Hiệu quả kinh doanh là kết quả của quá trình lao động của con người, là kết quảtài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thểtồn tại và phát triển, l
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trước đây trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mọi hoạt động của doanhnghiệp đều phải tuân theo kế hoạch của nhà nước giao Ba vấn đề cơ bản của sản xuấtkinh doanh là sản xuất cái gì?, sản xuất cho ai? và sản xuất như thế nào? đều do nhànước chỉ định sẵn chứ doanh nghiệp không có quyền chủ động xây dựng Do vậy cácdoanh nghiệp thường không coi trọng hiệu quả kinh tế và hạch toán kinh tế chỉ là hìnhthức
Khi có chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhànước thì mọi doanh nghiệp phải tự chủ về mặt tài chính, tự xây dựng phương án kinhdoanh, tự tìm đầu vào và đầu ra, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp mình Dưới tác động của quy luật kinh tế trong cơ chế thị trường, cácdoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải sử dụng các nguồn lực của mình mộtcách có hiệu quả nhất, coi hiệu quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu, thực sự chú trọnghạch toán kinh tế, đảm bảo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lợi nhuận
Duy trì con đường đổi mới cơ chế kinh tế hơn 10 năm qua, diện mạo nền kinh tếnước ta đã có nhiều thay đổi Những thành tựu và kết quả đạt được trong lĩnh vực kinh
tế đã ngày càng khẳng định đường lối chỉ đạo chuyển hướng của Đảng sang nền kinh tếthị trường là đúng đắn và sáng suốt Thị trường trong nước được mở mang, các ách tắctrong sản xuất và lưu thông được giải quyết, các cơ hội học hỏi bên ngoài, học tập kinhnghiệm lẫn nhau ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển, sảnxuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao Đảng và Nhà nước xác định xây dựng sựnghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá hướng về xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mở rộng thị trường, tiếp thu công nghệ mới của cácnước tiên tiến, tận dụng được lợi thế kinh doanh mang lại hiệu quả kinh doanh lớn hơnnhiều so với thập niên trước
Hiệu quả kinh doanh là kết quả của quá trình lao động của con người, là kết quảtài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thểtồn tại và phát triển, là nguồn mang lại thu nhập cho người lao động đồng thời là nguồntích luỹ cơ bản để thực hiện tái sản xuất xã hội Có thể nói hiệu quả kinh doanh là việctạo ra nhiều lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng và thiết thực đối với toàn xã hội, doanhnghiệp và với từng cá nhân người lao động
Trang 2Xuất phát từ những ý nghĩa đó mà cần phải tạo ra lợi nhuận và tìm mọi cách đểtăng lợi nhuận Việc phấn đấu tăng lợi nhuận không chỉ là vấn đề quan tâm của doanhnghiệp mà còn là của toàn xã hội cũng như cá nhân mỗi người lao động Đó là một đòihỏi tất yếu và bức thiết hiện nay.
Do vậy, hiện nay hơn bao giờ hết các doanh nghiệp phải giải quyết bằng đượcvấn đề làm thế nào để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và có lợi nhuận.Trước hết là để tồn tại và sau đó là để phát triển quy mô kinh doanh, chiến thắng đốithủ cạnh tranh, nâng cao uy tín, thế lực của doanh nghiệp trên thị trường
Nhận thức được tầm quan trọng của hiệu quả kinh doanh đối với sự thành công
của doanh nghiệp, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty CP Long Phương Đông" cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 3 phầnchính sau :
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Thực trạng kinh doanh ở Công ty CP Long Phương Đông.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty
CP Long Phương Đông.
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất kinhdoanh, nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu của thị trường và thu
về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định Qua khái niệm về hoạt động sản xuất kinhdoanh ta mới chỉ thấy được đó chỉ là một phạm trù kinh tế cơ bản còn hiệu quả sảnxuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung phát triển theo chiềusâu, nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phối các nguồn lực đótrong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.Đây là một thước đo quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chổ dựa cơ bản đểđánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Hiệu quả có thể được đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau để xem xét Nếu làtheo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó Còn nếu ở từng khía cạnh riêng thì hiệu quả kinh tế là sựthể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh quá trình sử dụng cácyếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạmtrù kinh tế có tính chất định lượng về tình hình phát triển của các hoạt động sản xuấtkinh doanh, nó phản ánh sự phát triển kinh tế theo chiều sâu của các chủ thể kinh tế,đồng thời nó phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
và của nền kinh tế quốc dân trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinhtế
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải cạnh tranh rất gay gắt trongviệc sử dụng các nguồn lực để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Các doanhnghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường muốn giành chiến thắng trong cạnh tranh thìphải đặt hiệu quả kinh tế lên hàng đầu muốn vậy cần tận dụng khai thác và tiết kiệm tối
đa các nguồn lực.Thực chất của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp là tương ứng với việc nâng cao năng xuất lao động xã hội và tiết kiệmlao động xã hội Điều đó sẽ đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Trang 4Nếu doanh nghiệp nào có hiệu quả kinh doanh thấp sẽ bị loại khỏi thị trường, còndoanh nghiệp nào có hiệu quả kinh tế cao sẽ tồn tại và phát triển.
Tóm lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh là việc phản ánh mặt chất lượng các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, trình độ tận dụng các nguồn lực trong kinh doanh của doanhnghiệp
1.1.2 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.2.1 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quản trị doanh
nghiệp
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào con người cũng cần phảikết hợp yếu tố con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồtrong chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn
có Để thực hiện điều đó bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụtrong đó có công cụ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Việc xem xét và tính toánhiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạtđược ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra các nhân tố để đưa ranhững các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phíkinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả
Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh trình độ sửdụng các nguồn lực đầu vào, do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trùhiệu hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, sosánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối
đa hoá lợi nhuận Với vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giáchung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ
sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như đánh giá đượctừng bộ phận của doanh nghiệp
1.1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Như ta đã biết bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suấtlao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết củavấn đề hiệu quả kinh tế Chính việc khan hiếm các nguồn lực và sử dụng các nguồn lực
có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội Điều đó đã đặt rayêu cầu là phải khai thác, tận dụng một cách triệt để các nguồn lực Để đạt được mục
Trang 5tiêu kinh doanh các doanh nghiệp phải hết sức chú trọng và phát huy tối đa năng lựccủa các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí.
