái tự nhiên này
Chớ tìm cái gì khác hơn nữa
Chớ đi vào rừng rậm um tùm tìm kiếm con voi Giác ngộ vĩ đại, nó vốn đã an nhiên trong nhà
ở trước lò sưởi của bạn
Không có gì để làm hay không làm, không có gì để động sức,
không có gì để muốn, và không có gì thiếu sót, trệch sai –
Emaho! Kỳ diệu!
Mọi sự xảy ra tự chúng
Gedun Rinpoche là một lama Kagyu trưởng, trụ trì và vị thầy ẩn tu của Tu Viện Dakpo Kagyu Ling ở Dordogne, Pháp, nơi bài thơ này được dịch ra từ tiếng Tây Tạng
Trang 81 Một Kẻ Lang Thang Chứng Ngộ
Một phác họa tiểu sử
Đây hoàn toàn không phải là một namthar – một tiểu sử tâm linh – nó chỉ là một chuỗi những chuyện rủi ro Tôi sinh ở miền đông Tây Tạng năm 1932 Cha tôi là một kẻ cướp lang thang, một kẻ cướp đường Ông ta đánh đập, cướp giật và ngay cả giết người Tôi thực sự không biết cha tôi, vì ông đã bỏ gia đình khi tôi còn rất nhỏ Cha tôi giống như người các bạn thấy trong phim cao bồi, sống ngoài luật lệ trên lưng ngựa Ông thường sống trong những miền hoang dã xứ Kham, miền đông Tây Tạng
Trong gia đình tôi có ba trai và bảy gái Hai người anh tôi thì rất mạnh và thô
lỗ, như cha vậy; ông cũng rất yêu quý hai đứa con cứng rắn này Tôi là đứa thứ ba, có hơi yếu đuối và nhút nhát Cha tôi thường chê tôi, nói rằng tôi giống một đứa con gái và chẳng được gì Cha tôi dạy các con mình chiến đấu, nhưng những đứa con gái và tôi không thích lắm sự đánh nhau, cho nên cha chúng tôi không để ý đến chúng tôi
Mẹ tôi là một tâm hồn dịu dàng và từ ái, một con người mộ đạo, với nhiều kiên nhẫn và chịu đựng Bà có những ước mong thành thật thực hành Pháp,
dù bà có quá nhiều con và nhiều chuyện để đối phó trong nhà Bà nuôi hy vọng lớn lao rằng tôi sẽ đáp ứng những ước mong về Pháp của bà, bởi vì tôi giống bà ở tính cách dịu dàng và từ ái Mẹ tôi tự bằng lòng với những phần thưởng đơn giản của đạo đức, cầu nguyện và sự hiến mình cho gia đình
Bà nội tôi, mẹ của người cướp đường, cũng thuần thành Bà là một đệ tử không thường xuyên của đại sư Đại viên mãn Nyoshul Lungtok Nyima, người là đệ tử ruột của Patrul Rinpoche Rất say mê Pháp và thực hành, bà không học nhiều nhưng đã nhận những giáo lý rồi thực hành và hiểu chúng, như thế chuyển hóa bản chất bà Bà cầu nguyện thường trực cho đứa con cướp bóc ương ngạnh của bà chuyển biến và thay đổi cuộc đời của nó
Trang 9Khi tôi còn là một em bé, bà nội tôi và mẹ tôi thường hát đi hát lại bên nôi,
“Chúng con quy y Phật, chúng con quy y Pháp, chúng con quy y Tăng.” Cũng thế, họ thường cầu nguyện và nói với người khác về những giáo lý, và cầu nguyện đến Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, dù ngài ở đâu – họ thường không biết ngài ở đâu – một cách nhiệt thành, biểu lộ mong muốn tha thiết ngài sẽ đến để dạy và ban phước cho họ Họ nhắc nhở mọi người ngài là một đại đạo sư như thế nào Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến tên thiêng liêng của
vị guru này, Nyoshul Lungtok, – một cái tên gây cảm hứng cho tôi đến tận ngày nay
Khi tôi lớn lên, bà nội tôi giải thích cho tôi Nyoshul Lungtok là lama gốc tôn kính của bà, và ngài đã cho bà một đời sống mới Dù không học kinh điển,
bà có kinh nghiệm trong Đại viên mãn, và cũng thực hành những giáo lý bồ
đề tâm Bà hát tụng thần chú của lòng đại bi, Om mani padme hung, ba trăm triệu lần trong đời bà Nếu người ta trì tụng một trăm triệu lần một thần chú, đếm mỗi lần với một xâu chuỗi, đó gọi là một toong-jor Bà đã làm ba lần như thế trong đời bà – ba trăm triệu trì tụng thần chú của lòng đại bi, thần chú của Quán Thế âm, Om mani padme hung, thực hành thiền định và từ bi như vậy
Bà nội tôi khuyên tôi, bởi vì bản tánh tôi hiền lành, thực rất thích hợp để theo lối sống của mẹ tôi hơn là bắt chước cha tôi Bà còn khuyến khích tôi tìm một lama-bồ tát thông thạo để dạy và huấn luyện tôi, và cố gắng trở nên giác ngộ như chính vị lama ấy – vì đó là điều Phật dạy
Trong ba năm tôi chăm sóc gia súc của gia đình và những việc lặt vặt khác Tôi chẳng học thứ gì, nhưng tôi nhớ nghĩ về vị lama mà tôi đã nghe tên Trong thời gian này, khi tôi lên năm, mẹ tôi và bà đưa tôi đến tu viện Sakya gần đấy, nơi tôi được cắt tóc và cho một pháp danh Năm tám tuổi, tôi vào tu viện Có khoảng một trăm nhà sư, người thực hành và những lama trong tu viện ấy ở xứ Kham Pháp danh của vị trụ trì là Jamyang Khenpa Tapkye; ngài là ông cậu họ của tôi
Trang 10NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN Ở TU VIỆN
Là bà con, Jamyang Khenpa Tapkye quan tâm đến tôi Tôi liền được dạy cho biết đọc và viết, chuyện đó là dễ dàng đối với tôi Không phải đứa trẻ nào cũng có một dịp may như vậy Để ở trong tu viện này, những người tập sự trẻ phải đi khất thực mỗi ngày chung quanh những làng lân cận Tôi vẫn còn những vết sẹo nơi chân vì những con chó Tây Tạng khổng lồ, chó giữ nhà dữ tợn, chúng cắn tôi khi đi ngang qua cửa để xin tsampa, một loại bột nướng khô, thức ăn chủ yếu của người Tây Tạng Khi những đứa trẻ tập sự không
có gì, chúng sẽ bị đánh và bắt phải ngồi ở bên ngoài không có gì để chống lại với giá lạnh Đó là một cuộc sống gian khổ
Vào khoảng mười tuổi công việc của tôi là chăn cừu của tu viện, đôi khi ở trong chùa và đôi khi chăn ở ngoài, nơi những chỗ hoang vu Khi trời nắng tôi được ra ngoài, rất thoải mái, cảm thấy rất hạnh phúc, chỉ xem chừng cừu gặm cỏ Nhưng đôi khi trời mưa và lạnh cóng, với mưa đá và gió, tôi không chỗ ẩn núp Hơn nữa tôi không thể thấy cừu biến mất trong sương mù và hẻm núi Tôi phải tìm chúng để gom chúng lại và đưa về vào ban tối Tôi biết chính xác chúng có bao nhiêu con Tôi nhận ra từng khuôn mặt chúng và gọi mỗi con bằng tên nó
Vào mùa xuân và mùa hè ngắn ngủi, có nhiều hoa dại và đủ loại chim ca hát Kham rất đẹp vào thời kỳ ấy trong năm Thời gian còn lại, khí hậu khá lạnh
và khắc nghiệt Tôi nhớ rõ ràng những ngày hè an vui của tuổi thơ khi khí hậu đáng yêu và tôi hoàn toàn sung sướng, ngồi ngoài nắng, hoàn toàn thoải mái và buông xả, khi đàn cừu gặm cỏ và tôi nhìn vào bầu trời xanh đậm màu ngọc bích và chỉ để tâm thức tôi tự do như nó là Đấy là sự khởi đầu tự nhiên, không tạo tác của sự khai triển thiền định nơi tôi
Đôi khi những con chim ríu rít, và vài tư tưởng bắt đầu đến trong tâm, đại loại: Tôi làm gì ở đây, nghe những con chim chăng? Tại sao tôi ở đây? Bà tôi bảo với tôi rằng chỉ sự việc độc nhất đáng làm là thực hành và chứng nghiệm Pháp thánh, tuy nhiên dù tôi đã vào tu viện, hình như bây giờ tôi chỉ
là một người chăn cừu Làm sao tôi có thể theo những giáo lý và gặp một vị
Trang 11thầy đích thực, hơn là chỉ làm một người chăn cừu mặc đồ thừa rách rưới, phí phạm thời gian trong những cánh đồng?
