1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tổng hợp và đặc trưng tính chất vật liệu nanocompozit từ tính kháng khuẩn, định hướng ứng dụng khử trùng nước thải

130 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 4,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đối tượng nước ô nhiễm vi sinh vật, oxit sắt từ nano có thể biến tính với các chất khử khuẩn khác nhau, các công bố khoa học theo hướng nghiên cứu này có xu hướng tăng lên mạnh mẽ tr

Trang 1

KHỬ TRÙNG NƯỚC THẢI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

KHỬ TRÙNG NƯỚC THẢI

Chuyên ngành: Hóa lý thuyết và hóa lý

Mã số: 9440119

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.PGS.TS Nguyễn Tuấn Dung 2.TS Lê Trọng Lư

HÀ NỘI – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận án này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Các số liệu, kết quả trình bày trong luận

án là trung thực và chưa được công bố trong luận án khác

Tác giả luận án

NCS Lê Thị Thu Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Dung và TS

Lê Trọng Lư, những người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong

suốt thời gian thực hiện luận án

Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Kỹ thuật nhiệt đới, Ban Giám đốc Học viện Khoa học và Công nghệ, cùng các cán bộ của Viện và Học viện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam và các đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ những khó khăn, tạo điều kiện

về thời gian và công việc cho tôi hoàn thành bản luận án này

Tôi xin chân thành cám ơn các cán bộ phòng Nghiên cứu Ứng dụng và Triển khai Công nghệ - Viện Kỹ thuật nhiệt đới và các thành viên của nhóm nghiên cứu đã giúp đỡ nhiệt tình để tôi thực hiện đề tài luận án Xin cảm ơn đề tài cấp Viện Hàn lâm KHCNVN mã số VAST07.04/17-18 và đề tài thuộc Quỹ Nafosted mã số 104.02-2019.331 đã cho phép tham gia nghiên cứu thực hiện luận án

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Lê Thị Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM VI SINH VẬT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ 4

1.1.1 Hiện trạng nước thải nhiễm vi sinh vật 4

1.1.2 Các phương pháp khử khuẩn 6

1.2 VẬT LIỆU OXIT SẮT TỪ NANO 9

1.2.1 Đặc tính của oxit sắt từ nano 9

1.2.2 Các phương pháp tổng hợp oxit sắt từ nano 11

1.2.3 Tổng hợp oxit sắt từ nano từ dung dịch tẩy gỉ 12

1.2.4 Ứng dụng của oxit sắt từ nano trong xử lý môi trường 14

1.3 VẬT LIỆU NANOCOMPOSIT Fe3O4/Ag 16

1.3.1 Vật liệu hạt bạc nano 17

1.3.2 Vật liệu nanocomposit Fe3O4/Ag 19

1.4 POLYME KHÁNG KHUẨN GỐC GUANIDIN 23

1.4.1 Giới thiệu chung về polyme kháng khuẩn 23

1.4.2 Các phương pháp tổng hợp Polyguanidin 24

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM 33

2.1 HÓA CHẤT, NGUYÊN LIỆU 33

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP VẬT LIỆU 33

2.2.1 Tổng hợp oxit sắt từ nano từ dung dịch tẩy gỉ 33

Trang 6

2.2.2 Nghiên cứu tổng hợp nanocomposit sắt từ với nano bạc 33

2.2.3 Tổng hợp nanocomposit Fe 3 O 4 /PHMG 37

2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐẶC TRƯNG VẬT LIỆU 39

2.3.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) 39

2.3.2 Phương pháp phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX) 40

2.3.3 Phương pháp phổ hồng ngoại (FTIR) 40

2.3.4 Phương pháp phổ tử ngoại khả kiến (UV-vis) 40

2.3.5 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) 41

2.3.6 Phương pháp phổ khối plasma cảm ứng (ICP-MS) 41

2.3.7 Phương pháp hiển vi điện tử quét xạ trường (FESEM) 41

2.3.8 Phương pháp kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) 41

2.3.9 Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) 42

2.3.10 Phương pháp từ kế mẫu rung (VSM) 42

2.3.11 Phương pháp xác định độ nhớt 42

2.3.12 Khảo sát sự tan nhả PHMG từ vật liệu nanocomposit 43

2.3.13 Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng khuẩn 43

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46

3.1 TỔNG HỢP OXIT SẮT TỪ NANO TỪ DUNG DỊCH TẨY GỈ 46

3.1.1 Kết quả xác định từ độ bão hòa 47

3.1.2 Kết quả phân tích cấu trúc và thành phần hóa học 49

3.1.3 Kết quả phân tích cấu trúc tinh thể 52

3.1.4 Kết quả phân tích hình thái cấu trúc 53

3.2 NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP NANOCOMPOSIT OXIT SẮT TỪ VỚI HẠT BẠC NANO 54

3.2.1 Tổng hợp nanocomposit Fe 3 O 4 /Ag trên nền chitosan 55

3.2.2 Tổng hợp nanocomposit dạng hạt oxit sắt từ-alginat với bạc nano 63

Trang 7

3.3 TỔNG HỢP NANOCOMPOSIT Fe3O4/PHMG 74

3.3.1 Tổng hợp PHMG 74

3.3.2 Tổng hợp vât liệu nanocomposit Fe 3 O 4 /PHMG 77

3.3.3 Tổng hợp vật liệu nanocomposit Fe 3 O 4 /PHMG biến tính epichlohydrin 85

3.3.4 Tổng hợp vật liệu nanocomposit dạng hạt Fe 3 O 4 -alginat/ PHMG 96

3.3.5 Thử nghiệm khử trùng mẫu nước thải bệnh viện 98

KẾT LUẬN CHUNG 103

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN 104

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA NGHIÊN CỨU SINH 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Phổ hấp thụ nguyên tử

B.subtilis : Bacillus subtilis

C.albican : Candida albican

E.coli : Escherichia coli

Phổ tán sắc năng lượng tia X

Kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường

Phổ khối plasma

Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier

L.fermentum : Lactobacillus fermentum

Nồng độ ức chế tối thiểu

Từ độ bão hòa

P.aeruginosa : Pseudomonas aeruginosa

S.aureus : Staphylococcus aureus

S.enterica : Salmonella enterica

Kính hiển vi điện tử truyền qua

Trang 9

TGA : Thermal gravimetric analysis

Phân tích nhiệt trọng lượng

UV - vis : Ultraviolet – visible

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần kim loại nặng có trong dung dịch tẩy gỉ 46

Bảng 3.2 Thể tích dung dịch tẩy gỉ tương ứng với nồng độ Fe2+ 48

Bảng 3.3 Thành phần các nguyên tố trong vật liệu Fe3O4 51

Bảng 3.4 Hàm lượng các kim loại nặng trong vật liệu Fe3O4 52

Bảng 3.5 Thành phần các nguyên tố trong nanocomposit Fe3O4 – CS/Ag tổng hợp trong dung dịch CS nồng độ khác nhau 57

Bảng 3.6 Kích thước vòng vô khuẩn đối với khuẩn E Coli 63

Bảng 3.7 Thành phần các nguyên tố trong vật liệu Fe3O4-alginat/Ag tổng hợp từ dung dịch AgNO3 có nồng độ khác nhau 70

Bảng 3.8 Hàm lượng Ag trong thành phần nanocomposit xác định bằng phương pháp ICP-MS 71

Bảng 3.9 Kết quả khử khuẩn E.coli của nanocomposit Fe3O4-alginat/Ag 72

Bảng 3.10 Kết quả xác định độ nhớt đặc trưng của PHMG 75

Bảng 3.11 Kết quả xác định IC50 và MIC trên vi khuẩn và nấm của PHMG 77

Bảng 3.12 Thành phần hóa học của Fe3O4 và Fe3O4/PHMG 81

Bảng 3.13 Giá trị đường kính vòng vô khuẩn trên khuẩn E.Coli 84

Bảng 3.14 Đường kính vòng vô khuẩn của Fe3O4/PHMG-Ep với E.coli 90

Bảng 3.15 Kết quả diệt khuẩn E Coli bằng Fe3O4/PHMG và Fe3O4/PHMG-Ep 93

Bảng 3.16 Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của vật liệu 97

Bảng 3.17: Chất lượng nước thải lấy từ bệnh viện Y học cổ truyền Dân tộc Trung ương. 99

Bảng 3.18 Chỉ tiêu chất lượng nước thải trước và sau khi xử lý 100

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Cấu trúc tinh thể của Fe3O4 [19] 10

Hình 1.2: Đường cong từ hóa M-H của oxit sắt từ nano siêu thuận từ [20] 10

Hình 1.3: Sơ đồ quá trình tổng hợp nano Fe3O4 từ dung dịch tẩy gỉ [38] 14

Hình 1.4 Phổ UV-Vis điển hình của hạt nano bạc [59] 18

Hình 1.5: (a) Giản đồ XRD và (b) đường cong từ hóa của Fe3O4, Ag và nanocomposit Ag/Fe3O4 [75] 21

Hình 1.6: Kết quả xác định vòng vô khuẩn của các mẫu Fe3O4/Ag-CS (1), Fe3O4 (2) và nanocomposit Ag -CS (3) đối với P.aeruginosa [76] 22

Hình 1.7: Hoạt tính kháng khuẩn MRSA của Ag nano (a), Fe3O4 và nanocomposit Fe3O4 –Ag (b) [77] 23

Hình 1.8: Các nhóm cation thường có mặt trong polyme kháng khuẩn 24

Hình 1.9: Khả năng kháng nấm của PHMG và amphoterixin B [87] 27

Hình 1.10: Khả năng diệt khuẩn E.coli theo nồng độ của PHMG trong thành phần composit với PLA và PHB [93] 30

