1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THIỀN TÔNG VIỆT NAM Ðường lối tu thiền qua sự giảng dạy của Thiền sư: Thích Thanh Từ

44 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường Lối Tu Thiền Qua Sự Giảng Dạy Của Thiền Sư: Thích Thanh Từ
Tác giả Thích Thanh Từ
Trường học Tu Viện Chân Không
Chuyên ngành Thiền Tông
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 1991
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 248,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔ HUỆ KHẢ 494-601 Sau khi ngài Huệ Khả được Tổ Bồ-đề-đạt-ma Bodhidharma nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức, tại sao tâm mãi lăng xăng trong lúc ngồi thiền.. Một hôm đến trước Tổ,

Trang 1

THIỀN TÔNG VIỆT NAM Ðường lối tu thiền qua sự giảng dạy của

Thiền sư: Thích Thanh Từ Nói đến Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 là nói đường

hướng tu thiền của Tu viện Chân Không (1970-1986) ngày trước, hay của Thiền viện Thường Chiếu hiện nay (1974-1991 ) do chúng tôi (Thích Thanh Từ) chủ trương hướng dẫn Chúng tôi không theo các tông phái chi nhánh Thiền tông Trung Hoa sau này, như tông Tào Ðộng, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn Chúng tôi chỉ kết hợp ba cái mốc quan trọng trong dòng lịch sử truyền thừa Thiền tông từ Trung Hoa đến Việt Nam Mốc thứ nhất là Nhị tổ Huệ Khả, mốc thứ hai là Lục tổ Huệ Năng, mốc thứ ba là Sơ tổ Trúc Lâm Hòa hội chỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng tu hành của ba vị Tổ này thành phương pháp tu thiền trong các Thiền viện chúng tôi

TỔ HUỆ KHẢ (494-601)

Sau khi ngài Huệ Khả được Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức, tại sao tâm mãi lăng xăng trong lúc ngồi thiền Một hôm đến trước Tổ, Ngài bạch: “Bạch Hòa thượng, tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Tổ Ðạt-ma nhìn thẳng, bảo: “Ðem tâm ra

ta an cho.” Ngài sửng sốt quay lại tìm tâm, không thấy bóng dáng, bạch Tổ: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta an tâm cho ngươi rồi.” Ngay đây ngài Huệ Khả biết được đường vào

Chỗ biết được đường vào của ngài Huệ Khả là một pháp tu

mà không có pháp Bởi vì từ xưa đến nay, tất cả chúng ta đều nhận cái suy nghĩ phân biệt lăng xăng là tâm của mình, ngài Huệ Khả cũng chung một thông lệ ấy Cho nên ngồi lại tu, muốn cho tâm an mà nó không chịu an, khiến chúng ta rất khổ sở về vấn đề này Cầu pháp an tâm là điều cấp thiết của người quyết chí tu

Trang 2

hành Ở đây Tổ Ðạt-ma không dạy phương pháp gì, Ngài chỉ bảo

“Ðem tâm ra ta an cho” Câu này là một tiếng sấm dẹp tan mê lầm muôn thuở của ngài Huệ Khả

Bình thường chúng ta nhận cái hay suy nghĩ là tâm của mình, chịu sự sai sử lôi kéo của nó Bất thần chúng ta tìm lại nó thì nó mất tăm mất dạng Khi nó không còn tăm dạng thì không an

là gì? Cho nên Tổ nói “Ta an tâm cho ngươi rồi” Ngài Huệ Khả sáng ý nhận ra được lẽ này nên biết đường vào Như vậy, Tổ Ðạt-

ma có dạy phương pháp gì an tâm không? Nếu không, tại sao ngài Huệ Khả biết đường vào? Rõ ràng pháp an tâm mà không có pháp, chỉ xoay ánh sáng trí tuệ soi rọi xem cái tâm bất an ấy thế nào thì

nó biến mất Thuật ngữ nhà Thiền gọi là “Hồi quang phản chiếu” Chúng tôi gọi “Biết vọng không theo” Chính đây là “Biết được đường vào” của ngài Huệ Khả

Tại sao nhà Thiền không chấp nhận cái tâm suy nghĩ so tính ấy? Bởi vì, nếu chấp nhận nó làm tâm mình sẽ mắc phải những lầm lỗi như sau:

1 Cái tâm suy nghĩ ấy khi có khi không, còn chúng ta thì lúc nào cũng hằng hữu Nếu chấp nhận nó là mình thì khi không suy nghĩ là không có mình sao?

2 Bình thường nó suy nghĩ lăng xăng, khi nhìn lại tìm kiếm

nó thì mất tăm mất dạng Nếu nó là thật mình thì lúc nào cũng phải có Trái lại khi tìm thì mất, chẳng qua nó chỉ là bóng dáng

mà thôi Chấp nhận cái bóng làm mình thì thật là đau khổ cho con người

3 Chúng ta ai cũng thừa nhận mình trước sau vẫn là mình, mình là một từ bé đến già Thế mà, tâm suy nghĩ ấy lại trăm ngàn thứ, có khi nghĩ lành như Hiền Thánh, có nghĩ dữ như cọp sói thì cái nào là mình?