Thu hết can đảm, tôi nói với mẹ tôi muốn học với một lama thật sự, có được những giáo lý tâm linh đích thực, và tìm ra Pháp thiêng liêng thật sự là gì Rồi tôi bỏ tu viện và đến một thung lũng khác, nơi ấy có một đại lama cao cấp là Lama Rigdzin Jampel Dorje Vị lama này quả thật là một đại sư giác ngộ, một đại thành tựu giả đã chứng ngộ sự hợp nhất của hai dòng giáo lý Đại Ấn (Mahamudra) và Đại viên mãn (Dzogchen)
Khi tôi khoảng mười hai tuổi, tôi bắt đầu và hoàn thành năm trăm thực hành
sơ bộ hay ngondro, dưới sự hướng dẫn cá nhân của vị đại lama này Rồi tôi cầu thỉnh và nhận lãnh từ Jampel Dorje những giáo lý chi tiết về sự không tách lìa của thực hành thiền shamatha (chỉ) và thiền vipashyana (quán) Tôi
áp dụng những giáo huấn Kim Cương thừa về thiền định này trong kiểu mẫu Đại Ấn, theo Dòng Thực Hành Sự thực hành này gồm bốn yoga nổi tiếng của Đại Ấn – nhất tâm, đơn giản, một vị và siêu vượt khỏi thiền định – chúng được soi sáng hơn trong ba thể thức không-thiền-định, không-tạo-tác (vượt khỏi hành động và không hành động), và không-phóng-dật
Tôi bắt đầu dần dần nhận ra rằng có lẽ thật khó khăn để thực sự tiến bộ trong thực hành tâm linh mà không có một nền tảng hiểu biết vững chắc những giáo lý tổng quát của kinh và tantra, và đặc biệt là Bồ đề tâm quý báu Có nói rằng, “Thiền định mà không học thì giống như leo một ngọn núi mà không
có đôi mắt; học mà không thiền định thì giống như cố gắng leo một ngọn núi
mà không có tay và chân.” Rigdzin Jampel Dorje chấp nhận Thế nên tôi bắt đầu học với một vị khenpo quan trọng ở tu viện, một giáo sư tu viện trưởng uyên bác và thành tựu tâm linh Tôi phải học và tụng đọc thuộc lòng vô số lời cầu nguyện, sadhana, kinh văn và bình giải trước chúng hội – một công việc khổng lồ
Trang 12Tôi nghiên cứu ba lời nguyện của ba thừa, gồm những lời nguyện pratimoksha hay những lời nguyện giải thoát cá nhân từ Luật, những cam kết
bồ tát và những samaya Mật thừa Tôi nghiên cứu Bồ tát hạnh của đạo sư Đại thừa Ấn Độ Shantideva, những giáo lý Bồ đề tâm về tu hành tâm thức (sự chuyển hóa thái độ), của Atisha và rất nhiều giáo lý tương đối và tổng quát của Phật pháp, theo những kinh điển và bình giải của truyền thống Phật giáo Tôi nhớ Mười Ba Đại Bản Văn Về sau tôi nghiên cứu sâu về triết học Trung Đạo của Nargarjuna, biện chứng Trung Quán, ngữ nguyên học, luận
lý, văn học Bát Nhã ba la mật, Năm Trang Hoàng của Asanga, A tỳ đạt ma câu xá của Vasubandhu và v.v… Cuối cùng tôi nghiên cứu toàn bộ Ba Tạng, gồm trong toàn bộ Tây Tạng gọi là Kangyur trong một trăm lẻ tám bộ lớn, cũng như những luận giải chi tiết của các pháp sư Ấn và Tạng trong một toàn bộ còn lớn hơn là Tangyur Theo cách này, phối hợp với thực hành, tôi thông thạo ba thừa, gồm kinh và tantra – tất cả những giáo lý của đức Phật Được phấn khích mạnh mẽ, tôi theo đuổi sự tu hành học giả này một cách cần cù Dưới đạo sư phi thường Rigdzin Jampel Dorje và khenpo của tôi, tôi trải qua mười hai năm acharya hay tu học khenpo theo đúng truyền thống phối hợp với thiền định và hành thiền của Dòng Thực Hành Rimé không bộ phái, cho đến năm hai mươi bốn tuổi Tôi nghiên cứu mọi giáo lý cần thiết
để trở thành một khenpo, một tu viện trưởng và một giáo sư và đảm nhận mọi thực hành Đại thừa và Kim Cương thừa và những nhập thất trong đơn độc để thực hiện chúng Tôi còn nhớ tôi là một chú bé nhỏ con và đơn độc, trong một vùng tôi không quen biết một ai, và người ta thường giễu cợt tôi như thế nào Tôi cũng nhớ một cách biết ơn lòng tốt khó tin và sự rộng lượng hào phóng của vị thầy vô ngã của tôi khi tôi theo đuổi tất cả những học hành
và tu tập này trải hơn mười hai năm
Trang 13NHẬN NHỮNG GIÁO HUẤN CỐT LÕI
Khi tôi mười tám, tôi nhận lãnh những giáo lý sâu xa và độc nhất, bí mật về bản tánh chính yếu của tâm, những giáo huấn cốt lõi của Longchen Nyingthig, tinh túy tâm yếu của những giáo lý Đại viên mãn Tôi đã nhận những giáo lý biệt truyền quý báu này về cái thấy, thiền định và hành động của Đại viên mãn từ tái sanh (tulku) của guru của bà nội tôi – những giáo lý làm rõ nghĩa tối hậu của Phật Pháp và của Rigpa, tâm Phật bẩm sanh, theo sự sắp xếp nền tảng, con đường và quả, một bộ ba được xem là một và không thể phân chia Tôi sớm đạt được niềm tin không lay chuyển bên trong và sự xác tín về Đại viên mãn tự nhiên này, những giáo lý bất nhị của Đại viên mãn về tánh thanh tịnh bổn nhiên và sự hiện tiền tự nhiên hiện thân trong những thực hành Trekchod – Đốn Ngộ, và Thogal – Siêu Xuất
Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, người nối pháp của Patrul Rinpoche, đã chết những năm trước đó Tái sanh tulku của ngài đã sanh lại, lên ngôi và được các đệ tử của vị đời trước gồm cả Khenpo Ngakga dạy dỗ Chính vị tulku này, pháp danh là Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, đã đưa tôi vào bản tánh của tâm thức khi trao truyền những giáo lý này Ngài là guru gốc của tôi Tôi nhận pháp danh từ ngài và từ tu viện Nyoshul nơi chúng tôi sống với nhau, trong một quận ngoại ô vùng đại tu viện Kathok của Nyingma Từ những lama này tôi thừa hưởng tất cả những giáo lý của Longchenpa và Jigme Lingpa Tôi nhớ toàn bộ Bảy Kho Tàng của Longchenpa, cũng như hai bộ ba nổi tiếng của Longchenpa là Bộ Ba của Giải Thoát Tự Nhiên và Bộ
Ba của Tự Do Bổn Nhiên của Tâm và Yonten Dzod, Kho Tàng của Những Phẩm Tính Giác Ngộ của Jigme Lingpa, giải nghĩa tất cả chín thừa theo truyền thống Nyingma của Phật pháp Tôi hoàn toàn hạnh phúc
Tulku Shedrup Tenpai Nyima trao truyền cho tôi Nyengyud Men Ngag Chenmo, những giáo huấn cốt lõi nói nhỏ bên tai của Đại viên mãn Tulku Shedrup Tenpai Nyima là đệ tử chính của Khenpo Ngakga vĩ đại: Ngakgi Wangpo, một đạo sư Đại viên mãn trí huệ-điên cuồng còn nổi tiếng đến ngày nay – một đạo sư Thogal thấu suốt và là một hiện thân của tổ Đại viên mãn
Trang 14Ấn Độ Vimalamitra Khi tôi còn rất nhỏ, tôi đã gặp Khenpo Ngakga và nhận vài trao truyền từ ngài Tôi còn quá nhỏ để học hỏi thực sự sâu xa với ngài Khenpo Ngakga, thế nên tôi dần dần nhận riêng những giáo lý của ngài Khenpo Ngakga từ Nyoshul Lungtok Shedrup Tenpai Nyima
Khenpo Ngakga có một phương cách uy nghi và sự lôi cuốn phi thường, một
sự hiện diện khó tin nổi Chỉ đi vào phòng ngài là những tư tưởng và ý niệm chấp ngã của người ta dừng lặng, mở ra cảnh giới trống trải vô ngã của Rigpa một cách không cố gắng Dù tôi chỉ là một đứa trẻ, tôi cũng còn nhớ lại đầy biết ơn thời kỳ đó, “Sự hiện diện đích thực của một đạo sư Phật giáo chân thật thực sự là thế ấy Ai cũng hoàn toàn kinh ngạc và cảm ứng bởi sự rực rỡ tự nhiên và sự tinh thông tâm linh như vậy Phước đức làm sao khi gặp một vị Phật sống ngay nơi thế gian này!”
Ngài Khenpo Ngakga nổi tiếng nhiều vì nhiều lý do Một lần ngài ngồi ba năm trên đệm thiền, không đi đâu cả Khi vị đại lama này làm một cuộc nhập thất ba năm, ngài ở trong trạng thái trong vắt của Rigpa gọi là zangtal suốt cả thời kỳ; không ai có thể thấy một cái bóng in xuống từ thân ngài trong suốt
ba năm Điều này tuyệt đối chân thật
Khi Khenpo Ngakga đang trong thiền định, vào những ngày tốt lành như ngày mồng mười mỗi tháng – ngày mỗi tháng của Guru Rinpoche, và ngày mười lăm – ngày trăng tròn, tám dấu hiệu xuất hiện trên thân ngài Ngakga, bởi vì thân ngài là hóa thân, sắc thân thực sự, sự biểu lộ trên trái đất của một
vị Phật Khenpo Ngakga có những phẩm tính không thể nghĩ bàn như vậy đến mức mà phẩm tính nào nghe ra cũng khó tin, nhưng có nhiều lama là đệ
tử của ngài đã thành tựu giác ngộ hết lời ca tụng ngài Jatral Rinpoche và Bairo Tulku Rinpoche ở Nepal là những đệ tử vĩ đại còn sống hiện giờ của Khenpo Ngakga
Truyền thống Đại viên mãn nói rằng mỗi một trăm năm một đại sư giác ngộ của Đại viên mãn xuất sanh từ trái tim của Vimalamitra để làm việc cho ý định của Phật trong thế giới này Trong thế kỷ mười chín, đó là Jamyang Khyentse Wangpo, và trong thế hệ vừa rồi đó là Khenpo Ngakga
Trang 15Khenpo Ngakga có hàng ngàn đệ tử chứng ngộ, nhưng Nyoshul Lingtok Shedrup Tenpai Nyima, guru gốc của tôi là người kế pháp của ngài, người nắm giữ những giáo huấn cốt lõi của Đại viên mãn đặc biệt gọi là Nyengyud Men Ngag Chenmo, Dòng Những Giáo Huấn Cốt Lõi Truyền Tải về Tinh Túy Tâm Yếu Đấy là dòng và giáo lý đặc biệt của tôi, giáo lý thể nghiệm (nyongtri) căn cứ vào những giáo huấn cốt lõi truyền tai của Nyingthig, tinh túy tâm yếu của Longchenpa và Jigme Lingpa toàn giác, cốt tủy của Đại viên mãn vốn sẵn đủ, Dzochen Đây là một dòng truyền thừa chỉ nói thầm cho một đệ tử vào một thời gian nào, không bao giờ cho đám đông Nó được xem là cực kỳ hiếm có và quý báu Tôi cũng truyền nó cho rất ít lama đệ tử thân thiết riêng tư
Những vị nắm giữ dòng và những đạo sư của giáo lý đặc biệt này đều đã giác ngộ, là những thành tựu giả triệt ngộ với những phẩm tính tâm linh không thể nghĩ bàn, nhưng những lama ngày nay như tôi chỉ là một cái bóng của những thiên thể sáng ngời tâm linh ấy Những đạo sư thân thể ánh sáng cầu vòng ấy không dọi bóng; ngày nay những người thân thể khuyết điểm như Nyoshul Khenpo tự cho là trao truyền giáo lý siêu việt ấy – vô lý biết bao! Thuốc trường sanh của những giáo huấn cốt lõi để giải thoát trong dòng độc nhất này giống như hơi thở tươi mát của những dakini trí huệ Tiếng rống sư tử của Pháp đã được tuyên bày bởi những yogi như những sư tử tuyết vĩ đại trong đất nước Tây Tạng từ hàng ngàn năm nay, nhưng ngày nay chỉ có vài con chó như Nyoshul Khenpo đang sủa Và không chỉ có vậy, họ đang đi đây đi đó đến mọi nước trong thế giới, sủa, ăn thức ăn của những người khác, làm rầm rĩ không biết hổ thẹn – đáng nực cười quá chừng!