Tuy nhiên để hiểu rỏ hơn bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanhcần phân biệt được hai khái niệm về hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả là một phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá trình kinhdoanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó Kết quả bao giờ cũng là mục tiêucủa doanh nghiệp và có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật như (tạ, tấn, kg, m2, ) vàđơn vị giá trị (đồng, nghìn đồng, triệu đồng, tỷ đồng, ) hay cũng có thể phản ánh mặtchất lượng của sản xuất kinh doanh như uy tín của công ty, chất lượng của sản phẩm.Kết quả còn phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mộtdoanh nghiệp đạt được kết quả lớn thì chắc chắn quy mô của doanh nghiệp cũng phảilớn Do đó việc xác định kết quả sản xuất kinh doanh là tương đối khó khăn
Trong khi đó, hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ tận dụng các nguồn lựcsản xuất hay phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh Hiệu quả kinh doanhkhông phải là số tuyệt đối mà là một số tương đối, là tỷ số giữa kết quả và hao phínguồn lực để có kết quả đó Việc xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng rất phứctạp bởi kết quả kinh doanh và hao phí nguồn lực gắn với một thời kỳ cụ thể nào đó đềurất khó xác định một cách chính xác
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanhnghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình Khi tiến hành bất kỳ mộthoạt động sản xuất kinh doanh nào, các doanh nghiệp đều phải huy động sử dụng tối đacác nguồn lực sẳn có nhằm đạt được mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận và hiệu quả kinhdoanh là một trong những công cụ, phương pháp để doanh nghiệp đạt được mục tiêuđó
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là góp phần nâng cao sức cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường Mỗi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thịtrường đều gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau trong cùng ngành cũng như làngoài ngành Do vậy chỉ có nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mới có thể tiết kiệmđược chi phí, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, mới có thểnâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Như vậy, cần phải tìmmọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một
Trang 6tất yếu khách quan để mỗi doanh nghiệp có thể trụ vững, tồn tại trong một cơ chế thịtrường cạnh tranh khốc liệt.
1.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.2.1 Về mặt kinh tế
1.2.1.1 Các hệ số khả năng thanh toán
Tỷ lệ thanh toán hiện hành
Tỷ lệ thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ so sánh giữa tài sản ngắn hạn
và các khoản nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động
Tỉ lệ thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này là thước đo khả năng có thể trả nợ của doanh nghiệp khi các khoản
nợ đến hạn Nó chỉ ra phạm vi, qui mô mà các yêu cầu của chủ nợ được trang trải bằngnhững tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền trong thời kỳ phù hợp với thời hạntrả nợ Nguyên tắc cơ bản cho rằng tỷ số này là 2:1 thì doanh nghiệp có đủ khả năngthanh toán các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính là bình thường Tuy nhiên tỷ sốnày còn tùy thuộc vào loại hình kinh doanh và chu kỳ hoạt động của từng đơn vị Một
tỷ số thanh toán hiện thời quá thấp sẽ trở thành nguyên nhân lo âu bởi vì các vấn đề rắcrối về dòng tiền mặt chắc chắn sẽ xuất hiện Một tỷ số thanh toán hiện thời quá cao cóthể nói rằng doanh nghiệp không quản lý được các tài sản lưu động của mình
Tỷ lệ thanh toán nhanh
Tỷ số này thể hiện mối quan hệ so sánh giữa tiền mặt và các khoản tương đươngtiền với các khoản nợ ngắn hạn Được coi là tương đương tiền là những tài sản quay vòng nhanh, có thể chuyển đổi thành tiền mặt như: đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu
Tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Tỷ lệ thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán nhanh là một tiêu chuẩn khắt khe hơn về khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn so với tỷ số thanh toán hiện thời Nguyên tắc cơ bản đưa ra tỷ
số thanh toán nhanh là 1:1
Hệ số thanh toán lãi vay
Trang 7Lãi nợ vay hàng năm là một khoản chi phí cố định và chúng ta muốn biết công
ty sẳn sàng trả tiền lãi đến mức nào Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng liệu vốn đivay có thể sử dụng tốt đến mức có thể đem lại những khoản lợi nhuận bao nhiêu và có
đủ để bù đắp lại các khoản chi phí về tiền lãi hay không
Tỷ số này được dùng để đo lường mức độ mà lợi nhuận phát sinh do việc sửdụng vốn để đảm bảo khả năng trả lãi vay như thế nào
Nếu doanh nghiệp quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến kiện tụng và cóthể đưa đến việc phá sản doanh nghiệp
Hệ số thanh toán lãi vay =
Lãi nợ vay
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng đảm bảo chi trả lãi nợ vay đối với cáckhoản nợ dài hạn và mức độ an toàn có thể có của người cung cấp tín dụng Thôngthường hệ số này lớn hơn 2 được xem là đảm bảo cho các khoản nợ dài hạn Tuy nhiên,vấn đề này còn phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận lâu dài cho doanh nghiệp
Tỷ lệ nợ: so sánh giữa nợ phải trả với nguồn vốn đơn vị đang sử dụng.
Nợ phải trả
Tỷ lệ nợ =
Tổng số nguồn vốn
Tỷ lệ nợ cho biết trong 1đ vốn tài trợ tài sản của doanh nghiệp thì có mấy đồng
nợ phải trả Tỷ lệ này cũng phản ánh mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này cao cho biết nợ phải trả đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn,phản ánh khả năn đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp thấp Tỷ lệ nợ cao sẽkhiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi thuyết phục các nhà đầu tư tín dụng cho vay
Trang 8Ngược lại, tỷ lệ nợ thấp cho biết nợ phải trả chiếm tỷ lệ thấp trong tổng sốnguồn vốn, phản ánh mức độc lập về tài chính của doanh nghiệp cao.
1.2.1.3 Tỷ số hoạt động hay hiệu suất sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Vòng luân chuyển các khoản phải thu
Vòng luân chuyển các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phảithu thành tiền mặt của doanh nghiệp, được xác định bằng mối quan hệ tỷ lệ giữa doanhthu thuần và các khoản phải thu
Doanh thu thuần
Số vòng quay các khoản phải thu =
Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc thanhtoán các khoản phải thu v.v Khi khách hàng thanh toán tất cả các hóa đơn của họ, lúc
đó các khoản phải thu quay được một vòng
Kỳ thu tiền bình quân
Phản ánh thời gian của một vòng luân chuyển các khoản phải thu, nghĩa là đểthu được các khoản phải thu cần một khoảng thời gian là bao lâu
Các khoản phải thu x 360
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần
Nếu kỳ thu tiền bình quân thấp thì vốn của doanh nghiệp ít bị đọng trong khâuthanh toán Tuy nhiên các khoản phải thu trong nhiều trường hợp cao hay thấp chưa thể
có một kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các chính sách của doanh nghiệp ápdụng như: doanh nghiệp tăng doanh thu bán chịu để mở rộng thị trường
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn hiện có củadoanh nghiệp, nghĩa là trong một năm tài sản của doanh nghiệp quay bao nhiêu lần
Vòng quay toàn bộ tài sản =
Trang 9Tổng tài sản
1.2.1.4 Các tỷ số doanh lợi
Doanh lợi tiêu thụ hay Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lời của một đồng doanh thu, nó được tínhbằng quan hệ so sánh giữa lợi nhuận sau thuế với doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
Sự thay đổi trong mức sinh lời phản ánh những thay đổi về hiệu quả, đường lốisản phẩm hoặc loại khách hàng mà doanh nghiệp phục vụ
Doanh lợi tài sản hay Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này cho biết tổng tài sản của doanh nghiệp sau một kỳ kinh doanh đemlại hiệu quả như thế nào
Lợi tức sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản =
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của vốn tự có, hay chính xác hơn là đo lườngmức sinh lời đầu tư của vốn chủ sở hữu, được xác định bằng quan hệ so sánh giữa lợinhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu
Lợi tức sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu =
Tăng thu ngân sách
Mọi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải cónhiệm vụ nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức là các loại thuế như thuế doanhthu, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Nhà nước sẽ sử dụng
Trang 10những khoản thu này để cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và lĩnh vực phi sảnxuất, góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân.
Tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động
Nước ta cũng giống như các nước đang phát triển, hầu hết là các nước nghèotình trạng kém về kỹ thuật sản xuất và nạn thất nghiệp còn phổ biến Để tạo ra nhiềucông ăn việc làm cho người lao động và nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo lạc hậu đòihỏi các doanh nghiệp phải tự tìm tòi đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt độngkinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Nâng cao đời sống người lao động
Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho người lao động đòi hỏi các doanh nghiệplàm ăn phải có hiệu quả để góp phần nâng cao mức sống của người lao động Xét trênphương diện kinh tế, việc nâng cao mức sống của người dân được thể hiện qua chỉ tiêunhư gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức tăngtrưởng phúc lợi xã hội
Tái phân phối lợi tức xã hội
Sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế xã hội giữa các vùng, các lãnh thổtrong một nước yêu cầu phải có sự phân phối lợi tức xã hội nhằm giảm sự chênh lệch
về mặt kinh tế giữa các vùng Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện nay, hiệu quảkinh tế xã hội còn thể hiện qua các chỉ tiêu: Bảo vệ nguồn lợi môi trường, hạn chế gây
ô nhiễm môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
1.3.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường chính trị - pháp luật
Hình thức, thể chế đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước quyết định cácchính sách, đường lối kinh tế chung, từ đó quyết định các lĩnh vực, loại hình hoạt độngsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Môi trường chính trị ổn định sẽ có tác dụngthu hút các hình thức đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết tạo thêm được nguồn vốnlớn cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Ngược lại nếumôi trường chính trị rối ren, thiếu ổn định thì không những hoạt động hợp tác sản xuấtkinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài hầu như là không có mà ngay hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở trong nước cũng gặp nhiều bất ổn
Trang 11"Môi trường pháp lý bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình , quy phạm kỹthuật sản xuất Tất cả các quy phạm kỹ thuật sản xuất kinh doanh đều tác động trựctiếp đến hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp" Đó làcác quy định của nhà nước về những thủ tục, vấn đề có liên quan đến phạm vi hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi tham giavào môi trường kinh doanh cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và chấp hành đúng theonhững quy định đó.
Môi trường pháp lý tạo môi trường hoạt động, một môi trường pháp lý lànhmạnh sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng chútrọng đến các thành viên khác trong xã hội, quan tâm đến các mục tiêu khác ngoài mụctiêu lợi nhuận Ngoài ra các chính sách liên quan đến các hình thức thuế, cách tính, thuthuế có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Môi trường pháp lý tạo sự bình đẳng của mọi loại hình kinh doanh, mọi doanhnghiệp có quyền và nghĩa vụ như nhau trong phạm vi hoạt động của mình Trong nềnkinh tế thị trường mở cửa hội nhập không thể tránh khỏi hiện tượng những doanhnghiệp lớn có khả năng cạnh tranh sẽ thâu tóm những doanh nghiệp nhỏ Nhà nướcđứng ra bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp “yếu thế ” có thể duy trì hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình và điều chỉnh các lĩnh vực sản xuất cho phù hợp với cơ chế,đường lối kinh tế chung cho toàn xã hội
Tính công bằng và nghiêm minh của luật pháp ở bất kỳ mức độ nào đều có ảnhhưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu môi trườngkinh doanh mà mọi thành viên đều tuân thủ pháp luật thì hiệu quả tổng thể sẽ lớn hơn,ngược lại, nhiều doanh nghiệp sẽ tiến hành những hoạt động kinh doanh bất chính, sảnxuất hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, vi phạm các quy định về bảo vệ môitrường làm hại tới xã hội
Môi trường văn hoá- xã hội
Môi trường văn hoá- xã hội bao gồm các nhân tố điều kiện xã hội, phong tục tậpquán, trình độ, lối sống của người dân Đây là những yếu tố rất gần gũi và có ảnhhưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp chỉ có thể duy trì và thu được lợi nhuận khi sản phẩm làm ra phù hợp
Trang 12với nhu cầu, thị hiếu khách hàng, phù hợp với lối sống của người dân nơi tiến hànhhoạt động sản xuất Mà những yếu tố này do các nhân tố thuộc môi trường văn hoá- xãhội quy định.
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là một nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Tăng trưởng kinh tế quốc dân, chính sách kinh tếcủa Chính phủ, tốc độ tăng trưởng, chất lượng của sự tăng trưởng hàng năm của nềnkinh tế, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, cán cân thương mại luôn là các nhân tố tác độngtrực tiếp đến các quyết định cung cầu và từ đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệuquả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Là tiền đề để Nhà nước xâydựng các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, các chính sách ưu đãi vớicác doanh nghiệp, chính sách ưu đãi các hoạt động đầu tư ảnh hưởng rất cụ thể đến
kế hoạch sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
Ngoài ra, tình hình kinh doanh hay sự xuất hiện thêm của các đối thủ cạnh tranhcũng buộc doanh nghiệp cần quan tâm đến chiến lược kinh doanh của mình Một môitrường cạnh tranh lành mạnh sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp cùng phát triển, cùng hướngtới mục tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Tạo điều kiện để các cơ quan quản
lý kinh tế nhà nước làm tốt công tác dự báo điều tiết đúng đắn các hoạt động và có cácchính sách mang lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp
Môi trường khoa học - kỹ thuật công nghệ
Kinh doanh là tìm cách thỏa mãn nhu cầu của thị trường, nhưng nhu cầu của thịtrường lại thay đổi liên tục cho nên các nhà doanh nghiệp phải thường xuyên áp dụngtiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới để đáp ứng được tốt hơn nhu cầu củakhách hàng Ngày nay không có một doanh nghiệp sản xuất nào muốn tồn tại và pháttriển lại không dựa vào việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học - kỹ thuật
và công nghệ Khoa học kỹ thuật và công nghệ càng tinh vi thì càng cho phép các nhàdoanh nghiệp sản xuất được nhiều loại hàng hóa phù hợp hơn với những nhu cầu củacon người hiện đại Công nghệ thường xuyên biến đổi, công nghệ tiên tiến liên tục rađời, chúng tạo ra các cơ hội cũng như nguy cơ rất lớn cho các doanh nghiệp Nhìnchung những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và công nghệ thể hiện tập trung ở nhữngphương diện sau:
- Lượng phát minh sáng chế và cải tiến khoa học kỹ thuật tăng lên nhanh chóng
Trang 13- Bùng nổ về cuộc cách mạng về thông tin và truyền thông;
- Rút ngắn thời gian ứng dụng của các phát minh sáng chế;
- Xuất hiện nhiều loại máy móc và nguyên liệu vật liệu mới với những tính năng
và công dụng hoàn toàn chưa từng có trước đây;
- Xuất hiện nhiều loại máy móc và công nghệ mới có năng suất chất lượng cũngnhư tính năng và công dụng hiệu quả hơn;
- Chu kỳ đổi mới công nghệ ngày càng ngắn hơn, tốc độ chuyển giao công nghệngày càng nhanh và nạnh hơn;
- Vòng đời sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng ngắn hơn;
- Trình độ tự động hóa, vi tính hóa, hóa học hóa và sinh học hóa trong tất cả cáckhâu sản xuất, phân phối lưu thông và quản lý ngày càng cao hơn;
- Các loại hàng hóa mới thông minh ngày càng xuất hiện nhiều hơn; - Cácphương tiện truyền thông và vận tải ngày càng hiện đại và rẻ tiền hơn dẫn tới khônggian sản xuất và kinh doanh ngày càng rộng lớn hơn
Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ là vô cùng phong phú và
