THUẬT NGỮ Based -DHT Dựa trên bảng băm phân tán Broadcast Một thông điệp truyền tới tất cả các trạm Chord Một giao thức dựa trên mang ngang hàng có cấu trúc DHT Distributed Hash Table B
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
ĐỖ CAO MINH
GIẢI PHÁP CÂN BẰNG TẢI SỬ DỤNG CẤU TRÚC THƯ MỤC CHO MẠNG NGANG HÀNG CÓ CẤU TRÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2Hà Nội - 2010
MỤC LỤC……… …… 1
DANH MỤC THUẬT NGỮ……….…… 3
DANH MỤC HÌNH VẼ……… …… 4
MỞ ĐẦU ……… ……….……….…………6
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGANG HÀNG……… 9
1.1 Tổng quan về mạng ngang hàng 9
1.1.1 Khái niệm về mạng ngang hàng 9
1.1.2 Ưu điểm của mạng ngang hàng 10
1.1.3 Nhược điểm của mạng ngang hàng 11
1.2 Phân loại mạng ngang hàng 11
1.2.1 Phân loại theo mức độ tập trung của các node mạng 11
1.2.2 Phân loại theo cấu trúc liên kết 13
1.3 Mạng ngang hàng có cấu trúc dựa trên DHT(Distributed Hash Table) ……….……….15
1.3.1 Giới thiệu DHT 15
1.3.2 Mạng chord 17
a Mô hình mạng Chord 17
b Ánh xạ khóa vào một node trong Chord 19
c Tìm kiếm trong mạng Chord 19
d Tham gia và ổn định mạng 20
1.4 Kết luận 20
CHƯƠNG 2 - CÂN BẰNG TẢI TRÊN MẠNG NGANG HÀNG CÓ CẤU TRÚC……….……… 22
2.1 Khái niệm về tải trên mạng ngang hàng 22
2.1.1 Khái niệm 22
2.1.2 Node quá tải 23
2.1.3 Node có tải cao và Node có tải thấp 23
2.2 Các nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng tải trên các hệ thống DHT 23
2.2.1 Định danh các node không cân bằng 23
2.2.2 Định danh dữ liệu không cân bằng 24
2.2.3 Hot spots 25
2.2.4 Khả năng các node không cân bằng 26
2.2.5 Nhận xét 26
Trang 32.3 Các giải pháp cân bằng tải 26
2.3.1 Hướng sử dụng server ảo 27
a Sử dụng Log(N) Virtual Servers 27
b Phương pháp Proportion 28
c.Phương pháp di chuyển Virtual Server (Transfer) 29
2.3.2 Hướng không sử dụng server ảo 33
Thuật toán cân bằng tải theo ngưỡng 33
2.3.3 Kết luận 39
CHƯƠNG 3 - ĐỀ XUẤT CẢI TIẾN THUẬT TOÁN CÂN BẰNG TẢI THEO NGƯỠNG ……… ……… 40
3.1 Một số khái niệm 41
3.2 Thuật toán ThresholdPlus 41
3.3 Đánh giá: 46
CHƯƠNG 4 - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT DỰA TRÊN MÔ PHỎNG ……… ……… 48
4.1 Ảnh hưởng thời gian sống của một node tới các thuật toán cân bằng tải… 48 4.2 Ảnh hưởng của số lượng các câu truy vấn tới các thuật toán cân bằng tải 49
4.3 Ảnh hưởng của câu truy vấn dạng Zipf tới các thuật toán cân bằng tải …50
4.4 So sánh kết quả thực nghiệm của thuật toán Threshol Plus với các thuật toán đã có: 51
4.5 Kết luận 52
CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN……… 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Hướng phát triển tiếp theo 54
Trang 4THUẬT NGỮ
Based -DHT Dựa trên bảng băm phân tán
Broadcast Một thông điệp truyền tới tất cả các trạm Chord Một giao thức dựa trên mang ngang hàng
có cấu trúc
DHT (Distributed Hash Table ) Bảng băm phân tán
Directory Node Thư mục ; Đóng vai trò lưu trữ các
thông tin tải của các node
tin về các đặc tả tài nguyên tại mỗi node
Host Ports Node được truy cập với tần số cao
LBM (Load Balancing Matrix) Ma trận cân bằng tải
việc hữu ích nào đó và trao đổi kết quả với các thực thể khác qua mạng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
P2P (Peer to Peer network) Mạng ngang hàng
Predecessor(n) Node đứng liền sau n (Tính theo chiều kim
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Mô hình mạng ngang hàng 9
Hình 2 Mô hình mạng ngang hàng thuần tuý 12
Hình 3 Hệ thống mạng ngang hàng lai ghép 13
Hình 4 Tìm kiếm dữ liệu chia sẻ trong Gnutella 14
Hình 5 Một mạng Chord với 3 node 0, 1, 3 và các bảng Finger Table ứng với mỗi node N = 3 bit nên có 3 entry 18
Hình 6 Lưu giữ key trong mạng Chord: node 0 lưu key 6, node 1 lưu key 1 và node 3 lưu key 2 19
Hình 7 Định danh các node không cân bằng 24
Hình 8 Dữ liệu các node không cân bằng 24
Hình 9 Kết quả mô phỏng về sự phân bố dữ liệu không đều nhau 25
Hình 10 Node Host spots 25
Hình 11.Khả năng các nút không cân bằng 26
Hình 12.Cân bằng tải sử dụng Log(N) Virtual Servers 28
Hình 13 Tạo mới VS (a) và loại bỏ VS (b) 29
Hình 14 Node nặng tải di chuyển VS sang node nhẹ tải (nếu chỉ có 1 VS mà vẫn nặng tải thì sẽ chia làm 2 VS để di chuyển) 30
Hình 15 Phương pháp One - to - One 31
Hình 16 Phương pháp One - to - Many 32
Hình 17 (a) Node A chuyển tải cho node láng riềng B và (b) Chuyển định danh của node C vào giữa A và B Độ cao của mỗi hình tương ứng là biểu diễn tải của các node 34
Hình 18 Node A có tải vượt quá ngưỡng Node B có tải thấp hơn trong hai láng riềng của A Tải được chuyển từ Node A cho Node B 35
Hình 19 Node A có tải vượt quá ngưỡng Node B có tải thấp hơn trong 2 láng riềng của A Tải được chuyển cho node B 35
