1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN kết THÚC học PHẦN môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG về LUẬT dân sự, tài sản và THỪA kế PHÂN CHIA DI sản THEO DI CHÚC

16 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 30,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc định đoạt tài sản của người lập di chúc vi phạm với những quy định của pháp luật có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của một số người khác dẫn đến sự bùng phát tranh chấp v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC

Người thực hiện:Trần Thị Minh Thư MSSV: 2053801015130

Lớ p:122-AUF45

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

download by : skknchat@gmail.com

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

PHẦN 2: NỘI DUNG 1

1.2 Các đặc trưng của di chúc 2

2.2 Hình thức của di chúc 3

2.3 Nội dung của di chúc 4

2.4 Nội dung cụ thể của di chúc 5

CHƯƠNG II: CÁC HÌNH THỨC THỪA KẾ DI SẢN 5

1 Thừa kế theo di chúc 5

1.1 Người thừa kế theo di chúc 5

1.2 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 6

2 Thừa kế theo pháp luật 6

2.2 Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường hợp (khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 7

2.3 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng với các phần di sản (khoản 2 Điều 7

CHƯƠNG III : PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC 8

1.Phương thức phân chia di sản theo di chúc 8

2 Phân chia di sản 9

2.1 Trường hợp có di tặng 9

2.2 Trường hợp có di sản dùng vào việc thờ cúng 10

2.3 Trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 11

MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong số những nội dung quan trọng của chế định thừa kế là quy định về phân chia di sản theo di chúc Có thể nói, di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan hệ dân sự về thừa kế Mục đích cuối cùng của việc tranh chấp thừa kế cũng là xác định đúng khối tài sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế theo đúng kỳ phần mà người thừa kế có quyền hưởng

Thực tế cho thấy, việc xác định di sản thừa kế cũng như việc phân chia di sản thừa kế luôn là hai yếu tố quan trọng đối với vấn đề thừa kế theo di chúc Nếu không hiểu rõ những quy định của pháp luật về xác định di sản thừa kế hay cách phân chia di sản, thì việc xảy ra tranh chấp giữa các chủ thể nhận thừa kế là rất phức tạp trong việc giải quyết tranh chấp đó Việc định đoạt tài sản của người lập di chúc vi phạm với những quy định của pháp luật có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của một số người khác dẫn đến sự bùng phát tranh chấp và hệ luỵ là những vụ kiện tranh chấp bị kéo dài, không dứt điểm

Thêm vào đó, hệ quả của những vụ tranh chấp này không chỉ dẫn tới hệ lụy là những vụ kiện tụng kéo dài mà còn dẫn tới những yếu tố trái với đạo đức xã hội, những tranh chấp không đáng có những thành viên trong gia đình và những người quyền lợi liên quan làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chuẩn mực đạo đức và giá trị cốt lõi trong văn hoá ứng xử lâu đời của người dân Việt Nam

Qua những phân tích trên và cũng xuất phát từ thực tiễn là các tranh chấp thừa kế

có xu hướng ngày càng tăng với tính chất phức tạp, tác giả quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu trong bài tiểu luận kết thúc học phần Bằng kiến thức nhất định và khả năng tiếp thu trong quá trình học tập, phương pháp đánh giá và tư duy, bài tiểu luận này sẽ đưa

ra những phân tích cụ thể và cần thiết cho những nội dung cần nghiên cứu trong đề tài

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG I : DI CHÚC

1 Khái niệm di chúc

1.1 Khái niệm di chúc

Di chúc là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống dân sự và là một khái niệm khoa học pháp lý

download by : skknchat@gmail.com

Trang 4

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.1 Di chúc là sự thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc do vậy pháp luật thừa kế thể hiện sự tôn trọng và bảo hộ ý nguyện cuối đó của người lập di chúc trong việc xác định và phân chia di sản của người quá cố cho những người thừa kế được chỉ định hưởng di sản trong di chúc