đa dạng, chúng ta có thể kể ra rất nhiều ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật vàcông nghệ nữa, nhưng điều quan trọng cần phải nhận thức được là các nhà quản trịthuộc mọi tổ chức nói chung và trong từng doanh nghiệp nói riêng đều cần phải tính tớiảnh hường của các yếu tố này trong các mặt hoạt động của mình Sẽ là một sai lầm lớn,nếu trong kinh doanh mà các nhà quản trị không hoạch định được một chiến lược đúngđắn về kỹ thuật và công nghệ trong từng thời kỳ để sản xuất ra các loại sản phẩm tươngứng với thị trường Thực tế đang chứng tỏ rằng, nhà doanh nghiệp nào nắm bắt nhanhnhạy và áp dụng kịp thời những thành tựu tiến bộ như vũ bão của khoa học kỹ thuật thìngười đó sẽ thành công
Môi trường tự nhiên
Thiên nhiên là thế giới xung quanh cuộc sống của chúng ta, là khí hậu, thủy văn,địa hình, rừng núi, sông ngòi, hệ động thực vật, tài nguyên khoáng sản thiên nhiênv.v Dưới con mắt của các nhà quản trị đó là những lực lượng và các yếu tố có sự ảnhhưởng rất sâu sắc tới cuộc sống của mọi con người trên trái đất này Chẳng hạn nếpsống, sinh hoạt và nhu cầu về hàng hóa của người dân vùng ôn đới chịu những ảnhhưởng sâu sắc từ điều kiện khí hậu lạnh giá của họ và đến lượt mình các nhà quản trịphải biết những đặc thù về những thứ hàng hóa dành cho người dân xứ lạnh để hoạch
Trang 14định chính sách kinh doanh cho phù hợp Ở nước ta hàng năm có từ 10 -13 cơn bãonhiệt đới tràn qua và ai cũng biết rằng bão, lụt thường có ảnh hưởng rất lớn đến cuộcsống sinh hoạt và làm ăn của tất cả mọi người Cha ông ta thường coi lũ lụt là giặc thủybởi sức tàn phá ghê gớm của nó Chính vì vậy các nhà quản trị không thể không tínhtới ảnh hưởng của bão, lũ, lụt trong các hoạt động kinh doanh của mình
Thiên nhiên không phải là lực lượng chỉ gây ra tai họa cho con người, thiênnhiên là cái nôi của cuộc sống Đối với nhiều ngành công nghiệp thì tài nguyên thiênnhiên như các loại khoáng sản, nước ngầm, lâm sản, hải sản v.v là nguồn nguyên liệucần thiết cho công việc sản xuất , kinh doanh của nó
Bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang làmột yêu cầu cấp bách, bức xúc tất yếu khách quan trong hoạt động của tất cả mỗi nhàquản trị Áp lực bảo vệ môi trường sạch và xanh, phong trào chống lãng phí trong việc
sử dụng tài nguyên thiên nhiên sẽ là những yếu tố càng ngày càng trở nên quan trọng
và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn đến những quyết định của hệ thống quản trị trongmỗi tổ chức
1.3.2 Môi trường vi mô
Đối thủ cạnh tranh
Trong nhóm đối thủ cạnh tranh có thể kể đến ba nhóm: (1) Đối thủ cạnh tranhtrực tiếp, (2) Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, và (3) Sản phẩm thay thế
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp
Mọi tổ chức, ngay cả các công ty độc quyền đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh.Chẳng hạn CocaCola phải cạnh tranh với Pepsi và một số công ty nước giải khát khác.Không một nhà quản trị nào có thể coi thường môi trường cạnh tranh Khi họ bỏ qua sựcạnh tranh, họ phải trả một giá rất đắt
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với cáccông ty Các đối thủ cạnh tranh với nhau quyết định tính chất và mức độ tranh đua,hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành phụ thuộc vào đối thủ cạnh tranh Mức độcạnh tranh phụ thuộc vào sự tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp thamgia canh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đadạng hoá sản phẩm Sự tồn tại của các yếu tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu vàhoặc nguyện vọng của doanh nghiệp muốn đạt được và bảo vệ thị phần của mình,chúng làm cho sự cạnh tranh thêm gay gắt Các doanh nghiệp cần thừa nhận quá trình
Trang 15cạnh tranh không ổn định Thí dụ, trong các ngành sản xuất phát triển chín muồithường sự cạnh tranh mang tính chất dữ dội khi mức tăng trưởng và lợi nhuận bị suygiảm (mạch tích hợp IC, máy tính cầm tay ) Ngoài ra các đối thủ cạnh tranh mới vàcác giải pháp công nghệ mới cũng thường làm thay đổi mức độ và tính chất cạnh tranh.
Các doanh nghiệp cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh về mục tiêu tương lai,nhận định của họ đối với bản thân và với chúng ta, chiến lược họ đang thực hiện, tiềmnăng của họ để nắm và hiểu được các biện pháp phản ứng và hành động mà họ có thể
có
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợinhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với mongmuốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết Cần lưu ý là việc mua lại các cơ
sở khác trong ngành với ý định xây dựng thị trường thường là biểu hiện của sự xuấthiện đối thủ mới xâm nhập
Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm
ẩn, song nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành vừa chịu ảnh hưởng đồng thời cũng
có ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp Bên cạnh những vấn đề đó, việc bảo
vệ vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm việc duy trì hàng rào hợp pháp ngăn cản
sự xâm nhập từ bên ngoài, những hàng rào này là: lợi thế do sự sản xuất trên qui môlớn, đa dạng hoá sản phẩm, sự đòi hỏi của nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặthàng cao, khả năng hạn chế trong việc xâm nhập các kênh tiêu thụ vững vàng và ưu thế
về giá thành mà đối thủ cạnh tranh không tạo ra được (độc quyền công nghệ, nguồnnguyên liệu thuận lợi hơn) Một hàng rào khác ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủtiềm ẩn là sự chống trả mạnh mẽ của các doanh nghiệp đã đứng vững Hãng Xerox vàGeneral Electric từng nhận thấy rằng lợi thế của sản xuất, nghiên cứu, marketing vàdịch vụ trên qui mô lớn là hàng rào ngăn cản sự xâm nhập vào ngành công nghiệp sảnxuất máy tính cở lớn
Không am hiểu đối thủ cạnh tranh sẽ là một nguy cơ thực sự cho mọi hoạt động
về quản trị kinh doanh ở các tổ chức Nghiên cứu kỹ lưỡng và vạch ra các đối sách phùhợp luôn là một đòi hỏi khách quan cho các hoạt động quản trị ở mọi doanh nghiệptrước đây cũng như hiện nay và mãi về sau này
Sản phẩm thay thế
Trang 16Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành domức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý đến các sản phẩm thay thế tiềm ẩn,doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé
Phần lớn sản phẩm thay thế là kết quả của sự phát triển công nghệ Muốn đạtđược thành công, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực để phát triển và vậndụng công nghệ mới vào chiến lược của mình
Khi nói đến các nhà cung ứng, chúng ta nghĩ ngay đến các Công ty Xí nghiệpcung cấp vật liệu và máy móc Đối với Công ty Walt Disney World ở Florida, điều nàybao gồm các công ty bán nước si rô cô đặc, máy vi tính, thực phẩm, hoa và các vật liệubằng giấy Nhưng danh từ nhà cung ứng (suppliers) cũng chỉ người cung cấp tài chính
và lao động Các cổ đông, ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu bổng và các định chếtương tự được cần đến để bảo đảm có được nguồn cung ứng về vốn Công ty Exxon cóquyền khoan mỏ dầu và có thể kiếm được hàng tỷ đô la Mỹ về lợi nhuận, nhưng lợinhuận này chỉ là tiềm năng nếu công ty không có được vốn để khoan các mỏ dầu này.Các công đoàn, các hội nghề nghiệp và thị trường lao động là nguồn cung ứng laođộng
Các nhà cung ứng có ưu thế có thể tăng thêm lợi nhuận bằng cách nâng giá,giảm chất lượng hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm Yếu tố làm tăng thế mạnh của cácnhà cung ứng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phẩm là
số người cung ứng ít, không có mặt hàng thay thế và không có các nhà cung ứng nàochào bán các sản phẩm có tính khác biệt
Trong những giai đoạn nhất định phần lớn các doanh nghiệp đều phải vay vốntạm thời từ các tổ chức tài chính Nguồn vốn này có thể nhận được bằng cách vay ngắnhạn hoặc dài hạn hoặc phát hành cổ phiếu Khi doanh nghiệp tiến hành phân tích về các
tổ chức tài chính thì trước hết cần chú ý xác định vị thế của mình so với các thành viênkhác trong cộng đồng Cần đặt ra các câu hỏi:
- Cổ phiếu của doanh nghiệp có được đánh giá đúng không?