Tôi đã ở vài năm tại tu viện Kathok, một trong sáu tu viện chính của phái Nyingma Trong tiếng Tây Tạng Kathok được gọi là Kathok Dorje Den, nghĩa là Kathok Bodhgaya hay Kathok tòa kim cương của giác ngộ Ngôi chùa đã bảy trăm năm ở Kham này nổi tiếng như Bodhgaya thứ hai Kể lại rằng một trăm ngàn yogi đã đạt được thân thể cầu vồng ở đó Một câu chuyện khác nhắc đến màu trời vàng thần thoại của Kathok, nơi nhiều vị tỳ
Trang 16kheo sống đến nỗi bầu trời thường trực phản chiếu màu vàng sáng của y áo các ngài
Ở Kathok những lama của tôi gồm mười hai đại tulku; tám khenpo thành tựu tâm linh và uyên bác, những khenpo (khác với nhiều vị ngày nay) biết mọi thứ và nhớ toàn bộ đại tạng Kangyur và nhiều bình giải; và năm lama giác ngộ không phải là tulku cũng không là khenpo, nhưng đã thành tựu những chứng đắc lớn lao qua nỗ lực tâm linh, trong khi vẫn là những hành giả tầm thường và là những cột trụ vững chắc của tăng đoàn
Sau khi nhận sự trao truyền giáo huấn cốt lõi từ Tulku Shedrup Tenpai Nyima, tôi làm một năm ẩn tu trong hang, thực hành tummo, yoga nội nhiệt
bí mật, và tập trung vào những giáo lý cốt lõi truyền tai này Tôi còn tiếp tục theo đuổi việc học cho đến giữa những năm hai mươi Tôi thực hành tummo trong nơi hoang dã đầy tuyết cho đến khi tuyết chảy tan quanh tôi Trong thời kỳ thực hành mãnh liệt khác tôi sống một thời gian như một con thú hoang trong rừng sâu tự do thực hành rushen, những thực hành sơ khởi của Đại viên mãn, với vài yogi khác dưới sự hướng dẫn của guru Tôi còn nhớ việc sống tự do và buông xả như thế nào, vượt khỏi mọi câu thúc ý niệm và quy ước xã hội – giống như những đại thành tựu giả của thời xưa! Đó là một thời kỳ tuyệt diệu của thực hành tâm linh Emaho!
Tôi thực hành những sadhana Bát Nhã ba la mật đa thuộc Mật thừa gọi là Chošd hay Cắt Đứt Bản Ngã, thiền định suốt đêm trong những nghĩa địa khủng khiếp, hiến thân cho những hồn ma đói khát và những chủ nợ về nghiệp Những thời kỳ khác tôi dùng để thiền định một mình trên những đỉnh núi đầy gió và trong những hang động đã được những đại sư ngày xưa làm phép để dùng, hay hành hương đến những cảnh trí thiêng liêng và những thung lũng giống như Shangri-la (Shambala) nơi các vị tổ nam và nữ của Phật giáo Kim Cương thừa đã thiền định, ở đó tôi làm những lễ cúng và những hoạt động công đức Tôi hoàn thành sự tu tập Sáu Yoga của Naropa
và Đại Ấn theo hệ thống Kagyu, cũng như Lamdray của phái Sakya – Con Đường và Quả, và Korday Yermay – sự Không Tách Lìa của Sanh tử và Niết
Trang 17bàn, và tantra anuttara yoga Kalachakra Lama của tôi biết rằng tôi đã hoàn thành những thực hành khác nhau này, gặp gỡ những hóa thần bổn tôn; và nhận những ban phước, trao truyền và quán đảnh trực tiếp từ các vị ấy, giống như những đạo sư gốc của dòng phái trong thời trước
Rồi tôi du hành, nhận những giáo lý và những trao truyền từ mười hai vị đạo
sư giác ngộ khác từ mọi truyền thống và dòng phái khác nhau có ở Tây Tạng Những vị đạo sư này tôi xem là những lama gốc của tôi Lúc đó tôi biết tôi tìm kiếm cái gì và tìm ra nó ở đâu Tôi thực hành và hoàn thành những giáo lý này, như thế trở thành một lama Rimé không bộ phái, kẻ thừa
kế mọi giáo lý thiêng liêng của Tám Cỗ Xe Lớn của Phật giáo Tây Tạng, chúng hiện giờ được xếp vào bốn phái chính: Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug
ĐI KHỎI TÂY TẠNG
Những người đồng tu và tôi phải đi khỏi Tây Tạng vào năm 1959 Sự thực hành tôn giáo vào những năm sáu mươi, bảy mươi được xem là chống phá chính trị Tôi mất tiếp xúc với những người ở lại, kể cả những dấu vết của gia đình tôi Tôi chỉ tái hợp với những anh chị em còn sống vào một chuyến viếng thăm miền đông Tây Tạng vào năm 1992
Ở Ấn Độ, tôi đã thỉnh cầu và nhận được những giáo lý và trao truyền đầy đủ
từ những vị đại đạo sư, gồm vị nhiếp chính của Padmasambhava tái sanh là đức Dudjom Rinpoche; Dilgo Khyentse Rinpoche – hiện thân của Văn Thù
và vị Phật sống, đức Gyalwa Karmapa thứ mười sáu Về sau, những vị lama này, cũng như những vị khác Tai Situ Rinpoche, Pema Norbu Rinpoche, Sakya Trichen, và Dzigchen Rinpoche yêu cầu tôi làm Khenpo hay giáo sư tại các tu viện của ngài, để giáo dục tăng chúng và huấn luyện để thành khenpo trong các trường
Tôi vẫn cầu nguyện thường xuyên đến hai mươi lăm đạo sư gốc này, các vị
đã cho tôi mọi sự tôi biết và tôi có Cho dù người ta biết hàng trăm ngàn người tuyệt hảo – hay hàng trăm ngàn người xấu – thì tsawai lama hay guru
Trang 18gốc của mình vẫn là người quan trọng nhất trong cuộc đời Thật ra, cái thực
sự làm tôi kinh ngạc nhất không phải là các vị thầy của tôi, mà là giáo lý của Đại viên mãn tự nhiên, Dzogchen: đó thật là sự lạ lùng kỳ diệu, thần tình và không thể quan niệm nhất trong kinh nghiệm của tôi, và là cái tôi biết ơn nhất Tôi không thể diễn bày nổi sự biết ơn đối với các vị thầy, các vị đã ban cho tôi những giáo lý Tôi cố gắng làm tất cả những gì tôi có thể để đền đáp lòng tốt của các ngài bằng cách truyền nó cho những người khác, bất cứ nơi nào tôi đã ở Vì tôi thực sự tin rằng chính cái này, và chỉ cái này là lợi lạc sâu thẳm nhất
Tôi đã sống ở Ấn Độ một mình hai mươi lăm năm, không gom chứa vật gì, chỉ là một người già đơn độc, đôi khi đi dạo quanh với y áo kiểu lama Tây Tạng màu đỏ, đôi khi trong màu vàng cam hay màu vàng khất sĩ hay chỉ là những mảnh vải quấn Đôi khi tôi thuyết pháp trong những tu viện Tôi cũng
có khi ở với những nhà khất sĩ ở Rishikesh và Haridwar, dọc sông Hằng, trong các tự viện, lều, mái che, dưới những tàng cây, bất cứ chỗ nào khi đêm xuống Biết bao kinh nghiệm khác nhau như mộng! Đôi khi tôi được tán dương và hoàn toàn thoải mái tiện nghi, thường hơn tôi bị bỏ quên và nghèo đói Tuy nhiên sự giàu có vô cùng của chân lý và bình an bên trong chính là Pháp, nó luôn luôn nâng đỡ tôi sống hạnh phúc Đôi khi tôi làm lễ quán đảnh cho những hội chúng lớn, gồm mười hai vị tulku và lama, nơi đó các vị để một cái bình vàng của lễ nhập môn vào tay tôi và tôi đặt nó lên đầu của hàng ngàn vị sư Những khi khác tôi hoàn toàn nghèo khó, sống bằng tay nuôi miệng trên những con đường của Calcutta, lang thang lòng vòng ngửa tay xin đồng xu Quá nhiều thăng trầm không ngờ nổi, ai có thể diễn tả cho hết? Đời sống là như vậy, đầy những quanh co khúc khuỷu không mong đợi – như huyễn, vô thường, không chủ định, và không vững bền Và cuối cùng, tất cả chúng ta đều chết Thật là một quang cảnh!
Quá nhiều những trải nghiệm, ký ức, và suy tưởng khác nhau – một số tốt và một số xấu – như nhiều loại giấc mộng khác nhau Một đêm năm 1959 tôi cùng với bảy mươi người thoát khỏi Tây Tạng, và một vài ngàn binh lính ngoại quốc ở trên những ngọn núi chung quanh, tìm kiếm những người trốn
Trang 19thoát trong đêm tối Quân lính thình lình khai hỏa, và đạn súng máy và đạn sáng khắp nơi Bảy mươi người trong đoàn, chỉ tìm thấy lại năm người còn sống qua ngày sau Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho số còn lại Nhóm năm người chúng tôi tiếp tục đi bộ qua Hy Mã Lạp Sơn, Bhutan, Darjeeling,
và Kalimpong – nơi nào có thức ăn, chỗ ở, và an toàn có thể tìm thấy
Rồi tôi sống nơi vùng thấp nhiều năm như một người tỵ nạn, lưu đày khỏi xứ Tuyết, chen chúc với những người khác trong những trại tỵ nạn đông đặc, những chuyến xe lửa ẩm thấp, xin thức ăn trong những đường xá nóng bức
và bụi bặm Ấn Độ Vài năm sau tôi không ngờ lại thấy mình vượt qua đại dương trong những chiếc phản lực khổng lồ, lên xuống dọc chiều dài của những ngôi nhà chọc trời như cây kim vĩ đại trong những thang máy điều hòa không khí ở những đô thị lớn của thế giới hiện đại, ngủ trong những khách sạn lớn trên nệm dày của những căn phòng hiện đại, ăn trong những nhà hàng và những hàng hiên ngập nắng, được phục vụ như một ông vua Trong những năm đầu thập niên bảy mươi, tôi bị một cơn bệnh suýt chết Một số người nghĩ rằng tôi bị trúng độc trong một hiệu ăn ở Kalimpong Hệ thống thần kinh của tôi bị tê liệt; tôi hoàn toàn là một phế nhân trong vài năm Trước đó, tôi đã ban những giáo lý rộng và sâu và những quán đảnh cho nhiều người, gồm những nhà sư, lama, tulku và cư sĩ khắp vùng Hy Mã Lạp Sơn Sau đó tôi không thể thấy rõ, đi khập khiểng, tay run, và tôi chờ chết Trong thời gian khó khăn ấy, tôi được chăm sóc trong tu viện của Kangyur Rinpoche ở Darjeeling Kangyur Rinpoche và gia đình ngài đã chăm sóc ân cần cho tôi Tôi luôn luôn nghĩ đến họ với lòng biết ơn và kính trọng sâu xa Lama Sonam Tobgyal từ chùa Riwoché là thị giả tin cẩn của tôi trong sáu năm của thời kỳ ấy, ở Ấn Độ và sau này ở Châu Âu
Thời gian sau tôi được đưa đến Thụy Sĩ để chữa thuốc Tôi ở hai năm với những người Tây Tạng theo tôi trong cộng đồng Tây Tạng ở đấy, rồi bảy đến tám năm ngơi nghỉ trong trung tâm Nyingma ở thung lũng Dordogne miền tây nam nước Pháp, chỉ thỉnh thoảng mới dạy Trong bốn năm tôi ở và dạy trong trung tâm ẩn cư ba năm Chantelouse ở đó cho đến năm 1984
Trang 20Vì lúc ấy sức khỏe tôi được cải thiện và tôi hoạt động hơn, đi dạy khắp thế giới, cả Đông lẫn Tây, được những trung tâm của nhiều dòng phái khác nhau mời đến Tôi có hai cuộc viếng thăm Tây Tạng: một lần với đức Khyentse Rinpoche và một đoàn tùy tùng năm 1990, và rồi với Penor Rinpoche năm
1992, khi tôi gặp những thành viên gia đình còn ở đây Tôi hiện giờ đang làm việc để trùng tu ba tu viện của tôi và xây dựng vài bệnh viện ở Kham Tôi hiện ở Thimpu, thủ đô của Bhutan, xứ sở Phật giáo độc lập cuối cùng còn lại trong dãy Hy Mã Lạp Sơn
NHƢ MỘT GIẤC MỘNG, NHƢ MỘT ẢO ẢNH
Có phải cuộc đời giống như một cuốn phim hay một giấc mộng, như một chuỗi giấc mộng ở trong ảo ảnh như mộng bao la? Làm thế nào để nhớ hết những màn khác nhau tất yếu lộ ra từ thời gian từ lúc tôi là một đứa bé tinh quái nhỏ con thất học cho đến bây giờ, khi tôi đã là một người lang thang đã già và lắm mồm với tóc bạc, kiếng lão và nếp nhăn? Thật là một điều lạ lùng! Già và còng Một cảnh tượng! Một du khách Tây Tạng đã già, mờ mắt nhìn ngó chung quanh ở những miền đất ngoại quốc! Emaho! Lạ lùng! Kỳ diệu!