1.2 Các đặc trưng của di chúc

Di chúc là cơ sở quan trọng để thể hiện ý chí của người đã chết nhằm chuyển tài sản riêng của mình cho người khác và cũng là cơ sở quan trọng để xác định được chủ thể nhận di sản thừa kế cũng như là cơ sở để xác lập quyền sở hữu của chủ thể nhận di sản thừa kế đối với di sản thừa kế Chính vì vậy, bản thân di chúc có những đặc trưng để phân biệt di chúc với các giao dịch dân sự khác

- Ý chí cá nhân của người lập di chúc, di chúc phải là ý chí của người lập di chúc

khi còn sống, nếu một văn bản được cho là di chúc nhưng không thể hiện được ý chí cá nhân của người này thì không phải là di chúc và “di sản trong văn bản đó được chia theo pháp luật”.2

- Thể hiện mục đích dịch chuyển tài sản, trong nội dung của văn bản được cho là di

chúc của người quá cố phải thể hiện được ý định dịch chuyển tài sản và hệ quả phát sinh quyền sở hữu đối với người khác

- Phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết, di chúc được lập trước khi người để

lại di chúc chết và được phát sinh hiệu lực khi người lập chết

- Không cần sự chấp thuận của người thụ hưởng, đây một trong những là điểm khác

biệt giữa di chúc và hợp đồng ( là một cam kết giữa hai hay nhiều bên) Vì vậy, theo những khái niệm về di chúc, người lập di chúc “không quan tâm đến việc người hưởng di sản mà họ định đoạt trong di chúc có nhận hay không nhận di sản thừa kế”3

1.3 Xác định sự tồn tại hay không tồn tại của di chúc

Di chúc là một giao dịch rất đặc thù vì vậy việc phân biệt di chúc với những giao dịch khác như hợp đồng mua bán, uỷ quyền quản lý tài sản 4hay tặng cho tài tài sản Nhất là

1 Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015

2 Đỗ Văn Đại (2019), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 1, tr.305

3 Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (chủ biên): Bình luận khoa học BLDS 2015, Nxb Công an nhân dân 2017,tr.985

4 Xem Điều 616 và Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác định người được chỉ định trong di chúc để quản lý di sản

Trang 5

tặng cho tài sản vì di chúc và tặng cho có điểm tương đồng: đều là giao dịch nhằm

chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác mà người thụ hưởng thông thường không phải đền bù 5

Để phân biệt được di chúc hay tặng cho cần dựa vào một số tiêu chí đánh giá cụ thể Một trong những đặc điểm của di chúc là chuyển quyền sở hữu tài sản nên qua yếu tố này

có thể phân biệt di chúc với giao dịch khác như uỷ quyền hay chỉ định người quản lý di sản Tuy nhiên, đặc điểm này không cho phép phân biệt di chúc với tặng cho, không cho phép khẳng định một giao dịch là di chúc hay tặng cho vì tặng cho cũng nhằm chuyển dịch tài sản ( quyền sở hữu) từ người này sang người khác Một đặc điểm nữa của di chúc

là di chúc có thể tồn tại khi người thụ hưởng không biết hay không chấp nhận di chúc Đây có thể coi là một dấu hiệu phân biệt tặng cho với di chúc vì, để có tặng cho tồn tại, người thụ hưởng phải chấp nhận tặng cho khi người tặng cho còn sống

2 Các điều kiện có hiệu lực của di chúc

2.1 Điều kiện liên quan đến người lập di chúc

Theo Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1) Người đã thành niên

có quyền lập di chúc ( ) 2) Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” Như vậy, căn cứ vào tuổi thì không phải ai cũng lập di chúc về nguyên tắc chỉ những người đã thành niên mới có thể lập di chúc Người chưa đủ mười tuổi nhưng đã đủ mười lăm tuổi được lập

di chúc nhưng với điều kiện có sự đồng ý của “cha mẹ hoặc người giám hộ” khi tài sản sản được định đoạt trong di chúc có giá trị Đối với người đã thành niên, không phải ai cũng có thể lập di chúc Theo Bộ luật Dân sự, “người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình” không có quyền lập di chúc ( khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự năm 2005) và “di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây”: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép” (điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015)

2.2 Hình thức của di chúc

Di chúc là một hành vi pháp lý quan trọng đối với người để lại di sản cũng như đối với người thừa kế của người để lại di sản Hình thức của di chúc là phương thức

