Trong mỗi ví dụ trên, bất kì một người sử dụng riêng lẻ có thể chọn không để dành tài nguyên cục bộ cho các yêu cầu mở rộng, nhưng vẫn nhận được đầy đủ lợi ích của hệ thống.. Như vậy, b
Trang 1-1-
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGH
NGUYỄN XUÂN LÔ
ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG CÁC ỨNG DỤNG
Trang 2-2-
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung của bản luận văn với tên “Đảm bảo công bằng trong các ứng dụng cộng tác ngang hàng” là do tôi tự nghiên cứu, tham khảo và phát triển các ý, các giải thuật theo yêu cầu của đề tài luận văn
Nội dung bản luận văn chưa từng được công bố, phát hành hoặc sao chép dưới bất kì hình thức nào
Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm !
Hà Nội, ngày 13/6/2011
Người cam đoan
Nguyễn Xuân Lô
Trang 3-3-
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo khoa Công nghệ Thông tin trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội; các Thầy, Cô giáo trong và ngoài trường Đại học Công nghệ đã giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em học tập, nghiên cứu để có tri thức bậc Sau đại học
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo - Phó Giáo sư Tiến sĩ
Hồ Sĩ Đàm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới tất cả các bạn học viên cao học K14 ngành Công nghệ thông tin trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do trình độ năng lực còn hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý, quan tâm của các Thầy,
Cô cùng toàn thể các bạn và những ai quan tâm tới luận văn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 6 năm 2011
Người làm luận văn
Nguyễn Xuân Lô
Trang 4-4-
MỤC LỤC
Trang
Chương Mở đầu 5
Lý do chọn đề tài 5
Mục đích nghiên cứu 5
Nội dung nghiên cứu 5
Bố cục luận văn 6
Chương 1: Những vấn đề chung 7
1.1 Ứng dụng phân tán 7
1.2 Ứng dụng cộng tác ngang hàng 9
1.3 Mạng ngang hàng Peer – to - Peer (P2P) 10
1.4 Một số mạng chia sẻ file 10
1.5 Thuật toán và độ phức tạp thuật toán 13
Chương 2: Suy luận tin cậy trong mạng ngang hàng 19
2.1 Khái niệm tin cậy và quản lí tin cậy 19
2.2 Mô hình tin cậy 19
2.3 Xác định người cộng tác 22
2.4 Mô hình suy luận 23
2.5 Mô hình hệ thống tin cậy NICE: 24
2.6 Tính toán tin cậy phân tán trong NICE 28
2.7 Các hệ thống tin cậy khác 36
Chương 3: Đảm bảo công bằng với các ứng dụng cộng tác trong mạng ngang hàng 38
3.1 Giới thiệu 38
3.2 Bài toán 39
3.3 Giao dịch dựa trên cookie 43
3.4 Kiểm tra tính tin cậy của các cookie 46
3.5 Áp dụng mô hình tin cậy NICE đảm bảo công bằng trong ứng dụng chia sẻ file BitTorrent 51
3.6 Chương trình Demo và các kết quả thu được 58
Kết luận và hướng nghiên cứu 69
Tài liệu tham khảo 70
Trang 5-5-
Chương Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Hiện nay mạng ngang hàng Peer - to - Peer (P2P) cùng với các ứng dụng của
nó đang nổi lên và ngày càng chiếm nhiều thị phần trong đời sống Các mô hình ứng dụng chia sẻ file dữ liệu đã được triển khai nhiều ở các công ty, xí nghiệp, trường học và đã và đang đem lại nhiều lợi ích Để có thể sử dụng mạng P2P hiệu quả thì người sử dụng phải cộng tác với nhau Chia sẻ file và cộng tác trong các ứng dụng P2P là đặc trưng tiêu biểu của mạng ngang hàng Tuy nhiên trong quá trình cộng tác với nhau nảy sinh nhiều vấn đề, ví dụ như cách chia sẻ file, quyền truy cập lấy tài liệu, thứ tự ưu tiên lấy tài liệu, kiểm tra tính tín cậy trong cộng tác, ảnh hưởng trong giao dịch đến băng thông và hiệu năng của mạng, vấn đề bảo mật, đặc biệt là trong môi trường cộng tác nhưng có tính phí Để có thể cải thiện được một môi trường cộng tác hiệu quả hơn trong các ứng dụng P2P, làm cho nó ngày càng phát triển, thì đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và cũng đạt được nhiều thành tựu Với những lý do trên
mà tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đảm bảo công bằng trong các ứng dụng cộng tác ngang hàng”, với mong muốn nghiên cứu về một lĩnh vực nhỏ trong ứng
dụng P2P, và góp một phần vào việc nâng cao hiệu quả trong ứng dụng cộng tác ngang hàng
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Phân biệt ứng dụng (người) cộng tác và không cộng tác
- Tìm được giải thuật định giá và kiểm tra tính tin cậy của ứng dụng cộng tác
- Áp dụng kết quả nghiên cứu vào các ứng dụng cộng tác trong mạng P2P
Nội dung nghiên cứu
Trang 6Luận văn gồm 4 chương:
Chương mở đầu: trình bày về lí do chọn đề tài nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, nội dung nghiên cứu
Chương 1: Những vấn đề chung: Trình bày các khái niệm cơ bản về ứng dụng phân tán và ứng dụng cộng tác, các khái niệm trong mạng ngang hàng, giải thuật và độ phức tạp của giải thuật
Chương 2: Suy luận tin cậy trong mạng ngang hàng: Trình bày về các khái niệm tin cậy, định giá tin cậy, mô hình tin cậy NICE làm nền tảng cho áp dụng vào ứng dụng của chương 3
Chương 3: Đảm bảo công bằng với các ứng dụng cộng tác ngang hàng: Chương này trình bày về những khái niệm công bằng, đảm bảo công bằng trong các ứng dụng chủ/khách và ngang hàng, giao dịch dựa trên cookie và kiểm tra tính tin cậy của cookie Chương này cũng tập trung trình bày việc áp dụng mô hình NICE vào một ứng dụng nhỏ trong mạng BitTorrent và chương trình demo cùng kết quả
Trang 7-7-
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1 Ứng dụng phân tán
Theo tác giả Dinesh C Verma [2] Phần này trình bày những khái niệm
cơ bản về ứng dụng phân tán, lĩnh vực liên quan đến cộng tác ngang hàng
a) Khái niệm ứng dụng phân tán: Bao gồm hai hoặc nhiều module phần
mềm chạy trên các máy tính khác nhau, tương tác với nhau thông qua mạng truyền thông kết nối giữa các máy tính
Các vấn đề chủ yếu cần quyết định khi xây dựng ứng dụng phân tán
– Ứng dụng cần bao nhiêu module phần mềm
– Triển khai các module phần mềm trên các máy tính khác nhau như thế nào
– Bằng cách nào mỗi module phần mềm phát hiện ra các module khác nó cần giao tiếp
b) Kiến trúc client/server
Kiến trúc client/server là cách tổ chức một ứng dụng phân tán bao gồm
hai modules phần mềm khác nhau:
– Module server với chỉ một thể hiện trong hệ thống
– Module client với nhiều thể hiện trong hệ thống
Về mặt giao tiếp trong hệ thống: Chỉ diễn ra giữa module server và các module client Đặc trưng của kiến trúc client/server là có một module server làm điểm trung tâm trong giao tiếp Các client không giao tiếp trực tiếp với nhau mà chỉ giao tiếp với module server