- Các chủ nợ tiềm ẩn có chấp nhận danh sách trả nợ của doanh nghiệp không?
Trang 17- Các điều kiện cho vay hiện tại của chủ nợ có phù hợp với các mục tiêu lợinhuận của doanh nghiệp không?
- Người cho vay có thể kéo dài thời hạn cho vay khi cần thiết không?
Nguồn lao động cũng là một phần chính yếu trong môi trường vi mô của doanhnghiệp Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực là đảm bảo điều kiệntiên quyết cho sự thành công của doanh nghiệp Các yếu tố cần đánh giá là trình độ họcvấn, trình độ chuyên môn của họ, mức độ hấp dẫn tương đối của doanh nghiệp với tưcách là người sử dụng lao động và mức tiền công phổ biến
Các nhà quản trị phải tìm cách bảo đảm có được các nguồn cung ứng nhậplượng đều đặn và với giá thấp Bởi các nhập lượng này tượng trưng cho các bất trắc -tức là sự không có sẵn hoặc sự đình hoãn của chúng có thể làm giảm hiệu quả của tổchức - quản trị bị buộc phải cố gắng hết sức để có được nguồn cung ứng ổn định
Là người tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, khách hàng là một yếu
tố quyết định đầu ra của sản phẩm Không có khách hàng các doanh nghiệp sẽ gặp khókhăn trong tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của mình Như vậy khách hàng và nhu cầucủa họ nhìn chung có những ảnh hưởng hết sức quan trọng đến các hoạt động về hoạchđịnh chiến lược và sách lược kinh doanh của mọi công ty Tìm hiểu kỹ lưỡng và đápứng đầy đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu của khách hàng là mục tiêu sống còn chomỗi doanh nghiệp nói chung và hệ thống quản trị của nó nói riêng
Sự tín nhiệm của khách hàng là tài sản có giá trị lớn lao của doanh nghiệp Sựtín nhiệm đó đạt được do biết thoả mãn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so vớicác đối thủ cạnh tranh
Một vấn đề mấu chốt khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ.Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giáxuống hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và phải cung cấp nhiều dịch vụ hơn Ngườimua có thế mạnh nhiều khi họ có các điều kiện sau:
- Lượng mua chiếm tỉ lệ lớn trong khối lượng hàng hoá bán ra của doanhnghiệp
- Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém
- Người mua đưa ra tín hiệu đe doạ đáng tin cậy là sẽ hội nhập về phía sau vớicác bạn hàng cung ứng như các hảng sản xuất xe ô tô thường làm
Trang 18- Sản phẩm của người bán ít ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của ngườimua
Nếu sự tương tác của các điều kiện nói trên làm cho doanh nghiệp không đạtđược mục tiêu của mình thì doanh nghiệp phải cố thay đổi vị thế của mình trong việcthương lượng giá bằng cách thay đổi một hoặc nhiều điều kiện nói trên hoặc phải tìmkhách hàng có ít ưu thế hơn
Các doanh nghiệp cũng cần lập bảng phân loại khách hàng hiện tại và tương lai.Các thông tin có được từ bảng phân loại này là cơ sở định hướng quan trọng cho việchoạch định chiến lược, nhất là các chiến lược liên quan trực tiếp đến marketing Cácyếu tố chính cần xem xét là những vấn đề địa dư, tâm lý khách hàng v…
1.3.3 Môi trường nội bộ
Nhân tố vốn
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải cóvốn Doanh nghiệp có khả năng tài chính không những chỉ đảm bảo cho doanh nghiệpduy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp đầu tưđổi mới trang thiết bị, tiếp thu công nghệ sản xuất-kinh doanh hiện đại hơn nhằm làmgiảm chi phí, nâng cao những mặt có lợi, khả năng tài chính Mặt khác, còn nâng cao
uy tín cho doanh nghiệp, nâng cao tính chủ động khai thác và sử dụng tối ưu đầu vào
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết địnhtới quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo của hoạt động sản xuất kinh doanh Vốnphải được hình thành trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh và nó sẽ đượctiếp tục bổ sung sau mỗi chu kỳ sản xuất Vốn của doanh nghiệp không thể bị mất đi vìđồng nghĩâ với mất vốn là nguy cơ phá sản Tại bất kỳ một doanh nghiệp, có ba vấn đềquan trọng đầu tiên cần phải giải quyết là:
Thứ nhất, xác định được mục tiêu cho đầu tư dài hạn
Thứ hai, tìm được nguồn tài trợ cho đầu tư đó
Thứ ba, đưa ra các quyết định tài chính cho hợp lý
Đất nước ta đang trong quá trinh phát triển theo mô hình kinh tế thị trường Dovậy, quản lý tài chính phải phù hợp với xu hướng phát triển đó Hơn nữa nước ta đã và
sẽ chủ động hội nhập vào khu vực ASEAN nên mức độ mở cửa thị trường hàng hoá,
Trang 19dịch vụ, tài chính , đàu tư tiến tới đạt ngang bằng với các nước trong khối ASEAN,từng bước tạo điều kiện về kinh tế, pháp lý để hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực vàthế giới Vốn là yếu tố cơ bản không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất kinhdoanh và đồng thời cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng phát triểnkinh tế của một đất nước Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, doanhnghiệp phải có đủ vốn đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của quá trình đó, doanhnghiệp làm ăn có lãi thì vốn mới được bảo toàn và phát triển đảm bảo cho doanhnghiệp có khả năng tái sản xuất mở rộng, phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Như vậy, vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Nó không chỉ đảm bảo duy trì hoạt động của doanh nghiệp
mà còn là tiềm lực, là điều kiện quyết định đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Nhân tố con người
Con người điều hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp cácyếu tố sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, để doanh nghiệp hoạtđộng có hiệu quả thì vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là vấn đề lao động.Công tác tuyển dụng được tiến hành nhằm đảm bảo trình độ và tay nghề của người laođộng Có như vậy thì kế hoạch sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh mới thực hiện được Có thể nói chất lượng lao động là điều kiện cần
để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác tổ chức lao động hợp lý là điềukiện đủ để doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Lực lượng lao động là nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp đến năng suất laođộng, trình độ sử dụng các nguồn lực khác như vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệunên tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Ngày nay, hàmlượng khoa học kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm ngày càng lớn đòi hỏi người lao độngphải có một trình độ nhất định để đáp ứng được các yêu cầu đó, điều này nói lên phầnnào quan trọng của nhân tố lao động
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của doanh nghiệp cóthể vừa sáng tạo vừa đưa chúng vào và sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng caohiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Chăm lo việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầucủa doanh nghiệp hiện nay, và thực tế cho thấy những doanh nghiệp mạnh trên thị
Trang 20trường thế giới là những doanh nghiệp có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môncao, có tác phong làm việc khoa học và kỷ luật nghiêm minh.
