1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử

114 1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
Tác giả Hà Minh Chỏnh
Người hướng dẫn ThS. Bựi Đỡnh Tiền
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính phủ điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hành pháp nhằm điều chỉnh các hoạt động xã hội, bao gồm việc điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan thuộc Chính phủ với

Trang 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

I CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ:

1 Chính phủ điện tử là gì?

Chính phủ điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hành pháp nhằm điều chỉnh các hoạt động xã hội, bao gồm việc điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan thuộc Chính phủ với nhau; quan hệ giữa người dân và doanh nghiệp với Chính phủ và ngược lại Những quan hệ này điều được thực hiện bởi hệ thống vi tính nối mạng, và những thiết bị công nghệ thông tin để có được những thủ tục đăng ký, cấp phép và bất cứ hoạt động nào liên quan đến lĩnh vực hành chính công quyền và người dân có thể làm việc với chính phủ 24/24 giờ trong một ngày, 7/7 ngày trong một tuần

2 Tại sao phải phát triển chính phủ điện tử

Có nhiều lý do phải phát triển chính phủ điện tử trong đó trước hết là vấn đề hiệu quả Khái niệm hiệu quả có nghĩa là tiết kiệm cho chính phủ và giúp cho các doanh nghiệp và người dân tiếp xúc một cách dễ dàng hơn với chính phủ Bên cạnh đó, nếu không có một chính phủ điện tử, chính phủ sẽ phải tiêu tốn rất nhiều tiền bạc và thời gian cho việc phê duyệt các vấn đề cần thiết và sự chậm trễ này sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều đó cũng có nghĩa là nếu chính phủ phê duyệt nhanh hơn, một quốc gia cũng sẽ có nhiều cơ hội hơn để thu hút đầu tư hơn

3 Những động lực thúc đẩy phát triển chính phủ điện tử

• Xu hướng là để xây dựng một chính phủ “thân thiện” với mọi người dân và các doanh nghiệp

• Dân trí ngày một nâng cao dễ dàng sử dụng những công nghệ mới

• Công nghệ thông tin phát triển mạnh, nhanh, phổ biến

4 Chính phủ điện tử kháùc với chính phủ truyền thống như thế nào

• Mức độ tự động hóa và tốc độ xử lý hành chính

• Thông tin cung cấp nhanh hơn, đủ hơn, dễ dàng hơn

5 Mục tiêu của chính phủ điện tử

Trang 2

• Làm tốt hơn nữa chúc năng quản lý

• Tạo điều kiện tốt cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

6 Những lợi ích của chính phủ điện tử

• Bình đẳng trong truy cập thông tin

• Công khai thủ tục hành chính

• Đơn giản hóa thủ tục hành chính

• Khả năng cung cấp thông tin, công bằng, tin cậy, ổn định, kịp thời

7 Các đặc tính của chính phủ điện tử

• Tính rộng khắp

• Tính bảo mật, an toàn

• Đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức

• Đem lại lợi ích rõ nét cho mọi người dân, mọi doanh nghiệp, mọi công chức nhà nước

8 Các tiêu chuẩn của chính phủ điện tử

• Thông su t

• Trong su t

9 Công nghiệp hóùa hiện đại hóa thủ tục hàønh chính

• Công ngh thông tin không t o nên n n p hành chính

• Công ngh thông tin chỉ làm cho quy trình hành chính vốn đã có nề nếp sẽ có hiệu qủa hơn

10 Xây dựng thành công chính phủ điện tử

Khi có những công việc liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình, nếu phải tiếp xúc với bộ máy công quyền, người dân sẽ được lựa chọn:

Trang 3

• Ham mu n duy trì quy n l c

AlGore

12 Hiện trạng

Mô hình chính phủ điện tử (e-government) đã được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển như Mỹ ,Vương quốc Anh, Úc, Hàn Quốc Nơi mà cơ sở hạ tầng viễn thông được đầu tư tốt và phát triển, cung cấp các dịch vụ như Video-on-demand, ASP, Thương mại điện tử, Ngôi nhà Internet với các đường kết nối lên đến hàng chục Megabit/s, cước truy cập Internet rẻ, và đa số người dân, doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ đều kết nối với Internet

Trong khu vực, các chính phủ của một số Quốc gia đều đã đưa ra chiến lược phát triển công nghệ thông tin trong đó bao gồm cả việc phát triển thương mại điện tử và chính phủ điện tử Đặc biệt, Chính phủ Singapore đã có kế hoạch đầu tư 1,4 tỷ đôla Singapore vào chương trình này Có thể nói, trong khu vực, Singapore là nước đi đầu trong lĩnh vực này Họ đã đưa rất nhiều dịch vụ của Chính phủ lên mạng đồng thời cũng đang có kế hoạch để thực hiện tốt hơn việc hình thành chính phủ điện tử

Tại Việt Nam, khái niệm chính phủ điện tử còn tương đối mới mẽ Đa số người dân khi thực hiện quyền cá nhân hết sức đơn giản như đăng ký xe máy hay làm thủ tục bán nhà đều phải thông qua dưới hình thức "xin" chính quyền sở tại hay những cơ quan chức năng Muốn triển khai chính phủ điện tử thì phải có nhiều người sử dụng Internet, cước truy cập Internet phải rẻ và nhanh Hiện tại chúng ta có khoảng hơn 50.000 máy tính nhưng để đánh máy và chơi game là chủ yếu chứ không nằm trong một mắt xích của hệ thống tin học Mặc dù các

cơ quan chính phủ cũng đã xây dựng được cơ sở dữ liệu quốc gia về hành chính, thống kê kinh tế xã hội, nhưng các hệ thống này còn thiếu tính liên kết và không thống nhất

Trang 4

CHƯƠNG 2 : CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ

Việc xây dựng một mô hình Chính phủ điện tử tại một quốc gia là nhằm một số mục đích sau đây :

- Làm cho người dân dễ dàng để có được những dịch vụ và quan hệ với Chính phủ

- Cải tiến năng suất và hiệu qủa quản lý của chính phủ; và

- Cải tiến những đáp ứng của chính phủ đến với người dân

2 Yêu cầu :

- Phải có một người đứng đầu dự án đảm trách liên hệ giữa công nghệ thông tin và chính phủ điện tử và một số lượng lớn đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm về nghiệp vụ nhà nước và công nghệ thông tin

- Khởi đầu việâc mở rộng chính phủ điện tử ở đó việc cần làm là hợp nhất các hoạt động của cơ quan và các đầu tư về công nghệ thông tin

- Chúng ta cũng có những bước đi cụ thể cho việc thực hiện đề án xây dựng chính phủ điện tử để loại ra những dư thừa và chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan nhà nước

- Chính phủ cần xác định được vị trí hiện tại và đánh giá được mức độ sẵn sàng của mình, hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp tư nhân để giải quyết các khó khăn, trước kia các sản phẩm công nghệ thông tin thường giới hạn trong việc thu thập và khả năng phục vụ cho người dân Vì vậy, chính phủ cần phải sẵn sàng thay đổi cách làm việc với người dân bằng cách thông qua việc sử dụng chính phủ điện tử

- Từng cơ quan đặc thù phải được đầu tư trong cả hai cách giải quyết là truyền thống và trực tuyến (online), bất chấp những nổ lực không cần thiết của các

cơ quan khác Đó là việc muốn giữ nguyên công việc truyền thống là làm

Trang 5

việc trên nhiều bản sao thủ tục giấy tờ, trong khi yêu cầu người dân phải lướt qua nhiều trang web và nhiều tổng đài để tìm và có được dịch vụ

- Phải xây dựng một “kiến trúc công việc” chung để không tạo ra những cơ bản trong hoạt động và xử lý dư thừa, kết qủa là những gánh nặng không cần thiết và những phí tổn của người dân, tỉnh thành, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và cán bộ nhà nước

- Chúng ta phải tính ra cách làm việc với nhau qua ranh giới giữa các cơ quan truyền thống và các dịch vụ tốt hơn cho người dân, và tìm hiểu xem những viên chức muốn sử dụng những công cụ chính phủ điện tử cho việc hổ trợ các công việc hằng ngày của họ không

- Xác định những rào cản chính có thể làm giảm đi sự thành công của Chính phủ điện tử mà nó liên quan đến giáo dục, kiến trúc, sự tin cậy và tiềm lực kinh tế

II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN:

1 Tầm nhìn chiến lược:

Tầm nhìn của một nguyên thủ quốc gia cho việc sửa đổi chính phủ nhấn mạnh rằng “chính phủ cần phải cải cách các hoạt động - thực hiện việc kinh doanh như thế nào và những dịch vụ đối đãi người dân như thế nào” Tầm nhìn được chỉ dẫn bởi ba yếu tố cơ bản:

• Trung tâm công dân (Citizen-centered), trung tâm không có quan liêu;

• Định hướng kết qủa (Result-oriented); và

• Nền tảng thị trường (Market-based), tích cực đẩy mạnh sự đổi mới

Chính phủ điện tử chống lại việc gặp gỡ của người dân hiện nay và chờ đợi của doanh nghiệp trong việc quan hệ với chính phủ Điều đó sẽ làm cho các cơ quan phải xếp hàng như sự cần thiết cho việc cải tiến những dịch vụ có ý nghĩa và giảm chi phí hoạt động Khi sáng kiến chính phủ điện tử tùy thuộc vào hiệu qủa, việc chỉ đạo kinh doanh với chính phủ được dễ dàng, sự riêng tư được bảo vệ và an ninh được cung cấp Những công dân và những doanh nghiệp có thể gặp nhau trên một điểm của dịch vụ trực tuyến hoặc bằng điện thọai

Tầm nhìn của chúng ta kết hợp sự thành công các họat động thực tiễn trực tuyến với người của chính phủ và tài sản vật chất để xây dựng một xí nghiệp

“click and mortar” Mục đích của chúng ta là ở đó những dịch vụ và thông tin sẽ hiếm khi có nhiều hơn ba lần click chuột khi sử dụng Internet Để đạt được

Trang 6

những điều này thì đòi hỏi ở đó có sự thống nhất giữa các cơ quan ban ngành và đơn giản hóa hoạt động của các cơ quan đó

2 Kế họach:

Để có được sự thống nhất của chính phủ điện tử bằng cách hổ trợ nhiều dự án

đa cơ quan (multi-agency) ở đó việc phát triển của những dịch vụ công và mang lại hiệu suất Với những mục đích đó, nó được phát triển một “roadmap” cho việc thi hành chính phủ điện tử, việc xác định kế hoạch hành động cho việc thi hành chính phủ điện tử Những mục đích đó là:

• Giới thiệu những sáng kiến chống lại việc hối lộ mạnh mẽ nhất đến nổi được triển khai nhanh chóng;

• Xác định những rào cản chính của chính phủ sao cho thích hợp với trung tâm công dân chính phủ điện tử, và những hoạt động thi hành cần thiết để vượt qua những rào cản; và

• Việc phát triển một khung kỹ thuật ở đó cung cấp cho sự hợp nhất của những dịch vụ chính phủ và thông tin

Chính phủ điện tử cung cấp nhiều cơ hội cho việc phát triển các dịch vụ có chất lượng đến với nhân dân Người dân sẽ có được dịch vụ và thông tin trong vài phút hoặc vài giờ, so với phải thực hiện vài ngày hay vài tuần như hiện nay Những người dân, những doanh nghiệp và các tỉnh thành và chính quyền địa phương sẽ có được hồ sơ được báo cáo mà không phải trả công cho nhân viên và luật sư Những nhân viên chính phủ sẽ thực hiện công việc của họ dễ dàng, có hiệu qủa và năng suất cao như những bản sao của họ trong thế giới thương mại

Một chiến lược hiệu qủa sẽ là kết qủa phát triển quan trọng trong việc phát triển chính phủ, bao gồm:

• Làm đơn giản hóa sự phân phối của những dịch vụ tới người dân;

• Loại ra sự phân lớp trong việc quản lý chính phủ;

• Làm sao nó có thể thực hiện đối với nhân dân, những doanh nghiệp, những tầng lớp khác của chính phủ và nhân viên chính phủ dễ dàng tìm ra thông tin và có được dịch vụ từ chính phủ;

• Làm đơn giản hóa việc xử lý thương mại của các cơ quan và giảm những chi phí thông qua sự hợp nhất và loại ra những hệ thống dư thừa;