Làm sao để giải thích những thất thường vô cùng của trải nghiệm, trừ phi xem tất cả là những công việc của luật nhân quả nghiệp báo không sai chạy?
Và ai tạo ra nghiệp này, ngoài chính chúng ta? Khi chúng ta nhận thức rằng chúng ta tạo ra nghiệp của chính mình, và do đó chịu trách nhiệm về sự trải nghiệm riêng của chúng ta, tốt lẫn xấu, ưng ý và không ưng, có phải cái nhìn soi suốt này giải phóng chúng ta khỏi bực tức và thất vọng, thấm nhuần một
ý nghĩa của tự do và trách nhiệm, cũng như lòng từ bi đối với những ai khổ đau vì thiếu vắng một tỉnh giác như thế?
Trang 21Hẳn là chẳng có ý nghĩa gì với tôi khi nói về cuộc đời này, nhưng nó nhắc lại cho tôi tất cả giáo pháp thiêng liêng mà tôi đã thọ hưởng – một nguyên nhân đích thực cho sự hưởng thụ trong những màn ồn náo rộn ràng này Pháp đến trong nhiều hình thức, nhưng tất cả đều có một vị đơn nhất của bình an vĩ đại
Thật ra tôi chỉ là một con người tầm thường; sự quan tâm duy nhất của tôi là phụng sự, giúp đỡ những người khác và phụ vào việc duy trì truyền bá Pháp Tuyệt đối tôi không có công việc đặc biệt nào để làm, nhưng tôi cảm thấy bởi vì Phật giáo đã giúp tôi quá nhiều trong cuộc đời này, nên tôi rất sung sướng khi giúp đỡ bằng cách đưa chính kinh nghiệm của tôi cho bất kỳ ai thích thú với Pháp Tôi hy vọng trong tương lai, Pháp cao cả, những giáo lý giải thoát, sẽ nở rộ và làm lợi lạc cho mọi người dù họ là ai ở bất kỳ nơi đâu Tôi không phải là một dịch giả, nên tôi không thể nói với người Tây phương trong ngôn ngữ của họ; tôi chỉ cố gắng trình bày Pháp trong mọi cách tốt nhất mà tôi có thể làm
Tôi vui sướng khi thấy nhiều người Tây phương cũng cảm xúc khi thấy Pháp
là lợi lạc, quan trọng và thật sự có ích như thế nào Đó là cái duy nhất mà tôi thực sự biết trong cuộc đời: những công đức tuyệt vời của Phật pháp Bởi thế tôi cũng hoan hỷ thấy rằng người khác cũng cảm nhận như thế, và tôi biết rằng nếu họ áp dụng nó trong thực hành cụ thể, với sự soi chiếu vào trong,
họ sẽ có thể rút ra lợi lạc từ những giáo lý sâu xa và ý nghĩa này Không vĩ đại sao khi thấu hiểu cái Tự Biết độc nhất, trị bá bệnh này nó giải thoát và giải phóng mỗi một và tất cả, thay vì cứ tiếp tục trong sự theo đuổi không cùng vô tận những hình thức của cái biết, mà không có cái nào trong ấy có lợi lạc tối hậu cho mình và cho người?
Ngay trên những ga xe điện ngầm ở Paris và London tôi đã thấy những người – họ không phải là Phật tử – mà những khả năng tâm linh đã sắc bén
để có thể làm cho họ trực tiếp nắm lấy nội dung chân thật của Pháp bất nhị, nếu họ chỉ cần được giới thiệu với nó bởi một vị thầy đủ phẩm chất Khi giây phút của Đại viên mãn xảy tới, à, nó đấy! Đó không phải là vấn đề văn hóa
Trang 22hay nghiên cứu; mà là hấp lực tâm linh và sự chín thành nghiệp quả của mỗi người
Những ngày hôm nay tôi phấn khởi được gặp các người thực hành Pháp của Tây phương, họ thành thực tìm kiếm hiểu biết kinh nghiệm đích thực và không bằng lòng với chỉ những nhạt nhẽo vô vị và sự kiện tôn giáo bên ngoài Đấy là những người mong muốn và thiết tha phóng mình sâu vào trong chính họ, để học và hành những giáo lý, thậm chí làm những việc hy sinh, để nỗ lực trong sự trau dồi tỉnh giác tâm linh Chẳng phải là Pháp ở khắp mọi nơi sao? Chẳng phải là không có nơi nào khác để tìm kiếm và thấy
ra nó, chỉ trừ trong chính mình, trong tâm và lòng của chính mình sao?
Như terma sadhana tối thượng Longchen Nyingthig Guru Yoga, Tigle Gyachen của Jigme Lingpa bắt đầu với:
Không chư Phật không chúng sanh, vượt khỏi có và không có,
Bản thân tánh giác bổn nhiên là guru tuyệt đối, chân lý tuyệt đối
Bằng cách an trụ tự nhiên, vượt ngoài bám trước, trong Bồ đề tâm vốn sẵn
tự do và bẩm sinh toàn thiện này, Tôi quy y và làm lộ bày Bồ đề tâm tuyệt đối
Một Vidhyadhadra hay đạo sư Rigpa như Rigdzin Jigme Lingpa đã thực sự chứng ngộ Phật tánh qua con đường Đại viên mãn Bấy giờ, dù chưa từng học nhiều, bởi vì luân xa trí huệ của ngài nở bừng trọn vẹn, ngài có thể tự phát viết ra những bình giải vô giá, hát những bài ca giác ngộ doha rạng ngời, phát giác những terma quý giá của Longchen Nyingthig bằng sự phát hiện huyền bí, và chỉ dạy rộng rãi, soi sáng con đường chúng ta đi cho tới tận ngày nay, ba thế kỷ sau đó
Cá nhân tôi không đạt đến Phật tánh và tôi không biết tôi sẽ ở đâu trong tương lai, trong đời này cũng như trong đời tới Nhưng đấy thực sự không phải là vấn đề, hoàn toàn không! Dù gì cái xảy ra, cứ xảy ra Tuyệt đối không có cái gì để phải quan tâm Tôi chỉ cảm thấy biết ơn những vị thầy
Trang 23của tôi, biết ơn giáo lý và biết ơn đức Phật, và tôi mong muốn rằng tất cả đều
có thể tham dự vào nguồn ban phước này, những công đức này, nó thực sự thuộc về tất cả không trừ một ai Bởi thế tôi liên tục cầu nguyện rằng tất cả chúng sanh có thể tạo nên sự tiếp xúc, kết hợp tốt lành này, qua bất kỳ phương tiện gì lợi lạc và thích hợp
Nguyện tất cả chúng sanh thức tỉnh trong ánh sáng của Đại viên mãn vốn sẵn
và thực hiện tự do, an bình và mãn nguyện toàn hảo!
Sarva mangalam! Nguyện mọi sự đều tốt lành toàn thiện, và nguyện hòa bình có trong thế giới này và phổ khắp toàn thể vũ trụ!
Trang 24GIÁO LÝ
2 Phật Pháp Căn Bản Một thuyết giảng ở Vương quốc Bhutan
Lama Matthieu Ricard dịch
Hiện giờ nhiều người nhận được một nền giáo dục hiện đại, làm sắc bén trí thông minh của họ, và thu hoạch một số kiến thức Họ mở tâm trí ra với hiện trường bao la của kiến thức khoa học và những phương pháp rèn luyện khác Đồng thời, nhiều người trong họ, sau khi hoàn tất học tập, đã hỏi, “Pháp là gì?”