5 Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên

được tặng cho đồng ý nhận”

download by : skknchat@gmail.com

Trang 6

biểu đạt ý chí của người lập di chúc, là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế

theo di chúc.Do đó, pháp luật cũng có một số yêu cầu về hình thức đối với di chúc

Di chúc phải được lập thành văn bản đối với di chúc bằng văn bản gồm: (i) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; (ii) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; (iii) Di chúc bằng văn bản không có công chứng; (iv) Di chúc bằng văn bản có chứng thực ( Điều 633, Điều 634, Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2015)

Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể thực hiện di chúc miệng Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể dùng di chúc miệng

Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ 6

2.3 Nội dung của di chúc

- Có nội dung không vi phạm điều cấm của luật

Điểm b khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội” Theo quy định này, khi người để lại di sản thực hiện quyền lập di chúc của mình chỉ cần đảm bảo không vi phạm những quy định của luật không cho phép người lập di chúc thực hiện Đối với hoạt động xác lập di chúc, Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định trường hợp nào cấm, không cho phép thực hiện Do vậy, điều kiện nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật7 cần hiểu theo hướng các điều khoản tổng hợp ý chí của người lập di chúc không rơi vào các trường hợp cấm được liệt kê trong các văn bản luật cụ thể 8

- Có nội dung không trái với đạo đức xã hội

Theo quy định của Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, “đạo đức xã hội là chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” Về quy định này, có quan điểm cho rằng: “Việc lập di chúc có nội dung không trái pháp luật của một người mới chỉ là việc họ thực hiện bổn phận của công dân Ngoài bổn phận của công dân,

họ còn phải thực hiện bổn phận làm người Đạo làm người đòi hỏi các cá nhân khi lập di chúc phải luôn luôn hướng tới phong tục, tập quán, truyền thống nhân bản và tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng gia đình cũng như cộng đồng dân

6 Khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015

7 Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015

8 Hoàng Thị Loan (2021), Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bài viết được đăng tải

trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10 (434), tháng 5/2021.

Trang 7

tộc”9 Vì vậy, việc lập di chúc ngoài tuân thủ quy định của pháp luật, nội dung của di chúc còn không được trái đạo đức xã hội

2.4 Nội dung cụ thể của di chúc

Theo khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra 4 loại nội dung của di chúc như nội dung về thời gian lập di chúc, nội dung về người để lại di sản, nội dung về người hưởng di sản và nội dung về di sản Trong quá trình xây dựng điều luật cho thấy đây vẫn là các nội dung bắt buộc của di chúc và khoản 2 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm

2015 củng cố nhận định vừa nêu vì có nội dung như sau “Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác” Ở đây khoản 2 theo hướng các nội dung khác “có thể có” nên chúng ta đã được phép suy luận rằng nội dung trong khoản 1 không thuộc trường hợp “có thể có” mà thuộc trường hợp “phải có”10

Ngoài những điều khoản được nêu trên, điều khoản về phân định di sản thừa

kế trong di chúc không được liệt kê trong khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng đây là điều khoản rất quan trọng Nó tạo rõ ràng khác biệt với trình tự phân chia

di sản thừa kế theo pháp luật Về nguyên tắc, hưởng di sản thừa kế theo pháp luật là hưởng bằng nhau Hưởng di sản thừa kế theo di chúc là khác nhau vì tuỳ thuộc vào ý chí của người để lại di sản Chính vì vậy, dù là định đoạt bằng nhau

hay định đoạt khác nhau thì di chúc cần phải có điều khoản phân định phần giá

trị di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng để định hướng phân chia cụ thể11

CHƯƠNG II: CÁC HÌNH THỨC THỪA KẾ DI SẢN

1 Thừa kế theo di chúc

1.1 Người thừa kế theo di chúc

Thừa kế di sản theo di chúc là sự thể hiện ý chí nguyện vọng của người để lại di sản chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết Người nhận di sản thừa kế là những người có quyền nhận di sản do người chết để lại theo sự định đoạt trong di chúc Người thừa kế theo di chúc có thể là người trong hàng thừa kế hoặc cơ quan, tổ chức và kể cả Nhà nước Những người thừa kế cần phải có các điều kiện được quy định

ở Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể là: Người thừa kế là cá nhân phải còn sống

9 Phạm Văn Tuyết (2003), Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luận án tiến sĩ luật học,

Trường

Đại học Luật Hà Nội, tr.94

10 Đỗ Văn Đại (2019), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật

gia Việt Nam, Hà Nội, tập 1, tr.355

11 Hoàng Thị Loan (2021), Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bài viết được đăng tải

trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10 (434), tháng 5/2021.