4 Lúc đang suy nghĩ, chúng ta biết mình đang suy nghĩ, lúc không suy nghĩ biết không suy nghĩ Cái suy nghĩ ấy là đối tượng

bị biết của chúng ta Ðã là đối tượng tức là khách, là cái bên ngoài

Trang 3

không phải mình Nếu cái suy nghĩ là thật mình, lúc không suy nghĩ, ai biết không suy nghĩ? Ðã có cái biết lúc không suy nghĩ thì làm sao nhận cái suy nghĩ làm mình được?

Cái không phải mình mà lầm nhận là mình, trong kinh Phật gọi là “Nhận giặc làm con”, tai họa không thể lường được Cho nên bao nhiêu kinh điển, bao nhiêu pháp tu, đức Phật đều dạy xoay quanh cái trục “Chận đứng tâm suy nghĩ lăng xăng này” Tụng kinh phải nhiếp tâm, niệm Phật phải nhất tâm, tọa thiền phải định Song đặc biệt là Thiền tông, chư Tổ không dùng phương tiện để đè bẹp, để ngăn chận nó, mà dùng trí biết rõ bản chất không thật của nó thì nó hết tác quái Chính câu “Ðem tâm ra ta

an cho” của Tổ Ðạt-ma đủ thể hiện ý nghĩa này

“Biết đường vào” chưa phải là kẻ đến nhà, phải trải thời gian lâu xa, ngài Huệ Khả mới bạch với Tổ Ðạt-ma: “Từ đây trở đi con dứt hết các duyên.” Tổ Ðạt-ma bảo: “Chớ rơi vào đoạn diệt.” Huệ Khả thưa: “Không rơi.” Tổ Ðạt-ma hỏi: “Con làm thế nào?” Huệ Khả thưa: “Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến.” Tổ Ðạt-

ma dạy: “Ðây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi.” Ðến đây mới thật là người về tới nhà, không còn nghi ngờ gì nữa

Khi Tổ Ðạt-ma sắp tịch, hỏi lại chỗ sở ngộ của các đồ đệ, đến lượt Huệ Khả, Ngài chỉ bước ra đảnh lễ ba lạy rồi lui Tổ Ðạt-

ma nói: “Ông được phần tủy của ta.” Ðến chỗ cứu kính không còn ngôn ngữ để trình bày, vì ngôn ngữ là phương tiện tương đối, không thể diễn tả được cái chân thật tuyệt đối Từ đó ngài Huệ Khả được truyền y bát làm Tổ thứ hai ở Trung Hoa

TỔ HUỆ NĂNG (638-713)

Chỗ sở ngộ của Tổ Huệ Năng là do nghe kinh Kim Cang Bát-nhã Sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn cho vào thất và nghe giảng kinh Kim Cang đến đoạn Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi: “Khi phát tâm cầu Vô thượng Chánh giác, làm sao an trụ tâm?” Phật đáp:

“Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà

Trang 4

sanh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sanh tâm ấy.” Ngài đại ngộ kêu lên: “Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! Ðâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt! Ðâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ! Ðâu ngờ tánh mình vốn không dao động! Ðâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp!” Ngũ Tổ bảo: “Chẳng biết Bản tâm học pháp vô ích, nếu nhận được Bản tâm mình, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật ” Thế là Ngài được Ngũ Tổ truyền y bát làm Tổ thứ sáu

Qua câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ, chúng ta thấy từ lý Bát-nhã không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm

Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Lục Tổ không dừng ở chỗ không dính mắc, mà nhảy vọt vào Thể tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt của chính mình Chính Thể tánh này gọi là Pháp thân hay Bản lai diện mục, đã có sẵn từ vô thủy nơi tất cả chúng ta Thấy tột chỗ này và sống được với nó là Ðốn ngộ, là Kiến tánh Bản thân Lục Tổ được như vậy, song khi dạy người Ngài cũng có phương tiện

Lục Tổ vì phương tiện lập Tam vô: Vô niệm làm Tông, Vô tướng làm Thể, Vô trụ làm Bổn Theo Lục Tổ giải: Ðối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy Vô trụ làm gốc Ngoài lìa tất cả tướng gọi là Vô tướng, hay lìa tướng tức

là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy Vô tướng làm thể Ðối trên các cảnh tâm không nhiễm, gọi là Vô niệm (Kinh Pháp Bảo Ðàn, phẩm Ðịnh Huệ) Không nhiễm các pháp, không kẹt các tướng, không dính mắc các pháp, đây là chủ trương của Lục Tổ Không nhiễm, không kẹt, không dính, ngay khi tiếp xúc với sáu trần là thiền định Không phải chạy trốn cảnh trần, rồi sau tâm mới an định như các lối thiền định khác

SƠ TỔ TRÚC LÂM (1258-1308)