Hình 1.11: Quy trình tổng hợp GO-PEG-PHMG [94] 31

Hình 2.1: Sơ đồ tổng hợp nanocomposit Fe3O4/Chitosan/Ag 34

Hình 2.2: Sơ đồ tổng hợp nanocomposit Fe3O4/alginat/Ag 36

Hình 2.3: Sơ đồ tổng hợp nanocomposit Fe3O4/PHMG 37

Hình 2.4: Hệ thống thiết bị tổng hợp PHMG 38

Hình 3.1 Đường cong từ trễ của vật liệu Fe3O4 tổng hợp từ dung dịch tẩy gỉ với tốc độ khuấy: (a) 200, (b) 400, (c) 600, (d) 800 vòng/phút 47

Hình 3.2 Đường cong từ trễ của vật liệu Fe3O4 tổng hợp từ dung dịch tẩy gỉ với nồng độ Fe2+ khác nhau: 0,5 (a); 0,9 (b); 1,1 (c); 1,2 (d) và 1,3 g/L (e) 49

Hình 3.3 Phổ FTIR của vật liệu Fe3O4 50

Hình 3.4 Phổ EDX của vật liệu Fe3O4 51

Hình 3.5 Giản đồ nhiễu xạ tia X của vật liệu Fe3O4 52

Hình 3.6 Ảnh FESEM của vật liệu Fe3O4 53

Hình 3.7 Ảnh TEM của vật liệu Fe3O4 54

Hình 3.8 Phổ EDX của nanocomposit Fe3O4 –CS/Ag tổng hợp với nồng độ CS là 0,1% (a), 0,25% (b) và 0,5% (c) 56

Trang 12

Hình 3.9 Đường cong từ hóa của nanocomposit Fe3O4 –CS/Ag tổng hợp trong

dung dịch CS với nồng độ khác nhau 58

Hình 3.10 Phổ FTIR của CS, Fe3O4 và Fe3O4-CS/Ag 59

Hình 3.11 Phổ UV - Vis của oxit sắt từ nano Fe3O4 (a) và nanocomposit Fe3O4 -CS/Ag (b) 60

Hình 3.12 Giản đồ nhiễu xạ tia X của nanocomposit Fe3O4 – CS/Ag 61

Hình 3.13 Ảnh FESEM của nanocomposit Fe3O4-CS/Ag 62

Hình 3.14 Ảnh TEM của nanocomposit Fe3O4-CS/Ag 62

Hình 3.15 Ảnh thử nghiệm xác định vòng vô khuẩn với E.coli của Fe3O4 (a); Fe3O4/CS (b) và nanocomposit Fe3O4-CS/Ag (c) 63

Hình 3.16 Ảnh hiển vi quang học của hạt tạo thành từ dung dịch Na alginat có nồng độ: 0,2% (a); 0,5% (b); 1% (c); 1,5% (d) 64

Hình 3.17 Đường cong từ hóa của Fe3O4-alginat với hàm lượng Fe3O4 là: 10% (a), 25% (b), 40% (c), 75% (d) 65

Hình 3.18 Ảnh hạt nanocomposit Fe3O4-alginat 66

Hình 3.19 Phổ hồng ngoại của alginat (a), Fe3O4 (b) và Fe3O4-alginat (c) 67

Hình 3.20 Ảnh FESEM của hạt alginat 67

Hình 3.21 Ảnh FESEM của hạt nanocomposit Fe3O4-alginat 68

Hình 3.22 Phổ EDX của hạt nanocomposit Fe3O4-alginat/Ag tổng hợp từ dung dịch AgNO3 có nồng độ khác nhau 5mM (a), 10 mM (b) và 15 mM (c) 69

Hình 3.23 Ảnh FESEM của nanocomposit Fe3O4-alginat/Ag 71

Hình 3.24 Ảnh thử nghiệm khả năng kháng khuẩn E.coli của nanocomposit Fe3O4 -alginat/Ag với các hàm lượng khác nhau: (a) mẫu đối chứng (độ pha loãng 103); (b) 98 mg/L; (c) 175 mg/L; (d) 503 mg/L; (e) 528 mg/L (không pha loãng) 73

Hình 3.25 Phổ hồng ngoại của PHMG 74

Hình 3.26: Sự phụ thuộc độ nhớt rút gọn r C  vào nồng độ dung dịch PHMG 76

Hình 3.27 Phổ hồng ngoại của Fe3O4 (a) và Fe3O4/PHMG (b) 78

Hình 3.28 Giản đồ XRD của Fe3O4 (a) và Fe3O4/PHMG (b) 79

Hình 3.29 Phổ EDX của vật liệu Fe3O4 (a) và Fe3O4/ PHMG (b) 80

Hình 3.30 Giản đồ TGA của Fe3O4 (a) và nanocomposit Fe3O4/PHMG (b) 81

Hình 3.31 Ảnh hiển vi điện tử quét xạ trường của vật liệu Fe3O4 và nanocomposit

Trang 13

Fe3O4/ PHMG 82

Hình 3.32 Đường cong từ hóa của hạt Fe3O4 (a) và Fe3O4/PHMG (b) 83

Hình 3.33 Ảnh chụp các mẫu xét nghiệm độ kháng khuẩn của PHMG (a) và Fe3O4/ PHMG (b) 84

ở các nồng độ 5,0 mg/mL (1); 1,7 mg/mL (2) và 0,5 mg/mL (3) 84

Hình 3.34 Sự phụ thuộc của độ nhớt động lực của PHMG biến tính vào hàm lượng epichlohydrin 85

Hình 3.35 Phổ hồng ngoại của epichlohydrin (a), PHMG (b), và PHMG biến tính với epichlohydrin (c) 86

Hình 3.36: Phản ứng giữa PHMG và epichlohydrin 87

Hình 3.37 Giản đồ TGA của Fe3O4 (a), nanocomposit Fe3O4/ PHMG (b) và Fe3O4/ PHMG-Ep (c) 87

Hình 3.38 Phổ FTIR của PHMG (a) và nanocomposit Fe3O4/PHMG-Ep (b) 88

Hình 3.39 Ảnh FESEM của nanocomposit Fe3O4/PHMG–Ep 89

Hình 3.40 Đường cong từ hóa của hạt Fe3O4 và Fe3O4/PHMG-Ep 90

Hình 3.41 Ảnh thử nghiệm đục lỗ thạch với E.coli của Fe3O4/PHMG-Ep với các nồng độ: (1) 5; (2) 1,7 và (3) 0,5 mg/mL 90

Hình 3.42 Xây dựng đường chuẩn phân tích PHMG 92

Hình 3.43 Lượng PHMG tan nhả theo thời gian từ vật liệu nanocomposit 92

Hình 3.44 Ảnh chụp kết quả xác định mật độ E.coli sau khi xử lý bằng Fe3O4/PHMG nồng độ 2ppm, thời gian tiếp xúc 5 phút: 94

Hình 3.45 Ảnh chụp kết quả xác định mật độ E.coli sau khi xử lý bằng vật liệu Fe3O4/PHMG-Ep nồng độ 2ppm, thời gian tiếp xúc 5 phút: 96

Hình 3.46 Lượng PHMG tan nhả từ hạt nanocomposit Fe3O4-alginat/PHMG 97

Hình 3.47 Xác định mật độ E.coli sau khi xử lý bằng Fe3O4 - alginat/PHMG: 98

Hình 3.48 Ảnh chụp kết quả xác định tổng Coliform trong nước thải bệnh viện trước (a) và sau khi xử lý bằng 10 ppm Fe3O4/PHMG-Ep (b), 30 ppm Fe3O4/PHMG-Ep (c), 5 ppm PHMG 101

Trang 14

MỞ ĐẦU

Hiện nay ở Việt Nam, với tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh chóng cùng với sự gia tăng dân số đang gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước Mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước vẫn đang là vấn đề rất đáng lo ngại

Trong số các tác nhân ô nhiễm nước, các loại vi sinh vật gây bệnh có tác hại đặc biệt nguy hiểm Nước ô nhiễm các loại vi khuẩn này nếu không được kiểm soát

và xử lý tốt sẽ dẫn đến việc lan truyền các dịch bệnh trong cộng đồng như thương hàn, kiết lỵ, dịch tả, viêm gan, tiêu chảy… Cho đến nay, các chất khử trùng sử dụng phổ biến là ozon và các chế phẩm clo hoạt tính Tuy hiệu quả xử lý tốt nhưng ozon thường không ổn định, các hợp chất clo hoạt tính tồn dư cũng tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho môi trường Việc nghiên cứu phát triển các hệ vật liệu khử khuẩn hiệu quả cao và thân thiện môi trường do đó được đặc biệt quan tâm thời gian gần đây

Trong lĩnh vực xử lý nước, vật liệu nano từ gần đây được nghiên cứu rất mạnh

mẽ nhờ có các ưu điểm vượt trội: bề mặt riêng lớn, hiệu quả xử lý tốt, an toàn môi trường và đặc biệt là dễ dàng thu hồi, tách loại sau khi xử lý với sự hỗ trợ của từ trường Mặt khác, hạt nano từ còn có khả năng dễ dàng biến tính, chức năng hóa bề mặt, tạo ra các vật liệu nanocomposit có tính năng rất đa dạng và hấp dẫn Với đối tượng nước ô nhiễm vi sinh vật, oxit sắt từ nano có thể biến tính với các chất khử khuẩn khác nhau, các công bố khoa học theo hướng nghiên cứu này có xu hướng tăng lên mạnh mẽ trong những năm gần đây

Hạt bạc nano từ lâu đã được quan tâm làm chất diệt khuẩn do có hoạt tính cao đối với vi khuẩn cả gram (+) và gram (-) Để tăng hoạt tính kháng khuẩn của bạc, gần đây các nhà khoa học tập trung nghiên cứu tổng hợp hạt bạc nano trên các chất mang khác nhau Việc sử dụng chất mang là sắt từ nano có ưu điểm vượt trội về khả năng thu hồi sau khi xử lý, tránh được việc thải bạc nano một cách không kiểm soát Điều này đặc biệt hấp dẫn, khi gần đây có một số ý kiến cho rằng hạt bạc nano dù sao cũng có khả năng gây độc hại cho con người