• Có thể đạt được những yếu tố khác của việc quản lý nhật ký công tác của Chủ tịch nước, Thủ thướng Chính phủ; và

Trang 7

• Sự tạo dòng hoạt động của chính phủ tới sự bảo đảm đáp ứng lại nhanh chóng những nhu cầu của người dân

Sau đây là trọng tâm trên bốn nhóm trung tâm công dân, từng cái cung cấp những cơ hội cho sự thay đổi phân phối của những dịch vụ

• Các Cá nhân/Công dân (Individuals/Citizens): Government-to-Citizens (G2C); c xây dựng cho việc dễ dàng tìm kiếm, dễ sử dụng, một trong những điểm dừng của dịch vụ là thực hiện dễ dàng cho người dân có được những dịch vụ chất lượng cao

• Các doanh nghiệp (Businesses): Government-to-Business (G2B); Để giảm tải của chính phủ trên các doanh nghiệp bằng cách loại ra những dư thừa tập hợp dữ liệu và những kỹ thuật kinh doanh điện tử tạo ra lực đòn bẩy tốt hơn cho thông tin

• Giữa hai chính quyền (Intergovernment):Government-to-Government (G2G); Thực hiện dễ dàng cho các tỉnh thành và các địa phương cho nhu cầu hội họp và tham gia như là thành viên đầy đủ với chính phủ trong những dịch vụ công, trong khi thực hiện tốt hơn trong khuôn khổ, đặc biệt là vấn đề chuyển nhượng khế ước, thừa nhận, công nhận Những cấp độ khác của chính phủ sẽ có những khoảng tiết kiệm quản lý trực tiếp và sẽ cải tiến phân phối chương trình bởi vì dữ liệu chính xác hơn thì có giá trị hơn

• Bên trong chính phủ (intra-government): Hiệu qủa và hiệu suất trong nội bộ (IEE); Thực hiện việc sử dụng tốt hơn của kỹ thuật hiện đại cho việc giảm chi phí và cải tiến chất lượng ở cơ quan chính phủ, bằng cách sử dụng những thực tiễn tốt nhất của nền công nghiệp trong những phạm vi như cung cấp cho việc quản lý dây chuyền, quản lý tài chính và quản lý tri thức Các cơ quan sẽ cải tiến sự hiệu qủa và hiệu suất, loại ra những trở ngại trong xử lý và cải tiến sự duy trì và thõa mãn của nhân viên

3 Những vấn đề:

Trong khi chính phủ đầu tư nhiều cho Công nghệ thông tin, nhưng chưa có kinh nghiệm tương xứng với sự phát triển trong năng suất, chất lượng và dịch vụ khách hàng Trong nhiều công ty, chủ đề những lợi ích đến từ lực đòn bẩy kỹ thuật thay đổi phương thức kinh doanh lạc hậu Có ít nhất bốn chủ đề của nguyên nhân chính phủ không thể phát triển năng suất:

• Program Performance Value (Gía trị thực hiện chương trình): Điển hình

những cơ quan đánh giá những hệ thống Công nghệ thông tin theo kiểu họ

Trang 8

phục vụ (serve) cho những điều cần thiết và những xử lý của cơ quan tốt như thế nào chứ không quan tâm là họ đáp ứng tốt như thế nào những gì mà người dân cần Những hệ thống thường đánh giá bằng tỉ lệ phần trăm thời gian họ làm việc hơn là những lợi ích nội bộ và bên ngoài cho việc phân phối tới những chương trình họ cung cấp

• Technology Leverage (Lực đòn bẩy kỹ thuật): Trong những năm thập niên

90, các cơ quan chính phủ sử dụng Công nghệ thông tin xử lý tự động cái hiện có, hơn là tạo ra những giải pháp hiệu qủa và hiệu suất điều đó bây giờ thực hiện được bởi vì những bài học thương mại đện tử đã được học

• Islands of Automatic (Nh ng cô lập của tự động hóa): Các cơ quan

thường mua những hệ thống ở đó những cần thiết cho nội bộ, và hiếm khi các hệ thống hoạt động với nhau hoặc quan hệ với những hệ thống tại các

cơ quan khác Vì vậy, người dân phải tìm qua nhiều cơ quan để có được dịch vụ, những việc kinh doanh phải được sắp xếp nhiều lần sao cho cùng thông

tin với nhau, các cơ quan không dễ dàng chia sẽ thông tin với nhau

• Resistance to Change (Chống lại việc thay đổi): Việc xử lý ngân sách và

cơ quan trao đổi duy trì cái lỗi thời quan liêu gây chia rẽ Việc xử lý ngân sách sẽ không cung cấp một cơ cấu cho việc trao quyền qua cơ quan Công nghệ thông tin Ngoài ra, cơ quan trao đổi và lo sợ của việc tổ chức lại tạo ra sự chống đối lại công việc hợp nhất và chia sẻ việc sử dụng các hệ thống qua vài cơ quan

Việc đầu tư kỹ thuật lực đòn bẩy tốt hơn sẽ yêu cầu rằng việc quản lý chính phủ phải có tầm nhìn xa các cách hiện tại của công việc đang làm Những giải pháp Công nghệ thông tin ngày nay kết hợp chặc chẽ hơn các cách sản xuất của công việc đang làm, hoặc loại bỏ công việc trên giấy hoặc các hoạt động hợp nhất qua các tổ chức có từ lâu nay Vì vậy, các chương trình giả lập chính quyền cần chú ý trong những quyết định chiến lược đầu tư Công nghệ thông tin Những sự đầu tư đó cần đến nền tảng trên các trường hợp kinh doanh có hiệu lực ở đó khớp với nhau về mặt giá trị cho cả nhân dân và chính phủ, và cung cấp cho sự bí mật và an ninh điều đó thì ảnh hưởng tới sự thành công của chính phủ điện tử

Một rào cản cơ bản cho việc có được hiệu suất từ Công nghệ thông tin chính phủ là việc chống đối lại sự thay đổi vốn có của chính phủ Chính phủ điện tử sử dụng công nghệ thông tin để tăng hiệu suất bằng cách làm tốt hơn trong việc tương tác và sắp xếp Sư thành công sẽ tùy thuộc vào sự phá bỏ việc chống đối

Trang 9

lại sự thay đổi Một tiếp cận chính thể (holistic) thì cần thiết, và từng việc sáng kiến Chính phủ điện tử bao gồm những kết qủa được hướng tới những phạm vi thực hiện, sắp xếp chính sách, huấn luyện, quan hệ, và tổ chức thay đổi những sự kiện quan trọng

4 Tiếp cận và khám phá:

Để có được toàn cảnh về các khám phá xem việc các cơ quan ban ngành muốn có một dự án chính phủ điện tử, thì chúng ta phải bắt đầu từ đây và cần có sự đóng góp từ các cán bộ và nhân viên của các ban ngành của chính phủ.Và chúng ta cùng tiếp cận các nhà hoạch định Chính phủ điện tử để thấy được toàn cảnh cho sự khám phá mà ở đó các cơ quan thi hành và đường dây của các nhà chuyên nghiệp muốn chính phủ phải hướng tới là:

• Sử dụng Web để cung cấp những dịch vụ như những lơi ích, những cơ hội giải trí, và các tài liệu giáo dục;

• Chia sẽ thông tin và hợp nhất các các tỉnh thành và dữ liệu địa phương nơi tiếp cận và thực hiện;

• Giảm đi gánh nặng công việc bằng cách làm theo những xử lý hợp lý điều đó được đẩy mạnh và cho vững chắc trong việc tập hợp dữ liệu;

• Thông qua những thủ tục thương mại tốt nhất để giảm những chi phí họat động và làm cho nó đơn giản hơn cho những nhân viên chính phủ cho việc thực hiện công việc của họ, đặc biệt trong phạm vi tài chính, nguồn nhân lực và thành quả; và

• Định nghĩa những thước đo của sự thành công và giám sát đều đặn và thực hiện những tiêu chuẩn đó

Một trong những khám phá quan trọng đến từ xem lại kiến trúc xí nghiệp của chính phủ Một kiến trúc xí nghiệp xác định một tổ chức thực hiện như thế nào điều đó công việc sử dụng con người, những xử lý kinh doanh, dữ liệu, và kỹ thuật Từ những cơ hội Chính phủ điện tử tác động đến cá cơ quan làm công việc của họ như thế nào và kỹ thuật dùng người như thế nào, nó cần thiết cho sự đánh giá các dự án được xác định sự tương phản kiến trúc xí nghiệp hiện tại Các nhà hoạch định bắt đầu đánh giá bằng cách tạo ra một cơ cấu đầy đủ (clear framework) của kiến trúc công việc (business architecture) của chính phủ, trình bầy chi tiết về quan hệ giữa chính phủ và nhân dân như thế nào, những chức năng gì và những cách thực hiện các công việc của chính phủ, những qui trình nguyên tắc cơ bản kinh doanh nào được sử dụng Các nhà hoạch định đánh giá việc xác định rằng các việc làm dư thừa làm khó khăn để

Trang 10

có được dịch vụ, trong khi tạo ra bản sao báo cáo và gánh nặng giấy tờ Vì vậy, Họ tập trung trên việc sáng kiến chính phủ điện tử ở đó cung cấp những cơ hội

ý nghĩa cho việc cách quan hệ giữa chính phủ và nhân dân, qua đó loại đi những dư thừa và tạo ra những cách để nhân dân có được dịch vụ

Như Họ ước lượng những dự án tiềm năng liên quan tới kiến trúc công việc (business architecture), sự đánh giá được tập trung trên những cơ hội tới những hoạt động hợp nhất và xử lý đơn giản với một đường kinh doanh thông qua các

cơ quan và xung quanh những cần thiết của người dân Những hoạt động của chính phủ có thể được nhìn thấy trong bốn chức năng chính: thực hiện chính sách (policymaking), quản lý chương trình (program administrative), sự thực hiện đúng (compliance), và sự thi hành luật lệ và những hoạt động nội bộ và cơ sở hạ tầng Việc thực hiện những hoạt động chính sách thông thường là những chương trình xác định và những nổ lực làm đúng Những hoạt động Internet là những chức năng quản lý như quản lý tài chính, ở đó cung cấp những hoạt động cần thiết ngày qua ngày tới việc thực hiện chính sách, quản lý chương trình và những hoạt động làm đúng Chính phủ điện tử hổ trợ cơ hội tới những hoạt động theo luồng, phát triển năng suất bằng cách các cơ quan tập trung trên bốn khả năng Những sáng kiến Chính phủ điện tử loại bỏ những dư thừa không cần thiết, trong khi phát triển dịch vụ chất lượng làm đơn giản hoá việc xử lý và những cô lập cơ quan hợp nhất của việc tư động hóa

Tổng quan, những sáng kiến Chính phủ điện tử đều cung cấp cơ hội tới việc phát triển việc đáp ứng cho người dân, tránh sự dư thừa trong đầu tư Công nghệ thông tin và chi phí hoạt động Làm giảm đi những rào cản chính quyền cho người dân, những doanh nghiệp Thêm vào đó có hai sáng kiến được chọn cho việc đẩy mạnh cho việc phát triển kinh doanh buôn bán: Những thông tin chăm sóc sức khoẻ và sự sống điện tử (e-Vital) Cuối cùng, Xác nhận điện tử (e-Authentication) được chọn cho việc xác định những cần thiết cho sư an toàn của việc xác nhận ở đó cắt bỏ sự cản trở những sáng kiến của Chính phủ điện tử

S đ 1.1 B ng tĩm t c các danh m c c a Chính ph đi n t

(E-Governemnt)

Trang 11

G2C

• Sử dụng web để truy cập những dịch

vụ như những lợi ích (benefit), s

vay mượn (loan), những site về giải

trí (recreational) và tài liệu v giáo

d c

• Những qui tắc chính của việc kinh

doanh: những dịch vụ xã hội, nh ng

tài nguyên thiên nhiên và giải trí,

những trợ cấp xã hội/những khoản

vay mượn, những khoản thuế

G2B

• Cắt giảm những rào cản trong kinh doanh bằng cách thông qua những xử lý ở đo ùcó thể tập hợp dữ liệu một lần cho nhiều người sử dụng và sắp xếp hợp lý dữ liệu dư thừa

• Những qui tắc chính của việc kinh doanh: sự điều chỉnh, phát triển kinh tế, trao đổi mậu dịch (trade), những giấy phép, những trợ cấp/những khoản vay mượn, quản lý quyền sở hữu