Trong kiến trúc client/server, server thường chứa nhiều phần mềm phức tạp, trong khi clients thì đơn giản Với lợi ích của trình duyệt web trong hầu hết các máy tính, thì đây là kiến trúc hầu như dành để phát triển các ứng dụng phân tán vì rằng chúng có thể sử dụng một trình duyệt web chuẩn làm client
Vấn đề phát hiện để giao tiếp: Mỗi client cần phát hiện địa chỉ mạng của server:
Server chạy trên cổng và địa chỉ IP biết trước với các client
Client kết nối với server theo địa chỉ mạng đã biết
Trang 8-8-
Server không cần biết trước bất kỳ thông tin nào về các client Trên Internet, client chỉ cần biết địa chỉ IP của server vì số hiệu cổng của client đã được chuẩn hóa
• Ưu điểm
– Đơn giản hóa công việc bảo trì và nâng cấp
• Module server thường phức tạp hơn module client lại được đặt ở chỉ một máy tính
• Hiện nay thường trình duyệt Web được sử dụng làm client, người phát triển ứng dụng không cần phát triển và bảo trì
+ Ưu và nhược điểm
Tận dụng sức mạnh kết hợp và khả năng mở rộng, tuy nhiên vấn đề bảo trì và nâng cấp phần mềm khó khăn hơn
d) Vấn đề khám phá
Để có thể giao tiếp với nhau mỗi module cần biết nơi gửi thông báo cho các module khác (Tức địa chỉ mạng gồm địa chỉ IP và số cổng)
- Các giải pháp phát hiện địa chỉ:
+ Cố định số cổng, cho tất cả các module biết địa chỉ IP và số cổng của các module khác Điều này làm được bằng cách: Có thể mã cứng vào chương
Trang 9-9-
trình, tuy nhiên cũng giống như phương pháp cấu hình địa chỉ IP tĩnh trên mạng -> cần phối hợp tổng thể tránh đụng độ số cổng
+ Địa chỉ IP và số cổng của các module khác được cung cấp như các tham
số cấu hình Phương pháp này có nhược điểm đối với các ứng dụng quy mô lớn đòi hỏi nhiều công sức cấu hình
1.2 Ứng dụng cộng tác ngang hàng
Một ứng dụng cộng tác là một ứng dụng chia sẻ các thành phần tài nguyên của chúng để cho các thành viên khác trong nhóm cộng tác sử dụng Nói một cách khác, một ứng dụng cộng tác là một ứng dụng phân bổ một tập con tài nguyên của nó cho việc sử dụng của các máy khác trong ứng dụng
Tài nguyên phân bổ ở đây là bộ xử lí, băng thông, dữ liệu lưu trữ,…, của ứng dụng cộng tác
Khi các ứng dụng cộng tác với nhau, chúng tạo thành các nhóm cộng tác Các nhóm cộng tác, trong thực tế, hiện nay có thể kể đến một lớp rộng lớn các ứng dụng, bao gồm các ứng dụng dòng đa phương tiện trực tuyến, các ứng dụng hội nghị đa thành phần và các ứng dụng P2P…, và có thể là một hạ tầng cơ
sở cộng tác
Tuy vậy các hệ thống cộng tác chỉ thi hành tốt nhất nếu tất cả mọi người
sử dụng làm việc, cộng tác và cung cấp chia sẻ tài nguyên của họ tới hệ thống
Quan điểm của hệ thống cộng tác là không duy nhất trong liên mạng Trong thực tế các gói tin vận chuyển trong Internet là sự cộng tác mạo hiểm khi dùng các tài nguyên chia sẻ ở các bộ định tuyến (router)
Mục đích hướng tới đối với những ứng dụng cộng tác là các ứng dụng đầu cuối, nơi cung cấp một platform trong việc thực hiện các ứng dụng phân tán rộng lớn theo kiểu cộng tác Rõ ràng, một số các tài nguyên phân tán rộng lớn có thể có được qua Internet trong sự cộng tác Đây cũng chính là xu hướng của các ứng dụng cộng tác ngang hàng Peer-to-Peer (P2P), và những thế hệ tiếp theo của các ứng dụng P2P dựa trên các khái niệm của sự chia sẻ tài nguyên phân tán cộng tác
Trang 10-10-
1.3 Mạng ngang hàng Peer – to - Peer (P2P)
Định nghĩa: Theo tài liệu của Ralf Steinmetz [7] trang 21 thì Oram et al
đưa ra định nghĩa cơ bản về hệ thống Peer – to – Peer như sau: [a Peer-to-Peer system is] a self-organizing system of equal, autonomous entities (peers) [which] aims for the shared usage of distributed resources in a networked environment avoiding central services
Mạng P2P không có khái niệm máy trạm (client) hay máy chủ (server),
mà chỉ có khái niệm các nốt (peers) đóng vai trò cả client và server
Theo Karl Aberer, Zoran Despotovic [4] thì các nốt khi tham gia trao đổi trong cộng đồng mạng sẽ cung cấp truy cập tới các tài nguyên tính toán của chính nó
Một mạng P2P có thể được đặc trưng bởi các tính chất sau:
- Không có sự sắp đặt trung tâm (Các máy không chịu sự sắp đặt của một máy khác)
- Không có cơ sở dữ liệu trung tâm (Cơ sở dữ liệu là phân tán)
- Không có máy nào bao trùm hệ thống (Các máy là ngang hàng)
- Các máy tự trị
- Các máy và các kết nối là không tin cậy
1.4 Một số mạng chia sẻ file
1.4.1 Mạng chia sẻ file P2P:
- Là mạng P2P phổ biến và nổi tiếng nhất trên Internet hiện nay
+ Chức năng chủ yếu của mạng là cho phép tìm kiếm và truyền dữ liệu dựa trên giao thức IP (Internet Protocol)
+ Để truy cập vào mạng P2P này, người dùng chỉ cần download và cài đặt phần mềm ứng dụng phù hợp cho máy tính của mình
+ Có nhiều mạng P2P và phần mềm ứng dụng P2P tồn tại hiện nay Một
số phần mềm chỉ sử dụng được cho 1 mạng P2P nhất định, một số hoạt động được với nhiều mạng P2P khác nhau
+ Một số mạng P2P nổi tiếng trên Internet như: BitTorent, Gnutella,
Trang 11-11-
1.4.2 Chia sẻ file trong mạng ngang hàng
- Có thể nói ứng dụng được sử dụng nhiều nhất của mạng ngang hàng đó
là chia sẻ file
- Theo ước tính khoảng 50% (có thời điểm đến 75% ) lưu lượng mạng trên Internet được cho là để trao đổi các file đặc biệt là các file âm nhạc (hơn 1
tỷ các file âm nhạc được download mỗi tuần)
- Đặc điểm của vấn đề chia sẻ file là các máy (Peer) có các file được download với vai trò là một Client làm cho chúng luôn sẵn sàng với các Peer khác trong vai trò của một Server
- Vấn đề chủ yếu cho mạng ngang hàng nói chung và cho vấn đề chia sẻ file nó riêng là vấn đề tìm kiếm Trong ngữ cảnh của hệ thống chia sẻ file, có ba
mô hình khác nhau được phát triển: mô hình flooded request, mô hình thư mục trung tâm và mô hình hướng tài liệu Các mô hình này được minh hoạ qua các ứng dụng thực của mạng ngang hàng sau: Gnutella, Naspter và FreeNet
Gnutella : Trong hệ thống Gnutella, không có sự tập trung hoá, các file
được lưu trữ trên các Peer của hệ thống, khi có yêu cầu tìm kiếm một file máy tính sẽ gửi yêu cầu này tới tất cả các peer là láng giềng của nó và quá trình này được lặp lại cho tới khi tìm thấy máy chứa file cần tìm Tiếp theo là quá trình trao đổi file trực tiếp giữa hai máy tính trong mạng Hiện nay phần mềm nổi tiếng sử dụng phương pháp tìm kiếm và chia sẻ file dạng này là Bittorent
Naspter : Trong hệ thống Naspter, có sự tập trung hoá Khi một máy