Trang 8

download by : skknchat@gmail.com

Trang 9

vào thời điểm mở thừa kế, người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì họ vẫn là người thừa kế theo di chúc của người để lại di chúc Trong trường hợp người thừa kế là pháp nhân thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, vì nếu pháp nhân chấm nhất hoạt động đồng nghĩa với việc pháp nhân không còn tư cách hưởng di sản

1.2 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Liên quan đến quyền định đoạt của người lập di chúc Trước khi chết, người lập di chúc có quyền định đoạt phần tài sản riêng của mình trong di chúc theo ý chí đơn

phương của họ nhưng không hoàn toàn tự do trong việc định đoạt vì một trong những giới hạn để hạn chế quyền tự do định đoạt của người lập di chúc là chế định “người thừa

kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”

a) Chủ thể thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc chỉ bao gồm “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng”

và “con đã thành niên mà không có khả năng lao động”

b) Điều kiện hưởng thừa kế bắt buộc

Theo điều khoản trên, không phải chủ thể nào là con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất khả năng lao động , cha, mẹ, vợ hoặc chồng cũng đều đương nhiên thuộc diện thừa kế này, mà còn phải kèm thêm điều kiện là họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó; trừ khi họ thuộc diện không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Như vậy, không phải ai trong hàng thừa kế thứ nhất cũng được hưởng thừa

kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà chỉ có một số người thuộc hàng thừa

kế thứ nhất được bảo vệ bởi chế định này

Có thể coi Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 là sự can thiệp của các nhà làm luật, nên giữa việc xem xét chủ thể thuộc diện thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc hay còn gọi là người thuộc diện thừa kế bắt buộc với chủ thể thuộc diện hưởng thừa

kế theo pháp luật có những nét tương đồng nhất định.12

2 Thừa kế theo pháp luật

12 Vũ Hùng Đức (2015), Hướng sửa đổi quy định về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong Bộ Luật Dân sự 2005, Tạp chí khoa học pháp lý 5(90)/2015.

download by : skknchat@gmail.com

Trang 10

Thừa kế theo pháp luật của di chúc là “thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện

và trình tự thừa kế do pháp luật quy định“ ( Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015)

2.2 Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường

hợp (khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015

a) Không có di chúc.

Đây là trường hợp người quá cố chết mà không để lại di chúc và trường hợp này rất phổ biến

b) Di chúc không hợp pháp

Khi người quá cố có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp thì đây cũng là trường hợp thừa kế theo pháp luật Theo một tài liệu, “khi di chúc không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định của Điều 630 BLDS và những điều kiện chung của một giao dịch dân sự theo Điều 117 BLDS sẽ bị coi là di chúc không hợp pháp” 13

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không

còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Trong thực tế có xảy ra trường hợp người quá cố để lại di chúc và di chúc này hợp pháp (không vi phạm quy định) nhưng di sản có thể được chia theo pháp luật Đó là trường hợp người thừa kế (có thể là cá nhân, tổ chức) không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Ở điều khoản này thì điểm c khoản 2 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì

“Thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản sau đây: “Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản”

2.3 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng với các phần di sản (khoản 2 Điều 650

Bộ luật Dân sự năm 2015)

* Xác định phần di sản thừa kế theo pháp luật

● Toàn bộ di sản

Thừa kế theo pháp luật có thể được áp dụng cho toàn bộ tài sản của người quá cố qua các trường hợp sau đây:

13 Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (chủ biên): Sđd,tr.1001

Ngày đăng: 08/04/2022, 08:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w