G2G

• Chia s và tập hợp các tỉnh thành về

dữ liệu cục bộ

• Những qui tắc chính của việc kinh

doanh: phát triển kinh tế, tài nguyên

thiên nhiên và giải trí, sự an toàn cho

nhân dân, thi hành luật pháp, quản lý

việc đối phó những rủi ro, những trợ

cấp xã hội/ những khoản vay mượn

IEE

• Thông qua những thủ tục tốt nhất trong hoạt động chính phủ (cung cấp sự quản lý dây chuyền )

• Những qui tắc chính của việc kinh doanh: cung cấp sự quản lý dây chuyền, tài chính

5 Những rào cản:

Việc xác định những rào cản mà ở đó có thể ngăn cản sự thành công trong từng sáng kiến Giảm thiểu những rào cản được bao gồm văn minh cơ quan, sự thiếu kiến trúc chung của cả nước, sự tin cậy, và tài nguyên

Một rào cản thường xuyên được nêu ra là sự cần thiết cho sự bảo đảm đầy đủ cho sự an toàn và bí mật Một chiến lược chính phủ điện tử thành công phải tùy thuộc vào sự điều khiển sự an toàn hiệu qủa trong việc xử lý chính phủ và những hệ thống Chính phủ điện tử phải bảo đảm được bí mật cho thông tin cá nhân mà ở đó được chia sẽ với chính phủ Đề án Xác nhận điện tử (e-Authentication) sẽ cho phép tin cậy lẫn nhau tới việc cung cấp diện rộng việc sử dụng những tương tác điện tử giữa nhân dân và chính quyền và qua chính phủ bằng việc cung cấp một giải pháp chung tới việc thiết lập “sự định dạng” (identity) Nó được cung cấp một sự an toàn, dễ dàng sử dụng và phương thức

Trang 12

nhất quán của việc nhận dạng chứng minh tới chính phủ điều đó thì thích hợp với cấp độ của kinh doanh buôn bán và rủi ro của từng sáng kiến chính phủ điện tử Thêm vào đó, những đề án sẽ xác định những góc độ riêng tư đối với việc chia sẽ thông tin cá nhân Chính phủ điện tử tùy thuộc vào sự tin tưởng của người dân mà ở đó chính phủ quản lý thông tin cá nhân của họ với sự chăm sóc bảo dưỡng Các cơ quan đang làm công việc xây dựng những bảo vệ sự riêng tư mạnh, an toàn trong các sáng kiến Chính phủ điện tử và tiến tới xây dựng sự bảo vệ sự riêng tư theo diện rộng trong tất cả các cơ quan của cả nước Chính phủ điện tử (e-government) và thương mại điện tử (e-business) ở nước ta chưa được ứng dụng rộng rãi chủ yếu là do chưa xây dựng được một môi trường pháp lý đầy đủ, cụ thể và thông thoáng cho lĩnh vực này Vấn đề không phải là

do các doanh nghiệp không mặn mà với phương thức giao dịch buôn bán rất tiện ích này hoặc do cơ sở hạ tầng thông tin chưa đáp ứng, mà thương mại điện tử vẫn còn xa lạ đối với hầu hết doanh nghiệp của nước ta là do chưa có hành lang pháp lý rõ ràng

Theo các nhà nghiên cứu về thương mại điện tử, để phương thức này được ứng dụng rộng rãi, trước hết, cần có những qui định cụ thể về chữ ký điện tử, hình thức hợp đồng, thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng Trên thực tế, cả ba yếu tố này vẫn chưa được qui định cụ thể trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Cho đến nay, hầu hết các văn bản pháp luật về dân sự, kinh tế, thương mại đều qui định, trong các giao kết, thỏa thuận, chứng thực , các bên đều phải ký vào văn bản Chữ ký ở đây, theo cách hiểu truyền thống, là chữ ký tay của một cá nhân vào một văn bản trên giấy Có nghĩa là, chữ ký điện tử (hay chữ ký số) chưa được thừa nhận

Đối với hình thức hợp đồng, một quan chức phụ trách dự án thương mại của Bộ Thương mại nhận xét: Từ trước tới nay, chúng ta quan niệm văn bản là văn bản trên giấy tờ Còn hình thức văn bản điện tử chưa được thừa nhận rõ ràng về mặt pháp lý Quan chức này cho rằng, cần định nghĩa rõ ràng về khái niệm văn bản trong đó có văn bản điện tử và để phát triển thương mại điện tử, cần phải chấp nhận tính pháp lý của các văn bản điện tử

Về thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng, Bộ luật Dân sự hiện hành qui định, Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của pháp nhân Theo các chuyên gia, qui định này không còn phù hợp khi áp dụng thương mại điện tử, vì rất khó xác định địa điểm giao kết hợp đồng của các chủ thể tham gia thương mại điện tử

Trang 13

Ngoài ra, theo các chuyên gia, việc ứng dụng thương mại điện tử ở nước ta còn gặp những vướng mắc là chưa có qui định cụ thể trong thanh toán, giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia thương mại điện tử Trên thực tế, Chính phủ đã thừa nhận các hợp đồng ngoại hối bằng hình thức văn bản điện tử, nhưng lại chưa qui định cụ thể các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Nhiều doanh nghiệp còn thắc mắc rằng, nếu xảy ra trường hợp các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài có sự tranh chấp trong quá trình giao dịch buôn bán trên mạng, thì những tranh chấp đó sẽ được giải quyết theo luật trong nước hay luật quốc tế?

6 Những nổ lực vượt rào cản:

Việc tìm hiểu cũng cho ta nhận biết những rào cản chính đã làm giảm đi sự thành công trong nổ lực của chính phủ điện tử Những nổ lực sáng kiến cho việc vượt qua những rào cản, bao gồm việc định dạng thông tin cho việc quan hệ giữa người dân và chính phủ bảo đảm an toàn bí mật, và một kiến trúc công việc chung trong cả nước, đó hai nổ lực cho sáng kiến là xác nhận điện tử (e-Authentication) và dự án kiến trúc chính phủ điện tử xí nghiệp

• Việc sáng kiến e-Authentication sẽ xây dựng và có sự tín nhiệm lẫn nhau cho việc cung cấp diện rộng việc sử dụng điện tử để tương tác giữa quần chúng và chính phủ và thông qua chính phủ cung cấp những giải pháp chung cho việc thiết lập “tính đồng nhất”(identity) Những giải pháp sẽ là vấn đề bảo mật xác nhận địa chỉ, bí mật, và chữ ký điện tử cần thiết cho việc sáng kiến một chính phủ điện tử

• Dự án kiến trúc chính phủ điện tử sẽ tiến hành hai chuyên đề đồng thời hoạt động Một trong những hoạt động sẽ là sự phát triển của một kiến trúc, để hướng tới sự phát triển của một kiến trúc xí nghiệp toàn quốc, với từng sáng kiến hiện tại của chính phủ điện tử như là một hạt nhân tốt của tập hợp những mô hình kỹ thuật chuẩn tới những giải pháp kỹ thuật thuận lợi Hoạt động thứ hai sẽ là sự tập hợp và phân tích của thông tin kiến trúc dữ liệu và công việc thông qua chính phủ cho việc xác định những cơ hội cho việc sáng kiến chính phủ điện tử và loại ra những dư thừa Khởi đầu sự nổ lực này sẽ tập trung trên bốn vùng chính bao gồm An ninh Quốc gia, sự kích thích kinh

tế, các cơ quan dịch vụ xã hội, và đằng sau của những họat động văn phòng

Trang 14

7 Thực hiện:

Căn cứ vào việc định hướng và những hoạt động dư thừa và lỗi thời hiện có trong 6,600 giao dịch trực tuyến, vậy để thực hiện thành công Chính phủ điện tử phải có những tương tác ý nghĩa Có vài trăm cơ hội cho từng yêu cầu thay đổi có ý nghĩa từ những tiếp cận quan liêu truyền thống Ta xác định rằng để thực hiện những thành công sẽ khó khăn nếu thiếu đi những cơ hội được ưu tiên và sự hấp dẫn hàng đầu cho việc tập trung tài nguyên trên những sáng kiến đó cho ra những kết qủa tối ưu Vì vậy, những sáng kiến được chọn ngăn cản một sự cân bằng của những sáng kiến và tài nguyên thông qua bốn nhóm công dân chính (những cá nhân (individuals), các doanh nghiệp (businesses), giữa các chính phủ (intergovernment) và nội bộ (internal) Những sáng kiến sẽ hợp nhất hàng chục sự chồng chéo của những dự án Chính phủ điện tử ở các cơ quan mà sẽ cho ra những lỗi của sự sắp xếp khó hiểu của các Web site để đi đến sự thống nhất

Những sáng kiến sẽ được quản lý sử dụng một danh mục quản lý việc xử lý, mà những quản lý rủi ro trong phạm vi của những sáng kiến cho việc phát triển dịch vụ nhóm trung tâm công dân đã có Có bốn danh mục và chiến lược trọng tâm của chúng là:

• Chính phủ với Công dân ( Government to Citizen (G2C)) Truy cập trực

tuyến tới những những lợi ích cần thiết, và những dịch vụ Chúng cũng sẽ mang lại những công cụ quản lý quan hệ hiện đại cho việc phát triển chất lượng và hiệu qủa của sự phân phối dịch vụ

• Chính phủ với Doanh nghiệp (Government to Business(G2B)) Những

sáng kiến sẽ giảm đi rào cản cho những doanh nghiệp bằng cách làm theo những xử lý mà đột ngột làm giảm đi dư thừa tập hợp dữ liệu, cung cấp một cửa tạo luồng hổ trợ cho những doanh nghiệp, và quan hệ kỹ thuật số với các doanh nghiệp sử dụng ngôn ngữ của thương mại điện tử (XML)

Doanh Nghiệp

Hiệu suất và Hiệu qủa trong nội bộ

Chính phủ Chính phủ

Người dân

Trang 15

• Chính phủ với Chính phủ (Government to Government(G2G)) Những

sáng kiến sẽ chia sẽ thông tin và thống nhất của cả nước, tỉnh thành và các dữ liệu cục bộ tới việc dễ dàng tạo lực đòn bẩy của sự đầu tư những hệ thống công nghệ thông tin tốt hơn (chẳng hạn thông tin địa lý) và cung cấp sự thống nhất tốt hơn của những hoạt động chính của chính phủ như sự đối phó với tai họa, thiên tai Những sáng kiến G2G cũng phát triển những khả năng chứng nhận (thực hiện theo luật) Những sáng kiến sẽ cũng hổ trợ cho những yêu cầu thống nhất cho một Quốc gia

• Hiệu qủa và Hiệu suất trong nội bộ (Internal Efficiency and Effectiveness (IEE)) những sáng kiến mang lại những thủ tục thương mại

tốt nhất tới những hoạt động chính của chính phủ, cung cấp việc quản lý dây chuyền đặc biệt, quản lý quan hệ con người, quản lý tài chính và tài liệu công việc

Tổng quan, những sáng kiến trình bày một cơ hội tới sự hiệu qủa hơn phải sử dụng hàng nghìn tỉ đồng từ ngân sách nhà nước, trong khi chính phủ đáp ứng về thời gian nhanh hơn từ vài tuần xuống vài phút Thêm vào đó, những sáng kiến cung cấp một cơ hội cho việc tiết kiệm hàng nghìn tỉ đồng mà hiện tại nhân dân, các doanh nghiệp và các tỉnh thành và chính quyền địa phương phải tiêu tốn do phải tuân theo việc xử lý công việc của chính quyền là làm việc nhiều trên giấy tờ

Tuy nhiên, việc thanh toán (pay-off) sẽ không có kết qủa từ những xử lý tự động hiện tại, vậy thà chấm dứt còn hơn phải thay đổi những quan hệ giữa chính quyền với nhân dân và khách hàng như thế nào Duy nhất thông qua sự thay đổi là chúng ta thực hiện việc kinh doanh bên trong như thế nào - đó là, xử lý công việc theo luồng tới việc thực hiện thuận lợi của những hệ thống công nghệ thông tin hiện đại - kinh nghiệm nhân dân sẽ được thay đổi trong các dịch vụ chính phủ điện tử

8 Cơ sở hạ tầng của chính phủ điện tử :

Việc phát triển của cơ sở hạ tầng của công nghệ thông tin và truyền thông là phạm vi tất yếu đã được xác định qua nhiều Chính phủ, đây là lĩnh vực chính cho việc phát triển của các Quốc gia Công nghệ được nhấn mạnh quá mức đã làm phương hại đến các thành phần khác, và vì thế điều đó sẽ không được bàn luận ở đây