Hình 20 Node A có tải vượt quá ngưỡng, node E chuyển tải cho F, E di chuyển vị trí đến giữa A và B để nhận tải 36
Hình 21 Node A có tải vượt quá ngưỡng; Node G là nhẹ tải khi di chuyển không làm cho Successor(G) bị quá tải; di chuyển vị trí của G đến giữa A và B để G chịu tải .38
Trang 6Hình 22 Các node nhẹ tải A và F hỏi successor của nó (các đường mũi tên nét liên)
và thông báo tình trạng tải cho thư mục 1 và thư mục 2 (các đường mũi tên nét đứt).43 Hình 23 Node A thực hiện cân bằng tải, node láng riềng B nhận tải hộ node A bằng cách dịch chuyển định danh về phía A 44 Hình 24 Node A thực hiện cân bằng tải, node A chia tải cho node láng giềng B bằng cách dịch chuyển định danh của A về phía B 44 Hình 25 Node A hỏi thư mục 1 để tìm một node nhẹ tải có thể dịch chuyển được (đường mũi tên nét liên) Định danh của node nhẹ tải E được chuyển đến giữa
predecessor(A) và A để nhận tải hộ node A (đường mũi tên nét đứt) .45 Hình 26 Thời gian sống trung bình của một node thay đổi, các câu truy vấn thực hiện với phân bố Zipf và Uniform .49 Hình 27 Số câu truy vấn đặt vào một node thay đổi, truy vấn được phân bố ở dạng Zipf và Uniform 50 Hình 28 Truy vấn đặt vào các node ở dạng phân bố Zipf với tỷ lệ thay đổi .51 Hình 29 So sánh ThresholdPlus với Tranfer và Propotion .52
Trang 7MỞ ĐẦU
Một kiểu kiến trúc mạng mới với tên là mạng ngang hàng (Peer to Peer P2P) đã phát triển nhanh chóng trên internet Trong đó hoạt động của mạng chủ yếu dựa vào khả năng tính toán và băng thông của các máy tham gia chứ không tập trung vào một số nhỏ các máy chủ trung tâm như các mạng thông thường
-Sự phát triển nhanh chóng của mạng ngang hàng trong những năm gần đây thúc đẩy sự ra đời của nhiều ứng dụng mạng như các hệ thống chia sẻ file, tìm kiếm thông tin, tính toán lưới… Mạng ngang hàng có cấu trúc ra đời đảm bảo cho tính hiệu quả cũng như khả năng mở rộng của các ứng dụng này Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng dịch vụ cho các ứng dụng xây dựng trên mạng ngang hàng có cấu trúc cần phải giải quyết vấn đề cân bằng tải trong mạng ngang hàng có cấu trúc
Có hai hướng tiếp cận chính cho các thuật toán cân bằng tải đó là: hướng tiếp cận dựa trên server ảo (virtual server) và hướng tiếp cận không dựa trên server ảo Trong luận văn này tôi tập trung vào hướng tiếp cận không dựa trên server ảo và đưa ra một giải thuật cải tiến của giải thuật cân bằng tải theo ngưỡng Giải thuật của chúng tôi đưa ra cho phép các node quá tải tìm chính xác
và nhanh chóng một node phù hợp để thực hiện việc cân bằng tải Chúng tôi đã cài đặt và thử nghiệm thuật toán đề xuất trong điều kiện mạng gần với thực tế và thấy rằng thuật toán của chúng tôi giải quyết tốt vấn đề cân bằng tải của các node trong mạng
Nội dung luận văn gồm 5 chương cụ thể cho từng chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về mạng ngang hàng, những khái niệm cơ bản về mạng ngang hàng đồng thời giới thiệu giao thức Chord, giao thức được
sử dụng để triển khai mạng phủ DHT khi xây dựng chương trình mô phỏng Chương 2: Tìm hiểu về vấn đề cân bằng tải trên mạng ngang hàng, một số nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng tải, các giải pháp đã được đề xuất và phân tích về các giải pháp này
Trang 8Chương 3: Trên cơ sở các vấn đề tìm hiểu được ở chương 2 Chúng tôi đề xuất giải pháp cân bằng trên mạng ngang hàng có cấu trúc theo hướng không sử dụng server ảo Đó là một giải thuật cải tiến của giải thuật cân bằng tải theo ngưỡng
Chương 4: Trình bày cách thực hiện chương trình mô phỏng đồng thời trình bày kết quả đánh giá giải thuật cân bằng tải dựa trên mô phỏng của chúng tôi
Chương 5: Trình bày các công việc mà chúng tôi đã thực hiện được, những vấn đề còn tồn tại của luận văn và hướng phát triển tiếp theo của chúng tôi
Trang 9CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGANG HÀNG
Trong chương này, luận văn sẽ giới thiệu khái quát về mạng ngang hàng, các đặc điểm, các hình thức phân loại của mạng ngang hàng, khái niệm về DHT
và mạng hàng có cấu trúc đồng thời giới thiệu về một số mạng ngang hàng đã và đang được ứng dụng có hiệu quả
1.1 Tổng quan về mạng ngang hàng
1.1.1 Khái niệm về mạng ngang hàng
Mạng ngang hàng là một mạng mà kiến trúc của nó được tạo nên bởi các máy tính liên kết với nhau, các máy tính tham gia trong mạng đều bình đẳng như nhau và được gọi là các peer, mỗi máy tính tham gia mạng là một phần và duy trì sự tồn tại của mạng Các máy tính trong mạng thường xuyên liên lạc với các máy tính khác để ổn định mạng và chia sẻ dữ liệu với nhau Dữ liệu được chứa trên các máy tính và được chia sẻ trực tiếp với nhau giữa các máy tính tham gia vào mạng
