See discussions, stats, and author profiles for this publication at https //www researchgate net/publication/330009782 EUREKA2018 XAY DUNG KHUNG PHAP LY CHO PHEP NGUOI CHET SINH CON END pages 1 16,29[.]
Trang 1Some of the authors of this publication are also working on these related projects:
Property law exercise View project
Hai Doan
Ho Chi Minh City University of Economics and Law
7PUBLICATIONS 1CITATION
SEE PROFILE
Trang 2ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
Trang 3ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng nhóm Các số liệu, kết quả nêu trong bài nghiên cứu là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định Những kết luận khoa học của bài nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 5
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BẢNG THỐNG KÊ ÁN LỆ THAM KHẢO
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA LẦN THỨ XX NĂM 2018
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NGƯỜI CHẾT SINH CON 20
1.2 Một số khái niệm - khía cạnh y học liên quan đến vấn đề người chết sinh con 25
Trang 61.2.1.2.Thủ thuật tiêm trực tiếp tinh trùng vào trong trứng 29
1.2.2 Thủ tục giải quyết việc cho phép PMSR từ góc độ y học - Mối liên hệ giữa
1.2.2.2 Mối liên hệ giữa thời gian lấy tinh trùng và sức khỏe của đứa trẻ được sinh
1.3.2 Bình luận một số khía cạnh pháp lý liên quan đến việc người chết sinh con từ
1.4 Bàn luận về những vấn đề pháp lý trong trường hợp người chết sinh con đầu tiên
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 65 CHƯƠNG 2: CÁC LÝ THUYẾT PHÁP LÝ NỀN TẢNG LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NGƯỜI CHẾT SINH CON - NHẬN THỨC NHU CẦU CẢI CÁCH, XÂY DỰNG KHUNG PHÁP
LÝ Ở VIỆT NAM 66
2.1.1 Quyền tự định đoạt của người chết tiếp cận theo quan điểm lý thuyết ích lợi 66
2.2 Sự thiếu hụt pháp luật ở Việt Nam và nhu cầu cải cách pháp luật điều chỉnh PMR 79
2.2.1.1.Những vấn đề chưa rõ ràng và không hợp lý trong khung pháp luật điều
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 109 CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH PHÁP LUẬT 111
Trang 73.1.1.1.Sự bảo thủ của Pháp về việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và những rắc
3.2.1 Kiến nghị xây dựng pháp luật liên quan đến tinh trùng và việc sử dụng tinh
3.2.2 Kiến nghị về bảo vệ quyền nhân thân của đứa trẻ sinh ra bằng PMR và hạn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 149 KẾT LUẬN CHUNG 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: MẪU HỎI NHÓM ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CÓ CHUYÊN MÔN
PHỤ LỤC 2: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU KHẢO SÁT NHÓM ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CÓ CHUYÊN MÔN
PHỤ LỤC 3: MẪU HỎI Y KHOA
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NGƯỜI CÓ CHUYÊN MÔN
PHỤ LỤC 5: MÔ HÌNH PHÂN TÍCH TOÀN CỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bảo quản mô tinh hoàn TTC (Testicular Tissue Cryopreservation)
Bảo quản tinh trùng đông lạnh CP (Cryopreservation)
Công ước Châu Mỹ về loại trừ tất cả
hình thức phân biệt đối xử lên người bị
Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh
tế, Xã hội và Văn hoá
ICESCR (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights)
Công ước về quyền của người khuyết
Trang 9Hôn nhân và Gia đình HNGĐ
Kích thích mô tinh hoàn TESA (Testicular sperm aspiration)
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ART (Assistant reproduction technology)
Lấy tinh trùng từ mào tinh bằng vi
Sinh con sau khi chết PMR (Postmortem reproduction)
Tế bào gốc tinh trùng SSC (Spermatogonial stem cell)
Thủ thuật tiêm trực tiếp tinh trùng vào
Thủ thuật trích tinh trùng SSR (Surgical Sperm Retrieval)
Thụ tinh nhân tạo AI (artificial insemination)