Về mặt Tổ chức, ở đó có thể có giá trị tốt cho việc phân chia rõ ràng trách nhiệm cho cơ sở hạ tầng công nghệ chính phủ điện tử cơ bản tới việc tạo nên

Trang 16

một hình thể cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông của một quốc gia những trách nhiệm nào của cơ sở hạ tầng qua tất cả phạm vi của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, không phải chỉ việc cai quản điện tử (e-governance) Những hình thể với loại chức năng này đã tồn tại trong các quốc gia đang phát triển Mục đích là bảo đảm rằng Cai quản điện tử thì không được kém hiệu qủa từ công việc của điều đó như chiến lược, cấu trúc và xử lý, và ở đó nó được giữ lại để hiểu rằng công nghệ là người hầu của việc cai quản tốt, và thực hiện chính phủ điện tử Phần thân cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin và truyền thông, như quy hoạch và quan sát danh sách các công nghệ, nó cũng sẽ cần thiết cho việc tập trung trên những tiêu chuẩn và những chính sách cần thiết cho việc thực hiện sự tiện lợi của công nghệ

i n tho i Tivi T ng Các Kios Máy tính H i ngh

Di đ ng K thu t s đài cá nhân t xa Nh ng thi t b

truy n

d li u Web

M ng n i b Internet (Intranet)

Trang 17

Sự tín nhiệm dựa trên vật trung gian (bao gồm cơ sở hạ tầng của CNTT và truyền thông-của chính các cơ quan tổ chức và con người) phải được công nhận như một tính xác thực tại các quốc gia đang phát triển đã qui định rằng quyền sở hữu CNTT và truyền thông không phải là một lựa chọn cho hầu hết mọi người Những sáng kiến Kỹ thuật cần thiết cho việc chứng nhận điều này và hợp nhất sự nhận diện và hổ trợ cho những vật trung gian với những lĩnh vực công (public), tư (private)

Trang 18

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

I HIỆN TRẠNG:

Trong những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự đổi mới và phát triển kinh tế, và nhu cầu thông tin trong cuộc sống và trong công việc các cơ quan chính phủ (CQCP) của Việt Nam ở mức độ khác nhau đã có những cố gắng nhất định trong việc đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào phục vụ các hoạt động quản lý nhà nước Nhiều cố gắng đã đem lại những hiệu quả đáng kể trong việc hiện đại hóa hoạt động của các cơ quan chính phủ như Văn phòng Chính phủ, các Bộ/Ngành, Uûy ban nhân dân (UBND) một số tỉnh, thành và các đơn vị khác

Tuy nhiên có thể nhận thấy là cho đến hiện nay các ứng dụng CNTT chủ yếu mới được ứng dụng phục vụ các thao tác xử lý dữ liệu tác nghiệp và nghiệp vụ (operational system) như quản trị hồ sơ nhân sự, quản trị tài chính, quản trị công văn - văn bản, Đồng thời các ứng dụng CNTT cũng hầu như chỉ dừng ở việc phục vụ cho các hoạt động nội bộ của CQCP chứ chưa được sử dụng rộng rãi như một công cụ hiệu quả để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng xã hội như công dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội,

Trước thách thức của quá trình phát triển và hội nhập, Chính phủ đã có những quyết sách mạnh mẽ nhằm đưa ứng dụng CNTT vào phục vụ hoạt động của các cơ quan và tổ chức chính phủ

II GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ:

1 Giải pháp:

Để đáp ứng nhu cầu bức thiết ở trên, có một số giải pháp được đưa ra cho việc xây dựng các giải pháp công nghệ (technology solution) trong lĩnh vực chính phủ điện tử:

S1 IRS (Internal Reporting System - hệ thống báo cáo nội bộ): là giải pháp xây dựng hệ thống thông tin và báo cáo nội bộ của một CQCP nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin nội bộ từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên và các thông tin luân chuyển ngang cấp

S2.SIS (Social Information System - hệ thống thông tin xã hội): là giải pháp xây dựng hệ thống phổ biến thông tin xã hội giúp CQCP đáp ứng nhu cầu của các đối tượng quản lý trong chức năng quản lý nhà nước của mình

Trang 19

S3.QAS (Questions & Answers System - hệ thống hỗ trợ công dân): trả lời các

ý kiến, hỏi đáp, thông tin liên quan đến chức năng và hoạt động của CQCP S4.GSS (Government Servey System - hệ thống điều tra xã hội): đây là hệ thống giúp CQCP tổ chức các điều tra xã hội và xử lý kết quả điều tra

Để đáp ứng từng yêu cầu riêng biệt và sự thống nhất của các hệ thông tin chính phủ, tất cả các giải pháp phải được xây dựng trên nền Internet và các công nghệ tiên tiến hiện đại ( tại thời điểm triển khai).Việc xây dựng trên nền tảng Internet và các công nghệ hiện đại nhằm tạo sự ổn định lâu dài và hiệu qủa từ công nghệ hiện đại đem lại

2 Xây dựng giải pháp:

2.1 Những vấn đề chung của giải pháp :

2.1.1 Hạ tầng kỹ thuật và truyền thông:

2.1.1.1 Hạ tầng thiết bị

Khi thực hiện đòi hỏi hệ thống thiết bị tiêu chuẩn của các mạng LAN, WAN trung bình hiện tại thời điểm triển khai Yêu cầu thiết bị có thể tăng cao khi hệ thống có yêu cầu hoạt động trên diện rộng trong phạm vi địa lý lớn Khi đó yêu cầu chủ yếu liên quan đến hệ thống truyền thông với các tiêu chuẩn kết nối của Internet phù hợp với cường độ vận hành hệ thống

2.1.1.2 Hệ thống mạng

Xây dựng các hệ thống trên môi trường Microsoft với hệ điều hành mạng WindowsNT, ASP, IIS Và sử dụng CSDL là các hệ thống client/server chuẩn như Microsoft SQL Server, Oracle Nếu máy chủ CSDL được tách riêng có thể sử dụng hệ điều hành UNIX, LINUX.

2.1.1.3 Môi trường máy trạm

Môi trường máy trạm là PC với hệ điều hành Windows 98, 2000, XP chế độ màn hành tối ưu là 800 x 600 và sử dụng IE 5.0 trở lên Tuy nhiên hệ thống vẫn hoạt động tốt với các chế độ màn hình khác

2.1.1.4 Tiếng Việt

Dữ liệu và các giao diện cập nhật nên sử dụng chung một font thống nhất như bộ font chữ Unicode TCVN 6909 Đối với các giao diện khai thác dữ liệu người sử dụng có thể chọn sử dụng bất kỳ bộ phông chữ tiếng Việt nào trong số: Unicode, VNI, TCVN3 và cả tiếng Việt không dấu Hệ thống sẽ tự

Trang 20

động chuyển đổi dữ liệu gốc thành dữ liệu hiện thị tức thời tại thời điểm NSD truy cập Dữ liệu gốc vẫn được lưu trữ với bộ mã Unicode TCVN

6909

2.1.2 Các tài liệu liên quan:

Các tiêu chuẩn dịch vụ CPĐT trên thế giới

Mô tả giải pháp IRS, SIS, QAS, GSS

2.2 Các giải pháp:

Sau đây mô tả chi tiết 2 giải pháp để nhìn rõ ràng về các thành phần và các chức năng để xây dựng một chính phủ điện tử là Hệ thống báo cáo nội bộ và Hệ thống thông tin xã hội

A Hệ thống báo cáo bội bộ:

1 Mục tiêu và Giải pháp IRS :

IRS là giải pháp công nghệ phần mềm nhằm xây dựng hệ thống thông tin nội bộ của một CQCP cụ thể trong đó tập trung vào hệ thống xử lý dữ liệu báo cáo, kết hợp với hoạt động và xử lý dữ liệu của các chuyên viên trong mỗi lĩnh vực chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của:

1 Lãnh đạo các cấp, đặc biệt là lãnh đạo cấp cao nhất của tổ chức

2 Lãnh đạo và cơ quan quản lý cấp trên trong hệ thống ngành dọc

3 Lãnh đạo các cơ quan quản lý ngang cấp, ví dụ như các sở của cùng một

4 Các chuyên viên, chuyên gia trong mỗi lĩnh vực chuyên môn cụ thể

trong hoạt động của CQCP

Tập trung đáp ứng các nhu cầu quản lý (thay vì các nhu cầu tác nghiệp thuần túy) là mục tiêu quan trọng nhất của hệ thống IRS trong đó có nhu cầu được cung cấp thông tin (báo cáo) và nhu cầu phổ biến các quyết định, tài liệu, văn bản, chỉ thị của lãnh đạo cấp trên xuống các cấp dưới (phổ biến)

Như vậy IRS không nhằm xây dựng các hệ thống ứng dụng tác nghiệp (ví dụ: hệ thống hồ sơ cán bộ, hệ thống kế toán, hay các hệ thống tác nghiệp theo chức năng chuyên môn như quản lý đăng ký nhà đất, ) mà nhằm mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý trên cơ sở tổng hợp dữ liệu từ nhiều hệ thống tác nghiệp đang có (hoặc sẽ có) trong tổ chức,

Trang 21

kết hợp với quá trình phân tích, tổng hợp, đánh giá, dự báo, của các chuyên viên trong mỗi lĩnh vực hoặc bộ phận chức năng chuyên môn

2 Chức năng IRS:

IRS nhằm mục đích xây dựng các hệ thống ứng dụng với các nhóm chức năng (CN) chủ yếu sau đây:

CN1 Chức năng cung cấp thông tin quản lý - đây là nhóm chức năng cung cấp

các thông tin đã được xử lý đến các đối tượng sử dụng theo thẩm quyền Đây là giao diện sử dụng chính dành cho đối tượng phục vụ của hệ thống, chủ yếu là các nhà lãnh đạo, quản lý các cấp

CN2 Chức năng phổ biến thông tin - là nhóm chức năng phục vụ đông đảo

người sử dụng trong tổ chức Nhóm chức năng này đảm nhiệm việc phổ biến các quy trình, quy định, chỉ thị, thông tin chung trong phạm vi tổ chức

CN3 Chức năng xử lý, tổng hợp - đây là nhóm chức năng trọng tâm, đảm

nhiệm việc xử lý các dữ liệu tác nghiệp, kết hợp với thông tin từ hoạt động của các chuyên viên để tạo nên các dữ liệu tổng hợp phục vụ công tác quản lý, lãnh đạo Nhóm chức năng xử lý, tổng hợp phục vụ trực tiếp cho hoạt động của các bộ phận chức năng trong các tổ chức

CN4 Nhóm chức năng thu thập dữ liệu - nhóm này bao gồm các “giao diện dữ

liệu” (data interfaces) của hệ quản lý với các hệ thống tác nghiệp và các chức năng cập nhật dữ liệu không có hoặc chưa có trong các hệ thống tác nghiệp của tổ chức Đối với các tổ chức đã có những hệ thống tác nghiệp chủ yếu, các giao diện dữ liệu sẽ giúp giảm thiểu nguồn lực cho việc nhập liệu đồng thời đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán giữa dữ liệu tác nghiệp và thông tin quản lý

CN5 Nhóm chức năng kết nối - là nhóm chức năng tạo các kết nối thông tin và

dữ liệu đối với các hệ thống khác (hệ thống cấp trên, hệ thống của các cơ quan ngang cấp, các hệ thống chuyên ngành, )

CN6 Quản trị và hỗ trợ hệ thống - đây là nhóm chức năng đảm bảo cho vận

hành hệ thống bao gồm các chức năng quản trị sử dụng, bảo mật, đảm bảo an toàn thông tin và các chức năng hỗ trợ duy trì hệ thống

IRS xây dựng các giải pháp và công cụ tiêu chuẩn cho mỗi nhóm hoặc mỗi chức năng cụ thể Các chức năng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu cụ thể của mỗi tổ chức, cơ quan và bài toán trọng tâm được đặt ra Giao diện cuối cùng của người sử dụng sẽ được thiết kế theo yêu cầu