tham gia vào mạng, danh mục các file sẽ được đăng ký và lưu trữ trên Server trung tâm, khi có yêu cầu tìm kiếm, máy tính sẽ hỏi Server trung tâm về vị trí của file Sau đó việc trao đổi file được thực hiện giữa hai máy tính với nhau
FreeNet: Trong hệ thống Freenet, file không được lưu trữ trên đĩa cứng
của các peer cung cấp chúng mà được lưu trữ ở các vị trí khác trong mạng Mục đích của việc phát triển mạng Freenet là làm cho thông tin được lưu trữ và truy cập mà không cần biết định danh Với các tổ chức như vậy, chủ sở hữu của một node mạng cũng không biết được tài liệu gì được lưu trữ trên đĩa cứng của máy anh ta Vì lý do này mà các Peer và các file được cung cấp các số định danh khác nhau Khi một file được tạo, nó được truyền qua các peer láng giềng tới các peer có số định danh gần với số định danh của file nhất và được lưu trữ ở đó
1.4.3 Một số giao thức sử dụng trong các mạng chia sẻ file
Trang 12-12-
a) Hệ thống Gnutella
Giao thức trong Gnutella là giao thức tìm kiếm phân tán Giao thức
Gnutella được định nghĩa là lối vào để các servent truyền thông qua mạng Nó
bao gồm một tập các đặc tả được sử dụng cho truyền thông dữ liệu giữa các
servent và một tập các qui tắc chủ yếu trao đổi bên trong các servent của các
đặc tả
Mặc dù giao thức Gnutella hỗ trợ tìm kiếm theo dạng chủ-khách truyền thống, nhưng nét đặc biệt của Gnutella là mô hình không tập trung, dạng peer-to-peer chính nó Trong mô hình này, mỗi máy khách cũng đồng thời là máy
chủ Chính vì vậy, Gnutella còn được gọi là servents thực hiện công việc của cả
máy chủ lẫn máy khách Chúng cung cấp các giao diện phía máy khách để cho người sử dụng phát ra các truy vấn và xem các kết quả tìm kiếm được, trong khi
ở cùng thời điểm chúng cũng truy cập các truy vấn ở các servent khác, kiểm tra tính tương phản của tập dữ liệu cục bộ, và trả lời đối với các kết quả tương xứng
Do tính phân tán tự nhiên của chính nó, mà một mạng servents áp dụng giao thức Glutella sẽ có khả năng kháng lỗi rất cao, việc xử lí của mạng sẽ không bị ngắt nếu như có một tập các servent xảy ra tình trạng offline
Việc tìm kiếm trong mạng ngang hàng theo cơ chế lan truyền giữa các máy gây ra sự chiếm dụng băng thông đường truyền lớn Trong Gnutella, các máy vận chuyển truy vấn của các máy khác làm ngập lụt hệ thống Mỗi thông báo vận chuyển tiêu thụ băng thông và bộ xử lí ở mỗi nút nó viếng thăm Cải thiện vấn đề này chính là khả năng cân bằng tải của mạng
b) Hệ thống dựa trên giải thuật Chord
Trong Chord, tài liệu được ánh xạ tới nút đặc biệt sử dụng hàm băm Tuy vậy mỗi máy phục vụ một tài liệu, tài liệu này trong thực tế được sở hữu bởi một vài nút khác trong hệ thống Như vậy các máy trong hệ thống tiêu thụ tài nguyên của chúng để phục vụ các tài liệu đối với các nút khác trong hệ thống Tình trạng này là không duy nhất đối với Chord; tất cả các hệ thống xác định dựa trên việc băm, bao gồm CAN, Bayeux, Pastry, đều có tính chất này Điều đó có thể làm được nhằm xây dựng một hệ thống trong đó các nút chỉ phục vụ một điểm tới tài liệu và cũng để thực hiện các hệ thống cân bằng tải khác nhau Như vậy,
Trang 13-13-
ngay cả trong hệ thống được cân bằng tải tốt nhất, có thể nhất thời xảy ra quá tải khi một lượng lớn các tài nguyên cục bộ được tiêu thụ do các dịch vụ mở rộng
c) Một số các giao thức dòng phương tiện dựa trên chuyển mạch
Trong các giao thức này, các nút dành hết tài nguyên (giống như băng thông) để phục vụ cho các nút con của nó
Trong mỗi ví dụ trên, bất kì một người sử dụng riêng lẻ có thể chọn không
để dành tài nguyên cục bộ cho các yêu cầu mở rộng, nhưng vẫn nhận được đầy
đủ lợi ích của hệ thống Trong các trường hợp khác, được tích hợp và chính xác các hàm của hệ thống tiêu thụ trong mỗi người sử dụng đang thực hiện toàn bộ giao thức phân tán không ích kỉ và đúng đắn Như vậy, bằng kinh nghiệm triển khai các hệ thống, như Gnutella và Napster trước đó, diễn tả rằng chỉ một tập nhỏ các máy đưa ra như vậy ích kỉ dịch vụ đối với cộng đồng chung, trong khi phần lớn những người sử dụng sử dụng các dịch vụ được đưa ra bởi một ít hào phóng này Mục đích của công việc này là xác định hiệu quả số ít hào phóng và dạng tất cả những người sử dụng mà đưa ra các dịch vụ cục bộ đối với cộng đồng chung
1.5 Thuật toán và độ phức tạp thuật toán
1.5.1 Thuật toán [14]
Thuật toán (algorithm) là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong tin học, là một trong hai thành tố cấu tạo nên chương trình máy tính (cấu trúc dữ liệu + giải thuật = chương trình)
Theo PGS.TS Hồ Sĩ Đàm [13] định nghĩa thì thuật toán là một dãy hữu hạn các thao tác, sắp xếp theo một trật tự xác định, sau khi thực hiện, từ Input ta nhận được Output cần tìm
1.5.2 Các đặc trưng chính của thuật toán [14]:
a) Input: Mỗi thuật toán cần có một số (có thể bằng không) dữ liệu vào (input) Đó là các giá trị cần đưa vào khi thuật toán bắt đầu làm việc Các dữ liệu này cần được lấy từ các tập hợp cụ thể nào đó
b) Output: Mỗi thuật toán cần có một hoặc nhiều dữ liệu ra (output) Đó là các giá trị có quan hệ hoàn toàn xác định với các dữ liệu vào và là kết quả của sự thực hiện thuật toán
Trang 14e) Tính kết thúc (tính đóng): Với mọi bộ dữ liệu vào thỏa mãn các điều kiện của dữ liệu vào (tức là được lấy ra từ các tập giá trị của các dữ liệu vào), thuật toán phải kết thúc (dừng) sau một số hữu hạn các bước thực hiện
f) Tính chi tiết [13]: Phụ thuộc vào đối tượng thực hiện
g) Tính phổ dụng [13]: Thuật toán có thể áp dụng với một lớp các bài toán khi thay đổi đầu vào (input)
h) Tính hiệu quả [13]: Được đặc trưng bởi 2 yếu tố: Thời gian (Tốc độ xử lý) và không gian (Dung lượng lưu trữ)
• Ví dụ minh họa: Bài toán: tìm phần tử lớn nhất trong 1 dãy hữu hạn các số nguyên a1, a2, ,an
• Thuật toán:
– Bước 1:Đặt giá trị cực đại tạm thời max = a1
– Bước 2: So sánh số nguyên tiếp sau với max
• Nếu số nguyên tiếp sau lớn hơn đặt max = số nguyên tiếp sau
– Bước 3: Lặp lại bước trên nếu còn số nguyên trong dãy
– Bước 4: Dừng khi không còn số nguyên nào
Số nguyên = max chính là phần tử lớn nhất
• Chứng minh: thuật toán trên hội đủ các tính chất của thuật toán
– Đầu vào: dãy các số nguyên a1,… an
– Đầu ra: số lớn nhất trong dãy đó
– Tính xác định và khả thi: thuật toán gồm 1 phép gán, 1 vòng lặp hữu hạn và phép so sánh các bước đều được xác định chính xác
và có thể thi hành
Trang 151.5.3 Độ phức tạp của thuật toán
Hiệu quả của thuật toán được phân tích như thế nào?