Dù họ sống trong một đất nước Phật giáo, nhiều thanh niên nam nữ ở đây không có dịp may tìm ra Phật pháp nói về cái gì và dùng nó để có lợi ích gì Đối với nhiều người, Pháp là nhận những quán đảnh nhập môn và ban phước
từ những lama, cúng dường đèn sáp, đi nhiễu tháp và chùa, mặc y và những hoạt động bên ngoài tương tự Làm điều này thực ra là công đức và chỉ ra sự quan tâm chung của dân chúng với tôn giáo, nhưng đấy chỉ là những cành nhánh của Pháp; chúng không phải là điểm chánh Có một cái bình nghi lễ được đặt trên đầu quả thật là một ban phước, nhưng đó không phải là cái chúng ta gọi là thánh Pháp
Bấy giờ, cái gì là nhu cầu hướng đến Pháp? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên chúng ta phải nhìn chung quanh và suy nghĩ về tình trạng của chúng ta trong thế giới này Nếu chúng ta làm như vậy mà không che mù mình với sự thật, chúng ta tìm thấy một điểm chính yếu, chung cho tất cả chúng sanh: khổ đau
và không toại nguyện
Mọi người đều khổ đau trong cách này hoặc cách khác Một người lãnh đạo
có những vấn đề của người lãnh đạo, một công nhân có những vấn đề của công nhân Khi các bạn thấy một người lãnh đạo đi qua đường phố, các bạn
có thể nghĩ, “Ông ta đã đạt đến hàng cao cấp, ông ta có một ngôi nhà tiện
Trang 25nghi, một chiếc xe đẹp, và v.v… Ông ta phải là một người hạnh phúc.” Nhưng hoàn toàn không phải như thế Người lãnh đạo ấy khổ đau Ông ta lo
âu mất địa vị, hay ông ta có quá nhiều việc, hay ông ta khổ sở bởi ham muốn trở thành một nhà lãnh đạo của thế giới, hay gia đình ông ta không hạnh phúc… Người công nhân phải chạy đây chạy đó, có công việc chán ngắt, và được trả ít tiền Ngay cả tổng thống của một siêu cường quốc cũng lo âu vì
sợ không được tán thành, vì không thành công khi đặt ảnh hưởng của mình lên thế giới… dầu ông ta có thể làm thế, ông ta cũng bị khổ sở vì cần thiết phải giữ mọi việc trong vòng kiểm soát
Có một giải pháp tối hậu cho những vấn đề này không? Trong thế giới bình thường không có Các bạn có thể nghĩ rằng nếu các bạn cho một người ăn xin 1 triệu đô la thì điều đó sẽ làm cho người ấy hạnh phúc Nhưng hoàn toàn không! Nếu người ấy có 1 triệu đô la, anh ta ước lượng đã đủ cho ăn mặc, nhưng rồi anh ta còn muốn 2 triệu! Không có ai thỏa mãn lâu dài với sự giàu có và quyền lực thế gian Điều này bởi vì người bình thường bị mê lầm;
họ không biết cái gì là giàu có đích thực, quyền lực chân thật, sự mãn nguyện lâu dài thật sự Như Nagarjuna (Long Thọ) nói, “Bằng lòng là sự giàu có thật sự.”
Một người giàu có thể không bao giờ hoàn toàn hạnh phúc Trước hết người
ấy bị ám ảnh có được giàu có, rồi bị ám ảnh bảo vệ và tăng thêm nó Hơn nữa, có bao nhiêu người hiện nằm liệt giường trong các bệnh viện, chết vì đói hay chiến tranh? Có biết bao nhiêu gia đình tan tác vì xích mích, và rốt cuộc là cái chết? Điều ấy không xảy ra bây giờ cho các bạn, nhưng ai biết đâu?
Dù cho thế giới hiện đại đã phát triển khoa học và kỹ thuật đến một mức độ không thể tưởng tượng nổi, tuy nhiên không có máy móc nào, phương pháp đặc biệt nào, viên thuốc đặc biệt nào có thể cất đi khổ đau và phát sinh hạnh phúc lâu dài Vậy mà trừ tuyệt khổ đau, không chỉ những triệu chứng của khổ đau mà là nguyên nhân sâu xa nhất của nó mới là mục tiêu của thánh Pháp
Trang 26Những giáo lý thực hiện một mục đích cao cả như thế bằng cách nào? Lý do thật sự khiến người ta khổ đau không tìm thấy ở bên ngoài, mà chính trong bên trong họ Chúng ta khổ đau vì tham bám, ham muốn, giận dữ, ác cảm, kiêu mạn, ghen tỵ và mê lầm, mọi loại thuốc độc thuộc về tâm thức Bởi thế, chánh pháp được làm trên tấm lòng và tâm thức
Tâm thức thì rất quyền năng: nó có thể tạo ra cả khổ đau và hạnh phúc, thiên đường và địa ngục Nếu với sự trợ giúp của những giáo lý và thực hành tâm linh, các bạn hàng phục chính những độc dược bên trong, những thức tình xung đột của các bạn và vượt khỏi vô minh hạn hẹp, bấy giờ không bao giờ
có cái gì có thể làm hại hạnh phúc của các bạn Nhưng chừng nào những độc này còn cắm neo trong tâm thức các bạn, thì không ở đâu trong thế giới này
có thể tìm ra cái ước muốn vĩ đại nhất là hạnh phúc Cho dù bạn đi bất cứ nơi đâu, những phóng chiếu và điên đảo của chính các bạn vẫn theo đến đó Làm việc trên tâm thức là một chủ đề rất rộng lớn; thật vậy, nó là chủ đề của toàn bộ Phật pháp Trong bản chất, lý do chính khiến tâm thức phát sinh những thức tình mê lầm và những xúc động mãnh liệt của nó là sự bám chấp mạnh mẽ vào Tôi và của tôi Bởi vì sự bám chấp này, chúng ta khổ đau khi chúng ta không đạt được điều “cái tôi” muốn, và chúng ta khổ đau khi phải trải nghiệm điều “cái tôi” không muốn
Chính qua việc thiền định trở đi trở lại về bản tánh như huyễn và không có
tự tánh của tâm thức, của bản ngã, của tự ngã mà chúng ta dần dần có thể làm tan biến sự chấp ngã Trong mọi phương pháp để đạt tới kết quả cái sâu
xa nhất là thiền định về Bồ đề tâm này là tình thương và lòng bi vô ngã Tràn đầy tình thương với tất cả chúng sanh và xem những người khác quan trọng hơn chính chúng ta là cội gốc đích thực của Pháp, đó là sự kết hợp của trí huệ và đại bi
Chúng ta cũng phải có niềm tin, sùng mộ và tin cậy Niềm tin không có nghĩa là tin mù quáng vào tôn giáo vì lama của chúng ta nói thế Niềm tin là một sự cảm kích chân thật và vui sướng về những phẩm tính vô biên của giác ngộ, như Phật hay bậc giác ngộ nào khác, nam hay nữ Đó là sự nhận ra
Trang 27cái khác biệt giữa một vị Phật thức tỉnh hoàn toàn, bi mẫn hoàn toàn với một người bình thường, xao động và rối rắm Sự khác biệt này đơn giản là tâm của một vị Phật thì sáng tỏ và thoát khỏi mê vọng, trong khi tâm của người bình thường thì bị che tối Có được sự xác quyết trọn vẹn trong sự khác biệt này, và mong mỏi sâu sắc có được trí huệ tỉnh giác của Phật, là cái chúng ta gọi là niềm tin
Vô cùng chư Phật đời quá khứ, hiện tại và tương lai là những đối tượng thích hợp của lòng tin Nếu trong thời hiện đại này, các bạn dâng hiến niềm tin của mình cho Guru Liên Hoa Sanh, Padmasambhava, các bạn sẽ nhận những ban phước của ngài Ngài đã hứa rằng lòng bi của ngài cho chúng sanh của thời đại đen tối này sẽ nhanh chóng hơn bất kỳ vị Phật nào khác Như ngài đã nói, “Ta luôn luôn ở bên cạnh, ngay nơi ngưỡng cửa của lòng sùng mộ của các con.”
Đặc biệt trong đất nước Bhutan này, người ta có thể thấy nhiều bằng chứng
về những ban phước của Guru Rinpoche Nếu Guru Rinpoche để lại những dấu chân, dấu tay của ngài ở Paro Taksang, ở Tango, ở Bumthang Kuje, đấy không phải vì Guru Rinpoche không tìm ra công việc nào khác để làm, hay chỉ tự giỡn chơi với mình bằng những phép lạ Đó đơn giản chỉ là để lại những dấu hiệu thấy được của sự tinh thông vô biên của ngài về tâm linh để giúp đỡ chúng sanh bằng cách khơi cho họ đức tin và sùng mộ, và làm cho đáng tin sự thật của lời ngài nói Nếu bất kỳ ai ở đây nam hay nữ xác nhận được cho chính mình chân lý của thông điệp đức Phật, người nam hay người
nữ đó ngay trong khoảnh khắc này bình đẳng với Padmasambhava
Hãy đánh giá giá trị và cơ hội của đời sống làm người này Hãy cho đời sống
đó có ý nghĩa chân thật, vì chính các bạn và vì những người khác, bằng cách khai mở tất cả cái gì trong chính các bạn Hãy có niềm tin, lòng bi và sùng
mộ Hãy tìm ra hạnh phúc ở bên trong: hãy chuyển hóa tâm thức các bạn và thế giới bên ngoài tự chuyển hóa nó một cách tự nhiên thành phúc lạc bất biến và không có cái chết
Trang 28KHAI TRIỂN THÁI ĐỘ ĐÚNG ĐẮN
Để là một người nhận thích hợp những giáo lý thiêng liêng, đòi hỏi đầu tiên này là có thái độ đúng đắn, hầu có thể nhận nó trong một đường lối phù hợp Chúng ta cần phải nhớ rằng điểm chính yếu của Pháp là xử sự với lòng và tâm, bấy giờ chúng ta nên tự chuẩn bị trong một cách thức tương xứng Để chuẩn bị tâm thức chúng ta cần kiểm điểm thái độ của chúng ta: Tại sao chúng ta đến đây để nhận lãnh những giáo lý? Chúng ta mong chờ gì ở chúng? Đâu là động cơ của sự nhận lãnh những lời dạy? Khi chúng ta nhận những lời dạy, suy nghĩ về ý nghĩa của điều chúng ta vừa mới nhận thì quan trọng hơn bản thân những lời nói Những lời, chữ có thể rất đẹp đẽ, uyên bác, rất thơ, nhưng đó chỉ là mặt ngoài của giáo lý Cái quan trọng là ý nghĩa của chúng, thật nghĩa của chúng
Để có thể nắm lấy ý nghĩa, trước tiên chúng ta phải xoay tâm thức mình vào bên trong, kiểm điểm động lực của chúng ta, và trở nên mẫn cảm với những lời dạy, bằng cách mở lòng và tâm của chúng ta Xoay tâm thức chúng ta vào trong thì rất quan trọng Cho đến bấy giờ, vì vô minh, chúng ta đã lang thang lòng vòng từ vô thủy trong sanh tử, tâm thức chúng ta thường trực phóng ra những hiện tượng bên ngoài Bởi thế, bước đầu tiên là xoay lại vào trong, kiểm điểm thái độ của chúng ta, và trở nên tỉnh giác ở đây và bây giờ điều tâm thức đang làm, những thái độ nó đang có, nói chung, tỉnh giác với những công việc của tâm thức chính chúng ta