Ngoài bạc nano, hoạt tính kháng khuẩn của một số polyme cũng được quan tâm chú ý, đặc biệt là polyme gốc guanidin, đây là nhóm hợp chất có hoạt tính diệt

Trang 15

khuẩn mạnh trên phổ rộng và không độc Polyguanidin được nghiên cứu khá mạnh thời gian gần đây để ứng dụng làm chất khử trùng cho nước ô nhiễm Cho đến nay, các nghiên cứu hầu hết đều sử dụng polyguanidin ở dạng tự do, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp composit của polyguanidin với sắt từ nano

Trong lĩnh vực xử lý nước thải, việc giảm giá thành vật liệu xử lý là rất quan trọng, để có thể mở rộng phạm vi ứng dụng thực tế Hướng nghiên cứu sử dụng các vật liệu có nguồn gốc thiên nhiên, hoặc tái sử dụng từ các chất thải công nghiệp khác nhau, đang thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của đông đảo các nhà khoa học trên thế giới Dung dịch tẩy gỉ thải bỏ sau khi sử dụng của các nhà máy gia công sắt, thép là một nguồn nước thải chứa sắt rất đáng chú ý Đây là một chất thải được xếp vào loại nguy hại do nồng độ sắt và đặc biệt độ axit rất cao (pH thường <0,1) Phương pháp xử lý dung dịch tẩy gỉ thường là trung hòa bằng vôi sống (CaO) hoặc các tác nhân kiềm rẻ tiền khác rồi thải bỏ Việc xử lý như vậy sẽ sinh ra lượng bùn lớn, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nước ngầm do rò rỉ kim loại nặng Khoảng chục năm trở lại đây, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu tái sử dụng dung dịch tẩy gỉ, các muối và oxit sắt, tuy nhiên các sản phẩm này có giá trị rất hạn chế, nên việc áp dụng thực tế gặp khó khăn

Từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu tổng hợp và đặc

trưng tính chất vật liệu nanocomposit từ tính kháng khuẩn, định hướng ứng dụng khử trùng nước thải”, là hết sức cần thiết

* Mục tiêu nghiên cứu

Tổng hợp và đặc trưng tính chất của nanocomposit từ tính kháng khuẩn, sử dụng sắt thu hồi từ dung dịch tẩy gỉ thải bỏ của nhà máy thép, biến tính với tác nhân kháng khuẩn hạt bạc nano và polyme khử khuẩn gốc guanidin Vật liệu có hoạt tính kháng khuẩn cao, thân thiện môi trường và dễ dàng tách loại sau khi xử lý

* Nội dung nghiên cứu

- Tổng hợp và đặc trưng tính chất của oxit sắt từ nano từ dung dịch tẩy gỉ thải bỏ

Trang 16

oxit sắt từ nano Khảo sát đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của vật liệu

- Thử nghiệm ứng dụng vật liệu nanocomposit từ tính kháng khuẩn để xử lý mẫu nước thải thực tế

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM VI SINH VẬT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ

1.1.1 Hiện trạng nước thải nhiễm vi sinh vật

Theo thống kê và đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên – Môi trường, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9000 người tử vong vì nguồn nước ô nhiễm và điều kiện vệ sinh kém [1] Trong số các tác nhân ô nhiễm nước, vi sinh vật gây bệnh

có tác hại hết sức nghiêm trọng do khả năng lan truyền dịch bệnh rất nguy hiểm Các nguồn nước thải bị ô nhiễm vi sinh vật chủ yếu là nước thải sinh hoạt, nước thải khu chăn nuôi và nước thải bệnh viện

a) Nước thải sinh hoạt

Tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam đang diễn nhanh chóng dẫn đến tình trạng ô nhiễm nước rất nặng nề do cơ sở hạ tầng phát triển không cân xứng Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại đô thị đặc biệt thô sơ Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ, nồng độ dao động trong khoảng 150-450 mg/L, ngoài ra còn chứa các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi rút gây bệnh rất nguy hiểm Trong nước thải sinh hoạt

không xử lý có thể chứa tới hàng triệu vi khuẩn trong 1 mL, bao gồm Coliform, Streptococcus, các trực khuẩn khị khí sinh bào tử, nhóm Proteus và các loại khác có nguồn từ đường ruột con người Tổng Coliform có thể lên đến trên 107 CFU/100mL [1,2]

b) Nước thải chăn nuôi

Chăn nuôi là một trong những ngành nông nghiệp phát triển nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm qua Chăn nuôi phát triển có thể gây ô nhiễm đất, nước

và không khí, gây ra những tác động đáng kể đến sức khỏe con người và sức khỏe động vật, hệ sinh thái Chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường không những do chất thải của chính vật nuôi mà còn do quá trình sản xuất chăn nuôi tạo nên (bao gồm chất thải từ các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, quá trình giết mổ, sản xuất thuốc thú y, chuẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật, xử lý ổ dịch ) Theo báo cáo của đề

tài “Quản lý môi trường trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam trong bối cảnh Việt

Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” của Viện Địa lý Nhân

Trang 18

văn do ThS Nguyễn Thị Kim Dung làm chủ nhiệm [3], tổng khối lượng phân gia súc tạo ra trên toàn quốc năm 2016 ước tính là 86,73 triệu tấn, trong đó lợn chiếm nhiều nhất (30,6%), sau đó đến gia cầm (30,4%), tiếp đến là bò (23,1%) và trâu (15,9%) Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa nitơ, phốt pho, kim loại nặng và các vi sinh vật gây hại khác Ngoài ra, ô nhiễm môi trường còn có thể xảy ra trong quá trình giết mổ, sơ chế sản phẩm động vật Quá trình sinh sống của gia súc, gia cầm ngoài thải ra chất thải nói trên thì còn bài thải các loại khí hình thành từ quá trình hô hấp của vật nuôi và thải ra các loại mầm bệnh, ký sinh trùng, các vi sinh vật

có thể gây hại đến sức khỏe con người và môi trường sinh thái như: E Coli, Salmonella, Streptococcus fecalis, Enterobacteriae… Nồng độ vi sinh có thể lên tới

107-108 CFU/mL [3] Đồng thời, nước thải từ các cơ sở giết mổ gia súc cũng có nồng độ ô nhiễm rất cao bao gồm nhiều loại vi sinh vật gây bệnh [4]

c) Nước thải y tế

Nước thải y tế là nước thải phát sinh từ các cơ sở y tế Trong nước thải y tế, ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như các chất hữu cơ, còn có những chất bẩn khoáng và chất hữu cơ đặc thù, các vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh và có thể có các đồng

vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh [5,6]

Nước thải y tế có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh như: Samonella typhi gây bệnh thương hàn, Samonella paratyphi gây bệnh phó thương hàn, Shigella sp gây bệnh lỵ, Vibrio cholerae gây bệnh tả,

Ngoài ra trong nước thải y tế còn chứa các vi sinh vật gây nhiễm bẩn nguồn nước từ phân như sau:

- Coliforms và Fecal coliforms: Coliform là các vi khuẩn hình que gram âm

có khả năng lên men lactose để sinh ga ở nhiệt độ 35 ± 0,5oC Coliform có khả năng

sống ngoài đường ruột của động vật (tự nhiên), đặc biệt trong môi trường khí hậu

nóng Nhóm vi khuẩn coliform chủ yếu bao gồm các loài như Citrobacter, Enterobacter, Escherichia, Klebsiella và cả Fecal coliforms (trong đó E coli là loài

thường dùng để chỉ định nguồn nước bị ô nhiễm bởi phân)

- Fecal streptococci: nhóm này bao gồm các vi khuẩn chủ yếu sống trong đường ruột của động vật như Streptococcus bovis và S equinus Một số loài có

Trang 19

phân bố rộng hơn hiện diện cả trong đường ruột của người và động vật như S faecalis và S faecium

- Clostridium perfringens: đây là loại vi khuẩn chỉ thị duy nhất tạo bào tử

trong môi trường yếm khí

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế (QCVN 28:2010/ BTNMT) của

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định tổng Coliform từ 3000 – 5000 MPN/100

mL, các khuẩn Salmonella, Shigella, Vibrio cholerae không phát hiện [7] Trên thực

tế mẫu nước thải bệnh viện có chỉ số vi sinh cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn, tổng

Coliform dao động từ 106 đến 109 (MNP/100mL) (MNP - Most probable number) [8]

- Khử khuẩn bằng phương pháp lọc màng: Màng lọc được sử dụng để tách

các chất rắn hoặc tan ra khỏi nước tùy thuộc vào kích thước mao quản của màng Kích thước của phần lớn các loại vi sinh vật nằm trong khoảng độ lớn μm, còn kích thước mao quản của màng vi lọc nằm trong vùng 0,1 – 20 μm, của màng siêu vi lọc nhỏ hơn 0,1 μm Màng vi lọc và siêu vi lọc vì vậy có thể sử dụng để tách loại vi sinh ra khỏi môi trường nước Nhược điểm của phương pháp này là hay bị tắc màng

[10]

- Khử khuẩn bằng siêu âm: Dùng sóng siêu âm với cường độ lớn có thể tiêu

diệt toàn bộ vi sinh vật trong nước [10]

- Khử khuẩn bằng phương pháp nhiệt: Đây là phương pháp cổ truyền, nước

được đun sôi khoảng 100°C [10]

b) Các phương pháp hóa học

Trang 20

Cơ sở của phương pháp hóa học là sử dụng các chất oxy hóa mạnh để oxy hóa men của tế bào vi sinh và tiêu diệt chúng Các hóa chất thường được sử dụng là: clo, ozon, hydro peroxit Do hiệu suất cao nên phương pháp khử trùng bằng hóa chất đang được áp dụng rộng rãi ở mọi quy mô

- Khử khuẩn bằng các hợp chất của clo

Các hợp chất clo là tác nhân diệt khuẩn được sử dụng phổ biến nhất để khử các mầm bệnh trong nước, thường sử dụng khí clo, cloramin và hypoclorit Các yếu

tố nhiệt độ, độ pH và hàm lượng hữu cơ trong nước ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình khử trùng

