tra và xác định các nguồn phát sinh rác thải; 3 Điều tra về khối lượngthu gom, vận chuyển và trung chuyển rác thải; 4 Kết hợp điều tra vàphân tích về thành phần và tính chất của rác thải
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP BƯỚC ĐẦU TÍNH TOÁN TẢI LƯỢNG KHÍ METHANE
THOÁT RA TỪ CÁC BÃI CHÔN LẤP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- XÁC
ĐỊNH GIẢI PHÁP THU HỒI
Chuyên ngành : kỹ thuật Môi trường
Mã số ngành : 108
GVHD:Th.S Võ Đình Long SVTH: Tô Thị Hằng MSSV: 02DHMT063 LỚP: 02MT06
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2006
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế, đô thị hóa cao và sự gia tăngdân số, cùng với mức sống của người dân ngày càng được cải thiện đã làm chonguồn rác thải sinh hoạt của thành phố Hồ Chí Minh không ngừng gia tăng cả vềkhối lượng và đa dạng về thành phần Theo ghi nhận sơ bộ của riêng bản thân tôi,rác thải của thành phố đã bước đầu xâm phạm nghiêm trọng đến cảnh quan thiênnhiên, môi trường đô thị và sức khoẻ của cộng đồng
Mặc dù, lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều và đa dạng về thành phầnnhưng chính quyền thành phố vẫn chưa có những giải pháp thích đáng để quản lývà xử lý rác thải ngoại trừ việc thu gom và vận chuyển đến các bãi chôn lấp vàrồi đổ bỏ; từ đó đã hình thành nên những bãi chôn lấp chất thải khổng lồ và thiếukiểm soát
Bên cạnh việc tìm kiếm những giải pháp để xử lý rác thích hợp (bởi vì vớilượng rác thải ngày càng gia tăng như hiện nay thì quỹ đất của thành phố khôngthể đáp ứng đủ cho nhu cầu chứa rác sinh hoạt của thành phố), việc giải quyếtnhững vấn đề còn tồn động lại tại các bãi rác (vấn đề ô nhiễm môi trường khôngkhí xung quanh bãi rác, vấn đề côn trùng gây bệnh, ô nhiễm nguồn nước mặt,nước ngầm…) đang gây đau đầu những nhà hoạch định chính sách phát triển kinhtế, xã hội và những chuyên gia quản lý môi trường của thành phố Xử lý rác đểchế biến rác thành phân bón cho nông nghiệp, đốt rác để tái sử dụng nguồn nănglượng từ rác thải, tận dụng nguồn khí methane phát sinh từ các bãi chôn lấp… lànhững việc làm rất có ý nghĩa
Với những vấn đề phát sinh từ các bãi chôn lấp như hiện nay, việc lựa chọn
đề tài “Bước đầu tính toán tải lượng khí methane thoát ra từ các bãi chôn lấp ở
Trang 3thành phố Hồ Chí Minh, xác định giải pháp thu hồi” cho luận văn tốt nghiệp có
một ý nghĩa nhất định
Trang 4CHƯƠNG 1: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 1.1 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác định về tải lượng rác thải sinh hoạt ở thành phố Hồ Chí Minh và tínhtoán tải lượng khí methane phát sinh từ các bãi chôn lấp
Dự báo tải lượng khí methane phát thải từ rác thải sinh hoạt đến năm 2020
Đề xuất các giải pháp nhằm tận thu lượng khí methane, đồng thời xác địnhcác phương án nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do khí methane thoát
ra từ các bãi chôn lấp
1.2 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về thành phần rác thải, tải lượng rác thải sinh hoạt phát sinhhàng năm
Tính toán lượng khí methane thoát ra từ các bãi chôn lấp rác ở thành phốHồ Chí Minh dựa vào lượng rác sinh hoạt phát sinh và lượng rác thu gomđược