Chúng ta có thể tự xem mình là Phật tử Trong một cách nào, điều đó là tốt,
vì những giáo lý Phật giáo thì cực kỳ rộng lớn và ân phước Tuy nhiên, chúng ta không nên có một cái nhìn giới hạn và chật hẹp về điều đó Nghĩ mình là Phật tử có nghĩa là gì? Có phải nó chỉ là một cách khác cho sự ích kỷ của chúng ta để làm cho chúng ta cảm thấy cao hơn những người khác trong thế giới này? Có phải chúng ta thực sự là những Phật tử, những bồ tát, những người thực hành tâm linh hay có lẽ chúng ta chỉ theo tổ tiên không có gì ngoài sự giống nhau bên ngoài với những tín đồ thực sự của đức Phật toàn giác? Chúng ta nên có một tâm thức rất rộng mở hơn nữa và hãy nhìn xem
Trang 29tất cả những Pháp khác nhau, những tôn giáo và hiểu biết triết học khác nhau trong thế giới này Ngay sự hiểu biết này cũng còn rất hạn hẹp, vì không chỉ
có thế giới này mà còn có hàng tỷ vũ trụ khác Để cho mỗi hệ thống thế giới
ấy, từ lòng bi của Phật, có những giáo lý để giải thoát khác nhau
Tương tự, vì số chúng sanh là vô cùng, thế nên những phương pháp để đưa chúng sanh đến mục đích tối hậu cũng vô cùng Tất cả những giáo lý ấy tham dự vào việc chứng ngộ chân lý tuyệt đối, trạng thái tự nhiên của tất cả các hiện tượng, đó là cái hiểu biết tối hậu Nhưng bởi vì những chúng sanh khác nhau có những khả năng, khuynh hướng và nguyện vọng khác nhau, thì cũng có những phương tiện khác nhau để dẫn họ đến sự thấu hiểu tối hậu Bởi thế, chớ nên có một quan điểm chật hẹp chỉ nhìn thấy tôn giáo riêng của các bạn, hay ngay chỉ vũ trụ của các bạn, mà hãy cố gắng rất khoáng đạt và thấu hiểu có vô cùng chúng sanh, vô số đường lối tiếp cận khác nhau và giáo
lý khác nhau dẫn đến mục tiêu tối hậu Chúng ta cần có một thái độ rất rộng rãi và trống thoáng, cởi mở với mọi hình thức của chân lý, tất cả những con đường khác nhau có thể đưa dắt chúng sanh đến sự thấu hiểu rốt ráo
Ý nghĩa của việc có một tâm cởi mở như vậy là để thấu hiểu rằng có rất nhiều biểu lộ khác nhau của chư Phật để gặp gỡ những nhu cầu của mỗi một chúng sanh Những bậc giác ngộ có thể biểu lộ trong rất nhiều hình thức khác nhau, trong rất nhiều cảnh giới hiện hữu khác nhau, lưu xuất theo những chiều kích pháp thân, báo thân hay hóa thân của tâm Phật Tất cả những cách thức để làm lợi lạc cho chúng sanh này là để giúp đỡ chúng ta chứng ngộ bản tánh tối hậu của tâm thức
Trang 30SỨC MẠNH CỦA MÊ LẦM
Trong mọi vũ trụ vô cùng này và trong tất cả chúng sanh, yếu tố chung là họ đều có một tâm thức, tỉnh giác, một hình thức ý thức nào đó phân biệt họ với vật chất vô tri Và đối với mỗi chúng sinh, tâm thức bị rơi vào quyền lực của
mê lầm Cách tốt nhất để giúp đỡ chúng sanh là xóa sạch mê lầm nhờ những phương pháp thiện xảo khác nhau và những giáo lý đưa đến sự chứng ngộ bản tánh tuyệt đối của tâm thức
Một khi chúng ta trở nên rõ ràng tầm bao quát vô lượng của thời gian và không gian, những con số vô cùng của những vũ trụ, chúng sanh và chư Phật, bấy giờ cuộc đời của riêng chúng ta có vẻ ngắn ngủi như một tia chớp trong bầu trời Không chỉ cuộc đời chúng ta, mà vũ trụ riêng biệt này cũng chỉ là một khoảnh khắc thoáng chốc, dù cho nó có hiện hữu hàng tỷ năm; vì
nó cũng giống như một giây ngắn ngủi so với sự vô cùng của toàn thể vũ trụ Viễn cảnh rộng lớn này sẽ dẫn chúng ta đến sự tỉnh giác sống động và rất hiện tiền về tánh vô thường và thoáng chốc của cuộc đời chúng ta Hơn nữa, trong ánh sáng của vô cùng, chúng ta sẽ thấu hiểu những khuyết điểm và giới hạn của cuộc đời sanh tử, bị điều kiện trói buộc này Cởi mở mình ra với những cái vô cùng này, chúng ta tỏ biết rõ ràng những giới hạn của chúng ta, những thăng trầm của hiện hữu bị điều kiện hóa ngắn ngủi, tính vô thường trong một cuộc đời và thời gian của chúng ta Chúng ta thấy chật hẹp, ngột ngạt và thiển cận làm sao những quan tâm quy ngã thường trực của chúng ta, trong ánh sáng của cái trống không vô cùng và lung linh
Nếu chúng ta nhìn vào những tia sáng của mặt trời, đôi khi chúng ta có thể thấy một hạt bụi nhỏ Theo cách nhìn Phật giáo về vật chất, nếu chúng ta lấy một phần bốn mươi của hạt bụi rất nhỏ này, chúng ta đến nguyên tử hay phân tử căn bản Còn có nói rằng trong phần tử nhỏ ấy có vô số vũ trụ, và trong mỗi vũ trụ này có đủ sáu cõi có những địa ngục, cõi tương đương với người, cõi chư thiên… Cũng có ở đấy sự khổ đau
Trang 31Nếu chúng ta nhìn gốc rễ của khổ đau này, chúng ta sẽ thấy rằng nó có từ sự khác biệt giữa tâm mê lầm và tâm không mê lầm Tất cả những vũ trụ này,
và tất cả những tri giác khác nhau về những cõi khác nhau trong những vũ trụ này, khởi ra từ tâm thức mê lầm Mục đích của Pháp là tìm ra chính xác cái gì là tâm không mê lầm; cái là chân tánh của chúng ta Cái này chúng ta gọi là Phật tánh, hay Phật bên trong
Tất cả tóm lại trong sự khác biệt giữa mê lầm và không mê lầm, giữa khổ đau và hạnh phúc, giữa bám nắm và không bám nắm, giữa tự do và giác ngộ tuyệt đối Đấy là vì sao khi chúng ta bắt đầu nhận những lời dạy, chúng ta cần kiểm điểm lại thái độ của chúng ta, kiểm tra trạng thái tâm thức hiện giờ của chúng ta Nó đang làm gì? Nó đang cảm thấy gì? Nó có phóng dật, hôn trầm, phân tán hay hiện diện và cảnh giác sống động? Nó có sửa soạn để nhận lãnh những giáo lý sâu xa? Mọi sự đều xoay quanh, hay hội tụ nơi cái hiểu biết bên trong của tâm thức
Theo cùng cách có vô số vũ trụ và chúng sanh, chính chúng ta cũng đi qua
vô số tái sanh, những hình thức sống, vô số thân thể, vô số đời… Chúng ta sanh ra lập đi lập lại Vì sao thế? Bởi vì dòng tâm thức của chúng ta hoàn toàn bị điều kiện hóa, bị quy định và phó mặc cho những cơn gió nghiệp và phiền não Tất cả mọi thứ này phát sanh từ tâm thức mê lầm
Có nói rằng sanh tử thì không bắt đầu (vô thủy), nhưng có một chấm dứt trong niết bàn, giác ngộ; và rằng niết bàn giác ngộ thì có một bắt đầu nhưng không có chấm dứt Như người ta không thể xác định điểm bắt đầu cho sanh
tử, người ta cũng không thể xác định điểm bắt đầu của tâm thức Tâm thức mãi mãi làm công việc tự bổ nhiệm của nó là phát sanh những tư tưởng không cùng, cái này đi sau cái trước, những chuỗi xích tư tưởng trói giam chúng ta Ngay chỉ trong một ngày chúng ta cũng không thể đếm được số tư tưởng mà chúng ta có, vì chúng thì vô số Khi chúng ta thử thiền định một lúc, chúng ta thường ngạc nhiên bởi con số tư tưởng tấn công chúng ta, như thể khi chúng ta ngồi thiền thì tư tưởng còn nhiều hơn trong những hoàn cảnh bình thường Nhưng điều này là lầm; chỉ bởi vì khi thiền định chúng ta
Trang 32lần đầu ý thức được rất nhiều tư tưởng mà bình thường chúng ta luôn luôn
có, tâm thức chúng ta ngoài sự kiểm soát biết bao nhiêu và tư tưởng bắt chúng ta làm nô lệ như thế nào
Chắc hẳn vì công việc của những tư tưởng này, vì những tư tưởng tiếp nối nhau này mà chúng ta dấn thân vào những lời nói và hành động, và làm chín nghiệp bằng cách liên tục làm như thế Sức mạnh của nghiệp ấy kéo dài dòng sanh tử và thường trực giữ chúng ta lòng vòng, tái sanh trở đi trở lại trên bánh xe sanh tử Tất cả mọi thứ này căn bản xảy ra là do sự mê lầm của tâm thức Đó là tại sao mục tiêu chính của những giáo pháp này là tìm ra cái
gì là bản tánh của tâm thức không mê lầm, cũng như tâm thức mê lầm làm việc như thế nào
Không chỉ chúng ta, mà vô số chúng sanh đang xoay vòng một cách vô vọng trong vòng lẩn quẩn của sanh tử Họ đang chịu đựng rất nhiều loại khổ đau,
vì cùng lý do ấy Tất cả những khổ đau của họ đều đến từ sự mê lầm của tâm thức Nếu chúng ta muốn tìm một phương thức cho sự ấy, không có phương thuốc nào khác ngoài chân lý là Pháp Nếu nó hiện thân trong bất kỳ phương pháp nào khác thì đó sẽ là thất bại Đây cũng là lí do tại sao tất cả các tôn giáo đều nhắm vào sự thấu hiểu công việc của tâm thức, giải thoát tâm thức khỏi mê lầm của nó, ấy là điều các tôn giáo làm dù trực tiếp hay gián tiếp Dĩ nhiên có vài phương diện mà tôn giáo không rõ ràng nêu ra, “Đây đặc biệt làm việc về tâm thức của bạn, làm lợi lạc cho tâm thức bạn.” Nhưng thật ra, dầu nó nói điều ấy trực tiếp hay gián tiếp, mục tiêu của tất cả tôn giáo là giải thoát tâm thức khỏi sự mê lầm của nó và tìm ra an lạc
Cũng như dù mọi dòng sông trên trái đất đều đổ ra biển thì có một số đi thẳng ra biển, trong khi số khác đi uốn khúc, rồi dọc đường hợp với những sông khác thì cũng thế, dù có nêu ra hay không, chủ đích căn bản thật sự của bất kỳ giáo pháp nào, Phật giáo hay không Phật giáo, đều là chuyển hóa lòng