Vua Trần Nhân Tông lúc còn làm Thái tử đã thông suốt Thiền tông do sự giáo dục của Tuệ Trung Thượng Sĩ Sau khi bỏ ngôi đi xuất gia, lấy hiệu là Hương Vân Ðại Ðầu-đà, Ngài hòa hội các phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Ðường đã

Trang 5

truyền bá trên đất nước Việt Nam, lập thành phái thiền Trúc Lâm Yên Tử Ðây là phái thiền hoàn toàn Việt Nam Ở đây chúng tôi chỉ chắt lọc một vài nét nổi bật trong sự chỉ dạy của Ngài để làm tiêu chuẩn, đó là bài kệ Hữu Cú Vô Cú:

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Ðằng khô thọ đảo Bìm khô cây ngã

Cơ cá nạp tăng Mấy kẻ nạp tăng

Chàng đầu khái não U đầu sứt trán

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Thể lộ kim phong Thể bày gió thu

Hằng hà sa số Hằng hà sa số

Phạm nhẫn thương phong Va đao chạm bén

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Lập tông lập chỉ Lập tông lập chỉ

Ðả ngỏa toản qui Ðập ngói dùi rùa

Ðăng sơn thiệp thủy Trèo non lội nước

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Phi hữu phi vô Chẳng có chẳng không

Khắc chu cầu kiếm Khắc thuyền mò kiếm

Sách ký án đồ Tìm ngựa bản đồ

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Hỗ bất hồi hỗ Hồi hỗ hay không

Lạp tuyết hài hoa Nón tuyết giày hoa

Thủ chu đãi thố Ôm cây đợi thỏ

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Tự cổ tự kim Tự xưa tự nay

Chấp chỉ vong nguyệt Nhìn tay quên trăng

Bình địa lục trầm Ðất bằng chết chìm

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Như thị như thị Như thế như thế

Bát tự đả khai Chữ bát mở ra

Trang 6

Toàn vô bả tỹ Sao không nắm mũi

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Cố tả cố hữu Ngó tả ngó hữu

A thích thích địa Lau chau mồm mép

Náo quát quát địa Ồn ào náo động

Hữu cú vô cú Câu có câu không

Ðao đao phạ phạ Ðau đáu lo sợ

Tiệt đoạn cát đằng Cắt đứt sắn bìm

Bỉ thử khoái hoạt Ðó đây vui thích

Qua bài kệ này chúng ta thấy Ngài phản đối cái chấp hai bên biểu trưng bằng Có và Không Song cái chấp hai bên có vô số loại:

có không, phải quấy, hơn thua, tốt xấu, thắng bại, hay dở, lành dữ v.v và v.v Chính cái chấp hai bên là mầm tranh đấu, là nhân phiền não, kết quả khổ đau không thấy chân lý

Cho nên chín đoạn trong bài kệ này, Ngài vừa quở trách, vừa chỉ dạy rất đầy đủ Như đoạn một: “Mấy kẻ nạp tăng, u đầu sứt trán”, đoạn hai: “Hằng hà sa số, va đao chạm bén”, đoạn ba: “Ðập ngói dùi rùa, trèo non lội nước”, đoạn bốn: “Khắc thuyền mò kiếm, tìm ngựa bản đồ”, đoạn năm: “Nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ”, đoạn sáu: “Nhìn tay quên trăng, đất bằng chết chìm”, đoạn bảy: “Chữ bát mở ra, sao không nắm mũi”, đoạn tám: “Lau chau mồm mép, ồn ào náo động”, đoạn chín: “Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui thích”

Ðoạn một và hai, Ngài quở người chấp hai bên là tự chuốc khổ vào mình Ðoạn ba và bốn, Ngài chê kẻ chấp hai bên là dại khờ, chỉ nhọc nhằn luống công Ðoạn năm và sáu, Ngài trách những phương tiện tạm bợ mà người vì cố chấp hai bên nên không thấy chân lý Ðoạn bảy và tám, Ngài chỉ thẳng chân lý ngay trước mắt như lỗ mũi nằm sẵn dưới chân mày mà người ta không nhận,

cứ lý luận ồn ào vô ích Ðoạn chín, Ngài nói ai dứt chấp hai bên mới thật vui thích Ngay đoạn chín này hẳn là chỗ Nhị Tổ trình

Trang 7

kiến giải bằng ba lễ mà không có một lời Không kẹt hai bên là căn bản của Thiền tông, cũng chính là cốt tủy của Phật giáo

Lại một bài kệ kết thúc bài phú “Cư Trần Lạc Ðạo” của Sơ

tổ Trúc Lâm là cô đọng những gì Lục Tổ đã thấy và ứng dụng:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm

Ðối cảnh không tâm chớ hỏi thiền

Chỉ hai câu chót trong bài kệ cũng đủ kết thúc chỗ sở ngộ và mục tiêu dạy tu hành của Lục Tổ một cách kỳ diệu Thấy hòn ngọc sẵn có trong nhà, chính là chỗ Lục Tổ thốt lên “Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! ” Thiền là đối cảnh không tâm thì làm gì

có niệm nhiễm, là vô niệm; không tâm thì đâu kẹt cảnh bên ngoài,

là lìa tướng tức vô tướng; không tâm thì lấy gì để dính mắc, là vô trụ Một câu kết này đã bao gồm cả Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ hay Tông, Thể, Bổn của Lục Tổ dạy Thiền là đối cảnh không nhiễm, không kẹt, không mắc, chính đây là chủ trương của Lục

Tổ Ngài Trúc Lâm Ðầu-đà đã ứng dụng tuyệt vời chỗ thấy của Nhị Tổ, chỗ ngộ và hành của Lục Tổ Chúng ta là kẻ hậu học, tự hãnh diện ở Việt Nam xuất phát một phái thiền trọn vẹn mang dấu

ấn của chư Tổ tiền bối và dung hội tài tình đường lối tu hành của người xưa, làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam chúng ta

DUNG HỢP

Chúng tôi dung hợp pháp tu của ba vị Tổ trên thành một lối

tu cụ thể như sau:

* Nơi Nhị Tổ, chúng tôi ứng dụng pháp an tâm Nghĩa là biết

rõ tâm suy tưởng lâu nay là hư ảo, không để nó đánh lừa, lôi dẫn

Trang 8

chúng ta chạy theo trần cảnh, nên nói “Vọng tưởng không theo” Mỗi khi nó dấy lên đều biết rõ như vậy Một khi hành giả nhận diện bản chất hư ảo của chúng thì chúng tự biến mất Khi tọa thiền cũng như lúc tiếp duyên xúc cảnh đều thấy rõ, không lầm chúng Ðến bao giờ được như Nhị Tổ nói “Ðoạn hết các duyên mà rõ ràng thường biết, nói không thể đến” là đạt kết quả

Tuy nhiên vọng tưởng này không phải dễ lắng, dứt cái này khởi cái khác liên miên không dừng Hành giả phải bền chí theo dõi, soi sáng mãi chúng mới từ từ thưa dần Nhận vọng tưởng hư

ảo làm tâm mình là mê lầm, biết vọng tưởng hư dối không thật là tỉnh giác Lối tu này là dùng “cái dụng của trí để phá si mê”, chớ không có pháp gì dùng để đè bẹp, nên nói “pháp an tâm mà không

có pháp” Khi hết si mê vọng tưởng lặng thì trí dụng cũng dừng, như trong mười mục chăn trâu, khi trâu mất thì người chăn cũng không còn Trí dụng hết đối trị, liền hội nhập trí thể

* Với Lục Tổ, chúng tôi ứng dụng sáu căn không dính mắc sáu trần làm hướng tiến tu Ðó là câu “Bất ưng trụ sắc sanh tâm ” trong kinh Kim Cang được Ngũ Tổ giảng cho Lục Tổ Nhưng làm sao căn không dính trần? Ðương nhiên phải dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, thấy các pháp duyên hợp hư dối như huyễn như hóa

Vì thế trong kinh Pháp Bảo Ðàn, sau phẩm Hành Do là đến phẩm Bát-nhã Nhờ trí tuệ Bát-nhã soi rọi thấy rõ các pháp duyên sanh, không có chủ thể (vô ngã), không cố định (vô thường) nên tâm không nhiễm trước sắc do đó căn, cảnh không dính mắc nhau Căn, cảnh không dính mắc nhau là Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ, đó

là chủ trương của Lục Tổ

Lại có một cách khác, nếu hành giả kiến tánh như Lục Tổ, hằng sống với Thể tánh bất sanh bất diệt của mình thì còn gì bận bịu với vọng tưởng hư dối, với sáu trần giả hợp Ði đứng nằm ngồi không lúc nào rời Tự tánh chính mình Ðược thế thì ung dung tự tại, nên nói “đói ăn khát uống”

Trang 9

* Ðến Sơ tổ Trúc Lâm, trong bài kệ “Câu Có Câu Không”, đoạn thứ tư nói “Nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ”, là tinh thần Bát-nhã của Lục Tổ Các pháp hư giả như nón tuyết, như đôi giày bằng hoa, tạm có rồi tan mất, mới thấy đẹp rồi héo xàu, có gì lâu bền Nếu chấp giữ nó là người ngu, như kẻ “ôm cây đợi thỏ” Toàn thể pháp đối đãi đều không thật, do phương tiện bày lập, giống như dây sắn dây bìm, một phen cắt đứt chúng mới là an vui tự tại Ðấy là tinh thần hai câu kết của bài kệ “Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui thích” Vừa dấy niệm là đối đãi, vừa thốt lời là đối đãi, nếu dứt hết đối đãi thì còn niệm nào để khởi, còn lời gì để nói Ðây là hằng sống thật với thiền