Khi giải một bài toán, chúng ta cần chọn trong số các thuật toán, một thuật toán mà chúng ta cho là “tốt” nhất
Các thước đo tính hiệu quả của 1 thuật toán:
– Thời gian mà máy tính sử dụng để giải bài toán theo thuật toán đang xét khi các giá trị đầu vào có kích thước xác định
Độ phức tạp thời gian – Dung lượng bộ nhớ để thực hiện thuật toán khi các giá trị đầu vào
có kích thước xác định
Độ phức tạp không gian a) Lựa chọn thuật toán:
Dễ hiểu, dễ cài đặt và dễ ghi chép
Sử dụng các tài nguyên hiệu quả
b) Ký pháp
Giả sử T(n) là thời gian thực hiện TT và f(n), g(n), h(n) là các hàm xác định dương
- Hàm Theta lớn: T(n) là hàm Theta lớn của g(n): T(n) =Θ(g(n))
nếu các hằng số dương c1, c2, n0 sao cho với mọi n>= n0 :
c1 g(n) <= T(n) <= c2 g(n)
- Hàm Omega lớn:
T(n) là hàm Omega lớn của g(n): T(n)=Ω(g(n)) nếu c và n0 sao cho với mọi n>= n0 thì
Trang 16Nếu P có T(n)= O(c1f(n)) thì gọi P là có độ phức tạp O(f(n))
CM: T(n)= O(c1f(n)) nên tồn tại c0>0 và n0 >0 để T(n) <= c0.c1 f(n) với mọi n>= n0 Đặt c=c0.c1 ta có điều cần CM
- Quy tắc lấy Max
Nếu P có T(n)= O( f(n)+g(n)) thì P có độ phức tạp là O(max( f(n), g(n))) CM: T(n) = O(f(n)+g(n)) nên tồn tại n0>0 và c>0 để T(n) <= cf(n) + cg(n), với mọi n>= n0 vậy T(n) <= cf(n) +cg(n) <= 2c max (f(n),g(n)) với mọi n>=n0
Trang 17- Câu lệnh đơn thực hiện một thao tác => Áp dụng qui tắc hằng số
- Câu lệnh hợp thành là dãy các câu lệnh => Áp dụng qui tắc tổng
- Câu lệnh rẽ nhánh dạng If Then Else => Áp dụng qui tắc Max
- Các câu lệnh lặp => Áp dụng qui tắc Nhân
Các thuật ngữ dùng cho độ phức tạp của thuật toán
O(n!) Độ phức tạp giai thừa
g) Độ phức tạp tính toán và dữ liệu vào:
- Trường hợp tốt nhất: T(n) là thời gian ít nhất
- Trường hợp xấu nhất: T(n) là thời gian lớn nhất
- Trường hợp trung bình: dữ liệu vào tuân theo một phân bố xác suất nào
đó
h) Phép toán tích cực:
Trang 18-18-
Là các phép toán thực hiện nhiều nhất trong chương trình
Trong một chương trình, nếu các phép toán tích cực chiếm thời gian chủ yếu, còn các phép toán khác chiếm thời gian không đáng kể, thì độ phức tạp thời gian của chương trình được tính theo các phép toán tích cực
Trang 19-19-
Chương 2: Suy luận tin cậy trong mạng ngang hàng
2.1 Khái niệm tin cậy và quản lí tin cậy
a) Khái niệm tin cậy [1]: Tin cậy là mức đặc thù của sự khẳng định chủ
quan theo nghĩa một agent sẽ thực hiện một hành động đặc thù trước khi bị giám sát và trước khi gây ảnh hưởng trong phạm vi của hành động
Có ba vấn đề trong định nghĩa tin cậy trên, đó là:
Tin cậy là chủ quan
Tin cậy là ảnh hưởng của những hành động mà không thể giám sát
Mức độ tin cậy phụ thuộc vào các hành động chính nó gây ảnh hưởng như thế nào
b) Quản lí tin cậy [4]: Là cơ cấu cho phép thiết lập tin cậy lẫn nhau Nổi
tiếng là phép đo giúp nhận biết được (bằng trực tiếp hay gián tiếp) các tương tác sớm của các agent và được sử dụng để định giá mức độ tin cậy của một agent so với một agent khác
Tồn tại nhiều phương pháp quản lí tin cậy, tập trung vào các đặc trưng về mặt ngữ nghĩa của mô hình tin cậy Các phương pháp này chưa tương xứng với
độ tin cậy của chúng trong cơ sở dữ liệu tập trung hoặc đòi hỏi tới sự duy trì trong nhận biết tổng thể một agent để cung cấp dữ liệu trong các tương tác sớm Cũng có những phương pháp quản lí tin cậy dựa trên cả hai phương diện: quản lí
dữ liệu và mức ngữ nghĩa
2.2 Mô hình tin cậy
Trong phần này sẽ trình bày tin cậy được định nghĩa như thế nào trong mô hình tin cậy do Alfarez Abdul-Rahman & Stephen Hailes [1] đề xuất thông qua
mô tả các phần tử của nó
2.2.1 Agents
Các agent là những thực thể có khả năng thực thi giao thức đề cử (Recommendation Protocol) Đây là điểm khác biệt giữa các agent với các thực thể tĩnh (như máy in hay ổ đĩa chẳng hạn) Mọi thực thể đều có thể được đề cử, nhưng chỉ có các agent là có thể gửi và nhận các đề cử
2.2.2 Các quan hệ tin cậy
Trang 20-20-
Một quan hệ tin cậy tồn tại giữa Alice và Bob khi Alice nắm giữ niềm tin
về những điều tin cậy của Bob Tuy vậy, niềm tin theo hướng ngược lại không cần thiết ở cùng thời điểm Trong trường hợp khác, quan hệ tin cậy của Alice chỉ
là một hướng
Các đặc tính của quan hệ tin cậy là:
- Nó luôn xảy ra giữa hai thực thể
- Nó không đối xứng (chỉ là một hướng)
- Nó là điều kiện chuyển tiếp (bắc cầu)
Có hai kiểu quan hệ khác nhau đáng lưu ý là:
+ Nếu Alice tin cậy Bob thì đây là kiểu quan hệ tin cậy trực tiếp
+ Nếu Alice tin cậy Bob để đưa ra đề cử về sự tin cậy của các thực thể
khác, thì đây là quan hệ tin cậy đề cử giữa Alice và Bob
Các quan hệ tin cậy chỉ tồn tại bên trong cơ sở dữ liệu của chính mỗi agent
2.2.3 Loại tin cậy
Các agent sử dụng loại tin cậy để biểu thị tin cậy đối với các agent khác theo các cách khác nhau phụ thuộc vào các đặc trưng riêng hoặc theo khía cạnh
mà thực thể xem xét ở thời điểm hiện tại
Ví dụ: Chúng ta tin cậy CA chứng thực cặp khóa công cộng (loại khóa), nhưng không làm chứng cho các trạng thái tin tưởng của sự nắm giữ khóa (loại Tin tưởng)
Kí-2.2.4 Giá trị tin cậy
Các giá trị tin cậy được sử dụng để giới thiệu các mức độ tin cậy khác nhau mà một agent có thể có với các agent khác
Trang 21-21-
Theo nghĩa tự nhiên thì không có một hệ thống giá trị vũ trụ vì nó sử dụng ứng dụng riêng biệt Tuy vậy việc chuẩn hóa là quan trọng để một hệ thống được đề xuất
Các giá trị tin cậy trong mô hình này là tương phản với mỗi loại và độc lập với các giá trị tin cậy của loại khác
Có hai kiểu giá trị tin cậy được sử dụng:
a) Giá trị tin cậy trực tiếp: thích hợp với quan hệ tin cậy trực tiếp
b) Giá trị tin cậy đề cử : thích hợp với các quan hệ tin cậy đề cử
Sau đây là mô tả cho từng trường hợp cụ thể:
-1 Không tin cậy
0 Bỏ qua, không thể tạo được quan hệ tin cậy về agent
1 Giá trị tin cậy cực tiểu (thấp nhất)
2 Giá trị tin cậy trung bình Hầu hết các thực thể có giá trị tin cậy này
3 Giá trị tin cậy tốt
4 Hoàn toàn tin cậy thực thể này
-1 Không tin cậy
0 Bỏ qua, không thể tạo được quan hệ tin cậy về agent
Ngữ nghĩa giá trị tin cậy trực tiếp
Ngữ nghĩa giá trị tin cậy đề cử
Trang 22-22-
2.2.5 Danh tiếng và đề cử
Danh tiếng của một agent là chuỗi ba thành phần: định danh (hoặc tên) của agent, loại tin cậy và giá trị tin cậy của agent
Reputation = {Name, Trust-Category, Trust-Value}
Một đề cử là một thông tin tin cậy được truyền đạt, trong đó có chứa thông tin danh tiếng
Mỗi agent lưu các bản ghi danh tiếng trong cơ sở dữ liệu riêng của chính
nó và sử dụng thông tin này để tạo các đề cử tới các agent khác
Phân tích vấn đề suy luận tin cậy theo các giải pháp phân tán trong 2 phần:
+ Một là thành phần suy luận tin cậy cục bộ mà yêu cầu thông tin tin cậy giữa những thành phần đứng đầu trong hệ thống như đầu vào (input)
+ Hai là thành phần tìm kiếm phân tán mà có khả năng tập hợp thông tin tin cậy riêng lẻ này để sử dụng như đầu vào đối với các giải thuật suy luận cục
bộ
Các hệ thống tồn tại như vậy, ví dụ e-bay, có hệ thống định giá người sử dụng tập trung Các hệ thống trao đổi tài nguyên khác, như MojoNation cũng thực hiện các giải pháp suy luận tin cậy tập trung Mục đích đặt ra của các hệ thống là cho phép các ứng dụng mở nơi người sử dụng không đăng kí với một
ủy quyền trở thành một thành phần của hệ thống Các giải pháp tập trung không phân chia trong các hệ thống mở, từ đó những người sử dụng nguy hiểm có thể vượt qua dịch vụ “tin cậy” ở trung tâm với các giao dịch giả mạo Sử dụng nhiều nhất hệ thống suy luận tin cậy được phân quyền có lẽ là trang Web PGP Trong hệ thống suy luận tin cậy được phân quyền có thể sử dụng để dự đoán qua các mức tin cậy tùy ý Không có thành phần thứ 3 tin cậy hoặc nơi tập trung thông tin tin cậy trong hệ thống Những người sử dụng trong hệ thống chỉ dự
Trang 23-23-
trữ thông tin rõ ràng có thể sử dụng đối với lợi ích sở hữu của họ Một giải thuật phân chia công bằng với lượng dự trữ được giới hạn ở mỗi nút, và có thể sử dụng để thực hiện hiệu quả các ứng dụng phân tán rộng lớn Hơn nữa các giải pháp trong hệ thống tin cậy cho phép những người sử dụng đơn lẻ tính toán các giá trị tin tưởng cục bộ đối với những người sử dụng khác sử dụng giải thuật suy luận lựa chọn của chính họ, và vì vậy có thể sử dụng để thực hiện một loạt chính sách khác
2.4 Mô hình suy luận
Trong bài viết này, giả sử rằng các hệ thống P2P có thể được phân tích bên trong tập các giao dịch 2 thành phần: Một giao dịch đơn có thể có quan hệ hoạt động nhẹ giống như vận chuyển một truy vấn Gnutella hoặc tiềm tàng một họat động tài nguyên nặng hơn giống như thuê máy chủ tài liệu Chord Đồng thời cũng giả sử rằng hệ thống gồm có một tập các nút “tốt” mà luôn luôn thực hiện dưới các giao thức chính xác và trọn vẹn, nghĩa là những người tốt luôn thi hành cuối của một giao dịch của họ Mục đích công việc ở đây là phát triển các giải thuật cho phép những người sử dụng “tốt” định danh được những người
“tốt” khác, và như vậy tạo được các nhóm cộng tác thiết thực (robust) Đây là
các nhóm máy, với xác suất cao, mỗi thành phần tham gia hoàn thành đầy đủ cuối mỗi giao dịch của họ Một đề cử về họ các giải thuật phân tán có thể được
sử dụng bởi người sử dụng để tính toán giá trị tin cậy đối với mỗi người sử dụng Giá trị tin cậy đối với nút B ở nút A là độ đo giống như nút A tin tưởng giao dịch với nút B sẽ thành công Trong hệ thống, mỗi người sử dụng lưu trữ một số giới hạn các thông tin về bao nhiêu người sử dụng khác tin cậy họ, và giải thuật chọn những thông tin gì để lưu trữ và làm thế nào để tìm lại được những thông tin này Một trong những thông tin thích hợp được tập hợp, những người sử dụng đơn lẻ có thể sử dụng các giải thuật suy luận cục bộ khác để tính toán các giá trị tin cậy
Điều quan trọng cần lưu ý là thừa nhận các nút tốt có khả năng xác định được khi một giao dịch thành công Rõ ràng trong nhiều trường hợp không rõ được có hay chăng một giao dịch thất bại (ví dụ khi một nút thỉnh thoảng không phục vụ các tài liệu Chord mà nó tự thuê) Thường khó khăn hơn khi xác định phần nào một giao dịch thất bại do bởi hệ thống thất bại hoặc do bởi người sử dụng không cộng tác
Trang 24Một số hệ thống, chẳng hạn NICE [8], đã đưa ra được các giải thuật với các mục đích sau:
Cho phép các nút “tốt” tìm các nút khác nhanh hiệu quả: Các nút tốt sẽ có khả năng xác định các nút tốt khác ngoài sự mất mát một lượng lớn các tài nguyên tác động qua lại với các nút nguy hiểm Điều này cho phép NICE nhanh chóng hình thành các nhóm cộng tác thiết thực
Các nút nguy hiểm và tương tự sẽ không có khả năng
bẻ gãy các nhóm cộng tác bằng cách đưa các thông tin thiếu tới các nút tốt Đặc biệt, NICE phát triển các giao thức trong đó các nút nguy hiểm nhanh chóng bị tỉa bớt ra ngoài các nhóm cộng tác Xa hơn, NICE giả thiết các nút nguy hiểm có thể khuếch tán tùy ý thông tin tin cậy, và tập các nút tốt cùng dạng sẽ nhanh chóng chống lại các cuộc tấn công dạng này
2.5 Mô hình hệ thống tin cậy NICE:
NICE là viết tắt của “NICE is the Internet Cooperative Environment” (NICE là môi trường cộng tác trên Internet)
Mục đích của NICE là cung cấp phạm vi các giải thuật tính toán tin cậy phân tán NICE là một platform đối với việc thực hiện các ứng dụng phân tán cộng tác Các ứng dụng trong NICE mở rộng truy cập tới các tài nguyên ở xa bằng việc trao đổi các tài nguyên cục bộ Các giao dịch trong NICE bao gồm các trao đổi an toàn các chứng thực tài nguyên Các chứng thực này có thể được giữ lại với các tài nguyên được đặt tên (ở xa) Những người không cộng tác có thể
mở rộng truy cập “tự do” tới các tài nguyên ở xa bằng cách phát hành các chứng thực mà các chứng thực này rốt cuộc không được giữ lại
Trang 25-25-
NICE cung cấp một dịch vụ API tới các ứng dụng đầu cuối và được phân tầng giữa các giao thức tầng ứng dụng và tầng vận chuyển Kiến trúc thành phần của NICE được giới thiệu ở hình trên Các ứng dụng tương tác qua lại với NICE
sử dụng NICE API, và phát ra lời gọi để tìm các tài nguyên thích ứng Tất cả các giao thức đổi chác, mua bán, bồi thường được thực hiện bên trong NICE và không bộc lộ tới ứng dụng Các giao thức con này chia sẻ thông tin bên trong chính nó và được điều khiển bởi người sử dụng sử dụng các chính sách theo nút (per-node) Các máy NICE được sắp xếp bên trong giao thức báo hiệu (signaling) sử dụng giao thức đa phát tầng ứng dụng Tất cả các thông báo đặc trưng giao thức NICE khi gửi sử dụng đơn phát trực tiếp hoặc đa phát qua giao thức báo hiệu này
Định danh người sử dụng NICE: sau đây sử dụng thuật ngữ nhóm người
sử dụng (user) và nút (node) theo dạng tổng quát Trong NICE, mỗi người sử dụng chọn một định danh kiểu PGP (See www.pgpi.org) Định danh chứa một bản mã chuỗi nhận dạng và một khóa công cộng Khóa kết hợp với định danh NICE được sử dụng trong việc kí các chứng thực tài nguyên, trong trao đổi tài nguyên và trong việc gán các giá trị tin cậy
Điều đó là quan trọng để lưu ý rằng không khóa với cả không định danh NICE cần thiết để được đăng kí ở một trung tâm ủy quyền bất kì; tuy vậy, cho
dù NICE sử dụng các khóa chung, nhưng không đòi hỏi bất kì dạng PKI toàn cục Tuy thế, NICE có thể được sử dụng để thực hiện các ứng dụng P2P mở bên ngoài bất kì trung tâm ủy quyền nào Vì lẽ không có trung tâm đăng kí ủy quyền trong NICE, một người sử dụng có thể tạo ra một số tùy ý các khóa và giả mạo Tuy vậy, trong NICE, sự định giá được ghép với định danh và nó có lợi để bảo