Nhân tố quản trị doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chỉ đạo bởi bộ máy quảntrị của doanh nghiệp Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp từ quyết định mặt hàngkinh doanh, kế hoạch sản xuất, quá trình sản xuất,huy động nhân sự, kế hoạch, chiếnlược tiêu thụ sản phẩm, các kế hoạch mở rộng thị trường, các công việc kiểm tra, đànhgiá và điều chỉnh các quá trình trên, các biện pháp cạnh tranh, các nghĩa vụ với nhànước Vậy sự thành công hay thất bại trong sản xuất kinh doanh của toàn bộ doanhnghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò điều hành của bộ máy quản trị
Bộ máy quản trị hợp lý, xây dựng một kế hoạch sản xuất kinh doanh khoa họcphù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, có sự phân công, phân nhiệm cụ thểgiữa các thành viên trong bộ máy quản trị, năng động nhanh nhạy nắm bắt thị trường,tiếp cận thị trường bằng những chiến lược hợp lý, kịp thời nắm bắt thời cơ, yếu tố quantrọng là bộ máy quản trị bao gồm những con người tâm huyết với hoạt động của công
ty sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quảcao
Doanh nghiệp là một tổng thể, hoạt động như một xã hội thu nhỏ trong đó cóđầy đủ các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và cũng có cơ cấu tổ chức nhất định Cơ cấu
tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp các phòng ban, các chức vụ trong doanh nghiệp, sựsắp xếp này nếu hợp lý, khoa học, các thế mạnh của từng bộ phận và của từng cá nhânđược phát huy tối đa thì hiệu quả công việc là lớn nhất, khi đó không khí làm việc hiệuquả bao trùm cả doanh nghiệp Không phải bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có cơcấu tổ chức hợp lý và phát huy hiệu quả ngay, việc này cần đến một bộ máy quản trị cótrình độ và khả năng kinh doanh, thành công trong cơ cấu tổ chức là thành công bướcđầu trong kế hoạch kinh doanh
Ngược lại nếu cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bất hợp lý, có sự chồng chéo vềchức năng, nhiệm vụ không rõ ràng, các bộ phận hoạt động kém hiệu quả, không khílàm việc căng thẳng cạnh tranh không lành mạnh, tinh thần trách nhiệm và ý thức xâydựng tổ chức bị hạn chế thì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không cao
Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng khoa học kỹ thuật
Trang 21Doanh nghiệp phải biết luôn tự làm mới mình bằng cách tự vận động và đổimới, du nhập những tiến bộ khoa học kỹ thuật thời đại liên quan đến lĩnh vực sản xuấtcủa doanh nghiệp mình Vấn đề này đóng một vai trò hết sức quan trọng với hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh vì nó ảnh hưởng lớn đến vấn đề năng suất lao động vàchất lượng sản phẩm Sản phẩm dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật lớn mới có chỗ đứngtrong thị trường và được mọi người tin dùng so với những sản phẩm dịch vụ cùng loạikhác.
Kiến thức khoa học kỹ thuật phải áp dụng đúng thời điểm, đúng quy trình để tậndụng hết những lợi thế vốn có của nó nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ hay tăngnăng suất lao động đưa sản phẩm dịch vụ chiếm ưu thế trwn thị trường nâng cao hiệuquả kinh doanh
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CP LONG PHƯƠNG ĐÔNG
2.1 Tổng quan về Công ty CP Long Phương Đông
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty
Tọa lạc trên khu đất 120m mặt tiền đường Tô Hiến Thành, P 15, Q 10 – trụcđường kinh doanh vật liệu xây dựng và trang trí nội thất nổi tiếng của Thành phố HồChí Minh – là vị trí đặt showroom trưng bày sản phẩm và trung tâm kinh doanh củaCông ty CP Công Nghiệp và Thiết Bị Chiếu Sáng DUHAL Trải qua nhiều giai đoạnthăng trầm, ngày 24 tháng 07 năm 2006 trung tâm đã phát triển lên một tầm cao mớibằng việc ra đời của Công ty CP Long Phương Đông, hoạt động độc lập với Công ty
CP Công Nghiệp và Thiết Bị Chiếu Sáng DUHAL, tồn tại và phát triển đến tận hômnay
Bằng sự phấn đấu và nổ lực không ngừng nghỉ của tập thể cán bộ - nhân viêncông ty, đến nay Công ty CP Long Phương Đông đang là một trong những nhà phânphối hàng đầu các mặt hàng thiết bị chiếu sáng mang thương hiệu DUHAL, PHILIPS,OSRAM,…cung ứng sản phẩm cho các dự án xây dựng trong và ngoài Thành phố HồChí Minh
2.1.2 Chức năng, lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh
Trang 22Sản xuất, mua bán mặt hàng điện – điện tử - điện lạnh, thiết bị ngành điện, thiết
bị chiếu sáng, sản phẩm gỗ, hàng trang trí nội thất, hàng kim khí điện máy, vật liệu xâydựng, sắt thép, sản phẩm bằng cao su Mua bán vật tư ngành nông nghiệp Đại lý hànghải,… Lĩnh vực hoạt động chính: kinh doanh mặt hàng thiết bị chiếu sáng
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
2.1.3.1 Sơ đồ tổ chức
2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức
Tổng số hiện có: 27 người
Hội đồng quản trị: 2 người
Ban giám đốc: 1 người
Bộ phận dự án: 1 Trưởng phòng, 1 Thư ký, 4 Tổ trưởng, 10 nhân viên
Bộ phận kế toán: 1 kế toán trưởng, 1 nhân viên
Bộ phận showroom: 1 trưởng bộ phận, 1 nhân viên
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
GIÁM ĐỐC
TỔ 3
TỔ 2
TỔ 1
GIAO HÀNG
TẠP VỤ
BP
KHO
TỔ 4 SHOWROOM
BẢO VỆ
Trang 23Ngoài ra, Giám đốc còn thực hiện chức năng ủy quyền cho Trưởng phòng Dự ántrong trường hợp Giám đốc vắng mặt bằng văn bản ủy quyền Đồng thời, Trưởngphòng Dự án còn có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc
Các bộ phận trực thuộc công ty được phân công rõ ràng về chức trách và cácTrưởng bộ phận có trách nhiệm chỉ huy, sử dụng các nguồn lực có sẳn của bộ phậnmình hoàn thành nhiệm vụ được giao, phối hợp với các bộ phận khác cùng nhau hoànthành nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược công ty đề ra và phải chịu trách nhiệm trướcGiám đốc công ty về hoạt động của bộ phận mình quản lý