Trang 22

3 IRS - Kiến trúc phần mềm:

IRS là một giải pháp công nghệ tổng thể với trọng tâm là hệ thống cơ sở dữ liệu và phần mềm ứng dụng IRS có cấu trúc kết hợp giữa hai phần: phần cố định và phần thay đổi được tích hợp theo các tiêu chuẩn thống nhất Các hệ thống được xây dựng bởi giải pháp IRS sẽ là hệ thống tích hợp của các module phần mềm căn bản (software components - SC) theo những sơ đồ và cấu trúc khác nhau Dưới đây là mô tả các SC và nhóm SC chính của hệ thống:

SC1 Các giao diện người sử dụng (NSD), là nhóm thành phần thay đổi, được thiết kế theo yêu cầu của từng khách hàng và từng hệ thống cụ thể Giao diện NSD của IRS được thiết kế trên nền công nghệ Internet, NSD có thể truy cập và khai thác hệ thống chủ yếu bằng các trình duyệt web (web browser)

SC2 Các công cụ xử lý dữ liệu tổng hợp, đây là các components “ẩn”, chúng được sử dụng trong các giao diện thuộc nhóm SC1 Các component thuộc nhóm này khởi tạo các kết nối với CSDL, tổng hợp dữ liệu báo cáo, hoặc hiển thị thông tin trong nhóm chức năng phổ biến SC2 là nhóm bao gồm cả hai loại cố định và thay đổi theo yêu cầu của mỗi loại bài toán cụ thể

SC3 Là bộ công cụ nhằm giúp các chuyên viên và cán bộ thuộc các bộ phận tham mưu chuyển tải kết quả phân tích, tổng hợp, dự báo, kế hoạch, thành dữ liệu của hệ thống Nhóm chức năng này cũng bổ sung các dữ liệu tác nghiệp chưa có hệ thống ứng dụng riêng để tạo nên bức tranh thông tin tổng thể của tổ chức

SC4 Bộ công cụ giao diện dữ liệu, là nhóm SC biến đổi phụ thuộc vào các ứng dụng tác nghiệp đang và sẽ được triển khai trong tổ chức Các SC này đảm nhiệm việc khai thác dữ liệu tác nghiệp chuyên môn, tổng hợp thành các dữ liệu phục vụ lãnh đạo quản lý

SC5 Bộ công cụ truyền thông, đây là bộ SC tương đối cố định đảm nhiệm việc kết nối, chuyển tải thông tin giữa các đơn vị và đối tượng khác nhau Công cụ truyền thông của IRS chủ yếu được xây dựng trên giao thức truyền thông TCP/IP và các giao thức, tiêu chuẩn Internet

SC6 Bộ công cụ giao diện ngoài đảm nhiệm chức năng trao đổi dữ liệu với hệ thống ngoài SC6 gồm phần cố định khi hệ thống kết xuất dữ liệu và phần có thể cố định, có thể thay đổi khi hệ thống nhận dữ liệu từ hệ thống bên ngoài

Trang 23

SC7 Bộ công cụ quản trị người sử dụng Đây là bộ công cụ cố định, được thiết kế phù hợp với các tiêu chuẩn quản lý NSD tiên tiến nhất Có thể áp dụng cho nhiều hệ thống khác nhau

SC8 Bộ công cụ bảo mật Cũng là các công cụ cố định được xây dựng trên cơ sở khai thác các giải pháp công nghệ bảo mật tiên tiến

Bộ công cụ bảo trì hệ thống, đảm nhiệm chức năng bảo trì hoạt động, thống kê truy cập, backup dữ liệu, khôi phục dữ liệu,

4 Kết luận:

Chuyển phạm vi ứng dụng từ các thao tác xử lý dữ liệu thuần tuý sang phục vụ các nhu cầu quản lý hoạt động Từ phục vụ các nhu cầu nội tại sang phục vụ các yêu cầu của công dân và xã hội theo chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan chính phủ là xu hướng quan trọng nhất và là định hướng chủ đạo cho các ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước và chính phủ hiện nay Riêng biệt, phù hợp với chức năng và đặc thù hoạt động của mỗi đơn vị đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn và giao thức chung để có thể liên kết với các hệ thống khác trong một tổng thể thống nhất là yêu cầu tất yếu cho mỗi giải pháp ứng dụng trong các cơ quan chính phủ

Khác với các tổ chức khác (ví dụ: doanh nghiệp), hoạt động của các cơ quan chính phủ có liên hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống nhà nước đồng thời có liên hệ trực tiếp với xã hội (công dân, tổ chức, doanh nghiệp, ) Các hệ thống tin học chỉ thực sự phát huy được tác dụng khi đáp ứng được yêu cầu liên quan đến các quan hệ đó Vấn đề chỉ được giải quyết khi Internet được sử dụng như nền tảng công nghệ và xã hội của các hệ thống tin học ứng dụng

Các hệ thống tác nghiệp không thể đáp ứng nhu cầu của lãnh đạo các cấp vì mỗi lĩnh vực tác nghiệp cụ thể (ví dụ kế toán - tài chính) chỉ phản ánh hoạt động của tổ chức từ một khía cạnh cụ thể Trong khi đó để điều hành hoạt động của tổ chức, các nhà lãnh đạo cần được cung cấp kịp thời các thông tin tổng hợp từ tất cả hoặc từ các lĩnh vực quan trọng nhất Nhu cầu này chỉ có thể được đáp ứng bằng các hệ thống chuyên nghiệp, được xây dựng phục vụ quản kết hợp với lao động của các chuyên viên

Đặc điểm quan trọng nhất của các hệ thông tin quản lý là tính chất cô đọng, tập trung của các thông tin cuối cùng phục vụ việc ra quyết định trong công

Trang 24

tác quản lý, điều hành Các thông tin này lại được tổng hợp từ số lượng rất lớn các dữ liệu tác nghiệp, các dữ liệu này lại thường không có đầy đủ từ tất cả các lĩnh vực hoạt động Chính vì vậy thông tin báo cáo lãnh đạo ít khi được tổng hợp thuần tuý từ các hệ tác nghiệp một cách tự động mà thường cần được kết hợp với thông tin từ hoạt động của các chuyên viên (phân tích, xử lý, dự báo, kế hoạch, ) Những đặc điểm trên đây đòi hỏi giải pháp tổng hợp để xây dựng một hệ thông tin quản lý hiệu quả

Khó khăn lớn nhất khi triển khai các hệ thống tin học ứng dụng trong các tổ chức chính phủ là việc không thể sử dụng các phần mềm đa dụng sẵn có trên thị trường

Trong khi đó quá trình xây dựng các hệ thống theo dự án lại thường kéo dài, không tính hết được khả năng thay đổi và chất lượng thấp cao do thiết kế và phần mềm mới được lập lần đầu tiên, chưa được thử nghiệm trong thực tế Thực tiễn đó đòi hỏi một cách nhìn, cách tư duy mới Hệ thống ứng dụng cần phải được xây dựng bằng giải pháp công nghệ được thiết lập trước, trên cơ sở các components được tích hợp một cách linh hoạt và một bộ phận lớn trong số đó đã được kiểm tra, kiểm nghiệm và đảm bảo độ tin cậy cần thiết

Hệ thống IRS có khả năng vận hành được trên tất cả những môi trường hiện được trang bị trong hệ thống các cơ quan chính phủ

IRS hoạt động tốt mà không đòi hỏi quá nhiều về tài nguyên phần cứng cũng như những phần mềm đi kèm Ngoài ra, IRS cũng có thể được cài đặt để chạy trên môi trường Internet hiện thời tại Việt Nam

B Hệ Thống Thông Tin Xã Hội:

1 Mục tiêu của giải pháp SIS :

SIS là giải pháp công nghệ phần mềm nhằm xây dựng hệ thống thông tin xã hội của một cơ quan chính phủ (CQCP) Giải pháp nhằm tập trung vào hệ thống giới thiệu thông tin về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như các thông tin có liên quan tới kế hoạch phát triển, quy hoạch của tổ chức CQCP nhằm đáp ứng nhu cầu về thông tin của:

Các cơ quan chính phủ cấp trên, ngang cấp và cấp dưới khác

Người dân, người lao động và các công ty, doanh nghiệp nhà nước, tư nhân

Trang 25

Chính phủ và người dân của các nước khác, kiều bào Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài

SIS sẽ giúp đỡ CQCP mở rộng quan hệ với các CQCP khác, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường giao tiếp với người dân, tăng cường tính dân chủ, công khai trong hoạt động, các chính sách của các cơ quan chính phủ

Mục tiêu quan trọng nhất của giải pháp SIS là đáp ứng các nhu cầu về tra cứu thông tin của người dân, người lao động, doanh nghiệp và các tổ chức nước ngoài cũng như việc giúp đỡ CQCP lấy ý kiến đóng góp phản hồi của những đối tượng sử dụng này

Như vậy SIS không nhằm xây dựng những hệ thống thông tin trong nội bộ

CQCP hay xây dựng các hệ thống ứng dụng tác nghiệp mà SIS sẽ là một cổng giao tiếp đa kênh của CQCP với bên ngoài nhằm phân loại, chỉ rõ và miêu tả những thông tin và dịch vụ của chính phủ giúp người dân với những mức độ hiểu biết và kỹ năng khác nhau dễ dàng nhận ra, khám phá và truy cập

2 Ch c n ng SIS:

SIS nhằm mục đích xây dựng các kênh thông tin giao tiếp, phổ biến thông tin của chính phủ với các nhóm chức năng chủ yếu sau đây:

CN1 Chức năng cung cấp, thể hiện thông tin - đây là nhóm chức năng cung

cấp các thông tin đã được xử lý đến các đối tượng sử dụng Toàn bộ thông tin của hệ thống sẽ được phân loại và nhóm theo những chủ để, lĩnh vực và tiêu chí khác nhau nhằm giúp người sử dụng dễ dàng hơn trong công việc tra cứu dữ liệu Ngoài ra, CN1-SIS còn cung cấp cho người sử dụng các cổng (Portal) giao tiếp với các cơ quan chính phủ khác

CN2 Chức năng tìm kiếm thông tin - Chức năng này nhằm cung cấp cho người

sử dụng các công cụ tra cứu thông tin theo toàn văn (Fulltext Search) hoặc tìm kiếm theo một vài nhóm tiêu chí của thông tin (Category) đã được định nghĩa trước

CN3 Chức năng thu thập thông tin phản hồi - Nhóm chức năng này sẽ cung

cấp tới người sử dụng những công cụ đơn giản như form, email nhằm hỗ trợ người sử dụng cập nhật các ý kiến đóng góp tới cơ quan chính phủ

Trang 26

CN4 Chức năng cập nhật thông tin - là nhóm chức năng hỗ trợ những người

biên tập thông tin hệ thống có thể dễ dàng cập nhật, chỉnh sửa, thay đổi hoặc xoá thông tin SIS-CN4 còn cung cấp tới người sử dụng một quy trình soạn thảo thông tin (Workflow) nhằm đảm bảo thông tin cung cấp tới người dân qua hệ thống SIS an toàn, chính xác, ngắn gọn và chất lượng thông tin cao

CN5 Chức năng kết nối dữ liệu - Cùng với chức năng CN4 giúp người sử dụng

cập nhật thông tin trực tiép, SIS còn cung cấp các nhóm chức năng có khả năng kết nối với hệ thống dữ liệu khác (ví dụ: Hệ thống thông tin nội bộ IRS, hệ thống quản lý nhân sự, các hệ thống tác nghiệp ) tạo ra một kênh thông tin đầu vào khác cho hệ thống

CN6 Quản trị và hỗ trợ hệ thống - Đây là chức năng đảm bảo cho hệ thống vận

hành tốt bao gồm các chức năng quản trị người sử dụng, quản trị phân loại

thông tin, bảo mật, mã hoá và đảm bảo an toàn thông tin

SIS xây dựng các giải pháp và công cụ tiêu chuẩn cho mỗi nhóm hoặc mỗi chức năng cụ thể Các chức năng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu cụ thể của mỗi tổ chức, cơ quan và bài toán trọng tâm được đặt ra Giao diện cuối cùng của người sử dụng sẽ được thiết kế theo yêu cầu