Nghiên cứu xác định một số giải pháp thu hồi và đề xuất một số giải phápđể giải quyết các vấn đề liên quan đến khí methane từ rác thải sinh hoạt ởthành phố Hồ Chí Minh
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Điều tra các số liệu “nền” về môi trường và các số liệu liên quan đếnđề tài nghiên cứu
Nghiên cứu về hiện trạng và diễn biến về chất thải rắn sinh hoạt trênđịa bàn TP.HCM Để đạt được nội dung nghiên cứu này, các chi tiết sauđược tiến hành: (1) Điều tra các số liệu về tổng lượng rác thải; (2) Điều
Trang 5tra và xác định các nguồn phát sinh rác thải; (3) Điều tra về khối lượngthu gom, vận chuyển và trung chuyển rác thải; (4) Kết hợp điều tra vàphân tích về thành phần và tính chất của rác thải sinh hoạt (chủ yếu làtính chất vật lý);
Tính toán về tổng tải lượng khí methane thoát ra từ các bãi chôn lấp rácthải ở TP Hồ Chí Minh và tiến hành dự báo về tải lượng khí methanetheo các phương án khác nhau
Đề xuất một số giải pháp để quản lý chất thải rắn ở TP.HCM
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Phương pháp luận
Trong môi trường sinh thái luôn có những mối liên kết nhiều chiều và chặtchẽ giữa các thành phần môi trường với nhau Một khi, một môi trường thànhphần bị đe dọa hoặc bị ô nhiễm thì các môi trường thành phần khác cũng khôngthể tránh được sự đe dọa hoặc sự ảnh hưởng; chỉ khác chăng đó là mức độ bị đedọa hoặc mức độ bị ảnh hưởng nhiều hay ít có khác nhau mà thôi
Rác sinh họat và các điểm tồn trữ rác sinh hoạt (điểm trung chuyển, bãi chôn lấp…)
Cộng đồng dân
cư sống xung quanh các vùng tồn trữ
Trang 6Sơ đồ 1: sự liên hệ giữa rác thải và môi trường xung quanh
Chẳng hạn, chất thải rắn có thể bị phân hủy, khí rác có thể gây ô nhiễm môitrường không khí (gây ra mùi hôi khó chịu, gia tăng nồng độ khí độc trong môitrường không khí…); nước rò rỉ trong các bãi chôn lấp có thể gây ô nhiễm đếnmạch nước ngầm, theo chuỗi thực phẩm đi vào cơ thể con người và sinh vật… Mộtloạt các mối tương tác như thế luôn diễn ra trong môi trường sinh thái Vì thế,việc nghiên cứu về rác thải phải đặt trong các mối tương tác nhiều chiều
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Tiến hành thu thập số liệu về rác thải nhằm:
Đánh giá để tìm mối tương tác thông qua các quan hệ nhân quả của rácthải với môi trường sinh thái;
Tổng hợp và xử lý số liệu để phục vụ cho việc tính toán về tải lượngkhí methane (chi tiết sẽ được trình bày kèm theo phần kết quả nghiêncứu);
Dùng hàm Euler để dự báo về tải lượng khí methane và các thông số cóliên quan (chi tiết sẽ được trình bày kèm theo phần kết quả nghiêncứu)
- Sử dụng phương pháp liệt kê: Liệt kê về số lượng chất thải rắn, thải rahàng năm Qua đó, đưa ra các phương án dự đoán
- Sử dụng phương pháp so sánh (để đưa ra các phương án hoặc các giải phápcho vấn đề quản lý rác thải): So sánh tải lượng rác thải phát sinh trong từngnăm Qua đó tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh rác thải.Để dự đoán chính xác lượng rác thải cho nhưng năm tiếp theo
- Sử dụng phương pháp phân tích chi phí lợi ích (để lựa chọn các giải pháp):Phân tích thiệt hại cũng như lợi ích thu được từ quá trình thu gom và sử
Trang 7dụng khí methane làm nhiên liệu trong sản xuất cũng như sinh hoạt hàngngày.