2.1.3.4 Sản phẩm kinh doanh và thị trường tiêu thụ
Mặt hàng kinh doanh chính của công ty là thiết bị chiếu sáng và phụ kiện chiếusáng cung cấp cho dự án xây dựng dân dụng và công nghiệp Ngoài thương hiệu chính
là DUHAL, công ty còn là nhà phân phối các thương hiệu nổi tiếng khác trong ngànhchiếu sáng như PHILIPS, OSRAM,…
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty là các dự án xây dựng ở TP Hồ ChíMinh và các tỉnh lân cận Chủ yếu là các dự án xây dựng có quy mô lớn như: Cao ốcvăn phòng, cao ốc phức hợp, căn hộ cao cấp, chung cư, nhà xưởng, bệnh viện,…Kháchhàng chủ yếu là các nhà thầu xây dựng, các công ty kỹ thuật điện, công ty thương mại,chủ đầu tư dự án
2.2 Thực trạng kinh doanh của công ty
2.2.1 Về mặt kinh tế
2.2.1.1 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
2.2.1.1.1 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 2.1: Bảng so sánh một số chỉ tiêu báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008-2009
Trang 24Chỉ tiêu 2008 2009 So sánh
Chênh lệch %
Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ 19 554 078 989 17 071 535 020 - 2 482 543 969 - 12.69Giá vốn hàng bán 14 933 888 171 13 301 613 038 - 1 632 275 133 - 10.93 Chi phí bán hàng 961 813 744 563 307 582 - 398 506 162 - 41.43 Chi phí quản lý doanh nghiệp 1 563 155 075 1 570 627 939 + 7 472 864 + 0.47
(Số liệu trích từ báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008 và năm 2009 – Phòng kế toán)
Qua bảng so sánh một số chỉ tiêu của năm 2008 và năm 2009 ta thấy, ngoại trừchỉ tiêu chi phí quản lý doanh nghiệp tăng nhẹ thì các chỉ tiêu còn lại của năm 2009đều giảm so với năm 2008 Cụ thể như sau:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Năm 2009 chỉ tiêu này giảm(-)12.69% so với năm 2008, tương ứng với giảm 2 482 543 969đ Nguyên nhân củaviệc giảm sút này là do năm 2009 tình hình kinh tế cả nước nói chung đang gặp khókhăn do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, thị trường xây dựngnói riêng chưa phục hồi cộng thêm khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp xâydựng và chủ đầu tư dự án đã làm nhu cầu tiêu thụ mặt hàng chiếu sáng giảm sút đã ảnhhưởng lớn doanh số bán hàng của công ty
- Giá vốn hàng bán: Chỉ tiêu này của năm 2009 giảm (-)10.93% tương ứng với
số tiền là 1 632 275 133đ so với năm 2008 Do tình hình tiêu thụ gặp khó khăn, lượnghàng bán ra giảm sút nên lượng hàng nhập vào cũng giảm theo Do vậy giá trị giá vốnhàng bán năm 2009 giảm so với năm 2008
- Chi phí bán hàng của năm 2009 giảm (-)41.43% tương ứng với số tiền 398 506162đ so với năm 2008 Do tình hình tiêu thụ gặp khó khăn nên chi phí bán hàng màchủ yếu là các khoản như chi phí vận chuyển, huê hồng cho người mua, chi phí quảngcáo, chi phí mua nguyên liệu phục vụ cho công tác bán hàng, chi phí mua ngoài cũng bịcắt giảm
- Ngược lại, chi phí quản lý doanh nghiệp của năm 2009 lại tăng hơn một chút
so với năm 2008 Cụ thể năm 2009 chi phí quản lý doanh nghiệp tăng (+)0.47% so vớinăm 2008 tương ứng với số tiền 7 472 864đ Mức tăng khá nhỏ nhưng trong tình hìnhhiện tại là không tốt cho công ty Năm 2009 do tình hình lạm phát nên đơn giá của cácmặt hàng, dịch vụ đều cao hơn năm 2008 đã ảnh hưởng đến chi phí quản lý Chi phíquản lý chủ yếu là lương cán bộ - nhân viên quản lý, chi phí mua ngoài, chi phí điện
Trang 25nước,… Các khoản này chịu ảnh hưởng của lạm phát nên tăng lên hoặc công ty phải trảnhiều hơn để phù hợp với tình hình chung
Bảng 2.2: Bảng so sánh một số chỉ tiêu báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009-2010
Chênh lệch %
Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ 17 071 535 020 29 028 105 480 + 11 956 570 460 + 70.04Giá vốn hàng bán 13 301 613 038 23 074 804 662 + 9 773 191 624 + 73.47 Chi phí bán hàng 563 307 582 1 767 427 569 + 1 204 119 987 + 213.76 Chi phí quản lý doanh nghiệp 1 570 627 939 2 171 041 215 + 600 413 276 + 38.22
(Số liệu trích từ báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 và năm 2010 – Phòng kế toán)
Đánh giá tổng quát thì các chỉ tiêu (trong bảng so sánh) của năm 2010 đều tănghơn năm 2009
- Doanh thu bán hàng của năm 2010 tăng (+)70.04% so với năm 2009 tươngứng với số tiền 11 956 570 460đ Tốc độ tăng trưởng cao biểu hiện tình hình kinhdoanh của năm 2010 tốt hơn năm 2009 Năm 2010 ngành xây dựng phát triển mạnh trởlại, dự án xây dựng nhiều hơn nên nhu cầu tiêu thụ mặt hàng chiếu sáng tăng lên Dovậy công ty cung cấp được nhiều đơn hàng hơn nên doanh thu bán hàng tăng cao Mặtkhác, giá hàng bán năm 2010 cũng cao hơn năm 2009 cũng góp phần làm doanh thubán hàng cao
- Giá bán cao mà cụ thể là đơn giá của hàng mua vào cũng ảnh hưởng trực tiếpđến chỉ tiêu giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán năm 2010 cao hơn năm 2009 là73.47%, tương ứng với số tiền 9 773 191 624đ Mặt hàng bán chủ lực của công ty làDUHAL và PHILIPS Năm 2010, DUHAL tăng giá 2 lần và PHILIPS tăng 3 lần Mặtkhác, năm 2010 tình hình tiêu thụ tốt, lượng hàng bán ra nhiều nên công ty phải nhậphàng vào nhiều hơn năm 2009 Do vậy giá vốn hàng bán năm 2010 cao hơn năm 2009.Giá vốn hàng bán cao ảnh hưởng không tốt đến lợi nhuận công ty
- Doanh thu bán hàng tăng nên chi phí cũng tăng theo Chi phí bán hàng củanăm 2010 tăng (+)213.76% so với năm 2009, tương ứng số tiền là 1 204 119 987đ.Tình hình tiêu thụ tốt nên công ty phải đẩy mạnh công tác bán hàng để thu được doanh