3 SIS – Kiến trúc kỹ thuật phần mềm:

SIS là một giải pháp công nghệ tổng thể với trọng tâm là hệ thống cơ sở dữ liệu và các kênh thông tin giao tiếp SIS có cấu trúc kết hợp giữa hai phần: phần cố định và phần thay đổi được tích hợp theo các tiêu chuẩn thống nhất Các hệ thống được xây dựng bởi giải pháp SIS sẽ là hệ thống tích hợp của các module phần mềm căn bản (software components - SC) theo những sơ đồ và cấu trúc khác nhau Dưới đây là mô tả các SC và nhóm SC chính của hệ thống: SC1 Các giao diện người sử dụng (NSD), là nhóm thành phần thay đổi, được thiết kế theo yêu cầu của từng khách hàng và từng hệ thống cụ thể Giao diện NSD của SIS được thiết kế trên nền công nghệ Internet giúp cho NSD có thể truy cập và khai thác hệ thống chủ yếu bằng các trình duyệt web (web browser) hoặc được xây dựng bằng các ứng dụng phần mềm (Software Application)

Trang 27

SC2 Bộ công cụ thu thập thông tin phản hồi, là nhóm các công cụ cố định hỗ trợ email, form hoặc các forum Bộ công cụ này có thể tuỳ biến theo yêu cầu cụ thể của NSD

SC3 Bộ công cụ giao diện dữ liệu, là nhóm SC biến đổi phụ thuộc vào các ứng dụng tác nghiệp đang và sẽ được triển khai trong tổ chức các SC này có nhiệm vụ lấy dữ liệu từ các hệ thống ngoài để làm dữ liệu của hệ thống hoặc truyển đổi toàn bộ hoặc 1 phần dữ liệu ngoài thành dữ liệu của hệ thống

SC4 Bộ công cụ truyền thông, đây là bộ SC tương đối cố định đảm nhiệm việc kết nối, chuyển tải thông tin giữa các đơn vị và đối tượng khác nhau Công cụ truyền thông của SIS chủ yếu được xây dựng trên giao thức truyền thông TCP/IP và các giao thức, tiêu chuẩn Internet

SC5 Bộ công cụ giao diện ngoài đảm nhiệm chức năng trao đổi dữ liệu với hệ thống ngoài SC6 gồm phần cố định khi hệ thống kết xuất dữ liệu và phần có thể cố định, có thể thay đổi khi hệ thống nhận dữ liệu từ hệ thống bên ngoài Bộ công cụ này còn đảm nhận nhiệm vụ tạo ra các cổng thông tin (Portal) của hệ thống

SC6 Bộ công cụ hỗ trợ tìm kiếm toàn văn (Fulltext Search), là bộ công cụ độc lập đảm nhiệm chức năng tìm kiếm, đánh chỉ mục các thông tin tĩnh của hệ thống

SC7 Bộ công cụ xử lý tiếng Việt, là bộ công cụ cố định có nhiệm vụ truyển đổi các bảng mã tiếng việt khác nhau thành các bảng mã mà hệ thống sẽ thể hiện SC7 hỗ trợ toàn bộ các mã tiếng việt chuẩn bao gồm TCVN3, VNI, Unicode, tiếng việt không dấu

SC8 Bộ công cụ quản trị người sử dụng Đây là bộ công cụ cố định, được thiết kế phù hợp với các tiêu chuẩn quản lý người sử dụng tiên tiến nhất Có thể áp dụng cho nhiều hệ thống khác nhau

SC9 Bộ công cụ bảo mật Cũng là các công cụ cố định được xây dựng trên cơ sở khai thác các giải pháp công nghệ bảo mật tiên tiến

Bộ công cụ bảo trì hệ thống, đảm nhiệm chức năng bảo trì hoạt động, thống kê truy cập, backup dữ liệu, khôi phục dữ liệu,

4 Kết luận:

Trang 28

Ngày này, nhu cầu tìm hiểu về các thông tin của nhân dân, các công ty, doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài là rất lớn Một hệ thống thông tin xã hội của chính phủ điện tử có nghĩa là mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu đều có thể truy cập trực tiếp vào các văn phòng, CQCP thông qua một loạt các hệ thống Website trên Internet

Hệ thống thông tin xã hội SIS hỗ trợ các CQCP phát triển những mối quan hệ đứng đắn, để cho phép những thông tin và dịch vụ giống nhau có thể được phân phối thông qua một tập hợp các kênh giao tiếp

Các chức năng của hệ thống thông tin xã hội nhằm phát triển những phương thức truyền dữ liệu trên Internet mà sẽ cho phép thông tin có thể chia sẻ và tích hợp theo chiều dọc và chiều ngang xuyên suốt các tổ chức chính phủ giảm bớt tiến trình xử lý những bộ dữ liệu giống nhau, trùng lặp, tạo thuận lợi cho ngưòi sử dụng dễ dàng tra cứu, tìm kiếm thông tin

Các chức năng hoặc nhóm chức năng của một hệ thống thông tin xã hội cần phải được thiết kế để mang tính mềm dẻo, có khả năng mở rộng cũng như nâng cấp nhanh chóng Các chức năng này cũng có thể dễ dàng chuyển đổi (customize) tuỳ thuộc theo yêu cầu của mỗi bài toán cụ thể

Khó khăn lớn nhất khi triển khai các hệ thống tin học ứng dụng trong các tổ chức chính phủ là việc không thể sử dụng các phần mềm đa dụng sẵn có trên thị trường

Trong khi đó quá trình xây dựng các hệ thống theo dự án lại thường kéo dài, không tính hết được khả năng thay đổi và chất lượng thấp cao do thiết kế và phần mềm mới được lập lần đầu tiên, chưa được thử nghiệm trong thực tế Thực tiễn đó đòi hỏi một cách nhìn, cách tư duy mới Hệ thống ứng dụng cần phải được xây dựng bằng giải công nghệ được thiết lập trước, trên cơ sở các components được tích hợp một cách linh hoạt và một bộ phận lớn trong số đó đã được kiểm tra, kiểm nghiệm và đảm bảo độ tin cậy cần thiết

Hệ thống SIS có khả năng vận hành được trên tất cả những môi trường hiện được trang bị trong hệ thống các cơ quan chính phủ

SIS hoạt động tốt mà không đòi hỏi quá nhiều về tài nguyên phần cứng cũng như những phần mềm đi kèm Ngoài ra, SIS cũng được cài đặt để chạy ổn định trên môi trường Internet hiện thời tại Việt Nam và quốc tế

Trang 29

III HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ DỊCH VỤ CÔNG:

1 Mục tiêu:

- Nâng cao hiệu qủa, rút ngắn thời gian, tự động hóa, đơn giản hóa và làm gọn nhe các quy trình xử lý, giải quyết các dịch vụ công của các cơ quan nhà nước

- Thực hiện việc phục vụ cung cấp các dịch vụ công, nhất là các dịch vụ công mang tính liên ngành cho nhân dân theo chế độ “một cửa”: giảm các thủ tục phiền hà, giải quyết công việc nhanh chóng, gọn nhẹ và công minh theo đúng pháp luật

- Cung cấp các thông tin công cộng về Luật pháp, về các lĩnh vực dịch vụ công đến mọi người dân, nâng cao hiểu biết của nhân dân để mọi người thực hiện “sống và làm việc theo pháp luật”

2 Giải pháp:

Để thực hiện được mục tiêu, cần tiến hành thực hiện các giải pháp sau:

• Xây dựng một Web site công cộng

• Xây dựng hệ thống các hệ thống thông tin (HTTT) phục vụ dịch vụ công theo các lĩnh vực :

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất

- Cấp phép đầu tư

- Cấp phép xây dựng

- Đăng ký kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ thuế

- Tiếp nhận và giải quyết đơn khiếu nại tố cáo

• Kết nối các HTTT phục vụ dịch vụ công với các HTTT phục vụ điều hành và quản lý hành chính tại các cơ quan nhà nước với mục đích trao đổi thông tin hai chiều: cung cấp các dữ liệu và khai thác các dữ liệu

Qúa trình tin học hóa công tác điều hành và quản lý hành chính tại các cơ quan nhà nước và qúa trình tin học hóa phục vụ cung cấp các dịch vụ công cho nhân dân cần phải được tiến hành song song, không tách rời nhau, trong một tổng thể thống nhất để hình thành mô hình “chính phủ điện tử” của Tỉnh Công tác quản lý Nhà nước hướng tới phục vụ nhân dân là một trong những nội dung trọng tâm của quá trình đổi mới và cải cách hành chính

Trang 30

Về thực chất, chính các HTTT và các cơ sở dữ liệu (CSDL) phục vụ điều hành và quản lý tại các cơ quan nhà nước đóng vai trò nền về thông tin và dữ liệu mà trên đó Web site công cộng và các HTTT phục vụ dịch vụ công sẽ hoạt động

Sau đây là các nội dung cụ thể:

2.1 Xây dựng web site công cộng:

Web site công cộng là một giao diện tổng hợp trên Internet, sử dụng và liên kết với nhiều nguồn dữ liệu, nhằm:

• Đáp ứng nhu cầu về thông tin công cộng của các đối tượng nhân dân

• Tiếp nhận và trả lời kết qủa các dịch vụ công đối với dân

Web site công cộng sẽ bao gồm:

- Trang chủ: Thông tin chung về Tỉnh/Thành Phố, thông qua giới thiệu

Web site, khung các chức năng, nội dung khai khác

- Trang thông tin pháp luật phổ thông

- Trang thông tin kinh tế - xã hội

- Các trang Web phục vụ dịch vụ công

- Trang thời sự, báo chí: Các tờ báo điện tử của Trung ương, của địa

phương

- Trang thông tin đại chúng: Cung cấp thông tin tư vấn, hỏi đáp về các vấn

đề mà người dân có nhu cầu

2.2 Xây dựng và triển khai các HTTT phục vụ dịch vụ công:

Một HTTT phục vụ dịch vụ công về một lĩnh vực về cơ bản sẽ bao gồm các thành phần sau:

• Các CSDL và giao diện xử lý giao dịch được liên kết với nhau tại các cơ quan chịu trách nhiệm về cung cấp dịch vụ, có nhiệm vụ thu nhận, quản lý và lưu trữ toàn bộ các dữ liệu hồ sơ liên quan đến dịch vụ công được cung cấp

Ví dụ HTTT phục vụ cấp phép xây dựng gồm các CSDL và giao diện xử lý giao dịch được đặt tại Sở Xây dựng và Phòng xây dựng của UBND các Huyện/Thị

Trang 31

• Một Web site trên Internet nhằm phục vụ nhu cầu thông tin, nhu cầu cung cấp dịch vụ công cho nhân dân Web site này được nối trực tiếp với các CSDL nói trên, và là một thành phần của Web site công cộng

Như vậy, mỗi HTTT phục vụ dịch vụ công hình thành hai khối chức năng chính:

• Chức năng cung cấp dịch vụ công cho dân, bao gồm:

- Cung cấp và đáp ứng nhu cầu thông tin

- Tiếp nhận và cập nhật dữ liệu các hồ sơ yêu cầu cung cấp dịch vụ

- Thông báo, in, cung cấp các kết qủa (đáp ứng yêu cầu thông tin, trả kết qủa giải quyết)

• Chức năng xử lý và giải quyết dịch vụ công bên trong các cơ quan nhà nước, bao gồm:

- Thu nhận dữ liệu ban đầu (hồ sơ, yêu cầu thông tin)

- Gửi và nhận dữ liệu, trao đổi thông tin để giải quyết liên ngành

- Tạo lập, cập nhật dữ liệu mới (kết qủa giải quyết) ,

- Lưu trữ, cung cấp dữ liệu (cho các CSDL chuyên ngành),

- Kết xuất thông tin (phục vụ điều hành và quản lý)

Sau đây là mô tả nội dung một số HTTT phục vụ dịch vụ công dự định triển khai trong các năm 2002-2005 cùng với các dịch vụ chính mà HTTT sẽ cung cấp

• HTTT phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Cung cấp thông tin quản lý về quản lý đất đai cho nhân dân; thông tin liên quan đến quy hoạch đất đai, quy hoạch vùng

- Cung cấp thông tin về quy định, quy trình, điều kiện; các hướng dẫn thủ tụ, mẫu hồ sơ,… trong cấp phép sử dụng đất

- Thực hiện dịch vụ cấp quyền sử dụng đất: Tiếp nhận hồ sơ, trả lời kết qủa giải quyết hồ sơ

- Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai: Tiếp nhận đơn, thông báo kết qủa giải quyết

Các CQNN chính liên quan: Sở địa chính, các Phòng Địa chính , UBND Tỉnh,

cac UBND Huyện/Thị

• HTTT phục vụ cấp phép xây dựng

Trang 32

- Cung cấp thông tin pháp lý về quản lý xây dựng cho nhân dân: thông tin liên quan đến quy định xây dựng, quy trình đô thị