Phần sau ở hai câu kệ “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm Ðối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền”, là hình ảnh Lục Tổ thốt lên “Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! ” Thấu triệt tánh mình như thấy hòn ngọc quí vô giá có sẵn trong nhà, còn gì phải tìm kiếm đâu xa Thấy tánh mình thanh tịnh, chẳng sanh chẳng diệt, so với thân vô thường tạm bợ và tâm vọng tưởng hư ảo thì thân tâm này còn có giá trị gì Trong không chấp thân, không chấp vọng tưởng làm mình, ngoài đối cảnh không còn dính mắc, chính đây là chủ yếu của Thiền tông, cũng là cội nguồn của Phật pháp Ở đây chúng tôi lấy “Ðối cảnh không tâm” làm tiêu chuẩn tu hành Không tâm là không tâm vọng tưởng chạy đuổi theo ngoại trần, chớ chẳng phải không tâm là vô tri vô giác như cây gỗ Không tâm hư ảo sanh diệt

mà vẫn có tâm hằng giác hằng tri, bất sanh bất diệt Ðây là chỗ giải thoát sanh tử của người tu Phật

Nhị tổ Huệ Khả sau khi ngộ đạo vẫn được Tổ Ðạt-ma giới thiệu bốn quyển kinh Lăng-già để ấn tâm Lục tổ Huệ Năng nghe giảng kinh Kim Cang ngộ đạo Thế là đủ minh chứng Thiền tông không rời Kinh, vì Thiền là tâm của Phật, Kinh là miệng của Phật Ðức Phật tâm miệng không khác thì Thiền và Giáo làm sao tách rời được Cho nên chúng tôi chủ trương “Thiền, Giáo đồng hành”

Ðể thấy rõ nét lối dung hợp pháp tu qua ba vị Tổ trên, chúng tôi cô đọng lại bằng những lối tu:

Trang 10

1 Biết vọng không theo, vì vọng tưởng là những tâm niệm

hư ảo

2 Ðối cảnh không tâm, vì nó là tướng duyên hợp giả dối tạm

bợ

3 Không kẹt hai bên, vì đối đãi là không thật

4 Hằng sống với cái thật, không theo cái giả, vì giả là luân hồi, thật là giải thoát

Ðây là bốn phương tiện chúng tôi tạm lập để hướng dẫn người tu Tùy theo căn cơ trình độ nhanh chậm, cao thấp của hành giả mà lối ứng dụng có khác Cũng có thể bốn lối tu này, hành giả linh động ứng dụng theo thứ tự từ pháp thứ nhất đến pháp thứ tư

để tu hành cũng tốt Những nét cô đọng trên là kết thúc bài này của chúng tôi

Trang 11

Tổ thứ nhất Trung Hoa 28- Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma)

(Ðầu thế kỷ thứ mười một sau Phật niết-bàn)

(Trích trong “Sử 33 vị Tổ Thiền tông Ấn-Hoa”,

Thanh Từ soạn, 1972, trang 157-171)

Ngài dòng Sát-đế-lợi ở Nam Ấn, cha là Hương Chí vua nước

này Vua Hương Chí sanh được ba người con trai, Ngài là vương

tử thứ ba Thuở nhỏ, Ngài đã có chí siêu việt và đặc tài hùng biện

Nhân vua Hương Chí thỉnh Tổ Bát-nhã-đa-la vào cung cúng dường, Ngài mới có duyên gặp Tổ Qua cuộc nghiệm vấn về hạt châu, Tổ đã biết Ngài là người siêu quần bạt tục sẽ kế thừa Tổ vị

Sau khi vua cha băng, Ngài quyết chí xuất gia cầu xin Tổ Bát-nhã độ làm đệ tử, Tổ hoan hỉ làm lễ thế phát và truyền giới Cụ túc Tổ bảo Ngài:

- Hoàng tử đối các pháp đã được thông suốt, nay nên đổi hiệu là Bồ-đề-đạt-ma Từ đây, Ngài luôn hầu hạ bên thầy

Một hôm, Tổ gọi Ngài đến truyền pháp và dặn dò:

- Ngươi tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là nhân duyên lớn Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm sau sẽ đi Nếu ngươi đi sớm, sau e có việc không tốt

Những điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, Ngài đều cầu xin Tổ chỉ dạy Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán

sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có hơn mười bài

kệ

Tổ tịch rồi, Ngài vẫn ở tại nước nhà giáo hóa Người huynh

đệ đồng sư với Ngài là Phật Ðại Tiên cùng chung sức giáo hóa Thời nhân gọi hai Ngài là “Mở hai cửa cam lồ” Song, sau môn đồ của Phật Ðại Tiên lại chia làm sáu tông: 1.- Hữu tướng, 2.- Vô

Trang 12

tướng, 3.- Ðịnh tuệ, 4.- Giới hạnh, 5.- Vô đắc, 6.- Tịch tịnh, đua nhau truyền bá Ngài thấy sự chia ly ấy, ngại cho chánh pháp suy

vi Vì thế, Ngài dùng phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp

Vua Nguyệt Tịnh băng, con vua là Thái tử Dị Kiến nối ngôi

Dị Kiến lên ngôi không bao lâu lại tin theo tà thuyết bài bác Phật giáo Ngài sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua để nhiếp hóa Sau khi cải tà qui chánh, vua Dị Kiến hỏi ra mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình Nhà vua cho người thỉnh Ngài về cung giáo hóa