Khí clo khi hòa tan trong nước sẽ tạo thành axit clohydric (HCl) và axit hipoclorơ

(HOCl) (phương trình 1.1), có tác dụng diệt khuẩn cực mạnh, làm thay đổi cấu trúc hóa học của các enzyme, chính là nền tảng của cơ chế dinh dưỡng của vi khuẩn, từ

đó ức chế sự phát triển cũng như sự sống của chúng [11]

Cl2 + H2O ↔ H+

Clo dioxit là một chất diệt khuẩn khác, có hoạt tính bằng hoặc cao hơn clo Clo

dioxit là chất khí màu vàng lục, mùi hắc, tan trong nước nhưng kém bền thường được tạo ra từ natri hypoclorit và axit clohydric theo phản ứng sau [12]:

5 NaClO2 + 4 HCl ↔ 4 ClO2 + 5 NaCl + 2 H2O (1.2)

Natri hypoclorit (NaOCl) là hợp chất clo hoạt tính từ lâu đã được ứng dụng trong

lĩnh vực khử trùng hóa học Trong môi trường nước NaOCl thủy phân theo các phản ứng sau:

Trang 21

ammoniac được thêm vào bể chứa clo Tuy nhiên, NH2Cl khử trùng yếu hơn so với clo tự do, kém hiệu quả đối với virus [13]

Các hợp chất clo hoạt tính tuy khử trùng hiệu quả nhưng có nhược điểm là chúng có thể tạo thành các sản phẩm phụ không mong muốn Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng clo dư sẽ phản ứng với các hợp chất hữu cơ tự nhiên (như axit humic và axit fulvic) tạo thành một loạt các hợp chất halogen-hữu cơ độc hại như trihalometan, axit haloacetic, chlorophenol, chloral hydrat và haloacetonitril, trong

đó trihalomethan và acetoacetic được cho là chất gây ung thư [12,14]

- Khử khuẩn bằng hydro peoxit

H2O2 là một chất oxy hóa mạnh, hơn cả clo, clo dioxit Thế oxy hóa của

H2O2 chỉ sau ozon, có tác dụng diệt khuẩn cũng như các chất ô nhiễm khác trong nước H2O2 phản ứng rất nhanh, không tạo ra sản phẩm phụ, tuy nhiên có nhược điểm là dễ phân hủy ở nhiệt độ cao và trong nguồn nước bẩn [15,16]

hiện theo hai cách:

- Sản xuất nước Javel tại chỗ bằng phương pháp điện phân muối ăn và sử

dụng sản phẩm làm chất khử khuẩn

- Điện phân trực tiếp nguồn nước cần xử lí chứa sẵn một lượng muối hoặc

Trang 22

chủ động đưa thêm vào

Trong quá trình điện phân sinh ra oxy nguyên tử có tính năng oxy hóa cao sẽ phân hủy các chất hữu cơ của cơ thể vi sinh Áp dụng phương pháp này cần phải lưu ý oxy nguyên tử có thời gian sống ngắn và chỉ có tác dụng trong vùng không gian hẹp bao quanh điện cực anot [18]

1.2 VẬT LIỆU OXIT SẮT TỪ NANO

1.2.1 Đặc tính của oxit sắt từ nano

Oxit sắt là những hợp chất kết hợp các nguyên tử Fe với O, trong đó Fe có thể tồn tại ở trạng thái oxy hóa +2 hoặc +3 Hầu hết các oxit sắt đều có cấu trúc, trật

tự và kích thước tinh thể xác định, tuy nhiên trong một số trường hợp nó phụ thuộc vào quá trình tổng hợp Có ba dạng oxit sắt quan trọng là hematit (- Fe2O3), maghemit (γ- Fe2O3) và magnetit (Fe3O4), trong đó hematit không có từ tính [19].

γ - Fe2O3 và Fe3O4 đềucó cấu trúc lập phương tâm mặt Trong mạng tinh thể của Fe3O4 có 8 ô mạng cơ sở chứa cả Fe3+ và Fe2+ dạng octahedral/tetrahedral (hình 1.1) Do chứa các electron tại phân lớp 5d linh động nên xảy ra quá trình chuyển đổi điện tử giữa Fe3+ và Fe2+, dẫn đến khả năng dẫn điện, dẫn nhiệt của vật liệu cao

Fe3O4 có thể được xem như bán kim loại, có đầy đủ spin phân cực để chuyển thành các electron âm quay phân cực tại mức Fermi Trong khi đó γ - Fe2O3 cũng có cấu trúc tinh thể tương tự như Fe3O4 nhưng hầu hết Fe trong γ - Fe2O3 ở trạng thái Fe3+,

tế bào chứa 32 O2- và 64/3 Fe3+ và 7/3 lỗ trống, mỗi cặp cation trạng thái tetrahedral

và lỗ trống ở octaheral Do tính siêu thuận từ, tính dẫn nhiệt và dẫn điện tốt hơn nên vật liệu Fe3O4 có ưu thế hơn hẳn so với γ - Fe2O3

Trang 23

Hình 1.1 Cấu trúc tinh thể của Fe3O4 [19]

Thời gian gần đây hướng nghiên cứu tổng hợp oxit sắt từ kích thước nanomet được phát triển rất mạnh mẽ, hướng tới nhiều ứng dụng khác nhau trong các lĩnh vực hóa học, y tế và môi trường Mối quan hệ giữa hình dáng, kích thước của vật liệu tới tính chất từ đã được nghiên cứu rất rộng rãi Các công bố chỉ ra rằng, khi giảm kích thước hạt xuống dưới một giới hạn nhất định, độ từ dư không còn được giữ theo các định hướng xác định bởi dị hướng hình dạng hoặc dị hướng tinh thể của hạt nữa Trong trường hợp này, ngay ở nhiệt độ phòng, năng lượng nhiệt đủ để vượt ngưỡng năng lượng dị hướng của một hạt nano đơn, vật liệu sẽ có tính siêu thuận từ Nhìn chung, các hạt từ tính có bán kính giảm xuống khoảng 20

nm sẽ trở thành siêu thuận từ, khi đó tính chất từ trở nên hết sức thú vị [20]

Có nhiều tính chất từ được khảo sát để đặc trưng vật liệu oxit sắt từ nano, nhưng phương pháp xác định phản ứng của vật liệu với từ trường, xác định độ từ hóa từ các vòng từ trễ (M – H) thường được sử dụng nhất Đường cong từ hóa M-H của oxit sắt từ nano cũng tương tự như các chất siêu thuận từ với 2 đặc điểm cơ bản: (i) tiến tới bão hòa theo định luật Langevin và (ii) không có hiện tượng trễ, tức là lực kháng từ bằng 0 (hình 1.2) Quá trình khử từ của các chất siêu thuận từ xảy ra không cần lực kháng từ, vì đó không phải là quá trình tác dụng của từ trường ngoài,

mà do tác dụng của năng lượng nhiệt [21]

Hình 1.2: Đường cong từ hóa M-H của oxit sắt từ nano siêu thuận từ [20]

Trang 24

1.2.2 Các phương pháp tổng hợp oxit sắt từ nano

Có nhiều phương pháp được áp dụng để tổng hợp oxit sắt từ nano: đồng kết tủa, phân hủy nhiệt, thủy nhiệt, sol-gel, vi nhũ, vi sóng Các phương pháp này được chia thành hai nhóm: tổng hợp trong môi trường nước và môi trường không nước Phương pháp tổng hợp trong môi trường nước được áp dụng rộng rãi hơn vì dễ thực hiện, không đắt tiền và thân thiện môi trường

- Phương pháp đồng kết tủa: là phương pháp phổ biến nhất để chế tạo hạt oxit

sắt từ nano Nguyên lý của phương pháp này là phối trộn ion Fe(II) và Fe(III) theo

tỷ lệ mol là 1:2, trong môi trường kiềm mạnh (thường dùng NaOH hoặc NH4OH), ở nhiệt độ phòng hoặc nhiệt độ cao hơn Phản ứng diễn ra theo phương trình sau:

Fe2+ + 2Fe3+ + 8OH− ⇆ Fe(OH)2 + 2Fe(OH)3 → Fe3O4↓ + 4H2O (1.6) Sau công bố đầu tiên của Massart và cộng sự [22], phương pháp tổng hợp này được nghiên cứu áp dụng rất rộng rãi do có nhiều ưu điểm: quy trình đơn giản, chi phí thấp, thân thiện môi trường và có thể chế tạo được lượng sản phẩm lớn

Gần đây, một số công trình nghiên cứu cải tiến phương pháp đồng kết tủa đã được công bố để nâng cao tính chất của oxit sắt từ nano Năm 2012 Pereira và cộng

sự đã báo cáo một quy trình đồng trùng hợp “1 bước” để thu được oxit sắt từ nano kích thước 4,9–6,3 nm rất đơn giản với hiệu suất cao, bằng cách sử dụng alkaloamin làm tác nhân kiềm [23] Năm 2017 Lukowiec và cộng sự đã nghiên cứu tổng hợp hạt oxit sắt từ nano bằng phương pháp đồng kết tủa hóa học cải tiến: hạt oxit sắt từ nano tổng hợp trong dung dịch axit tartaric có kích thước khoảng 2,9 – 12,2 nm và

có giá trị năng lượng vùng cấm cao nhất (3,01eV) [24]

- Phương pháp thủy nhiệt: được thực hiện trong điều kiện nhiệt độ và áp suất

cao (trong khoảng 130 – 250°C và 0,3 – 4,0 MPa) Các dung dịch muối Fe(II) và Fe(III) được trộn lẫn vào nhau theo tỷ lệ mol 1:2 và cho vào autoclave để thực hiện phản ứng Phương pháp này cho phép thu được oxit sắt từ nano có độ kết tinh cao hơn phương pháp đồng kết tủa, đồng thời dễ kiểm soát kích thước và hình dáng sản phẩm hơn [25]