- Cung cấp thông tin về quy định, quy trình, điều kiện; các hướng dẫn thủ tục, mẫu hồ sơ,… trong cấp phép xây dựng

- Thực hiện dịch vụ cấp và theo dõi việc thực hiện giấy phép xây dựng : Tiếp nhận hồ sơ, thông báo và trả kết qủa giải quyết, các thông báo nhắc nhở trong qúa trình xây dựng công trình

- Giải quyết khiếu nại tố cáo trong xây dựng: Tiếp nhận đơn, thông báo kết qủa giải quyết

Các cơ quan chính quyền liên quan: Sở xây dựng, các Phòng Xây dựng

UBND Tỉnh, các UBND Huyện/Thị

• HTTT phục vụ cấp phép đầu tư

- Cung cấp thông tin pháp lý về đầu tư; thông tin kêu gọi đầu tư

- Cung cấp thông tin về quy định, quy trình, điều kiện; các hướng dẫn thủ tục, mẫu hồ sơ,… trong xin phép duyệt đầu tư

- Thực hiện dịch vụ xét duyệt và cấp phép đầu tư: Tiếp nhận hồ sơ, thông báo và trả về kết qủa giải quyết, các thông báo nhắc nhở

Các cơ quan chính liên quan : Sở Kế hoạch & Đầu tư, UBND Tỉnh, một số Sở khác tham gia: Sở Tài chính, Sở Địa chính, Sở Xây dựng, Sở Khoa Học Công Nghệ & Môi Trường

• HTTT phục vụ cấp đăng ký và quản lý kinh doanh

- Cung cấp thông tin pháp lý về hoạt động kinh doanh trên địa bàn

- Cung cấp thông tin về quy định, quy trình, điều kiện; các hướng dẫn thủ tục, mẫu hồ sơ,… trong đăng ký kinh doanh

- Thực hiện dịch vụ đăng ký kinh doanh:Tiếp nhận hồ sơ, thông báo và trả kết qủa giải quyết

- Thực hiện dịch vụ thu thuế của các tổ chức, cá nhân đã đăng ký kinh doanh

Các cơ quan chính liên quan : Sở Kế hoạch và Đầu tư, Phòng kế hoạch, UBND

Tỉnh, UBND Huyện/Thị, Cục Thuế, Phòng Thuế, một số Chính quyền khác tham gia: Sở Thương mại, Chi cục quản lý thị trường

• HTTT phục vụ đăng ký Hộ khẩu và dân cư

Trang 33

- Dịch vụ đăng ký hộ khẩu, đăng ký thường trú, tạm trú

- Các dịch vụ khác: Khai sinh, Đăng ký kết hôn, Chứng nhận giấy tờ,…

Các cơ quan chính liên quan: Công an, UBND Xã/Phường/Thị trấn; Công

an, UBND Huyện/Thị

• HTTT phục vụ tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại tố cáo

- Trả lời kết qủa giải quyết đơn thư

Việc xây dựng một HTTT phục vụ dịch vụ công bao gồm các nội dung:

• Xây dựng các CSDL và giao diện xử lý giao dịch

• Xây dựng Web site kết nối với CSDL

• Tạo nguồn dữ liệu cho các CSDL

IV ĐỊNH HƯỚNG VIỆC XÂY DỰNG CỔNG DỊCH VỤ CHO

Thứ hai là Cổng Chính phủ (Government Portal): Hình thành một cửa giao

dịch của Chính phủ đối với doanh nghiệp và đối với cả công dân Để làm sao họ nhìn thấy là họ không phải đi qua nhiều cửa như bây giờ và như vậy sẽ khuyến khích các công dân tận hưởng các dịch vụ của Chính phủ, đồng thời

Trang 34

khuyến khích các doanh nghiệp mở thêm nhiều doanh nghiệp mới thu hút được đầu tư nước ngoài cũng như đầu tư trong nước, để làm sao nền kinh tế có thể tăng trưởng được Ngoài ra, yếu tố tất yếu là khi có cổng của Chính phủ đồng thời là cửa để giao dịch với Chính phủ của các nước trong khu vực cũng như thông tin đối với mỗi quốc gia thì cửa giao dịch rất quan trọng

Các cộng đồng số (Digital Communities): Là rất quan trọng, bởi vì khi chúng

ta có hệ thống của Chính phủ, đã có hệ thống máy tính nhiều doanh nghiệp để có thể kết nối được với nhau và khai thác tối đa đúng với sức mạnh mà Internet cũng như hệ thống công nghệ thông tin mang lại, thì quan trọng nhất là những người sử dụng nó phải có nhiều vì thế để tạo ra được một cộng đồng, không phải chỉ những người, những gia đình có khả năng mua máy tính mà đồng thời những người nghèo cũng có khả năng truy cập, tiếp cận và giao tiếp với Nhà nước thông qua các kiốt, các điểm công cộng, ở đó họ cũng có thể vào Internet hoặc vào các cổng chính của Nhà nước để giao dịch với Nhà nước

- Từ những thực tế của Chính phủ và những nhu cầu cần thiết của người dân và doanh nghiệp trong việc quan hệ với Chính phủ mong muốn sự đơn giản hóa việc cấp phép kinh doanh, thủ tục giấy tờ phải qua nhiều cơ quan ban ngành và chờ chực nhiều ngày làm mất thời giờ, gây phiền phức và làm lúng túng cho người dân và doanh nghiệp Những điều này không phù hợp với xu thế của thế giới hiện nay khi mà Internet là một phần không thể thiếu của các Chính phủ và người dân trên thế giới, từ những sáng kiến của Microsoft đưa ra, chúng ta

nên cần phát triển hướng cổng dịch vụ cho cộng đồng (Government Portal),

điều này được chứng minh khi đa số các quốc gia trên thế giới chấp nhận

1 Viễn cảnh:

Viễn cảnh: Từ những thức tế của cuộc sống, những nhu cầu cần thiết của người dân sống trong cuộc sống mà chúng ta gắn chặc với thông tin từ nhu cầu việc làm, sức khỏe cộng đồng, du lịch, dự báo thời tiết Người sử dụng Web có thể bấm chuột vào Cổng của Thành phố trên màn hình trình duyệt và sau đó được dẫn tới một loạt một loạt các dịch vụ điện tử tiện lợi bao gồm mọi mặt quan trọng nhất của đời sống và mình muốn tìm, hoặc thực hiện những dịch vụ Ví dụ, một loạt các dịch vụ nằm trong mục “về địa chính nhà đất” có thể cho phép người dân đăng ký giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay quyền sử dụng đất, đổi/gia hạn giấy phép xây dựng sửa chữa nhà, xem tiến độ cấp phép, hoặc kiểm tra giá thuê nhà trung bình nơi cư trú, v.v

Trang 35

Những ý tưởng này có thể thành hiện thực nếu các quan chức lãnh đạo và các quan chức về công nghệ nhận thức và ủng hộ Họ nhìn trước nhu cầu của xã hội biến các Website Internet lớn thành một khu trung tâm cho các cộng đồng giao dịch trực tuyến, tạo điều kiện cho dân cư truy nhập vào hầu hết mọi thứ họ muốn qua các thông tin và dịch vụ công cộng và tư nhân Đây là những portal cho dân cư, hay “portal cộng đồng” Portal là tên gọi mới của một loại “siêu thị Website” , dần dần sẽ tạo kiểu giao tiếp mới giữa người sử dụng và chủ nhân của portal Nếu portal chuyên về buốn bán kinh doanh, người chung thủy với nó sẽ là các doanh nghiệp và người tiêu dùng, nếu portal do chính phủ hoặc chính quyền địa phương xây dựng, người chung thủy với nó sẽ là nhân dân, tương tự, nếu portal do một hãng truyền thông làm chủ, người chung thủy với nó sẽ là khán thính giả của hãng

Tương lai thuộc về các Website thông minh Vấn đề không chỉ là có đầy thông tin trên mạng, mà ở chỗ nhân dân có thể thiết lập trang Web “My Web” cho phù hợp với nhu cầu riêng của mình, từng người đều được trang Web riêng của mình Thực tế ở một số nước phát triển trên thế giới, một phần của viễn cảnh này đã thực hiện Hiện nay, người dân có thể gia hạn giấy phép lái xe ô tô qua mạng Hệ thống thông báo cho người có giấy phép lái xe 6 tuần trước khi hét hạn, với thông tin lưu trữ trong cơ sở dữ liệu (CSDL) của Sở Giao thông công chánh Người nào cần gia hạn thì mở trang Web của Sở, kiểm tra thông tin, trả phí gia hạn giấy phép bằng thẻ tín dụng, và giấy phép được gia hạn ngay khi in hoá đơn từ Website Hoá đơn này là giấy phép tạm thời cho đến khi nhận được giấy phép mới qua bưu điện Hệ thống tự động thông báo đến cơ quan cảnh sát và cập nhật các thông tin ở đây, báo rằng giấy phép đã được gia hạn

Như thế, bất kể portal là loại dành cho cộng đồng, hoặc kinh doanh, hay cổng giao dịch của chính phủ (e-government portal), portal sau này sẽ trở nên phong phú hơn nhiều so với hình ảnh là nơi tập trung các giao dịch với chủ nhân của nó Portal còn là các cổng truy nhập thuận tiện vào tin tức cộng đồng, cũng như các dịch vụ chính quyền địa phương Ngoài ra, chúng còn phục vụ phát triển kinh tế khi cung cấp thông tin kinh doanh đến mọi người dân và đến các nhà đầu tư quốc tế

2 Những vấn đề của Website:

Trang tin điện tử - website - có thể đang trở thành “Website truyền thông”, bởi

vì nó phát triển dần dần từ khi mới xuất hiện vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước, với tư duy, thói quen, và công nghệ của thế kỷ trước Website là nơi

Trang 36

“trình diễn các thông tin” Công cụ Browser - trình duyệt Web - cho phép người dùng tìm thông tin trên các website đó Một website lại chứa các đường dẫn tới các website khác, do vậy tạo ra một hệ thống liên kết vô tận giữa các website cung cấp thông tin cho người dùng Một trong những kỳ vọng đã bị đỗ vỡ trong thế giới “dot com” là lợi nhuận đại nhảy vọt thu được từ quảng cáo trên website Chính sự quá tải thông tin lại phản cảm gây nên sự thờ ơ của người sử dụng trước những quảng cáo đó Người dùng cần phải duyệt qua rất nhiều các website khác nhau, phải xử lý một khối lượng khổng lồ cá thông tin để tìm ra thông tin mình cần Trong “hành trình tìm kiếm thông tin” xuyên qua các website, người dùng ít có thời gian để xem đến các thông tin quảng cáo Theo thống kê, thông tin trên Internet tăng gấp đôi mỗi năm, người tìm kiếm thông tin trên Internet sử dụng 60% thời gian cho tìm kiếm thông tin, 20% thời gian cho tìm hiểu thông tin có đúng là cần hay không và chỉ có 10% thời gian dành cho xử lý thông tin mà họ cần Sự tìm kiếm thông tin này tiêu tốn nhiều thời gian cho người dùng và do vậy làm nản lòng họ Ngoài ra, sự rộng mở theo các đường dẫn (link) đến các website khác, lại chính là điểm bất lơi của website, do nó không thể tạo ra môi trường cộng tác

“Quá nhiều hành động đăng nhập hệ thống (“log in” hay “sign-on”)” là lời phàn nàn phổ biến nhất ở những website cố gắng ghép các ứng dụng có sẵn vào trang web, hoặc gắn các ứng dụng của website khác vào trang web Do phải trải qua nhiều website được quản lý bởi các chủ sở hữu khác nhau, người dùng thường phải làm nhiều thao tác đăng nhập hệ thống (thông qua hành động nhập tên và mật khẩu), người dùng sẽ mệt mỏi vì phải nhớ quá nhiều tên và mật khẩu của nhiều hệ thống khác nhau “Chỉ cần log in một lần” là đòi hỏi vượt quá khả năng của các website truyền thống, và sẽ được khắc phục bằng portal

3 Các đặc trưng cơ bản PORTAL:

Portal là bước phát triển tiếp theo của website Sự khác biệt chính về khái niệm so với website là: Website là điểm khởi đầu của một lộ trình đi khỏi website và xuyên qua các website khác để có được các thông tin cần thiết, trong khi portal là điểm đích thực thụ mà người sử dụng có thể “thực sự dừng chân” và sử dụng các dịch vụ tại đây để khai thác và xử lý thông tin Có nghĩa là người dùng sẽ được giữ chân ở portal, không đi nơi khác nữa Cụ thể, portal phục vụ người dùng với các chức năng sau đây:

Trang 37

• Chúc năng tìm kiếm: Là chức năng máy tìm kiếm (search engine) như trên

các website lớn, giúp tìm kiếm thông tin dựa trên các từ do người dùng gõ vào để làm mẫu so sánh

• Dịch vụ thư mục (directory service): Đây là dịch vụ thư mục phân loại thông

tin để tìm kiếm nhanh hơn theo tiêu đề, chủ đề có sẵn, cũng như quản lý các thể loại hồ sơ bảo mật của từng các nhân

• Cung cấp ứng dụng thông thường lên môi trường trực tuyến(online): Các

chương trình ứng dụng trên PC (Personal Computer) trước đây (desktop) đều được đưa lên mạng Internet, giúp người sử dụng dùng chương trình mà không cần gắn chặt vào một PC nào, kể cả máy tính sách tay, vì họ chỉ cần duyệt và kết nối Internet là dùng được chương trình ở bất cứ đâu Các ví dụ điển hình là : Thư điện tử, Lịch cá nhân, Hội thoại trực tuyến (chat), Bưu thiếp điện tử, và Diễn đàn trao đổi (forum)

• Cá nhân hóa (Personali - zation): Người sử dụng sẽ có được nhiều “quyền”

hơn so với dùng website, ví dụ tạo trang Web của riêng mình, với nội là các thông tin và nội dung được cá nhân họ quan tâm, ví dụ trang “Các việc về địa chính của tôi” hay là trang “My Web” của từng người sẽ khác nhau Người dùng portal có thể “nhặt”các nguồn và loại tin mà mình quan tâm, và nhặt các dịch vụ hiện thời đang cần vào trang Web của riêng mình Chính khả năng cơ bản này của portal làm thay đổi mối quan hệ của người dùng với chủ nhân của portal theo hướng thân thiện gần gũi và chia sẻ hơn Yếu tố này cũng làm thay đổi thói quen và tư duy của xã hội, do đó đây là đặc trưng cơ bản của portal

• Cộng đồng ảo: Cộng đồng ảo là “một vị trí ảo” trên Internet mà các cá

nhân, các doanh nghiệp có thể “tập hợp” để giúp đỡ lẫn nhau, để hợp tác với nhau trong các hoạt động thương mại Nói một cách khác “cộng đồng ảo” mang lại cơ hội cộng tác cho các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp mà ranh giới địa lý địa lý không còn ý nghĩa tạo tâm lý xa xôi cách trở, khó khăn khi tìm đến nhau Khái niệm này cũng được website cố gắng thể hiện, nhưng do thiếu kiến trúc hạ tầng như của portal nên vẫn khó thành công, hoặc “đầu voi đuôi chuộc”

Tóm lại, portal là một điểm tích hợp thông tin, nó có thể phục vụ một lĩnh vực, một khu vực dân cư, một doanh nghiệp, v.v , ví dụ đối với một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế, nó là điểm duy nhất về thông tin tích hợp Đặc trưng này cho phép doanh nghiệp cung cấp cho người dùng một điểm truy nhập duy

Trang 38

nhất để thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau, hoặc sử dụng các ứng dụng để khai thác kho tài nguyên thông tin trong mạng Intranet của doanh nghiệp Ngoài ra, portal có cơ chế công nghệ để liên kết và tái sử dụng các ứng dụng, dịch vụ và thông tin từ các portal khác nhau thông qua các kênh thông tin (channel) Xu hướng chung là portal thay thế toàn bộ Intranet của doanh nghiệp

4 Phân loại Portal:

Portal cĩ th t m đ c phân lo i nh sau:

• Consumer portal (Cổng người tiêu dùng): Cung cấp rất nhiều lựa chọn về

tìm kiếm, điều hướng, email, tự sửa khuôn dạng và lựa chọn tin tức, lịch công tác, quản lý địa chỉ liên hệ, bookmark, lưu lai các địa chỉ website, trò chuyện tức thời, các chức năng Intranet, v.v

• Vertical portal (Cổng dọc): Chuyên cung cấp các thông tin và dịch vụ cho

một lĩnh vực nỗi tiếng hay một lĩnh vực kinh tế cụ thể nào đó (mang tính chuyên ngành)

• Horizontal portal (Cổng ngang): Nội dung bao trùm nhiều chủ đề (mang

tính diện rộng), phục vụ các mối quan tâm khác nhau, cùng với việc cung cấp các chức năng dịch vụ phong phú, phục vụ cộng đồng, phục vụ tổ chức hành chính Các portal cho từng địa phương theo tổ chức phân cấp có thể thuộc loại portal này

• Enterprise portal hay Corporate portal : Cung cấp các dịch vụ truy xuất

thông tin từ mọi tài nguyên thông tin trong mạng Intranet một tổ chức thông qua một cổng truy nhập duy nhất

• B2B portal hay Industry portal (Cổng kinh doanh): Cung cấp các dịch vụ định hướng theo mối quan hệ tương tác thông tin hai chiều giữa các doanh nghiệp (B2B) trong môi trường thương mại điện tử

5 Các chuẩn kỹ thuật sử dụng trong xây dựng Portal:

Các chuẩn sau đây hổ trợ cho việc xây dựng portal

• HTTP và IP: Đây là các giao thức chuẩn để chuyển/nhận dữ liệu trong

mạng Internet

• HTML (Hypertext Markup Language): Cho phép trình diễn dữ liệu trên

trình duyệt web

• XML (eXtensible Markup Language): Chuẩn này thực hiện phân tách nội

dung của dữ liệu với sự trình diễn của nó trên giao diện của người dùng

Trang 39

Việc phân tách này cho phép cùng một nội dung có thể được trình diễn theo nhiều cách nhìn khác nhau

• XSL (Extensible Style Language): Là công cụ có hiệu qủa để trình diễn và

vận chuyển các dữ liệu dạng XML

• SOAP (Simple Object Access Protocol): Cung cấp giao thức chuẩn để các

áp dụng có thể trao đổi dữ liệu XML vơi nhau

• Web services: Cung cấp các thành phần cơ bản để xây dựng dịch vụ, các

ứng dụng và kênh thông tin trực tuyến của portal

• Websphere của IBM, SharePoint của Microsoft và iPlanet của Sun Microsystems: Đây là những công cụ phần mềm rất có hiệu qủa để xây

dựng portal Ngoài ra còn rất nhiều nhà cung cấp độc lập khác (third party) cũng tham gia cung cấp các thành phần để xây dựng web service

• J2EE (Java 2 Platform, Enterprise Edition): Đây là chuẩn mở hổ trợ cho

kiến trúc mô hình nhiều lớp (multi-tier) để xây dựng các ứng dụng trên Web

• NET (DOT NET): Đây là nền tảng của Microsoft cho các dịch vụ Web

XML, là phần mềm kế tiếp nối thế giới thông tin, các thiết bị và tất cả mọi người trong một thể thống nhất trên nền tảng NET(.NET Platform) của Microsoft đưa ra các công nghệ, các công cụ và sản phẩm để tạo ra và chạy các dịch vụ Web

V NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ THÀNH CÔNG VÀ THẤT BẠI CỦA MỘT CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ:

Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của Internet và vai trò của nó trong thế giới hiện nay, để khai thác hiệu qủa mà Internet mang lại để phục vụ cho công tác điều hành đất nước và đáp ứng những nhu cầu bức thiết của người dân, các Quốc gia trên thế giới có sự đầu tư và phát triển công nghệ thông tin để xây dựng Chính phủ điện tử từ nhu cầu và mục đích đó Nhưng, không phải Quốc gia nào cũng thành công trong việc xây dựng một chính phủ điện tử, chúng ta cùng tìm hiểu câu hỏi sau đây:

Tại sao việc thực hiện những dự án chính phủ điện tử trong một vài quốc gia đang phát triển đạt được thành công và những quốc gia khác lại thất bại ?

Trang 40

1 Mô hình nhân tố (Factor Model) cho sự thành công và thất bại của

Chính phủ điện tử :

Đây là mô hình sơ lược những lý do phía sau sự thành công và thất bại của

những dự án Chính phủ điện tử Những mục ở bên trái chỉ sự thất bại; những

mục bên phải chỉ sự thành công

SỰ THẤT BẠI SỰ THÀNH CÔNG

E-GOVERNMENT E-GOVERNMENT

NHỮNG ĐIỀU KHIỂN (DRIVER)

Sức ép bên ngoài

Thiếu những điều khiển (External Pressure)

(Lack of Drivers)

Yêu cầu Chính trị bên trong

(Internal Political Desire)

Những ép buộc Cho Phép

(Constraint) Chiến lược (Strategy) (Enabler)

Quản lý dự án kém Quản lý dư án hiệu qủa

(Poor project management) (Effective project management)

Quản lý sự thay đổi kém Quản lý sự thay đổi hiệu qủa

(Poor change management) (Effective change management)

Ưu thế của những mưu mô và tư lợi

(Dominance of politics and self-interest)

Thiết kế(Design)

Thiết kế phi hiện thực kém Thiết kế hiệu qủa

(Poor/unrealistic) (Effective design)

Ngày đăng: 17/02/2014, 16:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

một hình thể cơ sở hạ tầng cơng nghệ thơng tin và truyền thông của một quốc gia những trách nhiệm nào của cơ sở hạ tầng qua tất cả phạm vi của ứng dụng  công nghệ thông tin và truyền thông, không phải chỉ việc cai quản điện tử  (e-governance) - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
m ột hình thể cơ sở hạ tầng cơng nghệ thơng tin và truyền thông của một quốc gia những trách nhiệm nào của cơ sở hạ tầng qua tất cả phạm vi của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, không phải chỉ việc cai quản điện tử (e-governance) (Trang 16)
Bảng danh sách và những giải thích một vài những nhân tố chính cơ sở thất bại của chính phủ điện tử tại các quốc gia đang phát triển - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
Bảng danh sách và những giải thích một vài những nhân tố chính cơ sở thất bại của chính phủ điện tử tại các quốc gia đang phát triển (Trang 42)
Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm qua diến ra ổn định, ngoại trừ năm 1998 là năm khó khăn không chỉ đối với Tổng công ty cổ phần Dệt  May Hà Nội mà còn với cả toàn ngành dệt may Việt Nam mà nguyên nhan là do ảnh  hưởng n - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
h ìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm qua diến ra ổn định, ngoại trừ năm 1998 là năm khó khăn không chỉ đối với Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội mà còn với cả toàn ngành dệt may Việt Nam mà nguyên nhan là do ảnh hưởng n (Trang 45)
II.3. MƠ HÌNH QUAN NIỆM DỮ LIỆU - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
3. MƠ HÌNH QUAN NIỆM DỮ LIỆU (Trang 54)
II.3. MƠ HÌNH QUAN NIỆM DỮ LIỆU - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
3. MƠ HÌNH QUAN NIỆM DỮ LIỆU (Trang 54)
III. XÂY DỰNG MƠ HÌNH XỬ LÝ VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ ĐẤT Ở - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
III. XÂY DỰNG MƠ HÌNH XỬ LÝ VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ ĐẤT Ở (Trang 56)
2. Bảng Duong: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
2. Bảng Duong: (Trang 60)
7. Bảng NV-CV: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
7. Bảng NV-CV: (Trang 62)
10. Bảng CapSoNha: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
10. Bảng CapSoNha: (Trang 63)
11. Bảng DangBo: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
11. Bảng DangBo: (Trang 64)
12. Bảng Citizen: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
12. Bảng Citizen: (Trang 65)
II. MƠ TẢ CHI TIẾT CÁC MÀN HÌNH CHƯƠNG TRÌNH: 1. Màn hình Cổng Chính của Thành Phố Hồ Chí Minh: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
1. Màn hình Cổng Chính của Thành Phố Hồ Chí Minh: (Trang 66)
2. Màn hình Đăng ký và Đăng nhập dịch vụ: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
2. Màn hình Đăng ký và Đăng nhập dịch vụ: (Trang 67)
3. Màn Hình Nhập Thơng Tin Người dùn g: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
3. Màn Hình Nhập Thơng Tin Người dùn g: (Trang 68)
4. Màn hình lựa chọn những dịch vụ: - chiến lược và giải pháp để xây dựng chính phủ điện tử
4. Màn hình lựa chọn những dịch vụ: (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w