Về cung giáo hóa một thời gian, Ngài thấy cơ duyên sang Trung Hoa đã đến, bèn đem lời huyền ký của Tổ Bát-nhã-đa-la thuật lại cho vua biết Vua không còn lời gì dám ngăn cản, đành sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa Ngài sang Trung Hoa Vua và quần thần tiễn đưa Ngài ra tới cửa biển

Ngài ở trên thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng Châu, nhằm đời nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm đầu (520 sau T.C.), ngày hai mươi mốt tháng chín năm Canh Tý Thích sử tỉnh này ra đón tiếp Ngài, đồng thời dâng sớ về triều tâu vua Lương Võ Ðế Vua được sớ, liền sai sứ lãnh chiếu chỉ đến thỉnh Ngài về Kim Lăng (Kinh đô nhà Lương) Vua Võ Ðế hỏi:

- Trẫm từ lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ Tăng Ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?

Ngài đáp:

- Ðều không có công đức

- Tại sao không có công đức?

- Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật

- Thế nào là công đức chân thật?

- Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu

Trang 13

Ngài dừng trụ tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, trọn ngày ngồi xây mặt vào vách im lặng Tăng chúng đều không hiểu được Người đời gọi Ngài là “Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách” (Bích quán Bà-la-môn)

Có vị Tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh Ngài tìm đến yết kiến Thần Quang đã đủ lễ nghi mà Ngài vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách không màng đến Quang nghĩ: “Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân mạng, nay

ta chưa được một trong muôn phần của các ngài.” Hôm ấy, nhằm tiết mùa đông (mùng chín tháng chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài tuyết chấp tay hướng về Ngài Ðến sáng tuyết ngập lên khỏi đầu gối, mà gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên Ngài thấy thế thương tình, xây ra hỏi:

- Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?

Trang 14

không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa?

Thần Quang nghe dạy bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước Ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo Ngài biết đây là pháp khí bèn dạy:

- Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá

- Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?

- Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được

- Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm

- Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho

- Con tìm tâm không thể được

- Ta đã an tâm cho ngươi rồi

Thần Quang nhân đây được khế ngộ Ngài liền đổi tên Thần Quang là Huệ Khả

Từ đây kẻ Tăng người tục đua nhau đến yết kiến Ngài, tiếng tăm vang dậy Vua Hiếu Minh Ðế nước Ngụy sai sứ ba phen thỉnh Ngài, Ngài đều từ chối Nhà vua càng kính trọng, sai sứ đem lễ vật đến cúng dường: một cây tích trượng, hai y kim tuyến, bình bát, v.v Ngài từ khước nhiều lần, nhưng nhà vua cố quyết cúng dường, rốt cuộc Ngài phải nhận

Mở cửa phương tiện, Ngài có dùng bốn hạnh để giáo hóa môn đồ: 1.- Báo oán hạnh, 2.- Tùy duyên hạnh, 3.- Vô sở cầu hạnh, 4.- Xứng pháp hạnh(1)

Ở Trung Hoa gần chín năm, Ngài thấy cơ duyên đã đến, liền gọi đồ chúng hỏi:

- Giờ ta trở về sắp đến Các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình

(1)

Xem cửa thứ ba quyển “Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất” của Trúc Thiên dịch

Trang 15

Ðạo Phó ra thưa:

- Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn

tự, đây là dụng của đạo

- Ngươi được phần xương của ta

Ðến Huệ Khả bước ra đảnh lễ Ngài, rồi lui lại đứng yên lặng Ngài bảo:

- Ngươi được phần tủy của ta

Ngài gọi Huệ Khả đến dặn dò:

- Xưa Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho Tổ Ca-diếp, lần lượt truyền đến ta Nay ta đem trao lại cho ngươi, ngươi phải truyền trao không để dứt mất Cùng trao cho ngươi y Tăng-già-lê

và bát báu, để làm pháp tín Mỗi thứ tiêu biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết

Huệ Khả thưa:

- Xin Thầy từ bi chỉ dạy mọi việc

Ngài dạy:

Trang 16

- Trong truyền tâm ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao ca-sa để định tông chỉ Ðời sau có nhiều người cạnh tranh nghi ngờ, họ nói “Ta là người Ấn, ngươi là người Hoa, căn cứ vào đâu

mà được pháp, lấy cái gì để minh chứng?” Ngươi gìn giữ pháp y này, nếu gặp tai nạn, ngươi đem ra làm biểu tín, thì sự giáo hóa không bị trở ngại Hai trăm năm sau khi ta diệt độ, y bát này dừng lại không truyền, vì lúc đó, Phật pháp rất thạnh hành Chính khi