Hình 1 Mô hình mạng ngang hàng
Trang 10Ứng dụng thường xuyên gặp nhất của mạng ngang hàng là chia sẻ tệp tin, tất cả các dạng như: âm thanh, hình ảnh, dữ liệu hoặc để truyền dữ liệu thời gian thực… Việc sử dụng mạng ngang hàng mang lại nhiều ưu điểm cho người dùng Luận văn xin trình bày một số ưu điểm của mạng ngang hàng
1.1.2 Ưu điểm của mạng ngang hàng
Mục đích quan trọng của mạng ngang hàng là các máy tính tham gia mạng đều đóng góp tài nguyên bao gồm băng thông, lưu trữ, khả năng tính toán Do
đó khi càng nhiều mày tính tham gia mạng thì khả năng tổng thể của mạng càng lớn Do việc các thông tin lưu trữ không chỉ trên máy chủ mà còn được lưu trữ ở chính các máy tham gia mạng nên mô hình này rất phù hợp với tính phi tập trung của Internet
Xét về khía cạnh sức mạnh xử lý, mạng ngang hàng có khả năng xử lý cao hơn cả những máy chủ lớn hiện nay, do đó sử dụng mạng ngang hàng có thể cải thiện đáng kể hiệu quả của các phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu và giải các bài toán phức tạp Sở dĩ làm được như vậy là vì mạng ngang hàng có thể tận dụng được khả năng xử lý, khả năng lưu trữ còn thừa của các máy tham gia mạng với những thuật toán phân tán hợp lý Công nghệ này đã chia việc xử lý lớn ra thành nhiều việc xử lý để có thể giao cho các máy tính khác trong mạng cùng thực hiện Mỗi máy tính sẽ xử lý một phần công việc và trả về kết quả xử
lý cho máy tính trung tâm, máy tính trung tâm sẽ ghép nối các kết quả này lại với nhau Bằng cách như vậy, ta có thể giải quyết các bài toán phức tạp yêu cầu vấn đề xử lý, lưu trữ lớn mà không cần phải nâng cấp khả năng xử lý của hệ thống hiện tại
Tính chất phân tán của mạng ngang hàng cũng giúp cho việc phân tán trách nhiệm cung cấp dịch vụ đến tất cả các node trên mạng, nó sẽ loại bỏ được vấn đề ngừng trệ dịch vụ do nơi cung cấp duy nhất gặp sự cố Đối với mô hình tập trung, chỉ cần máy chủ gặp sự cố thì cả hệ thống sẽ ngưng trệ Còn đối với mạng ngang hàng, máy tính có thể tham gia hoặc rời khỏi mạng bất kỳ lúc nào
mà mạng vẫn hoạt động bình thường, các máy tính còn lại vẫn có thể trao đổi thông tin và chia sẻ tài nguyên cho nhau
Bên cạnh nhiều ưu điểm đã được nêu ở trên thì mạng ngang hàng cũng còn tồn tại một số nhược điểm
Trang 111.1.3 Nhược điểm của mạng ngang hàng
Do các máy tính trên mạng ngang hàng đều có vai trò như nhau và không tuân theo bất cứ một quy luật định tuyến hay kết nối nào, việc yêu cầu dịch vụ được đáp ứng tuỳ biến nên máy yêu cầu dịch vụ có thể nhận được nhiều kết quả khác nhau, khi nó kết nối đến nhiều máy tính khác nhau cùng cung cấp một dịch
1.2 Phân loại mạng ngang hàng
Mạng ngang hàng có nhiều tiêu trí phân loại khác nhau, trong luận văn này xin được trình bày hai tiêu trí phân loại mạng ngang hàng đó là: Phân loại theo mức độ tập trung của các node mạng và phân loại theo cấu trúc liên kết của các node
1.2.1 Phân loại theo mức độ tập trung của các node mạng
Nếu lấy tiêu chí về mức độ tập trung của các node mạng, mạng ngang hàng có thể phân làm 2 loại: mạng ngang hàng thuần tuý và mạng ngang hàng lai
a Mạng ngang hàng thuần tuý
Trong mạng ngang hàng thuần tuý thì vai trò của các máy trong mạng là ngang nhau và trong mô hình mạng này đã loại bỏ sự tồn tại của các máy chủ tập trung Trong mạng này đã khắc phục được vấn đề node nghẽn cổ chai trong
mô hình tập trung Tuy nhiên vấn đề tìm kiếm trong mạng ngang hàng thuần tuý
sử dụng cơ chế phát tràn (Flooding), yêu cầu tìm kiếm được gửi tới tất cả các node mạng là láng giềng với nó, điều này làm tăng đáng kể lưu lượng trong mạng
Trang 12Hình 2 Mô hình mạng ngang hàng thuần tuý
b Mạng ngang hàng lai ghép
Trong mô hình này, các peer lưu giữ nội dung chia sẻ với các node khác ở trên mạng Tất cả các peer đều kết nối tới một server, server này lưu giữ thông tin về:
- Bảng thông tin kết nối của người dùng đăng kí (địa chỉ IP, băng thông kết nối…)
- Bảng liệt kê danh sách các file mà các peer nắm giữ và chia sẻ ở trên mạng cùng với các thông tin mô tả về các files ( tên file, ngày tạo…) Tất cả các peer muốn kết nối vào mạng đều phải liên lạc với server và thông báo với server các file mà nó có
Một peer mà muốn tìm kiềm một file, yêu cầu tìm kiếm được chuyển cho server, server tìm kiếm trong thông tin chỉ mục của mình và trả lại danh sách các peer có thông tin cần tìm Peer tìm kiếm sẽ liên lạc trực tiếp với các peer có thông tin theo yêu cầu tìm kiếm để tải thông tin trực tiếp từ các peer này
Trang 13Hình 3 Hệ thống mạng ngang hàng lai ghép
1.2.2 Phân loại theo cấu trúc liên kết