Thụ tinh trong ống nghiệm IVF (In vitro fertilization)
Thụ tinh trong tử cung IUI (Intrauterine insemination)
Tòa án Nhân quyền Châu Âu ECtHR (Europe Court of Human Rights)
Tòa án liên châu Mỹ về Nhân quyền IACtHR (Inter-American Court of Human
Rights)
Toà án Nhân quyền Châu Phi ACtHPR (African Court of Human and
Peoples Rights)
Trang 10Tổ chức Y tế Thế giới WHO (World Health Organization)
Trích xuất mô tinh hoàn TESE (Testicular sperm extraction)
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền UDHR (Universal Declaration of Human
Rights)
Ùy ban Nhân quyền HRC (Human Rights Committee)
Ủy ban về các quyền Kinh tế, Xã hội
Trang 11BẢNG THỐNG KÊ ÁN LỆ THAM KHẢO
ECtHR
1 Demir and Baykara Demir and Baykara v Turkey -
6 Jäggi v Switzerland Jäggi v Switzerland, no 58757/00,
judgment of 3 July 2003
7 Mamatkulov and Askarov v Turkey Mamatkulov and Askarov v Turkey,
Application Nos 46827/99 and 46951/99, 4 February 2005
8 Mennesson v France Mennesson v France, no 65192/11,
judgment of 26 June 2014,ECHR 2014
và Labassee v France, no 65941/11, judgment of 26 June 2014
9 S.H and Others v Austria S.H and Others v Austria, no
57813/00, judgment of 3 November
2011
IACtHR
1 Artavia v Costa Rica Artavia Murillo et al (“In vitro
fertilization”) v Costa Rica judgment of November 28, 2012
2 Atala Riffo and daughters v Chile Atala Riffo and daughters v Chile
judgment of February 24, 2012
Trang 123 Nadege Dorzema v Dominican Nadege Dorzema et at v Dominican
Republic Judgment of October 24, 2012 Các Tòa án nội địa
5 Hecht v The Superior Court of Los
Angeles county vào năm 1993
Mỹ
6 Regina v Human Fertilisation and
Embryology Authority (HFEA),
exp Blood, 1997
Anh
Trang 13TÓM TẮT CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC EURÉKA LẦN THỨ XX NĂM 2018
Thế giới trong những năm vừa qua đã chứng kiến nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực kỹ thuật sinh học Kỹ thuật cho phép người đã chết có thể duy trì nòi giống dựa trên thụ tinh nhân tạo, đông lạnh, cấy ghép phôi tinh trùng và rất nhiều liệu pháp y khoa khác là một trong số đó Kỹ thuật này có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong việc giải quyết nhiều vấn đề của xã hội như đáp ứng cân bằng, ổn định, giữ vững và tạo lập một
cơ cấu dân số hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội, mở rộng khả năng thụ hưởng quyền của con người,… nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho xã hội do sự thay đổi cấu trúc của những thiết chế truyền thống, sự thiếu đồng bộ giữa thực tế xã hội và pháp luật, những sự tranh luận của xã hội về tính đạo đức, xã hội của vấn đề Sự thiếu đi những lý luận xã hội, pháp lý để định hướng cho việc áp dụng những tiến bộ khoa học nói chung và kỹ thuật cho phép người chết sinh con cũng là một trở ngại không nhỏ để giải quyết những thách thức đã và đang tồn tại Dù rằng những chướng ngại, mâu thuẫn về các thành tựu khoa học nói chung không thể được nhìn thấy một cách phổ quát với phần đa xã hội nhưng có thể khẳng định, nó thực sự là một chủ đề nóng hổi trên thế giới hiện nay với ngày càng nhiều hơn những tranh chấp,
vụ kiện được giải quyết ở mức độ tòa án quốc gia (Đặc biệt là ở những quốc gia có trình độ phát triển cao về mặt khoa học) cũng như ở mức độ các thiết chế quốc tế như ECJ (European Court of Justice), ECtHR, IACtHR, ACtHPR,… những tranh chấp này trên bình diện thế giới vốn dĩ cũng đã rất phức tạp do sự khác biệt từ góc nhìn triết học, xã hội, tôn giáo, văn hóa, đạo đức và như đã nói, kỹ thuật cho phép người chết sinh con cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó Chính điều đó đã tạo nên sự hứng thú đối với các học giả để bắt tay nghiên cứu, tìm tòi và khai phá những vấn đề vốn đang được chôn giấu Ở Việt Nam “Người chết sinh con” lần đầu tiên xuất hiện vào năm