và tâm và rốt ráo đạt đến giải thoát khỏi mê lầm, sự siêu thoát đích thực Không phải tất cả tôn giáo đều y như nhau, nhưng điều này là điểm thiết yếu của Pháp giải thoát Đôi khi người ta tìm ra những trái ngược rõ ràng trong
Trang 33những diễn tả và những biểu lộ bên ngoài của những tôn giáo khác nhau của thế giới Chẳng hạn trong Phật giáo chúng ta nói rằng là một tội nặng khi giết, lấy đi mạng sống, trong khi trong vài mặt của Hồi giáo và cũng cả trong
Ấn Độ giáo thì những con dê bị hy sinh Nhưng thực sự có nhiều tương đồng hơn là khác biệt Nếu chúng ta khảo sát tất cả tôn giáo thế giới chúng ta thấy điều đó và chúng ta có thể hòa hợp với những nguyên lý thật sự chính yếu của chúng
Tất cả những cách thức diễn tả và biểu lộ khác nhau trong khi người ta tìm kiếm cái tốt đẹp tối thượng của họ đều khởi ra từ tâm thức Sự mê lầm của tâm thức là cực kỳ mạnh mẽ và nắm chặt chúng ta một cách rất chặt chẽ Không dễ dàng giải tan sự mê lầm này của tâm thức, nhưng đó là mục đích chính của sự thực hành Pháp Toàn thể sự khác biệt giữa vô minh và giác ngộ, giữa tự do và nô lệ nằm trong việc tâm thức có bị mê lầm hay không
Cuộc đời bình thường thì giống như một giấc mộng, một ảo ảnh, một tiếng vang Cái chúng ta thường gán cho nhiều quan trọng, và bởi thế sẵn sàng tin vào nó, thì hoàn toàn mê lầm, không bản chất, không thực Nó dễ dàng được bịa đặt ra như những giấc mộng ban đêm của chúng ta Bởi thế, một người
đã thức dậy, đã chứng ngộ, đã vượt khỏi sự mê lầm của tâm thức, thấy trạng thái mê lầm bình thường của chúng ta giống như một giấc mộng, và không
bị nhiếp vào đó Đây là một lý do quan trọng tạo sao người ấy có thể thực sự giúp đỡ và giải phóng cho chúng ta
Cái chúng ta đang sống thì giống như một giấc mộng dài, một giấc mộng dài hơn những giấc mộng bình thường trong giấc ngủ ban đêm, nhưng dầu chỉ mười phút hay kéo dài suốt cả đời, bản chất như huyễn của những giấc mộng chỉ là một thứ như nhau Khi chúng ta thấy biết, trải nghiệm giấc mộng dài của đời này, rồi sau đó khi chết, chúng ta sẽ có một giấc mộng dài khác và trong trạng thái khác của một đời sanh tử Như thế, một giấc mộng dài sẽ theo sau một cái khác, bao giờ mê lầm còn tồn tại
Trang 34
Phẩm tính phi thường của Phật pháp là nó cho chúng ta những phương tiện
để nhận biết rằng cuộc đời này giống như một giấc mộng, nó không có sự hiện hữu chân thật, và tất cả những mục tiêu quy ngã sanh tử của chúng ta là
vô nghĩa và chẳng tạo ra điều gì hữu ích, rằng chúng ta không có bản chất và không có thật tánh Chúng ta không chỉ chứng nghiệm được điều này mà Pháp còn cho chúng ta cơ hội để thấy rằng có một cách thức để xua tan mê lầm của chúng ta và qua những phương tiện thiện xảo, đạt đến sự chứng ngộ tối hậu về Phật tánh, đó là sự giải thoát hoàn toàn khỏi mê lầm, tự do toàn hảo và bình an siêu việt Đây là điều làm cho Pháp thành ra viên ngọc quý báu nhất, viên ngọc của lòng chúng ta, bởi vì nó là phương pháp duy nhất cho chúng ta dịp may nhận biết bản chất mê vọng của thế giới và đồng thời đưa chúng ta vượt khỏi sự mê lầm đó đến chứng ngộ chân thật
Chúng ta hãy lấy ví dụ thân thể chúng ta để hiểu sức mạnh và quyền lực của
mê lầm Vào lúc này, thật tự nhiên với chúng ta là mình có thân thể này; chúng ta yêu quý và bám chấp vào nó một cách lớn lao Sự an toàn tiện nghi
và những cảm giác thích thú của thân thể chúng ta là một mối bận tâm chính của chúng ta, một trong những đối tượng chính cho sự bám chấp và gắn bó Nhưng nếu chúng ta dần dần cố gắng khám phá thân này có ra như thế nào, trở về tuổi thơ của chúng ta, rồi khi chúng ta còn là một em bé, và cuối cùng những hạt giống của cha và mẹ, chúng ta thấy rằng toàn thể thân của chúng
ta bắt đầu từ sự gặp gỡ của hai hạt giống Và sự gặp gỡ ấy xảy ra như thế nào? Chính là bởi sức mạnh của ham muốn, nó đến từ mê lầm của nghiệp quá khứ Bởi vì sự bị quy định thuộc nghiệp hay khuynh hướng này, mà ham muốn có mặt Nó tạo ra một thúc đẩy để nắm lấy đời sống trở lại trong một hiện hữu bị quy định Năng lực tâm thức làm gắn bó hạt trắng và hạt đỏ của cha và mẹ; như thế một chúng sanh ra đời trong một thân thể Rồi thân thể lớn lên; ý thức làm thêm sự cá biệt, tiến hóa và bám chặt vào nó
Sẽ lại đến lúc chúng ta gặp cái chết Điều gì sẽ xảy ra cho thân thể? Nó sẽ lại tan biến vào khoảng không, như khi một cầu vồng tan biến trong bầu trời: khi nó có đó chúng ta có thể thấy năm màu của nó một cách sinh động, nhưng khi nó tan đi, nó không đi xuống thung lũng, nó không đi lên đỉnh núi
Trang 35mà nó chỉ biến mất Thân thể mà chúng ta bám vào quá nhiều sẽ thành ra hư không Chỉ có thức là sẽ tiếp tục, và nó sẽ bị thúc đẩy trở đi trở lại bằng sức mạnh của nghiệp và những khuynh hướng thói quen và những bám níu để tìm kiếm những hạt giống của cha và mẹ và tiếp tục vòng sanh tử này Tuy nhiên mỗi thân thể chúng ta dùng lấy, như những cái bình đất sét, chỉ được tạo thành từ năm đại và lại hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết nhỏ nhất nào
Mọi sự thì vô thường Tất cả mọi cái gì có sanh ra đều chết Do sức mạnh của mê lầm, những thân thể của chúng ta liên tục hình thành và biến mất, tiếp diễn vòng sanh tử không ngừng Cái chúng ta thực sự cần là một chỉ dạy
sẽ có thể đem chúng ta đến một trạng thái không mê lầm và giải phóng chúng ta khỏi vòng sanh tử lẩn quẩn này Đây là tại sao chúng ta cần xoay tâm thức chúng ta vào trong, chú tâm xem xét và và làm việc trên chính tâm thức khi nào chúng ta bắt đầu được nghe hay thực hành Pháp, bởi vì tâm thức là chủ đề chính của những giáo lý Phật giáo
Nếu chúng ta xoay chính tâm thức chúng ta vào để thấy nó làm cái gì, bấy giờ chỉ có ba cách thức của tư tưởng mà tâm thức có thể có Thứ nhất là những tư tưởng tiêu cực: tham, sân, si v.v… Cách thức tiếp theo là những tư tưởng tích cực: bi mẫn, vị tha, lòng tốt, tình thương, ước mong làm chúng sanh được lợi lạc, sùng mộ v.v… Rồi có những trạng thái trung tính, thản nhiên của tư tưởng, như khi chúng ta ngủ say, tự mãn và vô tâm, chúng là những phương diện không tiêu cực cũng không tích cực Không có phạm trù nào khác ngoài ba xếp loại này
Trước tiên chúng ta cần trừ bỏ những tư tưởng tiêu cực, gồm tham, sân, si Chúng ta không cần từ bỏ những tư tưởng trung tính: chúng ta cần chuyển hóa chúng và đưa chúng vào Pháp Và chúng ta phải trau dồi và phát triển những tư tưởng tích cực, sùng mộ và Bồ đề tâm với thái độ giác ngộ Sự thực hành là từ bỏ những tư tưởng, lời nói và hành vi xấu, tiêu cực, chuyển hóa những cái trung tính và tăng trưởng cái tốt, tích cực
Trang 36Khi chúng ta khảo sát những tư tưởng xấu, chúng ta thấy có ba thứ: sự thúc đẩy bám nắm, sự thúc đẩy chối bỏ, và vô minh hay sự tối tăm hẹp hòi của tâm thức Nếu chúng ta khảo sát những cái này, chúng ta thấy rằng tham và sân căn bản được gây ra bởi sự tối tăm của tâm thức hay vô minh Nghĩa là không thấy, không hiểu hay không chứng ngộ thật tánh của sự vật Tham bám, giận ghét, bám nắm, đánh giá, chối bỏ… khởi ra là do thiếu tỉnh giác
về bản tánh chân thật của tâm và những hiện tượng Biết rằng đây là nguyên nhân chính, chúng ta phải tìm ra phương thuốc cho nó, cái đối trị Cái đối trị chắc chắn đến từ sự trau dồi những tư tưởng tích cực như sùng mộ, từ bỏ và
vị tha, Bồ đề tâm lợi lạc, nó mong muốn giải thoát tất cả chúng sanh đến Phật tánh một cách vô ngã
TRƯỞNG DƯỠNG BỒ ĐỀ TÂM
Chúng ta cần trưởng dưỡng Bồ đề tâm như là một phương cách để trừ khử
vô minh căn bản nó tạo ra những tư tưởng tiêu cực Có nhiều giáo lý đề cập đến việc làm sao từ bỏ những tư tưởng tiêu cực và chuyển hóa những tư tưởng trung tính Nhưng bởi vì đây là một chủ đề rộng lớn, chúng ta sẽ chỉ
có một ít lời về Bồ đề tâm quý báu, cội gốc của mọi tư tưởng tích cực
Để thiền định về Bồ đề tâm, trước tiên chúng ta phải có một cái hiểu rất đầy
đủ, bởi vì đây là một chủ đề rộng lớn vô cùng Vì nó liên hệ với sự hiểu biết cái mê lầm phổ khắp của tất cả chúng sanh trong những vũ trụ vô số Không chỉ chúng ta, mà cha mẹ chúng ta và tất cả chúng sanh đã mê lầm từ vô số đời, và vì sự mê lầm ấy, họ đã khổ đau to tát không trừ một ai Bởi thế, sự trưởng dưỡng căn bản Bồ đề tâm đòi hỏi một hiểu biết về tính cách rộng lớn của mê lầm và những khổ đau của chúng sanh Khi người ta ý thức được độ dài rộng vô biên của những đời và những vũ trụ trong đó chúng sanh rơi vào
mê lầm và khổ đau, chỉ lúc ấy những cảm nhận đích thực về lòng bi và những mong muốn giải thoát cho những chúng sanh ấy mới có thể phát triển