số cao nhất Do vậy các chi phí phục vụ cho công tác bán hàng cũng tăng theo Công ty
Trang 26phải tăng lương, thưởng và phụ cấp cho nhân viên; Chi cho quảng cáo nhiều hơn; Trích
huê hồng cho khách nhiều hơn; Chi phí cho việc giao hàng nhiều hơn…Mặt khác, đơn
giá của các mặt hàng và dịch vụ năm 2010 cũng cao hơn năm 2009 nên chi phí bán
hàng cao Tuy nhiên tốc độ tăng của chi phí quá cao sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty
Do vậy công ty cần hạn chế mức tăng của chi phí ở mức thấp nhất
- Một khoản chi phí của năm 2010 cũng tăng hơn năm 2009 là chi phí quản lý
doanh nghiệp Năm 2010, chi phí quản lý tăng (+)38.22% so với năm 2009, tương ứng
với số tiền 600 413 276đ Tốc độ tăng của chi phí quản lý chậm hơn tốc độ tăng của chi
phí bán hàng nhưng giá trị lại lớn hơn Trong năm 2010, công ty phải chi nhiều hơn
cho việc tiếp khách, chi phí điện-nước, lương cán bộ - nhân viên quản lý, chi phí cho
mua ngoài,…
2.2.1.1.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty
Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế
Sức sinh lời của VCSH =
Ở chỉ tiêu này ta thấy VCSH tăng dần qua các năm Cụ thể năm 2008 là 2 969
329 531đ, năm 2009 là 3 184 600 203đ tăng (+)7.25% và năm 2010 là 3 278 736 704đ
tăng (+)2.96% so với năm 2009 và tăng (+)10.42% so với năm 2008 Điều này chứng
tỏ nguồn vốn công ty được bảo toàn và phát triển tốt Tuy nhiên sức sinh lời của VCSH
lại giảm dần qua từng năm Năm 2008 là 1đ VCSH bỏ ra thu lại được 0.373đ lợi nhuận
Năm 2009 là 0.222đ và năm 2010 là 0.282đ Mức sinh lời như trên là chưa tốt nhưng
chấp nhận được trong tình hình hiện nay
Số vòng quay của vốn chủ sở hữu (VCSH)
Doanh thu thuần
Số vòng quay của VCSH =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Bảng 2.4: Số vòng quay của VCSH trong kỳ
Trang 27Năm 2008 2009 2010 Doanh thu thuần 18 812 897 535 16 417 773 298 28 024 760 931
Suất hao phí của VCSH so với doanh thu thuần(DTT)
Vốn chủ sở hữu bình quân
Suất hao phí của VCSH so với DTT=
Doanh thu thuần
Bảng 2.5: Suất hao phí của VCSH so với doanh thu thuần trong kỳ
VCSH bình quân 2 969 329 531 3 184 600 203 3 278 736 704
Doanh thu thuần 18 812 897 535 16 417 773 298 28 024 760 931
Năm 2008 công ty có 1đ doanh thu thuần thì mất 0.16đ VCSH, năm 2009 là0.16đ và năm 2010 mất 0.11đ VCSH Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng VCSH năm
2010 cao, tạo thuận lợi cho công ty huy động vốn vào hoạt động kinh doanh nhằm tănglợi nhuận hơn nữa
Suất hao phí của VCSH so với lợi nhuận sau thuế (LNST)
Vốn chủ sở hữu bình quân
Suất hao phí của VCSH so với LNST =
Lợi nhuận sau thuế
Bảng 2.6: Suất hao phí của VCSH so với lợi nhuận sau thuế trong kỳ
VCSH bình quân 2 969 329 531 3 184 600 203 3 278 736 704
Lợi nhuận sau thuế 1 106 383 466 708 369 439 923 356 496
Kết quả tính toán cho biết, năm 2008 công ty có 1đ LNST thì mất 2.68đ VCSH.Năm 2009 là 4.50đ VCSH và năm 2010 là 3.55đ VCSH Kết quả nói lên rằng năm
2008 hiệu quả sử dụng VCSH cao nhất trong 3 năm Nguyên nhân làm giảm hiệu suất
là do có sự thay đổi của nguồn vốn chủ sở hữu mà chủ yếu là nguồn vốn kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn vay
Lợi nhuận kế toán trước thuế + chi phí lãi vay
Trang 28Sức sinh lời của nguồn vốn =
Tổng nguồn vốn bình quân
Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn vay trong kỳ
Lợi nhuận kế toán TT +
Chi phí lãi vay 1 516 383 466 1 188 065 272 1 244 898 055Tổng nguồn vốn bình
2009 Nếu so với lãi suất tiền vay hiện hành trong năm đó thì tỷ lệ là khá cao, chứng tỏhiệu quả sử dụng nguồn vốn tốt là động lực để công ty quyết định vay tiền đầu tư vàohoạt động kinh doanh Năm 2010 có tỷ lệ thanh toán thấp nhất do khoản nợ phải trảtăng nhanh
2.2.1.1.3 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí
Tỷ suất lợi nhuận (TSLN) so với giá vốn hàng bán
Lợi nhuận thuần từ kinh doanh
2008 Năm 2010 giảm xuống còn 3.01đ tương ứng với giảm (-)21% so với năm 2009
và giảm (-)52.67% so với năm 2008 Điều này chứng tỏ năm 2008 mức lợi nhuận trong
Trang 29giá vốn hàng bán lớn, còn năm 2009 và năm 2010 thì mức lợi nhuận trong giá vốnhàng bán giảm xuống, chủ yếu là do mức tăng giá vốn hàng bán quá lớn
Tỷ suất lợi nhuận (TSLN) so với chi phí bán hàng
2009 có giảm xuống mức 89.94đ tương ứng với giảm (-)9.05% nhưng cũng còn khácao, chấp nhận được Năm 2010 chỉ còn mức 39.34đ tương ứng với giảm (-)56.26% sovới năm 2009 và giảm (-)60.22% so với năm 2008 Điều này chứng tỏ năm 2009 vànăm 2010 chi phí bán hàng tăng quá nhanh làm giảm đáng kể lợi nhuận và công tycũng chưa làm tốt công tác giảm chi phí bán hàng
Tỷ suất lợi nhuận (TSLN) so với chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN)
Lợi nhuận thuần từ kinh doanh
Trang 3060.84đ lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Mức tỷ lệ này cao chứng tỏ mức lợinhuận trong chi phí QLDN lớn, công ty tiết kiệm được chi phí quản lý Năm 2009 giảmxuống mức 32.26đ tương ứng với giảm (-)47.01% trong khi chi phí QLDN chỉ tăng(+)0.48% Nguyên nhân chủ yếu là do doanh thu của công ty giảm sút Năm 2010 chỉcòn mức 32.03đ tương ứng với giảm (-)0.71% so với năm 2009 và giảm (-)47.35% sovới năm 2008 Nguyên nhân chủ yếu là do năm 2010 chi phí QLDN quá lớn Do vậycông ty cần cắt giảm hơn nữa chi phí QLDN
Tỷ suất lợi nhuận kế toán trước thuế (LNKT TT) so với tổng chi phí
Lợi nhuận kế toán trước thuế
Tỷ suất LNKT TT so với tổng chi phí = x 100 Tổng chi phí
Bảng 2.11: Tỷ suất LNKT TT so với tổng chi phí trong kỳ
2.2.1.2 Phân tích chỉ tiêu thanh toán
2.2.1.2.1 Tỷ lệ thanh toán hiện hành