ấy, người biết đạo thật nhiều, người hành đạo quá ít, người nói lý thì nhiều, người ngộ lý thì ít Tuy nhiên, người thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn Ngươi gắng xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ Nghe ta nói kệ:

Ngô bản lai tư độ,

Truyền pháp cứu mê tình

Nhất hoa khai ngũ diệp,

Kết quả tự nhiên thành

Dịch:

Ta sang đến cõi này,

Truyền pháp cứu mê tình

Một hoa nở năm cánh,

Nụ trái tự nhiên thành

Ngài lại bảo:

- Ta có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, là Phật nói tột pháp yếu, cũng giúp cho chúng sanh mở, bày, ngộ, nhập kho Tri kiến Phật, nay ta trao luôn cho ngươi Ta từ Nam Ấn sang đây đã năm phen bị thuốc độc mà không chết, vì thấy xứ này tuy có khí Đại thừa mà chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ đợi Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung vậy

Xong rồi, Ngài cùng đồ chúng đi đến Võ môn ở chùa Thiên Thánh dừng lại ba hôm Quan thái thú thành này tên Dương Huyễn Chi là người sùng mộ Phật pháp Nghe tin Ngài đến, liền tới đảnh lễ Ông hỏi:

Trang 17

- Thầy ở Ấn Ðộ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ, xin Thầy dạy cho?

Ngài đáp:

- Rõ được Tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và giải hợp nhau, gọi đó là Tổ

- Chỉ một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác?

- Cần rõ tâm người, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ Nếu hay hiểu như thế, cũng gọi là Tổ

Huyễn Chi lại thưa:

- Ðệ tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp được tri thức, trí nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo Cúi xin Thầy chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? Dùng tâm gì được gần với Phật, Tổ?

Ngài vì ông nói kệ:

Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,

Diệc bất quán thiện nhi cần thố,

Diệc bất xả trí nhi cận ngu,

Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ

Ðạt đại đạo hề quá lượng,

Thông Phật tâm hề xuất độ,

Ðạt đạo lớn chừ quá lượng,

Thông Phật tâm chừ vô kể,

Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,

Vượt lên, gọi đó là Tổ

Trang 18

Huyễn Chi nghe dạy hoan hỉ đảnh lễ, lại thưa:

- Xin Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần sanh Ngài bảo:

- Ðời mạt pháp, kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng lợi ích, mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người

- Từ Thầy đến đây ai thường hại Thầy, xin Thầy chỉ họ, con

sẽ sắp xếp

- Nói ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy Ðâu cam hại người để mình được vui

Huyễn Chi nài nỉ thưa:

- Con không hại người, chỉ muốn biết đó thôi

Ngài bất đắc dĩ nói bài kệ:

Giang tra phân ngọc lãng,

Quản cự khai kim tỏa

Ngũ khẩu tương cộng hành,

Cửu thập vô bỉ ngã

Dịch:

Thuyền con rẽ sóng ngọc,

Ðuốc soi mở khóa vàng

Năm miệng đồng cùng đi,

Chín, mười không ta người

Huyễn Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ Ngài lui ra

Ở đây đúng ba hôm, Ngài ngồi an nhiên thị tịch Hôm ấy là ngày mùng chín tháng mười năm Bính Thìn, nhằm niên hiệu Ðại Thông năm thứ hai nhà Lương (529 T.C.) Ðến ngày mười tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân của Ngài nhập tháp tại chùa Ðịnh Lâm, núi Hùng Nhĩ

Trang 19

Sau, vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Ðộ về, gặp Ngài tại núi Thông Lãnh, thấy Ngài tay xách một chiếc dép, một mình

đi nhanh như bay Tống Vân hỏi:

- Thầy đi đâu?

Ngài đáp:

- Về Ấn Ðộ

Ngài lại nói thêm:

- Chủ ông đã chán đời rồi

Tống Vân ngẩn ngơ, từ giã Ngài về triều Ðến triều thì vua Minh Ðế đã băng Hiếu Trang Ðế lên ngôi Ông đem việc ấy tâu lại, Vua ra lệnh mở cửa tháp giở quan tài ra, quả nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép Vua sắc đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm Ðến đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm (728 sau T.C.) môn đồ lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm

Vua phong Ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán

Tập Thiếu Thất Lục Môn nói là tác phẩm của Ngài

Trang 20

Tổ thứ hai Trung Hoa 29- Huệ Khả

(494 - 601 T.L.)