2013 và ở thời điểm đó đã thu hút được sự chú ý của một bộ phận nhất định xã hội Tuy có nhiều cuộc tranh luận và sự việc cuối cùng cũng đã được giải quyết với một cái kết vô cùng có hậu thế nhưng nhiều vấn đề đã không được giải quyết triệt để Về mặt nghiên cứu, có rất ít công trình nghiên cứu về khía cạnh pháp lý của những vấn đề về khoa học kỹ thuật nói chung và người chết sinh con nói riêng, những nghiên cứu đã có cũng chỉ mang tính đơn lẻ, thiếu hẳn đi tính hệ thống và tính chuyên sâu Về mặt thực tiễn pháp luật, dù nhà làm luật đã có nhiều sự quan tâm thế nhưng do những yếu tố
Trang 14khách quan (do các văn bản luật quan trọng đã được soạn thảo hoặc đã và đang trong giai đoạn cuối như Hiến pháp 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014) và chủ quan (do
sự thiếu sót về kỹ thuật lập pháp, sự bối rối do thiếu hẳn đi những công trình nghiên cứu bài bản để định hướng, hỗ trợ) mà những sự thay đổi, hoàn thiện là vô cùng hạn hữu
Nhận thức được những điều trên, nhóm nghiên cứu đã bắt tay vào nghiên cứu
đề tài này Bằng việc áp dụng, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như điều tra xã hội học, giải thích luật viết, bình luận (gồm những vấn đề từ chung nhất đến cụ thể
như lý lẽ trong một số bản án, điều luật …) nhóm nghiên cứu đã cho ra đời đề tài “Xây
dựng khung pháp lý cho phép người chết sinh con” đề tài đã đi sâu vào giải quyết
nhiều vấn đề từ xã hội tới pháp lý, từ lý luận tới thực tiễn bao gồm: định nghĩa và phản ánh tính biến đổi của cấu trúc gia đình, vai trò của gia đình, những khái niệm về y khoa có liên quan và có ý nghĩa trong việc mở rộng khả năng áp dụng của kỹ thuật, nhìn nhận việc sinh con, sinh con với người chết (sẽ chết) như một quyền của con người thông qua các công ước về nhân quyền, làm rõ những thiếu sót về mặt kỹ thuật của các bản hiến pháp về khía cạnh này và bình luận những nguyên nhân khả dĩ Bình luận các phán quyết trước các tòa án về nhân quyền và ý nghĩa của việc nhìn nhận này trong khuôn khổ của những thiết chế sẵn có; đưa ra các lý thuyết cơ bản để xây dựng khung pháp lý đã tồn tại trên thế giới qua đó soi chiếu những điểm còn hạn chế của pháp luật Việt Nam sau đó đưa ra các kiến nghị xây dựng pháp luật dựa trên góc nhìn pháp luật so sánh Với cấu trúc 3 chương, đề tài đi từ những vấn đề chung đến những vấn đề cụ thể xoay quanh nhiều vấn đề pháp lý khác nhau và logic đó cũng đồng thời được xây dựng trong mỗi vấn đề pháp lý Nhóm tác giả hy vọng, đứa con tinh thần của mình sẽ có nhiều đóng góp về mặt lý luận pháp luật cũng như khả năng áp dụng cao trên thực tế
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Gia đình là một thiết chế của xã hội trong đó sinh sản là một trong những nhiệm
vụ chính của nó Tự bản thân việc sinh con và kế tục là những lẽ tuân theo quy luật của
tự nhiên mà trong đó sinh con là bản năng của muôn loài nhưng kế tục ý chí, truyền thống thì chỉ có con người mới làm được Ngoài ý nghĩa kế thừa, gia đình còn là một nguồn động lực về tinh thần to lớn và do đó, việc duy trì gia đình, tái sinh sản các thế
hệ không chỉ mang ý nghĩa như là một nhiệm vụ phải làm mà là cách những người làm cha mẹ tìm lấy niềm vui và lý lẽ cho cuộc sống của mình Có thể nói, con cái luôn là niềm hạnh phúc lớn nhất của cha mẹ Với tình yêu thương vô bờ bến dành cho con cái, với ý nghĩa lớn lao của gia đình, các bậc làm cha, mẹ, các nhà hoạch định chính sách luôn có nhiều trăn trở Những trăn trở này đi từ mức độ vi mô như việc cha mẹ suy nghĩ cách phải chăm con như thế nào đến việc nhà nước tạo ra các chính sách về dân
số, phúc lợi ra sao Tựu trung bản chất đều là để tạo ra một không khí gia đình ấm cúng, cuộc sống no đủ với những đứa trẻ ngoan ngoãn và đầy triển vọng ở tương lai Trong suốt chiều dài của văn minh nhân loại, mô hình gia đình hầu như rất ổn định và chuyện xác định cha mẹ con, hưởng di sản có lẽ là một trong những điều mà các nhà làm luật từ ngàn xưa nghĩ đến đầu tiên và luôn được các thế hệ sau thừa hưởng