- Phương pháp phân hủy nhiệt: là phương pháp “không nước”, thực hiện ở

Trang 25

nhiệt độ cao Có hai cách tiếp cận: (i) các tiền chất được đưa thẳng vào bình phản ứng đã gia nhiệt; (ii) các tiền chất được phối trộn ở nhiệt độ phòng, sau đó mới gia nhiệt Phương pháp này cho phép tạo ra vật liệu có độ kết tinh và mức độ đơn phân tán cao hơn, kích thước đồng đều hơn phương pháp đồng kết tủa [26] Các tiền chất thường được sử dụng là Fe(CO)5 [27], Fe(acac)3 (acac = acetylacetonate) [28], oleat

Fe4[Fe(CN)6·14H2O] [31] Để thu được hạt từ nano đơn phân tán, trong phương pháp tổng hợp này còn sử dụng thêm các chất ổn định như axit oleic, 1-octadecen, 1-tetradecen, và oleylamin

- Phương pháp sol-gel: thường sử dụng tiền chất là các alkoxid sắt và muối

sắt (clorua, nitrat hay axetat), thông qua phản ứng thủy phân và trùng ngưng [32] Quá trình này được thực hiện trước tiên ở nhiệt độ phòng, sau đó nung ở nhiệt độ cao để vật liệu chuyển sang trạng thái tinh thể [33] So với phương pháp đồng kết tủa, phương pháp sol-gel cho phép tạo ra oxit sắt từ nano có độ kết tinh cao hơn và

có tính ưa nước hơn Tuy nhiên phương pháp này phức tạp, đắt tiền hơn và sử dụng nhiều ancol

1.2.3 Tổng hợp oxit sắt từ nano từ dung dịch tẩy gỉ

Tẩy gỉ là công đoạn xử lý bề mặt rất quan trọng trong quy trình gia công thép Lớp gỉ bao gồm các hợp chất FeO, Fe3O4, Fe2O3 có thể dày đến 0,01 - 0,1

mm, thường được xử lý bằng các dung dịch axit sunfuric H2SO4 hoặc axit clohidric HCl Thông thường HCl được sử dụng phổ biến hơn do có tốc độ hòa tan gỉ nhanh hơn Dung dịch tẩy gỉ sau khi sử dụng một thời gian sẽ có hàm lượng sắt ngày càng tăng lên và độ axit sẽ giảm đi làm suy giảm hiệu quả tẩy gỉ, đến một lúc nào đó thì phải thải bỏ

Lượng dung dịch tẩy gỉ thải bỏ của các nhà máy gia công thép rất lớn Trung bình khi sản xuất 1 tấn ống thép tráng kẽm sẽ thải ra môi trường khoảng 4 kg Fe dưới dạng FeCl2 trong dung dịch tẩy gỉ Hàm lượng FeCl2 trong dung dịch tẩy gỉ khoảng 70-100 gFe/L, pH rất thấp, dưới 0,1, do đó dung dịch tẩy gỉ bị xếp vào loại chất thải nguy hại [34], cần phải được xử lí để đáp ứng tiêu chuẩn nước thải đầu ra (pH phải nằm trong khoảng 6 - 9, hàm lượng sắt là 3 mg/L) Phương pháp xử lí phổ thông nhất thường là trung hòa bằng vôi sống (CaO) hoặc các tác nhân kiềm rẻ tiền

Trang 26

khác rồi thải bỏ Dung dịch tẩy gỉ tuy không có giá trị cao nhưng là chất thải độc hại, việc xử lí như vậy sẽ phát sinh thêm chi phí và sinh ra lượng bùn lớn, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nước ngầm do rò rỉ kim loại nặng Khoảng chục năm trở lại đây, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu các phương pháp khác nhau nhằm thu hồi và tái sử dụng dung dịch tẩy gỉ: sử dụng màng trao đổi anion, điện phân, tách màng, kết tủa chọn lọc Các nghiên cứu này cho phép giảm xả thải các chất độc hại trực tiếp ra môi trường, thu hồi và tái sử dụng axit, các muối và oxit sắt Fe2O3, tuy nhiên các sản phẩm có giá trị rất hạn chế, phần nào làm giảm tính hiệu quả và phạm vi áp dụng thực tế [35-37]

Nghiên cứu tái sử dụng dung dịch tẩy gỉ thải bỏ thành vật liệu có giá trị, ví

dụ như oxit sắt từ kích thước nano, mới chỉ được công bố bởi Tang và cộng sự năm

2009 [38] Các tác giả đã thực hiện phản ứng tổng hợp oxit sắt từ nano từ dung dịch tẩy gỉ theo sơ đồ như trình bày trên hình 1.3 pH của môi trường phản ứng được giữ

ở pH 13 và điều chỉnh bằng dung dịch NaOH Tỷ lệ mol giữa Fe(III)/Fe(II) được điều chỉnh và giữ ở tỷ lệ 2:1 bằng cách cho thêm tác nhân oxy hóa NaClO4, có tác dụng oxy hóa Fe(II) trong dung dịch tẩy gỉ thành Fe(III) Phản ứng thực hiện ở nhiệt độ 75oC trong bể siêu âm với tần số 40 kHz Kết quả phân tích XRD và TEM

đã chứng minh cấu trúc và hình thái của sản phẩm thu được chính là Fe3O4, kích thước 13-23 nm, độ kết tinh cao Kết quả đo từ hóa cho thấy vật liệu có tính chất siêu thuận từ, từ độ bão hòa đạt 67,77 emu/g

Trang 27

Hình 1.3: Sơ đồ quá trình tổng hợp nano Fe3O4 từ dung dịch tẩy gỉ [38]

1.2.4 Ứng dụng của oxit sắt từ nano trong xử lý môi trường

Oxit sắt từ nano được coi là vật liệu có tiềm năng to lớn ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Thời gian gần đây vật liệu nano từ được nghiên cứu phát triển rất mạnh mẽ trong lĩnh vực xử lý môi trường nhờ có các ưu điểm vượt trội: bề mặt riêng lớn, hiệu quả xử lý tốt, giá thành hợp lý, thân thiện môi trường và đặc biệt

là dễ dàng thu hồi, tách loại sau khi xử lý với sự hỗ trợ của từ trường Các nghiên cứu chủ yếu hướng đến ứng dụng làm vật liệu hấp phụ kim loại nặng và các chất ô nhiễm hữu cơ

Nhiều công bố cho rằng oxit sắt từ nano có khả năng hấp phụ tốt kim loại nặng Năm 2010 Nassar và cộng sự đã nghiên cứu quá trình hấp phụ ion Pb (II) của Fe3O4 nano và thu được kết quả dung lượng hấp phụ cực đại đạt tới 36 mg/g [39] Kích thước nhỏ của vật liệu hấp phụ đã làm tăng quá trình khuếch tán ion kim loại từ dung dịch tới các trung tâm hoạt tính của bề mặt chất hấp phụ

Trong một nghiên cứu khác, Shen và cộng sự đã nghiên cứu ứng dụng Fe3O4 nano để xử lý nước có chứa các ion Cd2+, Cr6+, Cu2+ và Ni2+ Các kết quả đã chỉ ra rằng cơ chế hấp phụ chủ yếu là tương tác tĩnh điện, và diện tích bề mặt hạt Fe3O4,

pH và nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới dung lượng hấp phụ Tại nhiệt độ phòng, pH =

4, kích thước trung bình của Fe3O4 là 8 nm cho kết quả hấp phụ có dung lượng lớn hơn cỡ 6 lần so với loại hạt micro [40]

Gautam và cộng sự mới công bố gần đây, rằng vật liệu nano siêu thuận từ

Fe3O4 có khả năng tách loại rất hiệu quả ion Ni(II) trong môi trường nước Quá trình hấp phụ phụ thuộc vào pH và đạt hiệu suất cao nhất tại pH = 8 [41]

Sắt từ nano cũng được công bố có thể ứng dụng để tách loại và thu hồi Cr(VI) với giá trị dung lượng hấp phụ tương đương các vật liệu hấp phụ truyền thống như than hoạt tính và khoáng sét [42]

Năm 2018, Nguyễn Thị Luyến và cộng sự đã nghiên cứu tổ hợp Fe3O4 – than sinh học ứng dụng để xử lý nguồn nước bị ô nhiễm bằng phương pháp đồng kết tủa Nghiên cứu cho thấy, vật liệu tổ hợp không những cho hiệu quả hấp phụ các ion

Trang 28

kim loại nặng và chất màu hữu cơ cao, mà còn có thể dễ dàng tái sử dụng [43]

Oxit sắt từ nano cũng được nghiên cứu hấp phụ các chất ô nhiễm hữu cơ trong nước Năm 2010, Iram và cộng sự đã công bố kết quả khảo sát khả năng hấp phụ chất màu của Fe3O4 nano, dung lượng hấp phụ cực đại đạt 90 mg/g [44] Vật liệu có từ độ bão hòa là 42 emu/g, đủ để tách loại bằng từ trường ngoài (chỉ cần 16,3 emu/g [45])

Theo các tài liệu đã công bố, hạt oxit sắt từ nano thường có xu hướng kết tụ lại với nhau, do đó làm giảm hiệu ứng kích thước nano của vật liệu [46] Rất nhiều nghiên cứu cải thiện yếu điểm này bằng cách biến tính sắt từ nano với các chất ổn định, chất hoạt động bề mặt, các hợp chất cao phân tử, hoặc các nhóm chức năng thích hợp Biến tính bề mặt vật liệu không những có tác dụng ổn định các hạt nano, ngăn chặn quá trình oxy hóa Fe3O4, mà còn tạo cho vật liệu khả năng tương tác một cách chọn lọc với các chất bị hấp phụ Tác nhân biến tính, ổn định hạt Fe3O4 nano được sử dụng phổ biến là các hợp chất polyme như polyvinyl alcohol (PVA), poly(-caprolacton) (PCL), polyetylen glycol (PEG) , gần đây các hợp chất polysaccarid tự nhiên như chitosan, alginat cũng được nghiên cứu mạnh mẽ nhờ tính tương thích sinh học và khả năng phân hủy sinh học tốt [47]