Mạng phủ bao gồm tất cả các node mạng đại diện cho các máy tham gia và các liên kết giữa các node mạng này Một liên kết tồn tại giữa hai node mạng khi một node mạng biết vị trí của node mạng kia Dựa vào cấu trúc liên kết trong mạng phủ người ta có thể phân loại mạng ngang hàng thành hai loại: mạng ngang hàng không có cấu trúc và mạng ngang hàng có cấu trúc
a Mạng ngang hàng không có cấu trúc
Một mạng ngang hàng được gọi là mạng ngang hàng không có cấu trúc khi liên kết giữa các node trong mạng phủ được thiết lập ngẫu nhiên (tức là không theo một quy luật nào cả) Những mạng như vậy dễ dàng xây dựng vì khi một node muốn tham gia mạng có thể lấy liên kết có sẵn của một node khác đang ở trong mạng và sau đó dần dần tự bản thân nó sẽ thêm vào các liên kết mới của riêng mình
Trong mạng ngang hàng không có cấu trúc, khi một node muốn tìm kiếm một dữ liệu, thì yêu cầu tìm kiếm sẽ truyền trên toàn bộ mạng để tìm ra càng nhiều máy tính chia sẻ càng tốt Hệ thống này thể hiện rõ nhược điểm là không
có gì đảm bảo là việc tìm kiến thành công Đối với dữ liệu phổ biến được chia sẻ trên nhiều máy thì tỉ lệ thành công là khá cao, ngược lại nếu dữ liệu chỉ được
Trang 14chia sẻ trong một vài máy thì xác suất tìm thấy là rất nhỏ Tính chất này là hiển nhiên trong mạng ngang hàng không có cấu trúc vì không có bất kỳ mối tương quan nào giữa một máy và dữ liệu của nó quản lý trong mạng, do vậy yêu cầu tìm kiếm được chuyển một cách ngẫu nhiên đến một số máy trong mạng Số máy trong mạng càng lớn thì khả năng tìm thấy thông tin càng nhỏ Do khi muốn tìm kiếm trên mạng ngang hàng không có cấu trúc, yêu cầu tìm kiếm được phát trên toàn mạng nên không có cấu trúc định hướng, một yêu cầu thường chuyển cho số lượng lớn các máy tính trong mạng làm tiêu tốn băng thông, dẫn đến hiệu quả tìm kiếm thấp
Một mô hình mạng ngang hàng không cấu trúc điển hình đó là mạng Gnutella Các máy tính trong Gnutella được mô tả như là những “servent”, các thành viên trong mạng và được chia sẻ file Các máy tính khác có thể lấy được những file chia sẻ này Việc tìm kiếm file trên mạng mô tả trong hình 4, khi một máy tính A tìm kiếm file X, nó sẽ gửi một truy vấn broadcast tới tất cả các máy tính nó biết, được coi là hàng xóm của nó Truy vấn sau đó sẽ được chuyển dần qua các bước và tới được máy tính có chứa file X Gnutella có mã nguồn mở và
có giao thức mô tả rõ ràng trên mạng Internet, bất cứ ai quan tâm cũng có thế tìm hiểu và phát triển để tạo ra một mạng ngang hàng của riêng mình với các tính năng muốn có
Hình 4 Tìm kiếm dữ liệu chia sẻ trong Gnutella
Trang 15b Mạng ngang hàng có cấu trúc
Mạng ngang hàng có cấu trúc khắc phục nhược điểm của mạng không cấu trúc bằng cách sử dụng hệ thống Bảng Băm Phân Tán (DHT: Distributed Hash Table) Hệ thống này định nghĩa liên kết giữa các nút mạng trong mạng phủ theo một thuật toán cụ thể, đồng thời xác định chặt chẽ mỗi nút mạng sẽ chịu trách nhiệm đối với một phần dữ liệu chia sẻ trong mạng Với cấu trúc này, khi một máy cần tìm một dữ liệu, nó chỉ cần áp dụng một giao thức chung để xác định nút mạng nào chịu trách nhiệm cho dữ liệu đó và sau đó liên lạc trực tiếp đến nút mạng đó để lấy kết quả.Việc tìm kiếm thông tin trên mạng ngang hàng có cấu trúc cũng nhanh hơn so với mạng ngang hàng không có cấu trúc Nếu như mạng ngang hàng không có cấu trúc các máy tính gửi thông điểm broadcast để tìm kiếm thông tin thì trong mạng ngang hàng có cấu trúc một máy tính chỉ cần gửi thông điệp tìm kiếm qua một số máy tính Giao thức tìm kiếm chung trong mạng sẽ đảm bảo thông tin sẽ được tìm thấy Một số mạng ngang hàng có cấu trúc nổi tiếng như: Chord, CAN, Kademlia, pastry… trong đó Chord và CAN được mô tả chi tiết, đã được mô phỏng và cho kết quả qua các bài báo Trong phần tiếp theo luận văn xin trình bày chi tiết về giao thức mạng Chord
1.3 Mạng ngang hàng có cấu trúc dựa trên DHT(Distributed Hash Table)
1.3.1 Giới thiệu DHT
Các nghiên cứu về DHT được bắt nguồn cùng với sự phát triển của các hệ thống P2P như Napster, Gnutella, và Freenet, những hệ thống này sử dụng lợi thế của các tài nguyên phân tán trên mạng Internet để cung cấp một ứng dụng đơn hữu dụng Cụ thể, chúng đã sử dụng lợi thế tăng băng thông và sức chứa của ổ cứng còn nhàn rỗi của các Peer để cung cấp dịch vụ chia sẻ file
Những hệ thống này khác nhau ở cách thức thực hiện việc tìm kiếm dữ liệu
mà các peer quản lý Napster sử dụng một server trung tâm: mỗi node khi tham gia vào mạng sẽ gửi một danh sách các file được lưu trữ ở máy lên cho server, server sẽ xử lý các truy vấn, tìm các file trong danh sách, rồi gửi đường dẫn tới node chứa các file cần tìm Thành phần trung tâm này tạo ra một điểm yếu trong