Trang 37trong tâm thức chúng ta Như thế, chúng ta cần ý thức độ dài rộng của mê lầm và khổ đau, không phải để trở nên chán chường hay yếm thế, mà để thấy mọi sự như chúng là và để đem lại cái tốt nhất cho chính chúng ta và tất cả chúng sanh ở khắp nơi
Với chúng ta Bồ đề tâm có nghĩa là gì? Bồ đề tâm tiếng Tây Tạng là changchub Từ này có hai nghĩa căn bản Trước hết, chang nghĩa là “làm sạch.” Trong ngôn ngữ giáo pháp chúng ta thường nói “làm sạch hai cái che chướng.” Trong ngôn ngữ bình thường nó có nghĩa là trừ sạch mọi lỗi lầm, vết bẩn, bất toàn và khuyết điểm của tâm thức chúng ta Khi chúng ta nói đến chub, nó có nghĩa là khai triển đến mức rốt ráo mọi phẩm tính bẩm sinh vốn có, hay mọi tiềm năng, trong lòng và tâm Bởi thế, Bồ đề tâm, chang-chub, nghĩa là trừ sạch bất cứ lỗi lầm nào có thể có và khai triển mọi phẩm tính giác ngộ đã vốn có Tạo sao chúng ta nói Bồ đề tâm hay tâm giác ngộ? Bởi vì điểm bắt đầu là cái tâm tối tăm, mê lầm, và điểm kết thúc là tâm giác ngộ Thế nên Bồ đề tâm liên hệ với sự tịnh hóa và sự khai triển rốt ráo của tâm thức
Khi sự tịnh hóa của tâm thức và sự khai triển tất cả những phẩm tính giác ngộ ấy đạt đến điểm rốt ráo thì sự hiện thực hóa tất cả những phẩm tính của tâm và sự gỡ bỏ mọi tấm màn che chướng thì trạng thái này được gọi là Phật, hay Guru Rinpoche, hay Chenrezig hay Quán Thế Âm Không có gì ngoài trạng thái giác ngộ trong đó mọi phẩm tính đã được khai triển, không có chút
mê mờ nào do vô vàn hình tướng, bởi vì tất cả là một bản tánh tinh túy đơn nhất
Tạo sao chúng ta cần thiền định về Bồ đề tâm, tâm giác ngộ? Bởi vì điều kiện giới hạn của chúng ta, sự khổ đau và mê lầm của chúng ta Khi mọi mê lầm đã được trừ sạch, đây là trạng thái được gọi là “Phật tánh”: trạng thái của người đã hiện thực hóa những phẩm tính rốt ráo và đã trừ sạch mọi lỗi lầm Người ta có thể tiến hành từ trạng thái mê lầm bình thường đến trạng thái giác ngộ; đây được gọi là “con đường.” Nhưng bản tánh giác ngộ này hiện ở trong mỗi chúng ta, vì nó là bản tánh chân thật của chúng ta
Trang 38Bản tánh Phật vốn sẵn có này thì giống như bầu trời, như hư không, là nền tảng tâm giác ngộ trong mỗi chúng ta, nó bao la, thanh tịnh và bất biến một cách không khuyết hụt Trong bản tánh tự nhiên và sâu xa này, những phẩm tính của Phật tánh giống như những tia sáng tỏa ra từ mặt trời Sự diễn đạt không thể quan niệm và phong phú những phẩm tính giác ngộ thì giống như đại dương, trong đó mọi ngôi sao và hành tinh đồng phản chiếu Trong cùng một cách, những phẩm tính giác ngộ của Phật đều tự nhiên hiện diện trong mỗi chúng ta Chúng ta chỉ thể hiện chúng, khai mở và khám phá chúng, giải thoát tâm thức chúng ta khỏi mê lầm bằng phương cách thực hành Bồ đề tâm trên con đường
Sự khác biệt giữa tâm không trong sạch và tâm trong sạch, tâm mê lầm và tâm giác ngộ, chủ yếu là sự khác biệt của chật hẹp và rộng mở Trong trạng thái mê lầm hiện thời của chúng ta, tâm thức chúng ta thì cực kỳ chật hẹp Chẳng hạn, chúng ta sống cô độc và hiếm khi, nếu không nói là chưa bao giờ, nhìn xem sự vô biên của chúng sanh Tâm thức càng co rút và chật hẹp, càng chỉ nghĩ đến chính nó, hoàn toàn chẳng để ý gì đến sự an vui, hạnh phúc và những đau khổ của những người khác Ngược lại, Phật giác ngộ là người xem thấy sự vô biên của chúng sanh hơn là lưu tâm tới bản ngã và cá thể của ngài Như thế, toàn bộ con đường là sự mở rộng dần dần của tâm thức, từ một chúng sanh bình thường tới Phật! Và đó chính là cái chúng ta gọi là chang-chub hay sem-kye: nghĩa đen là làm lớn và khai triển thái độ giác ngộ này Khái niệm “làm lớn lên” được dùng ở đây để chỉ sự đi từ một thái độ hoàn toàn chật hẹp, chỉ chủ yếu nhắm vào chính mình, đến một tấm lòng thương yêu rộng mở mà khung cảnh của nó tự động bao trùm vô biên chúng sanh
Khởi từ một thái độ hoàn toàn ích kỷ, chúng ta cần tìm ra một cách thức để rộng mở và phá thủng qua sự chật hẹp bó chặt này Làm sao để chúng ta thực
sự bắt đầu quan tâm một cách thành thật đến sự an vui, của những người khác, nhận ra họ không quá khác với chúng ta? Căn bản, chúng ta có thể tiến hành như thế này: Như một kết quả của sự ích kỷ của chúng ta, chúng ta có một thương mến tự nhiên đối với cha mẹ chúng ta, họ đã cho chúng ta cuộc
Trang 39sống và nuôi nấng chúng ta trong đời này Nếu chúng ta sử dụng cảm giác tự phát đã sẵn có này, chúng ta có thể trải dài nó một cách chầm chậm và tiệm tiến đến những chúng sanh khác Với những phương tiện thiện xảo, trước tiên chúng ta nghĩ đến lòng tốt của mẹ chúng ta sanh ra chúng ta, chăm sóc chúng ta, giáo dục chúng ta v.v… Từ sự cảm kích này đối với lòng tốt của
mẹ chúng ta sẽ khởi lên ước muốn đền đáp lòng tốt của mẹ, và tâm thức sẽ bắt đầu mở ra với thái độ vị tha Lấy nó như là căn cứ, chúng ta có thể chủ động trải rộng sự nồng ấm căn bản này đến thân thuộc và những chúng sanh khác Đây là căn cứ của tiến trình thiền định làm tăng trưởng tình thương cho tất cả chúng sanh
Một trong những bước đầu tiên trong thiền định về Bồ đề tâm là trở nên ý thức đến lòng tốt của những người khác Như Phật đã dạy, điều này bắt đầu bằng sự cảm kích lòng tốt của chính bà mẹ của chúng ta Chẳng hạn, nếu người nào cho chúng ta một trăm đô la hay chở chúng ta đi đến chỗ mình, chúng ta nghĩ người ấy là một người rất tốt Nhưng thật ra điều ấy quá nhỏ
so với lòng tốt của mẹ chúng ta, người đã cho chúng ta thân thể từ chính thịt xương của bà và chăm sóc chúng ta ngày đêm khi chúng ta không thể làm gì được Một khi chúng ta đã được sanh ra, chúng ta không thể tồn tại chỉ mười phút nếu không có mẹ chúng ta thường trực chăm nom chúng ta Như chính đức Phật đã nói rằng trao một quà tặng là một thân thể là một trong những lòng tốt vĩ đại nhất chúng ta có thể tìm thấy trong thế giới Chúng ta cần ý thức và cảm kích lòng tốt này Nếu chúng ta chỉ nghĩ, “Rốt cuộc, điều đó chẳng có nghĩa gì cả Bà làm điều đó cho ích lợi riêng của bà, chỉ sự tốt đẹp riêng của bà,” đó là một sai lầm rất nghiêm trọng Để khai triển Bồ đề tâm, trước tiên chúng ta phải ý thức và biết ơn, và cảm kích lòng tốt bao la của người đã cho chúng ta đời sống này, cũng như người nào khác làm lợi lạc cho chúng ta
Ngay trong thế giới bình thường, một cảm thức chung khi một ai đó làm một điều gì cho chúng ta từ lòng tốt lớn lao của họ, và chúng ta biết ơn và cư xử theo một cách đền đáp lòng tốt của họ, ai cũng nghĩ điều chúng ta làm là đúng Nhưng nếu người nào làm điều gì rất tốt cho chúng ta, và đáp lại
Trang 40chúng ta đối xử với họ theo một cách rất xấu, bấy giờ ai cũng nghĩ chúng ta
là một người xấu
Chúng ta cần bắt đầu cảm kích lòng tốt của những người khác, đặc biệt là của mẹ chúng ta Rồi chúng ta nên nhận thấy rằng qua khắp các đời của mình, không có một chúng sanh nào không từng là mẹ hay cha chúng ta vào một lúc này hay lúc khác Bởi thế, không có lý do gì chúng ta không nên cảm thấy cùng một tình thương và biết ơn tự nhiên mà chúng ta có cho cha
mẹ trong đời này, đối với tất cả chúng sanh Điều này dẫn đến một thái độ bao la, một Bồ đề tâm có cùng một lòng biết ơn đối với mỗi một chúng sanh không phân biệt, và mong muốn cho họ mọi điều tốt đẹp như chúng ta mong muốn mọi điều tốt đẹp cho cha mẹ chúng ta trong đời này
Bởi vì tâm thức có tiềm năng này để trở thành giác ngộ, qua thực hành, tiềm năng lớn lên dần dần Đấy là lý do tại sao Bồ đề tâm có thể bừng nở và trải rộng không bờ Và một khi nó trở nên bao la, nó có năng lực vô biên
Có nhiều điển hình về sức mạnh của lòng bi trong đời những bậc thánh Chẳng hạn có một vị thánh nổi tiếng tên là Libpon Pawo, ngài thiền định về lòng bi trong mọi lúc Một lần nọ, ngài gặp một con cọp cái gần chết đói không thể nuôi sống những con của nó Ngài nghĩ đến việc cho cọp thân ngài Nhưng dù ngài là một bồ tát hoàn hảo, khi đến lúc cho thân thể, ngài cảm thấy một ngại ngần và nghi ngờ tự nhiên Ngài chuyển hóa sự nghi ngờ này thành một sự mở rộng đầy đủ cho khả năng biếu tặng thân thể Để diễn
tả sự nở hoa trọn vẹn này của Bồ đề tâm, lòng bi của ngài, trước khi cho con cọp máu của ngài, ngài dùng chính máu mình viết những câu kệ về cách làm thế nào khai triển Bồ đề tâm trên đá Những câu kệ này còn được tìm thấy trong tạng Tengyur Rồi ngài cho những con cọp thân thể mình
Một bồ tát Tây Tạng thế kỷ thứ mười một, một hóa thân của ngài Shantideva
có tên là Gyalse Ngulchu Thomay đã soạn ra Ba Mươi Bảy Thực Hành Của
Bồ Tát rất nổi tiếng nơi ẩn tu của ngài, tất cả thú vật đều sống trong hòa bình với nhau Ngay cả chó sói và cừu cũng chơi đùa với nhau, cho dù chúng thường là những kẻ thù hung tợn của nhau Đây bởi vì sự thiền định liên tục