Chitosan (CS) là dạng đề acetyl hóa từ chitin, có mặt chủ yếu trong vỏ cứng của các loại giáp xác như tôm, cua, mực, tảo biển Trong cấu trúc của phân tử CS có các nhóm chức năng -OH bậc 1, -OH bậc 2 và các nhóm –NH2, đây là các trung tâm hoạt động hóa học của CS Nanocomposit Fe3O4/CS đã được nghiên cứu tổng hợp

và ứng dụng chủ yếu trong lĩnh vực y sinh, mang thuốc [48], kỹ thuật liệu pháp nhiệt trị và chẩn đoán bằng chụp ảnh cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) [49] Các nghiên cứu ứng dụng vật liệu này trong xử lý môi trường cũng bắt đầu được các nhà khoa học quan tâm [50]

Bên cạnh CS, alginat cũng được nghiên cứu nhiều thời gian gần đây để chế tạo nanocomposit từ tính dạng hạt với Fe3O4 (magnetic bead) Natri alginat là một polisaccarit tự nhiên được chiết xuất từ tảo nâu, trong cấu trúc có mặt các nhóm chức carboxyl và hydroxyl, khi kết hợp với ion kim loại hóa trị II (Ca2+, Mg2+) sẽ tạo cấu trúc lưới gel Hạt alginat nano từ tính được tổng hợp bằng cách “gói” các hạt Fe3O4 nano trong hạt alginat Năm 2008, Rocher và cộng sự đã nghiên cứu tổng hợp hạt alginat/Fe3O4 bằng cách cho 79,25 mL chất lỏng từ vào 300 mL dung dịch

Trang 29

natri alginat 1%, khuấy trộn mạnh, sau đó dùng xy lanh nhỏ vào dung dịch muối

Ca2+ 0,5 M với tốc độ 4,3 mL/phút, thu được các hạt hình cầu có kích thước trung bình 2,8 mm Kết quả khảo sát tách loại metylen xanh và metyl da cam cho thấy hạt alginat/Fe3O4 hấp phụ tốt chất màu và được tách loại dễ dàng bằng từ trường ngoài [51].Năm 2011, Bée và cộng sự đã tổng hợp hạt alginat/Fe3O4 và khảo sát khả năng

xử lý ion Pb (II) trong nước Các tác giả đã chỉ ra rằng hạt alginat/Fe3O4 hấp phụ ion Pb (II) thuận lợi ở điều kiện pH 2,3 – 6, dung lượng hấp phụ cực đại theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir lên đến 100 mg/g [52] Gần đây, Germanos và cộng sự đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng quá trình hấp phụ ion đồng lên bề mặt hạt alginat/Fe3O4 Kết quả cho thấy Fe3O4 không có vai trò đặc biệt trong việc xử lý đồng, chỉ có tác dụng cải thiện khả năng thu hồi và tái sử dụng vật liệu [53]

Với đối tượng nước ô nhiễm các loại dược phẩm và vi khuẩn khác nhau, oxit sắt từ có thể biến tính với các hợp chất có tác dụng kháng khuẩn hay hấp phụ dược phẩm, các công bố khoa học theo hướng nghiên cứu này có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây [54] Ding và cộng sự đã tổng hợp composit oxit sắt từ với polyme in dấu phân tử (molecularly imprinted polymer) P(MAA-St-DVB)-FQs [55]

và Fe3O4/P(MAA-EGDA)-CTC [56] Các tác giả đã chỉ ra rằng composit có thể tách loại hiệu quả oxytetracyclin và các hợp chất fluoroquinolon từ môi trường nước Một nhóm tác giả khác đã tổng hợp composit từ tính BSA/Fe3O4 bằng phương pháp nhũ tương đảo tại nhiệt độ phòng, sử dụng macromonome-albumin huyết thanh bò và tác nhân tạo liên kết chéo glutaraldehyd Vật liệu hứa hẹn triển vọng ứng dụng tách loại các chất kháng sinh erythromycin, streptomycin, tetracyclin và chloramphenicol, với đặc tính thu hồi và tái sinh vật liệu rất hiệu quả Dung lượng hấp phụ đối với 4 loại kháng sinh nêu trên dao động trong khoảng từ 69,35 mg/g đến 147,83 mg/g [57]

Hướng nghiên cứu biến tính bề mặt oxit sắt từ nano với các tác nhân kháng khuẩn cho đến nay mới tập trung chủ yếu vào vật liệu hạt bạc nano sẽ được trình bày ở phần tiếp theo

1.3 VẬT LIỆU NANOCOMPOSIT Fe3O4/Ag

Vật liệu hạt nano từ và nano bạc đã và đang được nghiên cứu ứng dụng mạnh

mẽ trong lĩnh vực y sinh, môi trường Tuy nhiên khi dùng riêng rẽ, chúng đều thể

Trang 30

hiện một số mặt hạn chế Các ứng dụng của bạc nano chủ yếu dựa vào khả năng diệt khuẩn mạnh trên phổ rộng Yếu điểm lớn nhất là khó thu hồi sau khi sử dụng, một mặt gây lãng phí, mặt khác có một số ý kiến cho rằng nano bạc có khả năng gây độc cho người [58] Việc kết hợp với vật liệu từ nano, với đặc tính dễ dàng thu hồi bằng

từ trường, sẽ hứa hẹn giải quyết được nhược điểm này của hạt nano bạc

1.3.1 Vật liệu hạt bạc nano

1.3.1.1 Đặc điểm và tính chất

Thời gian gần đây hạt bạc nano được quan tâm nghiên cứu rất mạnh mẽ nhờ các thuộc tính ưu việt, chủ yếu liên quan đến tính chất quang học và khả năng kháng khuẩn

- Tính chất quang học

Hạt nano bạc có tính chất quang học đặc biệt thú vị Khi photon ánh sáng tương tác với bề mặt của hạt nano bạc, các clectron tự do bên ngoài hạt nano sẽ dao động tạo thành các sóng điện tử cục bộ gọi là hiện tượng plasmon Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt là sự kích thích các electron tự do bên trong vùng dẫn, dẫn tới sự hình thành các dao động đồng pha Khi kích thước của bạc nano nhỏ hơn bước sóng của bức xạ kích thích, hiện tượng này sẽ xuất hiện, dẫn đến cường độ hấp thụ và tán xạ tăng lên cao hơn rất nhiều so với các hạt cùng loại không có tính chất plasmon [59]

Quang phổ UV-Vis rất thích hợp trong việc nghiên cứu tính chất quang học của hạt nano bạc Bước sóng của tia cực tím cũng như ánh sáng nhìn thấy có thể tương tác với các electron bề mặt của hạt nano bạc Cực đỉnh peak và chiều rộng nửa peak hấp thụ UV-vis phụ thuộc vào trạng thái plasmon bề mặt của vật liệu Hình 1.4 biểu diễn một phổ UV-vis đặc trưng của hạt bạc nano

Trang 31

Hình 1.4 Phổ UV-Vis điển hình của hạt nano bạc [59]

- Đặc tính kháng khuẩn

Có nhiều giả thiết về cơ chế diệt khuẩn của hạt nano bạc và cho đến nay các nhà khoa học vẫn còn đang tranh cãi Hạt nano bạc có khả năng bám vào thành tế bào vi khuẩn, xâm nhập và gây ra những thay đổi cấu trúc màng tế bào dẫn đến làm chết tế bào [60] Một giả thiết khác lại cho rằng sự hình thành các gốc tự do bởi nano bạc đã làm chết tế bào Đã có các công trình nghiên cứu phổ cộng hưởng điện

tử chứng minh được sự hình thành gốc tự do khi hạt nano bạc tiếp xúc với vi khuẩn,

và gốc tự do đã phá hủy màng tế bào [61]

Cũng có trường phái cho rằng hạt nano bạc sẽ giải phóng ra ion bạc, ion bạc phản ứng với nhóm thiol của các enzym quan trọng và ức chế chúng [62,63] Các tế bào vi khuẩn khi tiếp xúc với hạt nano bạc sẽ bị các ion bạc giải phóng ra này ức chế một số chức năng và phá hủy tế bào Sau đó, sự ức chế quá trình hô hấp enzym lại sinh ra oxy hoạt tính sẽ tự tấn công chính tế bào vi khuẩn

Khả năng kháng khuẩn của hạt nano bạc là đặc tính được khai thác nhiều nhất khi ứng dụng thực tế Ưu điểm chung của vật liệu nano là có bề mặt riêng lớn, dẫn đến tăng đáng kể các hiệu ứng Với mục đích khử khuẩn, kích thước nhỏ tạo cho vật liệu lợi thế quan trọng trong việc tiếp xúc, xâm nhập vào thành tế bào Các nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực này đã công bố rằng hạt nano bạc có tác dụng chống viêm và làm cho vết thương mau lành hơn [64,65] Mặc dù hiệu quả chống viêm của nano bạc được các tác giả chỉ ra rõ ràng, nhưng cơ chế hoạt động và tác dụng phụ của vật liệu vẫn chưa được làm rõ

Trang 32

1.3.1.2 Các phương pháp chế tạo hạt bạc nano

Hạt bạc nano có thể chế tạo theo con đường “từ trên xuống” (top-down) hoặc

“từ dưới lên” (bottom-up) Con đường từ trên xuống được thực hiện bằng cách nghiền cơ học vật liệu khối để thu được hạt nano, sử dụng các kỹ thuật hồ quang điện, laser… [66,67] Phương pháp này tạo ra sản phẩm dạng bột có độ tinh kiết cao, tuy nhiên các thiết bị sử dụng ở đây rất đắt tiền

Con đường từ dưới lên được thực hiện bằng cách khử ion bạc về bạc kim loại bằng các phương pháp hóa học, vật lý hay sinh học, nhưng đơn giản nhất là khử hóa học bằng muối NaBH4 [68] Cũng có thể tạo hạt bạc nano bằng cách điện phân dung dịch AgNO3 với sự có mặt của polyethylen glycol [69], hoặc khử bằng năng lượng

vi sóng [70] hay vi sinh vật [71]