hệ thống vì có thể bị tấn công hoặc có thể bị kiện cáo về bản quyền Gnutella và những mạng tương tự chuyển sang sử dụng mô hình phát tràn các thông điệp truy vấn (flooding query model), mỗi truy vấn được đưa ra tương ứng với việc một thông điệp được broadcast tới tất cả các node có trong mạng Vì vậy, mặc
Trang 16dù tránh được điểm yếu của thành phần trung tâm như trên, thì phương pháp này lại kém hiệu quả hơn so với Napster Cuối cùng, Freenet thực sự là phân tán, nó
sử dụng cơ chế routing dựa trên khóa, mỗi file được gán một khóa, các khóa gần giống nhau sẽ cùng được lưu ở một tập các node Các truy vấn sẽ được định tuyến đi trong mạng mà không phải ghé thăm tất cả các node có trên mạng Tuy nhiên, Freenet không đảm bảo dữ liệu sẽ được tìm thấy
DHT sử dụng cơ chế định tuyến dựa trên khóa trên một kiến trúc mạng chặt chẽ hơn để có thể đạt được cả tính phân tán về tài nguyên của Gnutella và Freenet, tính hiệu quả về truy vấn của Napster Có một hạn chế là DHT chỉ hỗ trợ tìm kiếm chính xác chứ không hỗ trợ tìm kiếm theo từ khóa, hay tìm kiếm theo khoảng, tuy nhiên các chức năng này có thể triển khai mở rộng trên nền DHT
Distributed hash tables (DHTs) là hệ thống mạng phân tán, cung cấp các dịch vụ tìm kiếm dựa vào bảng băm Bảng băm là một cặp ( tên, giá trị) Mỗi một node khi tham gia vào mạng có thể dễ dàng tìm thấy giá trị mong muốn dựa vào tên của giá trị đó Việc hình thành tên (khóa) và gắn các khóa đó với giá trị tương ứng được thực hiện trực tiếp tại các node trong mạng, chính vì vậy khả năng sập mạng được giảm tối thiểu khi các node tham gia hoặc dời bỏ mạng Chính lý do này khiến khả năng mở rộng của mạng DHT là cực lớn, quá trình kiểm soát việc tham gia, dời bỏ mạng của các node cũng trở nên dễ dàng hơn Với cấu trúc vững mạnh, DHT được sử dụng để xây dựng nhiều ứng dụng phức tạp như: Hệ thống các file phân tán, hệ thống chia sẻ file ngang hàng, hệ thống nội dung phân tán, tin nhắn tức thời, Multicast… Các mạng DHT nổi tiếng thường được nhắc đến là: Bittorrent, eDonkey network, Yacy…
Một số mạng based - DHT đầu tiên như CAN, Chord được giới thiệu cùng thời gian năm 2001 Từ đó lĩnh vực nghiên cứu này trở lên khá sôi động Công nghệ DHT đã được sử dụng như một thành phần của BitTorrent
DHT nhấn mạnh vào các thuộc tính sau:
Không tập trung (Decentralization): Các node tham gia cấu thành
hệ thống không có thành phần trung tâm làm điều phối mạng
Khả năng mở rộng: Hệ thống vẫn có thể hoạt động hiệu quả với
hàng nghìn hoặc hàng triệu node
Trang 17 Khả năng chịu lỗi: Hệ thống vẫn có thể làm việc ổn định ngay cả
khi có các sự kiện node tham gia, rời bỏ, lỗi diễn ra liên tục
Kỹ thuật khóa được sử dụng để đạt được mục đích là mỗi node chỉ cần liên kết với một số ít các node khác trong hệ thống, thường là O(logn) với n là số node tham gia Vì vậy sự thay đổi trong các thành viên chỉ ảnh hưởng đến một phần nhỏ của hệ thống
Một số thiết kế DHT tìm đến tính bảo mật chống lại những người tham gia
ác tâm và cho phép người tham gia giấu danh tính, mặc dù điều này không phổ biến trong các hệ thống P2P chia sẻ file
Cuối cùng, DHT phải giải quyết những vấn đề cơ bản của các hệ thống phân tán đó là cân bằng tải, tính toàn vẹn dữ liệu, hiệu năng (cụ thể là đảm bảo các hoạt động như định tuyến, lưu trữ, truy vấn phải được thực thi nhanh chóng)
1.3.2 Mạng chord
Theo một đánh giá tổng hợp về các thuật toán định tuyến dựa trên DHT trong các kiến trúc mạng khác nhau như hình tròn (ring, với giao thức Chord), hình cây (tree), hình hộp (hypercube, với giao thức CAN), …xét về sự linh hoạt trong việc định tuyến, khả năng phục hồi trạng thái cũng như khả năng chịu lỗi, kiến trúc Ring đều được đánh giá cao Vì vậy, kiến trúc Chord[1] thường hay được sử dụng như là mạng phủ để thực hiện các cài đặt cải tiến việc các ứng dụng, xử lý trên P2P có cấu trúc
a Mô hình mạng Chord
Chord[1] được mô tả dưới dạng một vòng tròn và không gian định danh phân bố đều trên vòng tròn tăng dần theo chiều kim đồng hồ Nếu gọi N là số bit định danh của không gian thì mạng Chord có thể chứa tối đa 2N node Mỗi node trên Chord có một định danh id và duy trì liên kết 2 chiều với node đứng liền trước và liền sau nó theo chiều kim đồng hồ tạo thành một mạch liên kết vòng Node liền trước được gọi là Successor(id), và node liền sau được gọi là Predecessor(id) Thêm vào đó, một node sẽ lưu một bảng định tuyến gọi là Finger Table, cho phép node đó định tuyến tới các node ở xa Mỗi dòng trong bảng Finger Table sẽ lưu thông tin về 1 node ở xa, gọi là 1 entry Không gian định danh có bao nhiêu bit thì Finger Table có bấy nhiêu entry
Trang 18Hình 5 Một mạng Chord với 3 node 0, 1, 3 và các bảng Finger Table ứng với mỗi node N = 3 bit nên có 3 entry