vệ khóa đơn của người sử dụng và không thay đổi các khóa thường xuyên Tính
Trang 26sử dụng trao đổi và mua bán các đơn vị tài nguyên (giống như 100Mb lưu trữ trong 10 ngày, vv) Các tài nguyên đã được xác định sử dụng một phiên bản đơn giản của W3 RDF NICE cung cấp các dịch vụ sau đây:
Xác định và quảng cáo tài nguyên
Bảo đảm việc trao đổi và mua bán tài nguyên
Định giá “tin cậy” phân tán
Các máy trong NICE đổi chác tài nguyên bằng việc trao đổi các thông báo
“giao dịch” Một thông báo giao dịch định danh tập các tài nguyên chủ yếu tự nguyện để trao đổi Sự tích hợp của thông báo giao dịch để đảm bảo sử dụng chữ kí băm đồng hành theo thông báo
Trong NICE sử dụng sơ đồ dựa trên Beaconing để mở rộng việc thông báo và xác định các tài nguyên có hiệu lực NICE sử dụng một giải thuật trao đổi mới dựa trên các giao thức vận chuyển để trao đổi các chứng thực tài nguyên Giao thức này đảm bảo rằng không bộ phận nào có thể thu được một chứng thực có thể dùng được ngoài những chứng thực có hiệu lực được phát hành Các chứng thực tài nguyên này cuối cùng được giữ ở các nút phát hành Các nút tốt luôn luôn giữ bất kì chứng thực mà chúng phát ra, trong khi các nút nguy hiểm có thể chọn không làm như vậy Trong phạm vi của NICE, mục đích đặc biệt của bài viết này là phát triển các giải thuật để định danh các nút mà phát ra (hoặc giữ) các chứng thực tốt NICE mô tả thành phần suy luận tin cậy, các kết quả của hệ thống này được sử dụng để định giá các tài nguyên trong NICE như thế nào
Chính sách định giá và mua bán :
Mục đích của các chính sách mặc định trong NICE là giới hạn các tài nguyên mà có thể bị tiêu thụ bởi các nhóm người nguy hiểm Các chính sách
Trang 27-27-
này được kết hợp với sự tính toán tin cậy được sử dụng để định danh các nút không hoạt động (misbehaving) Trong thực tiễn, những người sử dụng NICE có thể sử dụng bất kì chính sách riêng biệt, và có thể cố gắng để được số tài nguyên lớn nhất qua mua bán số tài nguyên được họ sở hữu Mục đích chính của các chính sách mặc định là cho phép những người sử dụng tốt hình thành các nhóm cộng tác và không bị mất một lượng lớn tài nguyên cho những người nguy hiểm Các chính sách định giá và mua bán được sử dụng để đề phòng chống lại những người sử dụng mà phát hành các chính sách tài nguyên giả mạo sử dụng nhiều đặc tính giống NICE Trong NICE sử dụng 2 cơ cấu để bảo vệ sự tích hợp nhóm như sau:
- Định giá dựa trên tin cậy
Trong định giá dựa trên tin cậy, các tài nguyên được định giá tỉ lệ tương
hỗ độ tin cậy nhận biết được Giả sử khoảng giá trị tin cậy giữa 0 và 1, và xem xét giao dịch đầu tiên giữa Alice và Bob nơi suy ra được giá trị tin cậy từ Alice tới Bob là TAlice(Bob) =0.5 và TBob(Alice) =1.0 Theo định giá dựa trên tin cậy, Alice sẽ chỉ đổi chác với Bob nếu Bob tỏ ra có nhiều tài nguyên hơn cái anh ta nhận trở về Lưu ý rằng Bob điều khiển nhiều giao dịch thành công hơn với Alice, giá chênh lệch sẽ giảm Chính sách này là động cơ thúc đẩy bởi sự quan sát rằng Alice mua bán với độ tin cậy thấp cô ta gặp nguy cơ lớn không nhận được dịch vụ trở lại, mà được phản ánh trong sự định giá
- Các giới hạn mua bán dựa trên tin cậy
Trong các chính sách này, thay vì thay đổi giá của tài nguyên, chính sách thay đổi tổng số tài nguyên mà Alice mua bán Ví dụ, trong cốt chuyện giữa Alice và Bob, Alice có thể cho phép Bob lưu trữ 1 Mb dữ liệu ở máy của cô ấy trong 1 ngày, và từ từ tăng lưu trữ và thời gian khi cô ấy hoàn thành việc lưu trữ các chứng thực tài nguyên của Bob Chính sách này đảm bảo rằng khi mua bán chủ yếu bằng quan hệ tin cậy thấp, Alice kề cận với số tài nguyên cô ta có thể mất
Phân loại đối tượng người sử dụng trong NICE
Có 3 đối tượng người sử dụng:
Người sử dụng tốt: Những người sử dụng tốt luôn thực hiện giao thức
đúng đắn Nếu người sử dụng tốt quan hệ với người sử dụng tốt khác thì giá trị cookie được kí luôn là 1
Trang 28-28-
Những người sử dụng bình thường: Những người sử dụng bình thường
luôn thực hiện giao thức đúng đắn Tuy vậy khi một người sử dụng bình thường quan hệ qua lại với một người khác, kết quả các giao dịch trong định giá cookie trong khoảng giữa 0.0 và 1.0, trung bình là 0.7
Những người sử dụng nguy hiểm: mỗi người sử dụng nguy hiểm luôn báo
độ tin cậy tuyệt đối (giá trị cookie là 1.0) với mỗi người sử dụng nguy hiểm khác Những người sử dụng nguy hiểm quan hệ qua lại với người sử dụng không nguy hiểm khác thì người sử dụng nguy hiểm tạo ra giá trị cookie tin cậy cao (giữa 0.9 và 1.0) hoặc rất thấp (khoảng giữa 0.0 và 0.1) Xác xuất giao dịch thất bại là giống nhau và ngẫu nhiên
2.6 Tính toán tin cậy phân tán trong NICE
Giả sử rằng với mỗi giao dịch trong hệ thống, mỗi người sử dụng liên
quan tạo một bản tuyên bố được ký (và gọi là cookie) về chất lượng của giao dịch Ví dụ: xem xét giao dịch đầy đủ t giữa những người sử dụng Alice và Bob
trong đó Alice tiêu thụ một tập tài nguyên của Bob Sau khi giao dịch hoàn
thành, Alice kí một cookie với tình trạng c mà cô ấy đã hoàn thành đầy đủ giao dịch t với Bob Bob có thể chọn lưu trữ cookie c này được kí bởi Alice cho việc
sử dụng sau này để chứng tỏ độ tin cậy của Bob với những người sử dụng khác, bao gồm cả Alice Như tiến trình hệ thống, mỗi giao dịch tạo một cookie mới và được lưu trữ bởi những người sử dụng khác (Rõ ràng các cookie sẽ hết hạn hoặc trong trường hợp khác sẽ bị hủy)
Sau đây là mô tả giải thuật suy luận tin cậy trong phạm vi của đồ thị có
hướng T và gọi là đồ thị tin cậy Các đỉnh trong T thể hiện chính xác những
người sử dụng trong hệ thống Có một cạnh nối trực tiếp từ Alice tới Bob nếu
và chỉ nếu Bob lưu giữ một cookie của Alice Giá trị của cạnh Alice → Bob biểu thị Alice tin cậy Bob bao nhiêu, và phụ thuộc vào tập các cookie Bob nắm giữ của Alice Chú ý rằng mỗi giao dịch trong hệ thống có thể thêm một cạnh có hướng mới khác trong đồ thị tin cậy, hoặc dán lại nhãn giá trị của cạnh đã có với giá trị tin cậy mới của nó
Giả sử rằng phiên bản hiện tại của đồ thị tin cậy T là có hiệu lực với Alice và thừa nhận Alice mong muốn tính toán một giá trị tin cậy đối với Bob Nếu Alice và Bob có các giao dịch trước, sau đó Alice có thể tìm kiếm giá trị của cạnh Alice → Bob trong T Tuy vậy, giả sử Alice và Bob không bao giờ có
Trang 29-29-
một giao dịch trước Alice có thể suy ra giá trị tin cậy đối với Bob bằng các đường có hướng tiếp theo (kết thúc ở Bob) trong đồ thị tin cậy
2.6.1 Suy luận tin cậy trong đồ thị tin cậy