(Trích trong “Sử 33 vị Tổ Thiền tông Ấn-Hoa”,

Thanh Từ soạn, 1972, trang 173-188)

Sư họ Cơ quê ở Võ Lao, dòng tôn thất nhà Chu Cha mẹ Sư

lớn tuổi không con, lắm phen đến chùa cầu con, sau mẹ có thai sanh ra Sư Khi Sư lọt lòng mẹ, có hào quang lạ chiếu sáng trong nhà, nên đặt tên Sư là Quang

Thuở bé, Sư học hết sách đời, rất thông Lão Trang Năm ba mươi tuổi, Sư tự cảm than: “Lão, Dịch là sách thế gian chẳng tột được đại lý.” Sư bắt đầu xem kinh Phật

Sư viễn du tìm thầy học đạo, đến Lạc Dương lên núi Hương Sơn chùa Long Môn gặp Thiền sư Bảo Tịnh bèn xin xuất gia Sau

đó, Sư đến chùa Vĩnh Mục thọ giới ở tại Phù Du Giảng Tứ Sư chuyên học Kinh Luận, chưa bao lâu thảy được tinh thông

Năm ba mươi hai tuổi, Sư trở về Bổn sư nơi Hương Sơn Ở đây trọn ngày, Sư ngồi thiền quán trên núi Trải tám năm như thế, một hôm khi Sư đang thiền định, bỗng có vị thần hiện ra thưa:

- Ngài không nên ở đây lâu, muốn được đạo quả hãy đi về phương Nam

Hôm sau, trên đầu Sư chợt đau như kim châm không thể chịu được Sư định đi tìm thuốc trị, chợt nghe trong hư không có tiếng nói: “Ðây là đổi xương, chẳng phải bệnh thường.” Sư đem việc này thuật lại Thiền sư Bảo Tịnh Bảo Tịnh ngăn không cho trị thuốc Sáng hôm sau, Bảo Tịnh xem trên đầu Sư quả thấy đầu xương nổi cao như năm ngọn núi, bảo:

Trang 21

- Lạ thay! Ngươi có tướng tốt này ắt sẽ đắc đạo Thần lại dạy ngươi sang miền Nam, ta nghe Ðại sĩ Bồ-đề-đạt-ma đến ở chùa Thiếu Lâm, chắc đó là thầy của ngươi vậy

Nhân có thần mách bảo, nên Bổn sư Bảo Tịnh đổi hiệu Sư là Thần Quang

Sư tìm đến chùa Thiếu Lâm yết kiến Tổ Bồ-đề-đạt-ma và được truyền tâm ấn Sư ở đây cho đến lúc Tổ qui tịch Sau đó, Sư sang Bắc Tề hoằng truyền chánh pháp

Một hôm, Sư gặp một người cư sĩ trạc bốn mươi tuổi, chẳng nói tên họ, đến đảnh lễ Sư thưa:

- Ðệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội

Sư bảo:

- Ðem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối

Ông cư sĩ đứng sững giây lâu thưa:

- Ðệ tử tìm tội không thể được

- Ta đã vì ngươi sám hối rồi Nhưng, ngươi nên nương tựa Phật Pháp Tăng

- Hiện giờ đệ tử thấy Thầy đã biết được Tăng Chẳng biết thế nào là Phật và Pháp?

- Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp Phật Pháp không hai, ngươi có biết đó chăng?

- Nay đệ tử mới biết tánh tội không ở trong, ngoài, chặng giữa; như tội, tâm cũng vậy, thật Phật Pháp không hai

Sư nghe nói rất hoan hỉ, cho cạo tóc xuất gia, bảo:

- Ngươi là vật báu của ta, nên đặt tên là Tăng Xán

Ngày mười tám tháng ba niên hiệu Thiên Bình năm thứ hai (536 T.L.) Tăng Xán được thọ giới Cụ túc tại chùa Quang Phước

Trang 22

Từ đó, bệnh của ông lần lần thuyên giảm Ông theo hầu thầy được hai năm

Một hôm, Sư Huệ Khả gọi ông đến bảo:

- Tổ Bồ-đề-đạt-ma chẳng ngại xa xôi từ Ấn Ðộ sang, đem chánh pháp nhãn tạng truyền cho ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát, ngươi khéo giữ gìn chớ để đoạn tuyệt Nghe ta nói kệ:

Bản lai duyên hữu địa,

Nhân địa chúng hoa sanh

Bản lai vô hữu chủng,

Hoa diệc bất tằng sanh

Dịch:

Xưa nay nhân có đất,

Bởi đất giống hoa sanh

Xưa nay không có giống,

Hoa cũng chẳng từng sanh

Ðọc bài kệ xong Sư lại tiếp:

- Ngươi phải tìm nơi núi sâu ở ẩn, không nên đi giáo hóa sớm, trong nước sẽ có nạn

Tăng Xán thưa:

- Thầy đã biết trước mọi việc, cúi xin từ bi dạy con rành rẽ

- Ðây không phải tự ta nói, mà là lời huyền ký của Tổ nhã-đa-la do Tổ Ðạt-ma thuật lại cho ta nghe: Sau khi Tổ nhập Niết-bàn một trăm năm mươi năm sẽ có những việc xảy ra như bài

Bát-kệ này:

Tâm trung tuy kiết ngoại đầu hung,

Xuyên hạ tăng phòng danh bất trung

Vi ngộ độc long sanh võ tử,

Hốt phùng tiểu thử tịch vô cùng

Dịch:

Ngày đăng: 08/04/2022, 01:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w