Các trường trong mỗi entry trong bảng Finger Table được định nghĩa trong bảng dưới:
Finger[k].start (n+2k-1) mod 2m, 1 ≤ k ≤ m
circle;
Finger[1].node
circle Trong đó giá trị của trường node tại dòng i của bảng được coi như là finger thứ i của node n Thông tin lưu trong bảng cũng bao gồm cả IP và Port của các node liên quan Node đầu tiên trong bảng Finger Table của n chính là Successor của n, hay còn được gọi là Immediate Successor
Trang 19Từ bảng Finger Table ở trên ta có thể thấy rằng:
+ Mỗi node chỉ cần lưu trữ thông tin của một số node nhất định trong bảng định tuyến của mình
+ Node biết thông tin về các node gần nó nhiều hơn là các node ở xa
+ Bằng cách sử dụng bảng Finger Table một node n có thể xác định được
vị trí của bất kỳ khóa nào trên mạng
b Ánh xạ khóa vào một node trong Chord
Chord[1] ánh xạ các khóa vào các node, thường sẽ là một cặp key và value Một value có thể là 1 address, 1 văn bản, hoặc 1 mục dữ liệu Chord có thể thực hiện chức năng này bằng cách lưu các cặp key/value ở các node mà key được ánh xạ Một node sẽ chịu trách nhiệm lưu giữ một khóa k nếu node đó là node
có định danh id nhỏ nhất và id lớn hơn k Một node khi lưu giữ khóa k cũng sẽ được gọi là Successor của k, ký hiệu là Successor(k)
Hình 6 Lưu giữ key trong mạng Chord: node 0 lưu key 6, node 1 lưu key 1 và
node 3 lưu key 2
c Tìm kiếm trong mạng Chord
Khi một node n cần tìm kiếm một khóa có định danh id, node n sẽ tìm node chịu trách nhiệm lưu giữ id đó Nếu node n ở xa so với vị trí của node lưu giữ id,
n có thể nhờ vào thông tin trong bảng Finger Table để định tuyến đến các node
xa hơn, từ đó dần dần tìm ra node chịu trách nhiệm lưu giữ id
Trang 20Một ví dụ được chỉ trong hình 8, giả sử node 3 muốn tìm successor của ID
= 1 (hoặc còn có thể coi là khóa) ID =1 thuộc khoảng [7, 3) Node 3 kiểm tra entry thứ 3 trong bảng định tuyến của nó, là 0 Bởi vì 0 nằm ngay trước 1 trên vòng tròn, node 3 sẽ hỏi node 0 để tìm successor của 1 Tiếp theo, node 0 sẽ tìm trong bảng định tuyến của nó và suy ra successor của 1 chính là node 1, và trả lời node 3 rằng node 1 chính là successor của khóa ID = 1
d Tham gia và ổn định mạng
Trong 1 mạng động, thường xuyên có sự thay đổi với các node tham gia và rời khỏi bất kì lúc nào Để có thể xác định được vị trí của các khóa ở trong mạng, Chord cần thỏa mãn 2 điểm sau:
Mỗi successor của một node phải được duy trì đúng
Với mỗi khóa k, node successor(k) có trách nhiệm quản lý k
Khi tham gia vào một mạng Chord, một node n cần chọn cho nó một định danh id và báo cho các node bên cạnh biết sự tham gia của nó Các node Successor và Predecessor sẽ cần phải cập nhật thông tin về node mới tham gia vào mạng Node n cũng khởi tạo bảng định tuyến Finger Table Để mạng vẫn định tuyến đúng sau khi có sự tham gia của node n, các node cần thường xuyên chạy thuật toán ổn định mạng để cập nhật thông tin về node bên cạnh (hay node láng giềng) Một số node có lưu thông tin về n trong bảng Finger Table thì cần cập nhật các entry liên quan trong Finger Table Cuối cùng, node Successor của
n sẽ chuyển một phần khóa k mà bây giờ n là Successor(k) cho n lưu giữ Việc chuyển khóa sẽ do tầng trên của ứng dụng thực hiện
Khi một node chuẩn bị rời khỏi mạng, nó cần thông báo cho các node bên cạnh biết để ổn định lại mạng Node đó cũng sẽ chuyển các khóa nó lưu giữ cho node Successor của nó
1.4 Kết luận
Chúng ta vừa tìm hiểu tổng quan về mạng ngang hàng, qua đó ta thấy những nhược điểm của mạng ngang hàng thuần túy đã được khắc phục khá hiệu quả bởi mạng ngang hàng có cấu trúc nhờ vào việc áp dụng những kiến trúc DHT Tuy nhiên, một trong những vấn đề trọng tâm cần giải quyết trong mạng DHT là làm thế nào để cân bằng tải giữa các node tham gia trong hệ thống Yếu
tố gây mất cân bằng tải trước hết là khả năng không giống nhau của các node
Trang 21tham gia vào mạng và một số yếu tố khác cũng dẫn tới việc mất cân bằng tải trong mạng, như việc lựa chọn định danh ngẫu nhiên của các node và của dữ liệu hoặc các nguyên nhân khác như tính phổ biến của các file dẫn đến tình trạng một số node phải chịu truy vấn nhiều hơn, trong khi một số node khác lại bị ít truy vấn Những vấn đề còn tồn tại trong mạng DHT và các hướng giải quyết luận văn xin tiếp tục trình bày ở các chương sau
Trang 22CHƯƠNG 2 - CÂN BẰNG TẢI TRÊN MẠNG NGANG HÀNG CÓ CẤU
TRÚC
Cân bằng tải là một trong những điều kiện để giúp cho mạng có thể hoạt động một cách có hiệu quả Có rất nhiều các nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng tải và đã có một số nghiên cứu và đã có các giải pháp cho vấn đề cân bằng tải Trong chương này xin trình bày các nghiên cứu về một số nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng tải và một số giải pháp cân bằng tải đã được công bố