Xem xét đường dẫn có hướng A0 → A1 →…→ Ak trong T Mỗi cặp kế tiếp là những người sử dụng có các giao dịch trực tiếp với người khác, và các giá trị cạnh là độ đo nói lên Ai tin cậy bao nhiêu Ai+1 Cho một đường dẫn như vậy, A0 có thể suy ra số các giá trị tin cậy hợp lý đối với Ak, bao gồm giá trị nhỏ nhất của một cạnh bất kì trong đường dẫn hoặc tích của các giá trị tin cậy dọc theo đường dẫn Gọi các giá trị tin cậy suy ra được này là sự khỏe mạnh
(strength) của đường dẫn A0 → Ak Bài toán suy luận là những gì khó hơn tính toán độ khỏe mạnh của các đường dẫn tin cậy vì rằng có thể có nhiều đường dẫn giữa 2 nút, và những đường dẫn này có thể chia sẻ các cạnh hoặc các đỉnh Suy luận tin cậy tập trung không tập trung ở bài viết này, nhưng nó quan trọng cho việc sử dụng giải thuật suy luận thiết thực Trong mô tả sau đây, giả sử A (Alice) truy cập tới đồ thị tin cậy, và muốn suy ra giá trị tin cậy đối với B (Bob):
Đường dẫn khỏe nhất: Lấy một tập các đường dẫn giữa Alice và Bob,
Alice chọn đường dẫn khỏe nhất và sử dụng giá trị tin cậy nhỏ nhất trong đường dẫn làm giá trị tin cậy đối với Bob Độ khỏe của một đường dẫn có thể được tính bằng cách làm cực tiểu giá trị cạnh dọc theo đường dẫn hoặc tính tích của tất cả các cạnh dọc theo đường dẫn Cho đồ thị tin cậy, việc đo độ tin cậy này có thể tính được bằng cách sử dụng tìm kiếm theo chiều sâu (depth-first search) Trong
ví dụ mô tả trong hình 2, có sử dụng hàm cực tiểu để tính độ khỏe của đường dẫn Trong ví dụ này, đường dẫn khỏe nhất là AEFB, và Alice suy ra mức tin cậy là 0.8 đối với Bob
Hình 2: Đồ thị tin cậy
Trang 30Trọng số được gán cho đường Alice→X→ →Bob là giá trị của cạnh Alice →
X (được giải thích là Alice trực tiếp tin cậy X bao nhiêu) Trong ví dụ trong hình
2, ACDB là đường rời rạc khác (với độ khỏe mạnh 0.6), và suy ra giá trị tin cậy
từ Alice tới Bob là 0.72 Cách tính như sau: Trước tiên tìm đường dẫn khỏe nhất (AEFB, hoặc 0.9 -> 0.8 ->0.9 với trọng sô cực tiểu 0.8), loại bỏ các cạnh đó, tìm đường khỏe nhất tiếp theo (ACDB, 0.6 -> 0.7 -> 0.9 với trọng số cực tiểu là 0.6) Như vậy, lấy 2 đường, Alice tính được trung bình cực tiểu của mỗi đường, trọng số tính được bằng giá trị của chặng (hop) sau cùng Theo đó, đường AEFB
có trọng số cực tiểu 0.8 với liên kết AE có giá trị 0.9, cũng tương tự đường ACDB có trọng số cực tiểu 0.6 với liên kết chặng sau cùng (AC) có trọng số 0.6 Vậy trung bình trọng số tính được là (0.6*0.6 + 0.8*0.9)/ (0.6 + 0.9) và bằng 0.72
Cả hai giải thuật này đều thiết thực trong ý nghĩa rằng không có giá trị cạnh nào được sử dụng nhiều hơn một lần, và các giá trị tin cậy được tính luôn luôn bị chặn trên bởi giá trị tin cậy cực tiểu của một đường Trước khi bất kì một giải thuật cục bộ như vậy được sử dụng, đồ thị tin cậy thu được có thể thay đổi,
và các giá trị (cạnh) được gán cho các cookie Chú ý rằng để suy ra độ tin cậy đối với Bob, Alice không cần toàn bộ đồ thị tin cậy, mà chỉ cần tập các đường từ
cô ấy tới Bob
2.6.2 Gán các giá trị cho các cookie
Về ý tưởng, sau mỗi giao dịch, có thể thực hiện được việc gán một số thực trong khoảng giá trị thực [0, 1] cho chất lượng của giao dịch và số được gán này là giá trị của cookie Trong một số trường hợp, các giao dịch có thể được tổ chức như vậy là có thể thực hiện được: như trường hợp giả sử rằng Alice chuyển mã và cung cấp 400 Kbps dòng video cho Bob ở 128 Kbps, và theo sự chấp thuận trước, Bob kí một cookie với giá trị 0.75 cho Alice Trường hợp giao dịch tương tự có thể cho kết quả một cookie với giá trị 0.9 nếu Alice
Trang 31đã được phân phối ở 65.5 Kbps hoặc 400 Kbps Xa hơn nữa, đối với nhiều giao dịch, như việc phân phối dòng phương tiện, thì có thể thực hiện với một phần để
bỏ qua giao dịch nếu chất lượng dịch vụ ban đầu không vượt quá ngưỡng giá trị
0
2.6.3 Suy luận tin cậy phân tán: Giải thuật cơ bản
Phần này mô tả những người sử dụng xác định thông tin tin cậy về những người sử dụng khác trong một hệ thống như thế nào Giải thuật phân tán này thực hiện như sau: Mỗi người sử dụng lưu trữ một tập các cookie được kí, các cookie được kí này là kết quả nhận được từ các giao dịch trước đó Giả sử Alice muốn sử dụng một vài tài nguyên ở nút của Bob Có 2 khả năng: hoặc Alice đã
có sẵn các cookie của Bob, hoặc cả Alice và Bob không có bất kì một giao dịch nào như vậy (Có một khả năng thứ 3 là Alice đã loại bỏ các cookie của Bob, nhưng trường hợp này được coi giống như Alice không có cookie của Bob) Trong trường hợp Alice sẵn có các cookie của Bob, cô ấy giới thiệu chúng cho Bob Bob có thể xác nhận rằng các cookie này thực sự là của anh ấy từ khi anh
ấy kí chúng Nhận được các cookie này, Bob có thể tính ngay giá trị tin cậy đối với Alice
Trong trường hợp khi mà Alice không có cookie của Bob Vậy thì Alice
sẽ tìm kiếm các cookie của Bob từ các nút của những người mà cô ấy nắm giữ các cookie Giả sử Alice có một cookie của Carol và Carol có cookie của Bob Carol đưa cho Alice một bản sao các cookie mà cô ấy nhận từ Bob, Alice sau đó
sẽ giới thiệu 2 cookie cho Bob: một của Bob đưa cho Carol và một của Carol đưa cho Alice, kết quả là Alice nói với Bob: “Anh không biết tôi nhưng tôi tin tưởng Carol và Carol tin tưởng tôi” Nói chung Alice có thể tạo nhiều “đường
Trang 32-32-
cookie” như vậy bằng cách tìm kiếm đệ quy qua hàng xóm của cô ta Kết quả là Alice làm ngập lụt các truy vấn bởi các cookie của Bob dọc theo các cạnh cookie mà các cạnh này kết thúc ở mỗi nút, bắt đầu với nút sở hữu của cô ta Sau khi tìm kiếm hết, cô ta có thể mô tả Bob bằng sự kết hợp các đường dẫn có hướng mà tất cả các đường dẫn này bắt đầu từ Bob và kết thúc ở Alice Lưu ý rằng các đường dẫn cookie này đúng bằng sự kết hợp các cạnh có hướng trong
đồ thị tin cậy mà được sử dụng trong suy luận tin cậy tập trung Thêm nữa, với tập các cookie này, Bob có thể sử dụng sơ đồ tập trung bất kì để suy ra giá trị tin cậy đối với Alice
Sơ đồ cơ bản này có một vài điểm lưu ý là:
Nếu Alice muốn sử dụng tài nguyên của Bob, cô ta sẽ tìm kiếm các cookie của Bob Điều này tương phản với sơ đồ tương tự trong đó các nút tự chúng giữ các bản ghi của các giao dịch trước của chúng Không như thiết lập, nếu Bob không biết Alice, anh ta sẽ bắt đầu tìm kiếm Alice qua các nút mà anh ta tin cậy Một người sử dụng nguy hiểm Eve có thể dễ dàng gắn một cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DoS) bằng cách liên tiếp hỏi các nút khác để tìm kiếm các ủy nhiệm của Eve Trong trường hợp các nút chuyển các truy vấn đại diện các nút khác chỉ nếu các nút ủy quyền đã kí cookie, và như vậy, ngầm tin cậy chúng ở một chừng mực nào đó