Việc vận dụng và mô tả chi tiết từng phương pháp cụ thể sẽ được giải trìnhngay trong phần kết nghiên cứu của đề tài
Trang 8CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CHẤT THẢI SINH HOẠT VÀ
QUÁ TRÌNH PHÁT SINH KHÍ METHANE 2.1 CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Chất thải rắn sinh hoạt là tất cả các chất thải thông thường có dạng rắn(không phải ở dạng lỏng hay khí) được phát sinh từ các hoạt động của con ngườivà được con người thải bỏ, loại ra khỏi nơi sinh sống và làm việc của họ do chúngkhông còn cần thiết cho con người hoặc do con người không muốn có chúng nữa.Như vậy, chất thải rắn bao gồm những chất thải không đồng nhất từ các khu dân
cư và các chất thải đồng nhất từ các khu vực công nghiệp, nông nghiệp, được thảibỏ từ tất cả các hoạt động sản xuất, dịch vụ thương mại, công sở, văn phòng vàsinh hoạt của con người Chất thải rắn sinh hoạt hay rác thải sinh hoạt là một bộphận cấu thành của chất thải rắn, được hiểu là chất thải rắn phát sinh từ các hoạtđộng sinh hoạt thường ngày của con người
Hầu hết các hoạt động của con người đều tạo ra chất thải ở các dạng khácnhau Trong điều kiện Việt Nam, hầu hết các loại chất thải này được thu gom rồisau đó được vận chuyển đến các bãi chôn lấp Chính vì vậy, ô nhiễm môi trường
do sự tập trung một lượng lớn chất thải rắn trong một thời gian ngắn trên một diệntích nhỏ là không thể tránh khỏi Hiện nay, bãi đổ hở và bãi chôn lấp hợp vệ sinhlà các phương pháp được áp dụng rất phổ biến trên thế giới, chôn lấp hợp vệ sinhlà công đoạn cuối cùng và là thành phần không thể thiếu của bất kỳ một hệ thốngquản lý chất thải rắn nào Ngay cả khi các nhà máy được xây dựng để xử lý vàtái sử dụng các loại chất thải rắn thì vẫn phải cần đến các bãi chôn lấp để chứatro và các chất thải không thể tái sinh được hoặc không còn giá trị để tái sử dụng.Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các bãi chôn lấp thường gây ô nhiễm môi trườngngay từ khi bắt đầu vận hành và có thể kéo dài cho tới 15-20 năm sau khi đóngbãi
Trang 92.1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Việc xác định các nguồn thải (hay nguồn phát sinh chất thải rắn) đóng vai tròrất quan trọng trong công tác quản lý chất thải rắn Mặc dù, có nhiều cách đểphân định về nguồn gốc phát sinh, song hầu hết các tài liệu đã được công bố đềucó cách phân loại về nguồn gốc không khác nhau nhiều Tựu trung chất thải rắnsinh hoạt có thể được phát sinh từ các nguồn chủ yếu sau:
Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt);
Từ các trung tâm thương mại;
Từ các công sở, trường học, công trình công cộng;
Từ các dịch vụ đô thị, sân bay;
Từ các hoạt động công nghiệp;
Từ các hoạt động xây dựng đô thị;
Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thànhphố…
Các loại chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau thì việc xác địnhvề nguồn gốc phát sinh cũng khác nhau
Trang 10Bảng 1: Nguồn phát sinh và các dạng chất thải rắn của đô thị
STT Nguồn thải Hoạt động hoặc nơi phátsinh chất thải Dạng chất thải
1 Chất thải sinhhoạt Từ các căn hộ gia đình, khuchung cư và nhà cao tầng…
Thực phẩm, rác rưởi, trovà các dạng chất thảikhác
2 Chất thải khuthương mại
Từ các nhà hàng, chợ,khách sạn, các dịch vụ ănuống…
Thực phẩm, rác rưởi, tro,các dạng chất thải khác,đôi khi có cả chất thảinguy hại
3 Chất thải khucông sở
Từ các văn phòng, trườnghọc, bệnh viện, cửa hàngtạp hóa
Thực phẩm, rác rưởi, tro,chất thải xây dựng và cácdạng chất thải khác
4 Chất thải quétđường Đường phố
Thực phẩm, rác rưởi, tro,chất thải xây dựng, cácdạng chất thải đặc trưngkhác, đôi khi có chất thảinguy hại
5 Chất thải làmvườn Công viên, khu giải trí Thực phẩm, cành cây,cỏ…
6 Chất thải xâydựng Từ các khu đô thị, khu dâncư, tái định cư… Gạch, đá, cát, xà bần, gỗ,bao bì, giấy và plastics,
hóa chất, sắt…
7
Chất thải từ các
hệ thống xử lý
nước và thoát
nước đô thị