Từ thế kỷ 18, 19 khi xã hội tiến bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mọi mặt của đời sống vật chất, tinh thần đều được cải thiện song các mối đe dọa
về sức khỏe, sinh mạng cũng nhiều hơn các thế kỷ trước Công nghiệp phát triển ở thế
kỷ 18 cũng đánh dấu cho sự suy giảm chất lượng của môi trường tự nhiên mà hậu quả
là con người phải trả giá bằng sức khỏe, sinh mạng của mình Ở các nước đang phát triển như Việt Nam hay nước phát triển nền công nghiệp nặng nhưng có trình độ xử lý chất thải kém như Trung Quốc thì vấn nạn môi trường trở nên ngày càng trầm trọng bởi khả năng ung thư do khói bụi độc hại là rất cao Sự ô nhiễm môi trường kéo theo
hệ lụy là ô nhiễm nguồn nước, nguồn thức ăn Các chất hóa học được những kẻ vì lợi nhuận thêm vào để làm cho nguồn thức ăn dơ bẩn trở nên tươi hơn ngon hơn dẫn đến tăng cao khả năng mắc bệnh ung thư, vô sinh Tai nạn giao thông cũng là kẻ thù đe dọa các trật tự của gia đình Chỉ trong năm 2017, chỉ riêng hai vấn nạn này đã khiến
Trang 16cho hơn 100.000 người chết (126.000 người mắc ung thư mới, 94.000 người chết vì
ung thư và gần 9000 người chết vì tai nạn giao thông) Bên cạnh đó, có thể kể tới rất
nhiều đại dịch lớn trong các thế kỷ gần đây, các căn bệnh chết chóc như HIV, ung thư, đột quỵ, tai biến mạch máu não Trong suốt những năm qua, đất nước ta đã và đang trải qua giai đoạn vàng của dân số góp phần không nhỏ vào tăng trưởng chung của cả nước Thế nhưng sự kết hợp của nhiều yếu tố như đã đề cập đang đe dọa cấu trúc dân
số và gây ra áp lực làm già hóa dân số, ảnh hưởng tới phúc lợi của xã hội và kế tục các truyền thống Để làm rõ hơn lập luận vừa rồi, nhóm tác giả minh họa bằng một ví dụ, một gia đình có một con, chẳng may đứa con này chết đi vì tai nạn giao thông Như vậy giả sử quy mô dân số (giả sử chỉ tính trên gia đình đó) là 3 người thì sau vài mươi năm sẽ bằng 0 chưa kể tới gánh nặng phúc lợi trong suốt quá trình đó Mở rộng phạm
vi, có thể thấy sự giảm sút về dân số là nghiêm trọng và gây tác động vô cùng to lớn
Mặc dù như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ mà đặc biệt là các công nghệ sinh học ở thế kỷ 21 đã cung cấp cho con người nhiều giải pháp hơn Ngày xưa, một người bị nhiễm HIV ở giai đoạn cận kề cái chết hầu như không còn có
cơ hội có con bởi lẽ khả năng truyền bệnh quá cao Những người đang điều trị ung thư cũng vậy Dư lượng xạ trị, hóa trị khiến họ phải cách ly hoàn toàn với những người xung quanh và do đó quyền tự nhiên của họ cũng bị tước đoạt Với khoa học kỹ thuật,
con người đã có thể làm những việc mà ngày xưa tưởng là “vớt trăng nơi đáy nước”
Dù có thể cung cấp được những giải pháp khả dĩ nhưng những giải pháp này đã làm cho cách nhìn nhận và điều chỉnh từ ngàn xưa đã bị thách thức nghiêm trọng Ví dụ như vấn đề xác định con chung chẳng hạn
Cuối năm 2013, đã có trường hợp đầu tiên người vợ ứng dụng công nghệ sinh học để sinh con với người chồng của mình Trường hợp này đã làm xôn xao cả những nhà chuyên môn về y học, luật học lẫn cộng đồng Luật HNGĐ ra đời sau đó khoảng 6 tháng đã bỏ ngõ việc điều chỉnh vấn đề trên Sẽ là một điều vô cùng bất hạnh nếu việc tiến hành những liệu pháp y khoa mà dẫn tới việc đứa trẻ không được pháp luật thừa nhận là con chung cũng như là không được hưởng bất cứ tài sản nào từ người cha bởi
lẽ, việc thừa kế, về mặt bản chất, không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn cả về mặt tinh thần Ngoài ra, đâu đó còn có những trường hợp
mà người đã chết có ý nghĩa vô cùng to lớn với những người thân Họ mất đi để lại sự
quạnh quẽ, cô đơn và trống vắng nơi “mái ấm” Khát khao tìm cho mình hạnh phúc là