2.1 Khái niệm về tải trên mạng ngang hàng
2.1.1 Khái niệm
Mục đích chính của các hệ thống P2P là chia sẻ tài nguyên sẵn có (bandwidth, storage, CPU power) giữa các peers sao cho người dùng có thể truy vấn và sử dụng một cách hiệu quả
“Hiệu quả” ở đây nghĩa là hệ thống phải đảm bảo sự phân chia “tải” càng đồng đều giữa các peers càng tốt cân bằng tải là vấn đề rất quan trọng đối với
hệ thống P2P
Tải (Load/Workload ): phụ thuộc vào từng hệ thống P2P cụ thể:
- Số bit yêu cầu để lưu trữ dữ liệu
- Băng thông mạng
- Lượng thời gian mà CPU cần để xử lý công việc…
Các kí hiệu:
n – số nodes trong hệ thống
li – tải của ni tại một thời điểm cụ thể
ci – Khả năng tải (capacity) của node của ni,
µi – hệ số sử dụng (utilization) của node ni
Trang 232.1.2 Node quá tải
Khả năng tải của một node (C,Target): Là tải lớn nhất mà một node có thể
nhận được
Với mỗi nút ni mà tải thực tế tại thời điểm bất kỳ vượt quá khả năng chịu tải lớn nhất của nó thì nút ni gọi là quá tải (Overloaded) Một nút quá tải không có khả năng lưu trữ, định tuyến, hoặc tính toán…
2.1.3 Node có tải cao và Node có tải thấp
Như đã trình bày ở trên mỗi nút chỉ có một khả năng tải Ci nào đó Theo lý thuyết khi một nút có tải chưa vượt quá Ci vẫn chưa bị coi là quá tải Tuy nhiên trong thực tế khi các nút hoạt động cần phải có những xử lý tải trung gian (temporarily) do vậy tải có thể vượt quá khả năng tải Ci Vì lý do đó mà ta đưa
ra khái niệm nút có tải cao và nút có tải thấp
Mỗi nút được thiết lập ngưỡng tải cao Ui và ngưỡng tải thấp Li Tuy nhiên việc xem xét nút có tải cao và nút có tải thấp còn phụ thuộc vào từng thuật toán
cụ thể
2.2 Các nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng tải trên các hệ thống DHT
Bên cạnh ưu điểm trong việc tổ chức và truy vấn dữ liệu một cách có cấu trúc, các giao thức sử dụng DHT có một nhược điểm tồn tại và đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu, đó là: Sự phân tán dữ liệu giữa các nút trong hệ thống Dựa trên tính chất phân bố ngẫu nhiên kết quả của hàm băm, khi tính toán đến
độ phức tạp của truy vấn hay phép gán dữ liệu trên DHT, người ta thường mặc định là dữ liệu phân bố gần như đồng đều giữa các nút Bên cạnh đó, các nút tham gia hệ thống cũng được coi là có khả năng như nhau về băng thông, lưu trữ, xử lý của CPU… Trong thực tế lại có một sự khác biệt lớn về tải giữa các nút hay còn gọi là sự mất cân bằng tải Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc mất cân bằng tải trên mạng ngang hàng, ở đây luận văn xin đưa ra bốn nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng tải
2.2.1 Định danh các node không cân bằng
Do định danh được chọn một cách ngẫu nhiên nên mỗi nút phải chịu quản
lý một vùng với số lượng files dữ liệu được gán khác nhau (Thông thường các vùng lớn hơn sẽ được gán số lượng files dữ liệu nhiều hơn) Trong những hệ thống lớn với giải thuật sinh ra ID cho các nút mà không có tình trạng sung đột
Trang 24- node
- data
thì sự khác nhau về kích cỡ của vùng nhỏ nhất và lớn nhất có thể lên tới O(NlogN)
Hình 7 Định danh các node không cân bằng
2.2.2 Định danh dữ liệu không cân bằng
Giả sử vấn đề định danh node đã được giải quyết, nếu dữ liệu được phân bố quá tập trung vào một vùng thì cũng sẽ gây tình trạng “nặng tải” tại khu vực đó Nói cách khác, vị trí đặt files cũng có thể gây ảnh hưởng lớn tới hiệu năng của
hệ thống
Hình 8 Dữ liệu các node không cân bằng
Kết quả mô phỏng hệ thống DHT Chord ở hình 9 với 4,096 node và khoảng 500,000 files dữ liệu cho thấy không có sự phân bố tối ưu dữ liệu trên các node (hình trái), thậm chí mô phỏng với số files dữ liệu dao động từ 100,000 tới 1,000,000 đã cho thấy một số node không hề phải chịu trách nhiệm quản lí bất cứ một chút tải nào (hình phải)
Trang 25Hình 9 Kết quả mô phỏng về sự phân bố dữ liệu không đều nhau
2.2.3 Hot spots
Một số nghiên cứu đã cho thấy mức độ thường xuyên truy vấn đến các files
có thể dao động từ 1 – 3 lần Các tác giả đã phát hiện ra rằng trong các hệ thống P2P hiện nay chỉ có 10% số các files được truy vấn nhiều nhất và chiếm tới 60% tổng lưu thông trên mạng Ví dụ các dữ liệu mà được nhiều người yêu thích (các file MP3 được nhiều người truy cập) và dẫn đến việc truy cập vào nút này nhiều hơn, do đó nó phải chịu tải nhiều hơn các node bình thường khác
Hình 10 Node Host spots
Trang 262.2.4 Khả năng các node không cân bằng