1.3.2 Vật liệu nanocomposit Fe 3 O 4 /Ag

Thời gian gần đây vật liệu nanocomposit Fe3O4/Ag được quan tâm nghiên cứu rất mạnh mẽ theo định hướng ứng dụng làm chất kháng khuẩn Năm 2007, Gong và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu chế tạo hạt nanocomposit

Fe3O4/Ag bằng phương pháp mixel đảo, hạt có đường kính khoảng 60 ± 20 nm Vật

liệu tổ hợp vẫn giữ được khả năng kháng khuẩn của nano bạc với E.coli (vi khuẩn gram âm), S.epidermidis (vi khuẩn gram dương) và vi nấm B.subtilis [72]

Nhóm tác giả Bhupendra năm 2009 đã chế tạo nanocomposit Fe3O4/Ag cấu trúc lõi-vỏ bằng phương pháp phân hủy nhiệt Vật liệu có khả năng ức chế vi khuẩn

cả gram âm (Escherichia coli, Proteus vulgaris) và gram dương (Bacillus megaterium, Staphylococcus aureus), tuy nhiên hoạt tính với khuẩn gram âm mạnh

hơn Cấu trúc nano dạng lõi-vỏ Fe3O4-Ag tạo ưu thế ổn định cho dung dịch huyền phù và làm tăng khả năng khử khuẩn cho vật liệu, đồng thời việc tách loại vật liệu sau khi xử lý nước cũng được thực hiện dễ dàng bằng cách sử dụng từ trường ngoài [73]

Năm 2011, Prucek và cộng sự đã tổng hợp vật liệu nanocomposit Fe3O4/Ag bằng phương pháp khử hóa học bởi maltozơ, sử dụng polyacrylat với vai trò chất phân tán các hạt nano Fe3O4 và bạc Vật liệu có cấu trúc dạng lõi-vỏ, có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm cao, nồng độ ức chế tối thiểu – MIC đối với mười chủng vi khuẩn thử nghiệm đạt tử 15,6 mg/L đến 125 mg/L, với bốn loài nấm

Trang 33

candida trong khoảng từ 1,9 mg/L đến 31,3 mg/L [74]

Gần đây, Ghaseminezhad và cộng sự đã nghiên cứu tổng hợp nanocomposit Ag/ Fe3O4 sử dụng tinh bột, vừa có tác dụng ổn định hạt Fe3O4 nano, vừa là nhân khử ion bạc trong môi trường kiềm [75] Vật liệu tổng hợp được có tính kháng

khuẩn mạnh với Escherichia coli, tuy nhiên từ tính khá yếu (hình 1.5)

Trang 34

Hình 1.5: (a) Giản đồ XRD và (b) đường cong từ hóa của Fe3O4, Ag và

nanocomposit Ag/Fe3O4 [75]

Mới đây các nhà khoa học trong nước đã công bố các kết quả rất đáng chú ý

về vật liệu nanocomposit Fe3O4/Ag Năm 2015, nhóm nghiên cứu của GS Trần Đại Lâm đã công bố các kết quả nghiên cứu tổng hợp nanocomposit Fe3O4/Ag sử dụng

CS làm tác nhân ổn định vật liệu [76] Trong nghiên cứu này, hạt sắt từ nano được chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa từ FeCl3, FeCl2 trong dung dịch NH4OH Kết tủa đen Fe3O4 sau đó được phân tán trong dung dịch CS hòa tan trong axit acetic 1%, tiếp tục cho dung dịch AgNO3 vào sau đó cho dung dịch NaBH4 để khử ion Ag+ Vật liệu nanocomposit Fe3O4/Ag-CS thu được có từ độ bão hòa cao (67

emu/g) và hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với vi khuẩn gram (-) Pseudomonas aeruginosa (hình 1.6) Mặt khác, kết quả khảo sát hiệu ứng từ/nhiệt rất khả quan

cũng chứng tỏ rằng vật liệu Fe3O4/Ag-CS có thể phát triển ứng dụng trong điều trị tăng thân nhiệt cục bộ, diệt các tế bào ung thư

Trang 35

Hình 1.6: Kết quả xác định vòng vô khuẩn của các mẫu Fe3O4/Ag-CS (1), Fe3O4 (2)

và nanocomposit Ag -CS (3) đối với P.aeruginosa [76]

Trong một nghiên cứu khác, TS Lê Anh Tuấn và cộng sự đã tổng hợp hạt lai

Fe3O4-Ag bằng phương pháp đồng kết tủa cải tiến và phương pháp quang hóa học Nano tinh thể Ag được hình thành và phát triển trên bề mặt hạt Fe3O4, sử dụng axit oleic làm chất ổn định và glucose làm tác nhân khử [77] Vật liệu lai Fe3O4-Ag

được khảo sát khả năng kháng khuẩn gram (-) Staphylococcus aureus, là loại khuẩn

kháng kháng sinh metixilin Quy trình tổng hợp hạt lai Fe3O4-Ag khá phức tạp: Hạt nano Fe3O4 được tổng hợp bằng phương pháp đồng kết tủa Hạt nano Ag được tổng hợp theo phương pháp Tollens: đầu tiên cho NaOH vào dung dịch AgNO3 thu được kết tủa Ag2O, sau đó hòa tan kết tủa trong dung dịch NH4OH, thu được phức [Ag(NH3)2]+ Tiếp theo, cho axit oleic vào để ổn định hệ phức bạc Để thu được hạt lai Fe3O4-Ag, Fe3O4 trước tiên được phân tán trong dung dịch có chứa axit oleic Sau đó cho dung dịch phức [Ag(NH3)2]+ vào và chiếu bức xạ UV trong 12 giờ Hoạt

tính kháng khuẩn Staphylococcus aureus kháng kháng sinh metixilin (MRSA) được

đánh giá bằng phương pháp xác định vòng vô khuẩn trên đĩa thạch Kết quả cho thấy mẫu Fe3O4 nano không thể hiện hoạt tính ức chế vi khuẩn MRSA, trong khi mẫu Ag nano có khả năng khử khuẩn rất tốt, đường kính vòng vô khuẩn tăng lên khi nồng độ Ag nano tăng từ ∼10 µg/mL tới ∼50 µg/mL Mẫu hạt lai Fe3O4 –Ag cũng thể hiện hoạt tính tương tự hạt Ag nano (hình 1.7)

Trang 36

Hình 1.7: Hoạt tính kháng khuẩn MRSA của Ag nano (a), Fe3O4 và nanocomposit

Fe3O4 –Ag (b) [77]

1.4 POLYME KHÁNG KHUẨN GỐC GUANIDIN

1.4.1 Giới thiệu chung về polyme kháng khuẩn

Polyme là loại vật liệu có tính linh hoạt rất cao, luôn dễ dàng biến đổi cấu trúc, biến tính tùy theo các mục đích ứng dụng khác nhau Xét về mục tiêu ứng dụng làm tác nhân kháng khuẩn, có những hợp chất polyme tự có khả năng diệt khuẩn, hoặc cũng có thể biến tính polyme với các tác nhân kháng khuẩn khác So với các chất diệt khuẩn phân tử nhỏ, các hợp chất cao phân tử có tính ổn định cao hơn và xác suất tạo ra hiện tượng kháng thuốc thấp hơn nhiều [78] Người ta chia polyme kháng khuẩn ra thành 3 nhóm chính: Polyme giải phóng chất kháng khuẩn (antibiotic-releasing polymers); chất kháng khuẩn polyme hóa (polymeric antibiotics) và polyme kháng khuẩn (antibiotic polymers)

- Polyme giải phóng kháng sinh: tương tự như một chất mang kháng sinh,

các phân tử hoặc ion diệt khuẩn được gắn mạch polyme bằng tương tác vật lý hoặc liên kết hóa học Các phần tử kháng sinh này sẽ được giải phóng đến vị trí kháng khuẩn với liều được kiểm soát [79]

- Chất kháng khuẩn polyme hóa: là hợp chất trùng hợp từ các monnome

kháng sinh Nếu polyme giải phóng kháng sinh sẽ bị cạn kiệt chất kháng khuẩn sau

Trang 37

một thời gian ngắn thì chất kháng khuẩn polyme hóa giữ được hoạt tính lâu hơn nhiều [80]

- Polyme kháng khuẩn: là nhóm các polyme tự có khả năng diệt khuẩn Do

chúng có cấu trúc tương tự các chất kháng khuẩn polyme hóa nên ban đầu hai nhóm này gộp chung với nhau Tuy nhiên sau khi nghiên cứu sâu hơn người ta nhận thấy điểm khác biệt của loại polyme này, đó là hoạt tính kháng khuẩn bắt nguồn hoàn toàn từ cấu trúc của chúng chứ không phải chỉ từ các nhóm chức cation gắn vào mạch polyme [81] Cho đến nay người ta đã tổng hợp được khá nhiều polyme kháng khuẩn với các nhóm cation khác nhau (hình 1.8), nhưng các nhóm chức amin bậc 4 được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, đặc biệt là nhóm guanidin

Hình 1.8: Các nhóm cation thường có mặt trong polyme kháng khuẩn

1.4.2 Các phương pháp tổng hợp Polyguanidin

Polyguanidin được trùng hợp từ các monome như guanidin, isocyanit dihalogenua, este axit guanido, xyanogen halogenua hoặc dicyamit, đầu tiên theo cơ chế phản ứng cộng [83], sau đó theo phản ứng trùng ngưng [83]

a) Phản ứng cộng:

- Cyanogen và diamin hòa tan riêng rẽ trong rượu khan với đương lượng mol như nhau rồi trộn vào nhau, đun nóng trong 1 giờ, dung dịch cô đặc lại và tiếp tục phản ứng trùng hợp ở 1750C

Trang 38

(1.9)

- Phản ứng tự ngưng tụ của este guanido tạo ra polyacyl guanidin Quá trình trùng hợp được thực hiện ở 1300C – 1800C từ 2 đến 12 giờ, phản ứng sinh ra rượu