Nhà máy xử lý nước vànước thải, hệ thống cốngrãnh thoát nước đô thị
Bùn cống, bùn dư từ hệthống xử lý nước và nướcthải
8 Chất thải từ cáckhu vực giải trí Các bờ biển, công viên, hồbơi, đường cao tốc Thực phẩm, rác rưởi, tro,chất thải xây dựng, các
dạng chất thải khác
9 Chất thải côngnghiệp Từ các nhà máy, các khuvực có hoạt động công
nghiệp
Chất thải nguy hại, chấtthải đặc biệt, hóa chất,tro, kim loại…
10 Chất thải nôngnghiệp Từ các khu vực canh tácnông nghiệp, chăn nuôi…
Thực phẩm hư, các chấtthải nông nghiệp, rácrưởi, chất thải nguy hại
Nguồn: Solid wastes, Engineering Principles and Management Issues, Tokyo 1997
Trang 112.1.1.1 Phân loại theo vị trí hình thành
Theo cách phân loại này, rác thải có thể được phân theo các nguồn phát sinhnhư: phát sinh từ các khu dân cư, phát sinh từ các hoạt động đường phố, phát sinhtừ các hoạt động thương mại…
2.1.1.2 Phân loại theo thành phần hóa học
Theo cách phân loại này, rác thải có thể được phân loại theo các dạng hữu cơ
- vô cơ, cháy được - không cháy được, dễ phân hủy sinh học - khó phân hủy sinhhọc, kim loại - phi kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo…
2.1.1.4 Theo phương diện khoa học
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải rắn có liên quan đến các hoạt động
của con người, nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,trường học, các trung tâm dịch vụ, các khu thương mại… Chất thải rắn sinh hoạt cócác thành phần chính bao gồm: kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá,cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre,gỗ, lông gà, lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả…
Chất thải thực phẩm: bao gồm thức ăn thừa, rau, quả,… loại chất thải này có
tính chất là dễ bị phân hủy sinh học Quá trình phân hủy tạo ra mùi hôi rất khóchịu, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm, nhiệt độ cao như ở nước ta.Trong thành phần của chất thải thực phẩm ngoài các loại thức ăn dư thừa từ giađình còn có cả thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, kýtúc xá, chợ…
Chất thải trực tiếp từ động vật: chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân
của các loại động vật khác
Trang 12Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác: bao gồm các loại vật liệu sau khi đốt,
các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác tronggia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than…
Các chất thải rắn đô thị: có thành phần chủ yếu là lá cây, que củi, nilon, vỏ
bao gói…
Chất thải rắn công nghiệp: là các dạng chất thải được phát sinh từ các hoạt
động sản xuất công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm:
- Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trongcác nhà máy nhiệt điện;
- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất;
- Các sản phẩm khuyết tật từ các quá trình công nghệ;
- Bao bì đóng gói sản phẩm…
Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch, ngói, bê tông vỡ… do
các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình… Chất thải xây dựng bao gồm:
- Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng;
- Đất đá do việc đào móng trong xây dựng;
- Các vật liệu như kim loại, chất dẻo…
- Chất thải từ các cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước thiên nhiên,nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố
Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt
động nông nghiệp, ví dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sảnphẩm thải ra từ việc chế biến sữa, các lò giết mổ gia súc gia cầm… Hiện tại việcquản lý và xả các loại chất thải nông nghiệp không thuộc về trách nhiệm của cáccông ty môi trường đô thị của các địa phương trong thành phố
2.1.1.5 Phân loại theo mức độ nguy hại
Trang 13Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, côngnghiệp và nông nghiệp Chất thải nguy hại bao gồm các loại hóa chất dễ gâyphản ứng, độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc cácchất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan… có nguy cơ đe dọa