Alice dự trữ các cookie được thừa nhận dưới dạng “X tin cậy Alice” Hơn nữa, Alice chỉ dành vùng dự trữ các đối tượng mà cô ta có thể sử dụng cho lợi ích của mình, và như vậy, có một động cơ xây dựng trong
hệ thống để dự trữ các cookie Trong thực tế, nếu Bob kí một cookie giá trị thấp cho Alice, cô ta có thể loại bỏ các cookie này ngay, vì lẽ điều này giống như có một công bố rằng Bob không tin cậy Alice Nói chung, người sử dụng dự trữ các cookie nhiều nhất cho mục đích sở hữu của họ, và không chuyển các thông báo của những người sử dụng
mà họ không tin cậy
Dự trữ bản ghi giao dịch trong hệ thống là hoàn toàn phân tán, và nếu hai nút quản lý một số lớn các giao dịch giả mạo, chỉ khi chúng chọn nắm giữ trạng thái kết quả Ngược với điều này, là trong dự trữ giao
Trang 33- Tìm kiếm hiệu quả: Thủ tục làm ngập lụt đệ qui được mô tả ở trên tìm
tất cả các cookie tồn tại đối với ủy nhiệm đã cho Tuy vậy nó rất không hiệu quả, vì lẽ nó thăm số nút ở mỗi bậc lớn lên theo hàm mũ Hơn nữa, trừ phi việc làm lụt bằng lí do này hay lí do khác được rút ngắn, ví dụ bằng việc sử dụng thu hồi trùng lặp hoặc bằng việc sử dụng trường thời gian sống (time-to-live) trong các truy vấn, thì một vài tìm kiếm có thể luân chuyển mãi trong hệ thống
Việc tìm kiếm được xem xét để sử dụng cấu trúc tìm kiếm P2P, giống như Chord, để xác định các cookie Các giao thức sử dụng ở đây giống như nhiều giao thức định tuyến trong Internet và có những đặc tính như: không thừa nhận
sự tồn tại của các bảng định tuyến, phải thiết thực để chống lại sự mất mát các packet, chống lại các nút nguy hiểm, và để việc tìm kiếm hiệu quả hơn còn phải cần tới cơ cấu hỗ trợ khác nữa
Thay cho mọi đường dẫn tương ứng tới tất cả các cookie, ta chỉ chuyển tiếp một truy vấn tới một số các nút (điển hình là 5) từ một nút bất kì Tuy vậy, nếu chúng ta chọn chuyển tiếp các nút ngẫu nhiên, chúng ta vẫn sẽ có một phép tìm kiếm hàm mũ, mặc dù với cơ số nhỏ hơn! Thay vì như vậy, chúng ta mở rộng giao thức cơ bản như sau: bất cứ khi nào một nút nhận một cookie từ các nút khác, nó cũng nhận bản ghi nhớ của tất cả các cookie của các nút đó ở các
Trang 34bộ lọc Bloom yếu; trong các thí nghiệm cho thấy không cần sử dụng mọi bộ lọc Bloom yếu – chỉ một mức lọc là đủ Cuối cùng mỗi nút cũng giữ một bản ghi nhớ các tìm kiếm thực thi gần đây và sử dụng bản ghi nhớ này để ngăn chặn các truy vấn trùng nhau
Trong cài đặt, khi chọn các nút để chuyển tiếp, luôn chọn các nút mà bản ghi nhớ biểu thị chúng có cookie đối với node cần tìm kiếm Tuy vậy có thể xảy
ra rằng không gặp trong bản ghi nhớ bất kì ở một nút; trong trường hợp này, ta chọn lại các nút để chuyển tiếp một cách ngẫu nhiên Vì vậy chỉ chuyển tiếp ngẫu nhiên các nút được chọn nếu truy vấn ở bên trong số các chặng định trước
xa nguồn truy vấn Như vậy, trong phiên bản tìm kiếm cuối cùng, một truy vấn xảy ra từ nguồn, có thể chọn các nút ngẫu nhiên, nhưng việc làm lụt nhanh chóng được dừng lại trừ phi gặp (hit) trong bản ghi nhớ chặng tiếp theo
Ví dụ: Minh họa thủ tục tìm kiếm dựa trên bản ghi nhớ (hình 3):
Alice muốn sử dụng tài nguyên Bob có, nhưng lại không có các cookie của Bob Vì vậy Alice bắt đầu tìm kiếm một đường cookie tới Bob Trong hình 3-0 mô tả trạng thái đầu của các cookie và các bản ghi nhớ của mỗi người sử dụng, ví dụ Alice có cookie giá trị 0.9 từ C, và bản ghi nhớ của cô từ C thể hiện rằng C có cookie từ D Với ví dụ này giả sử bậc tìm kiếm là 3, và chặng làm lụt ngẫu nhiên giới hạn là 1 Alice đầu tiên gửi truy vấn không chỉ tới các nút có bản ghi nhớ gặp (chẳng hạn E), nhưng cũng tới các nút ngẫu nhiên (chẳng hạn C
và D) như được minh họa trong hình 3-1 Sau khi nhận truy vấn, E tìm cookie của Bob và trả lại truy vấn cho Alice Khi C nhận truy vấn, anh ta tìm truy vấn
mà hàng xóm của anh ta không có bản ghi nhớ đối với Bob, vì vậy không chuyển tiếp truy vấn đi nữa Theo vậy, D chuyển truy vấn tới G (hình 3-2) khi G
có bản ghi nhớ đối với Bob, và G trả lại truy vấn cho Alice với cookie cô ta nhận được từ Bob Hình 3-3 mô tả 2 đường Alice tìm kiếm, với đường khỏe nhất được in dậm
Trang 35-35-
- Các Cookie từ chối: Một nhược điểm lớn với sơ đồ nguyên bản là các
giao dịch định giá thấp tiềm tàng nguy cơ không được ghi vào trong hệ thống Xem xét kịch bản sau đây: Eve sử dụng một tập các tài nguyên của Alice, nhưng không cung cấp các tài nguyên đã thỏa thuận mà cô ta đã hứa Trong sơ đồ nguyên bản, Alice sẽ kí một cookie định giá thấp cho Eve Eve sẽ không có động cơ để giữ cookie này và sẽ nhanh chóng hủy nó, vì vậy xóa luôn bản ghi bất kì về ý đồ xấu của cô ta
Thay vì như vậy, Alice tạo cookie này và tự mình lưu trữ nó Đó là điều lí thú của Alice để nắm giữ cookie này; ít nhất cô ấy sẽ không tin cậy Eve lâu như
cô ấy có cookie này Tuy vậy “các cookie từ chối” này có thể cũng được sử dụng bởi những người sử dụng tin cậy Alice Giả sử Eve ở lần tiếp theo muốn quan hệ qua lại với Bob Trước khi Bob chấp nhận một giao dịch với Eve, Bob
có thể bắt đầu tìm kiếm các cookie từ chối đối với Eve Thủ tục tìm kiếm như sau: đi theo các cạnh tin cậy cao bên ngoài Bob và kết thúc khi tìm thấy một cookie từ chối đối với Eve Kết quả là việc tìm kiếm trả lại một danh sách những người mà Bob tin cậy, đó là những người có các giao dịch từ chối với Eve trước
đó Nếu Bob khám phá đủ một tập các cookie từ chối đối với Eve, anh ta có thể chọn giải pháp không đếm xỉa đến các giấy ủy quyền của Eve và không đi cùng
cô ta đề xuất giao dịch Điều này quan trọng để lưu ý rằng Bob chỉ bắt đầu tìm kiếm cookie từ chối khi Eve đã tạo một tập các giấy ủy nhiệm tin cậy đầy đủ; trường hợp khác, Bob lại tạo ra sự tấn công DoS khi anh ta tiếp tục tìm kiếm cookie xấu
Trong cài đặt, ta giữ một tập các bản ghi nhớ đối với các cookie từ chối, nhưng thực hiện bộ lọc Bloom tìm kiếm trực tiếp đối với các cookie từ chối này chỉ trong các nút lân cận
- Danh sách ưu tiên: Để khám phá tiềm tàng các nút tốt hiệu quả, mỗi
người sử dụng giữ một danh sách ưu tiên Với mỗi người sử dụng, các nút trong danh sách ưu tiên chứa một tập những người sử dụng khác mà người sử dụng đó không điều khiển được giao dịch với họ ngay Tuy vậy các nút này được ưu tiên
vì lẽ chủ sở hữu danh sách ưu tiên tin tưởng chúng có thể tiềm tàng các máy tin cậy cao Các nút được chứa trong danh sách ưu tiên như sau: giả sử Alice điều khiển tìm kiếm cookie thành công đối với Bob và cho P là đường dẫn cookie được khám phá giữa Alice và Bob Alice thêm tất cả những người sử dụng trong
P đó là những người có giá trị tin cậy rất cao (1.0 trong cài đặt) tới danh sách tin