(1.10)

- Hỗn hợp diamin và guanidin với tỷ lệ tương đương được đun nóng từ 2 đến

12 giờ ở 1300C – 1800C, phản ứng trùng ngưng sinh ra amoniac

Trang 39

(1.11)

Trong số các hợp chất polyme gốc guanidin, polyhexametylen guanidin hydroclorid (PHMG) được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất do có hoạt tính kháng khuẩn mạnh và không độc Phản ứng 1.12, trình bày phản ứng tổng hợp PHMG từ các tiền chất guanidine hydrochlorit (GHC) và hexametylen diamin (HMDA)

Trong phản ứng 1.12, cho thấy có sự dịch chuyển các cặp điện tử tự do của nguyên tử nitơ trong nhóm amin của HMDA đến các vị trí điện tích dương của nguyên tử cacbon trong nhóm amin của GHC, phản ứng giải phóng amoniac và mạch phân tử lớn dần lên, tạo thành PHMG [84]

1.4.2.3 Đặc tính kháng khuẩn của PHMG

Hoạt tính kháng khuẩn của PHMG được Zhang và cộng sự công bố từ năm

1999 [85] Các tác giả đã tổng hợp PHMG bằng phương pháp trùng ngưng các monome guanidin hydrochlorit và 1,6-hexametylen diamin, polyhexamethylen biguanidin hydrochlorid (PHMBG) tổng hợp từ dicyandiamid và hexamethylene-diamin hydrochlorid Cả hai polyme PHMG và PHMBG đều có hoạt tính kháng khuẩn tốt đối với các chủng vi khuẩn và nấm thử nghiệm, nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) không vượt quá 200 g/mL

Năm 2008, Oule và cộng sự đã khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của PHMG

Trang 40

với các chủng vi khuẩn chỉ thị như Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella choleraesuis, S aureus kháng metixilin (MRSA) và E coli

[86] Các thí nghiệm kiểm nghiệm khả năng kháng khuẩn được thực hiện ở 200C, nồng độ PHMG thay đổi từ 0,001 – 0,1%, thời gian tiếp xúc 0,5 – 10 phút, và sử dụng các loại nước khác nhau: nước cất, nước máy Các tác giả đã chỉ ra rằng ba loại nước nghiên cứu không ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm Hệ số phenol đối

với các chủng S aureus, P aeruginosa, S choleraesuis xác định được lần lượt là 7,5; 6,1 và 5 PHMG trong 1,5 phút đã diệt hoàn toàn khuẩn MRSA và E.coli với

nồng độ tương ứng là 0,04 % và 0,005% Kết quả phân tích TEM cho thấy PHMG

đã phá vỡ màng vỏ tế bào, dẫn đến dịch tế bào rò rỉ vào môi trường Các tác giả cho rằng PHMG hoàn toàn có thể sử dụng cho các cơ sở y tế cũng như gia đình như một chất khử trùng không mùi, không màu, không gây ăn mòn và an toàn

Trong một công bố mới đây, Lee và công sự đã nghiên cứu hoạt tính của PHMG với một số loại nấm gây bệnh [87] Kết quả chỉ ra rằng PHMG có hoạt tính kháng nấm mạnh hơn cả amphoterixin B là một loại thuốc chống nấm hiện đang

được sử dụng phổ biến Nấm Candida albicans được sử dụng là đại diện để nghiên

cứu cơ chế kháng nấm của PHMG Các tác giả đã chỉ ra sự thay đổi kích thước và hình dáng tế bào sau khi xử lý bằng PHMG Kết quả của các phép phân tích khác nhau đã chứng tỏ rằng PHMG đã phá hủy màng tế bào nấm, tạo ra các lỗ thủng cỡ khoảng 2,3 – 3,3 nm trên bề mặt màng (hình 1.9)

Hình 1.9: Khả năng kháng nấm của PHMG và amphoterixin B [87]

Ngày đăng: 08/04/2022, 03:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] José de Anda, Alberto López-López, Edgardo Villegas-García, Karla Valdivia-Aviủa, High-Strength Domestic Wastewater Treatment and Reuse with Onsite Passive Methods, Water, 2018, 10(99),1-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: High-Strength Domestic Wastewater Treatment and Reuse with Onsite Passive Methods
[3] Nguyễn Thị Kim Dung, Quản lý môi trường trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Viện Địa lý nhân văn, 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
[4] Nguyễn Đức Toàn, Phạm Hải Bằng, Đỗ Tiến Anh, Bạch Quang Dũng, Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả xử lý T-N và COD trong nước thải giết mổ gia súc tập trung của chế phẩn vi sinh biol, Tạp chí Khoa học biến đổi khí hậu, 2020, 14, 84-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả xử lý T-N và COD trong nước thải giết mổ gia súc tập trung của chế phẩn vi sinh biol
[5] Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Huy Nga, Hướng dẫn áp dụng công nghệ xử lý nước thải y tế, NXB Y học Hà Nội, 2015. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn áp dụng công nghệ xử lý nước thải y tế
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
[6] Vu Dinh Phu, Burden, Etiology and Control of Hospital Acquired Infections in Intensive Care Units in Vietnam, Thesis, Oxford University, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Burden, Etiology and Control of Hospital Acquired Infections in Intensive Care Units in Vietnam
[7] Quy chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế, Bộ tài nguyên và môi trường, QCVN 28:2010/BTNMT, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế
[8] Do Van Manh, Tran Van Hoa, Huynh Đuc Long, Truong Thi Hoa; Hoang Luong, Innovative trickling biofilter system for hospital wastewater treatment, Tạp chí Khoa học và công nghệ, 2015, 53 (6), 749 – 760 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Innovative trickling biofilter system for hospital wastewater treatment
[9] H.Y Li, H. Osman, C.W Kang, T Ba, Numerical and experimental investigation of UV disinfection for UV disinfection for water treatment Applied thermal engineering, 2017, 111, 280 – 291 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Numerical and experimental investigation of UV disinfection for UV disinfection for water treatment
[10] Maria Cristina Collivignarelli, Alessandro Abbà, Ilaria Benigna, Sabrina Sorlini, Vincenzo Torretta, Overview of the Main Disinfection Processes for Wastewater and Drinking Water Treatment Plants, Sustainability, 2018, 10(86), 1-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overview of the Main Disinfection Processes for Wastewater and Drinking Water Treatment Plants
[12] Sabrina Sorlini, Michela Biasibetti, Francesca Gialdini, Maria Cristina Collivignarelli, How can drinking water treatments influence chlorine dioxide consumption and by-product formation in final disinfection?, Water science &amp; technology: Water supply, 2016, 16, 333 – 346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How can drinking water treatments influence chlorine dioxide consumption and by-product formation in final disinfection
[13] S Skipton, B Dvorak, Chloramines Water Disinfection, Omaha Metropolitan Utilities District and Lincoln Water System, University of Nebraska – Lincoln extension, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chloramines Water Disinfection, Omaha Metropolitan Utilities District and Lincoln Water System
[14] Guanghui Hua, David A. Reckhow, Comparison of disinfection byproduct formation from chlorine and alternative disinfectants, Water research, 2007, 41(8), 1667 - 1678 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of disinfection byproduct formation from chlorine and alternative disinfectants
[16] Z.A Bhatti, Q Mahmood, I.A Raja, A.H Malik, N Rashid, D Wu, Integrated chemical treatment of municipal wastewater using waste hydrogen peroxide and ultraviolet light, Physics and Chemistry of the earth, Parts A/B/C, 2011, 36(9), 459-464 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Integrated chemical treatment of municipal wastewater using waste hydrogen peroxide and ultraviolet light
[17] V Mezzanotte, M Antonelli, S Citterio, C Nurizzo, Wastewater disinfection alternatives: chlorine, ozone, peracetic acid, and UV light, Water environ, 2007, 79, 2373 – 2379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wastewater disinfection alternatives: chlorine, ozone, peracetic acid, and UV light
[18] Mohammad Mehdi Amin, Hassan Hashemi, Amir Mohammadi, Yung Tse Hung, "A review on wastewater disinfection," International journal of environmental health engineering, 2013, 2(1), 1-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review on wastewater disinfection
[19] R.M Cornell, U Schwertmann, The Iron Oxides: Structure, Properties, Reactions, Occurrences and Uses, 2nd, Completely Revised and Extended Edition, Wiley, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Iron Oxides: Structure, Properties, Reactions, Occurrences and Uses, 2nd, Completely Revised and Extended Edition
[20] A.H Lu, E. L. Salaba, F Schüth, Magnetic Nanoparticles: Synthesis, Protection, Functionalization, and application, Angewandte chemie international edition, 2007, 46(8), 1222–1244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Magnetic Nanoparticles: Synthesis, Protection, Functionalization, and application
[22] R Massart, Preparation of aqueous magnetic liquids in alkaline and acidic media. IEEE Transactions on Magnetics, 1981, 17(2), 1247–1248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preparation of aqueous magnetic liquids in alkaline and acidic media
[23] C Pereira, A. M Pereira, C Fernandes, M Rocha, R Mendes, F García, C Freire, Superparamagnetic M Fe 2 O 4 (M = Fe, Co, Mn) Nanoparticles:Tuning the Particle Size and Magnetic Properties through a Novel One- Step Coprecipitation Route. Chemistry of Materials, 2012, 24(8), 1496–1504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Superparamagnetic M Fe"2"O"4" (M = Fe, Co, Mn) Nanoparticles: "Tuning the Particle Size and Magnetic Properties through a Novel One-Step Coprecipitation Route
[24] A Radoń, A Drygała, Ł Hawełek, &amp; D Łukowiec, Structure and optical properties of Fe 3 O 4 nanoparticles synthesized by co-precipitation method with different organic modifiers. Materials Characterization, 2017, 131, 148–156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structure and optical properties of Fe"3"O"4" nanoparticles synthesized by co-precipitation method with different organic modifiers

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w