Trong thực tế các nút tham gia vào mạng thường rất đa dạng và có khả năng (CPU, Storage, Bandwidth) là khác nhau, có những node khi tham gia vào mạng là những máy tính đời cũ kết nối Internet chậm (Dial Up), nhưng cũng có những máy tham gia vào mạng là các máy có cấu hình mạnh kết nối internet băng thông rộng(ADSL) Saroui và đồng nghiệp đã nghiên cứu 2 hệ thống chia
sẻ files nổi tiếng là Napster và Gnutella cho thấy mức độ chênh lệch về khả năng của các node có thể lên tới 3, thậm chí là 5 lần Trong một thực tế như vậy, nếu các vùng mà được gán cho các node yếu thì cho dù phân bố lưu trữ các files dữ liệu và truy vấn trong hệ thống đạt được sự đồng đều thì vẫn xảy ra sự mất cân bằng tải nghiêm trọng
Hình 11.Khả năng các nút không cân bằng
2.2.5 Nhận xét
Với những nguyên nhân đã nêu ở trên thì rõ ràng việc phân tán tải đồng đều trên hệ thống không thể chỉ đơn giản dựa vào các hàm băm Những kĩ thuật khác nhằm mục đích cân bằng tải giữa các node cần được đưa vào áp dụng
2.3 Các giải pháp cân bằng tải
Đã có nhiều nghiên cứu về cân bằng tải được các tác giả đưa ra cho hệ thống mạng P2P dựa trên DHT Nói chung, các giải pháp này được phân thành hai hướng chính: hướng tiếp cận dựa trên server ảo (virtual server) và hướng tiếp cận không dựa trên server ảo Trong mục này luận văn xin được trình bày
về một số thuật toán theo hai hướng tiếp cận trên
- node
- data
Trang 272.3.1 Hướng sử dụng server ảo
Theo hướng này mỗi node vật lý quản lý một hoặc nhiều server ảo với các định danh ngẫu nhiên được chọn từ không gian định danh Các server ảo hoạt động như các node tham gia mạng DHT Trong một hệ thống với các node có khả năng đồng đều cao, mỗi node vật lý cần duy trì O(logn) server ảo để làm giảm nhân tố mất cân bằng xuống đến một hằng số Với một hệ thống DHT gồm nhiều node có khả năng chịu tải khác nhau, mỗi node vật lý sẽ chọn một số lượng server ảo tỷ lệ với khả năng của nó Sau đây luận văn xin trình bày một số thuật toán cân bằng tải thực hiện theo hướng này
a Sử dụng Log(N) Virtual Servers
Tư tưởng của giải thuật cân bằng tải này khá đơn giản, đó là: sử dụng log(N)VS[4] cho mỗi node để cân bằng các không gian định danh node Giải thuật này được xây dựng dựa trên thực tế là các định danh node không được phân bố một cách đồng đều trên toàn bộ không gian định danh mà có phân bố rất gần với dạng phân bố Poisson
Log(N) VS mặc định tải được phân bố trong không gian định danh một cách đồng đều và khả năng các node là như nhau Chính vì vậy, nếu mỗi node có
1 VS thì dẫn tới khả năng một số node sẽ gặp phải tình trạng “nghẽn cổ chai” (nguyên nhân mất cân bằng tải thứ nhất đã nêu ở trên)
Theo Lí thuyết giới hạn trung tâm (Central Limit Theorem), nếu số lượng
VS của mỗi node càng tăng lên thì các định danh node được phân bố đồng đều hơn trong không gian định danh Điều này đồng nghĩa với việc mức độ cân bằng tải trong hệ thống càng cao hơn Tuy nhiên, việc mỗi node vật lí có quá nhiều
VS sẽ dẫn tới việc tăng thông tin quản trị nên giải thuật này đã đưa ra giải pháp
là mỗi node sẽ có log(N) VS Ví dụ minh họa ở hình 12 cho thấy, trong quá trình
ra nhập mạng, mỗi node tự hình thành một số VS và mỗi VS ra nhập hệ thống một cách độc lập
Trang 28Hình 12.Cân bằng tải sử dụng Log(N) Virtual Servers
Đánh giá: Log(N) VS đơn giản và hoạt động tốt với giả thiết rằng sự phân bố về
tải là đồng đều nhau và các node có khả năng như nhau Tuy nhiên, việc tăng thêm số lượng VS sẽ làm nảy sinh một số vấn đề
Thứ nhất, khi các node ra/vào mạng thường xuyên, chúng phải mang theo các VS của node đó và sẽ dẫn tới mất log(N) lần điều chỉnh
Thứ hai, mỗi node phải tăng thêm log(N) lần việc lưu trữ thông tin quản trị
VS cũng như thông tin tìm kiếm Bên cạnh đó, số bước tìm kiếm cũng tăng lên khi hệ thống có nhiều VS hơn
b Phương pháp Proportion
Giải thuật Proportion[4] đề cập tới việc giải quyết vấn đề các nút tham gia
hệ thống có khả năng khác nhau Với giải thuật này, khi tham gia vào mạng mỗi nút vật lý sẽ tạo ra một số lượng các VS tuỳ theo khả năng của nút Bên cạnh đó, thông tin về tải trước đó cũng được tính đến Sau bước đầu tiên này, mỗi nút sẽ
tự tính toán việc thêm hoặc bớt tải mà không liên hệ với bất cứ node nào khác Mỗi node sau khi đã tham gia hệ thống sẽ định thời chạy thuật toán Proportion-Adjust để tự tạo mới hoặc loại bỏ một số VS Nếu một node đã quá tải và đang có nhiều hơn 1 VS, nó sẽ chọn VS chịu tải ít nhất có thể làm cho node trở thành nhẹ tải để loại bỏ (dòng 2-3 của giải thuật ) Nếu một node là nhẹ tải, nó sẽ tạo thêm 1 VS nếu điều đó không làm nó trở thành nặng tải (dòng 4-6) Hình 13 mô tả một cách trực quan quá trình loại bỏ hay tạo mới VS của một node
PROPORTION-ADJUST()
1 (Initially create VSs in proportion to capacity )
2 if overloaded and VSset.size > 1