nghiêm trọng tới môi trường sống và sức khỏe của con người, động và thực vật.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc các hợp chất có cácđặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môitrường và sức khỏe cộng đồng Theo qui chế quản lý chất thải y tế, các loại chấtthải y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnhviện, trạm xá và trạm y tế Trong chất thải y tế, ngoại trừ chất thải sinh hoạt từcác hoạt động y tế có tính nguy hại thấp nên có thể được thu gom và quản lýchung với các loại chất thải sinh hoạt khác Còn lại, các dạng chất thải sau đâyphải được thu gom và quản lý theo quy chế riêng, rất nghiêm ngặt:
- Các loại bông băng, gạc, nẹp dùng trong khám và điều trị bệnh, phẫuthuật;
- Các loại kim tiêm, ống tiêm;
- Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ;
- Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao như: đồng, chì, thủy ngân,Cadimi, Arsen, Xianua…
- Các chất thải phóng xạ từ các quá trình xạ trị trong bệnh viện
Các chất thải nguy hại do các cơ sở công nghiệp hóa chất thải ra có tính độchại cao, có tác động xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng; do đó, việc quảnlý và xử lý chúng phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt nhằm hạn chế cáctác động có hại đó
Các chất thải nguy hại từ các hoạt động nông nghiệp chủ yếu là các loại phânbón hóa học, các loại thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật (gọi chung là cáchóa chất nông nghiệp) cũng có tính độc hại rất cao, có tác động xấu đến môi
Trang 14trường và sức khỏe của cộng đồng Đặc biệt là các loại thuốc trừ sâu và thuốcbảo vệ thực vật có tính độc hại rất cao nên việc quản lý về liều dùng, cách dùng,phương án bảo quản… phải được thực hiện rất nghiêm ngặt
Sơ đồ 2: Các hoạt động phát sinh chất thải rắn và phân loại chất thải rắn
Chất thải không nguy hại là những loại chất không chứa các chất và các hạtchất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
Trong số các chất thải của đô thị, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ có thể sơ chế đểdùng ngay trong sản xuất và tiêu dùng, phần lớn phải được hủy bỏ hoặc phải qua
Các hoạt động quản lý
Các hoạt động giao tiếp và đối ngoại
Các quá trình phi sản xuất
Dạng rắnDạng lỏng
Bùn ga
cống
Dầu mỡ
Dạng khí
Khí độc hại
Chất thải sinh hoạt
Chất thải công nghiệp
Các loại khác
Trang 15một quá trình chế biến phức tạp mới có thể tái sử dụng nhằm đáp ứng cho cácnhu cầu khác nhau của con người
Trong những năm qua, lượng chất thải trong các đô thị ở Việt Nam khôngngừng tăng lên do tác động của nhiều yếu tố như: sự tăng trưởng và phát triểncủa sản xuất, sự gia tăng dân số, sự phát triển về trình độ và tính chất của tiêudùng trong các đô thị… Thành phần và tính chất của chất thải sinh hoạt được trìnhbày ở phần dưới đây
2.1.2 Thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt
Bảng 2: Thành phần phân loại thường thấy của rác thải sinh hoạt
Kim loại màu
Kim loại đen
Bụi, tro, gạch
Trang 16kinh tế - xã hội, vào sự tập trung dân số và nhiều yếu tố khác mà thành phần vàtính chất của chất thải rắn đô thị có thể thay đổi.
2.1.2.1 Độ ẩm
Độ ẩm của chất thải rắn thường được xác định bằng cách tính tỷ lệ giữa trọnglượng của nước trên trọng lượng tươi hoặc khô của chất thải Độ ẩm tươi của rácđược biểu diễn bằng phần trăm trọng lượng ướt của mẫu, còn độ ẩm khô đượcbiểu diễn bằng phần trăm trọng lượng khô của mẫu
Độ ẩm = a a b 100 (%) Trong đó:
a: trọng lượng ban đầu của mẫu, (kg)
b: trọng lượng của mẫu sau khi sấy khô ở 105 0 C, (kg).
Bảng 3: Số liệu thường thấy về độ ẩm của rác thải sinh hoạt đô thị
Thành phần
Độ ẩm (%)
Thành phần
Độ ẩm (%)Dao
động Trungbình độngDao TrungbìnhThực phẩm
706521021060
GỗThủy tinhĐồ hộpKim loại màuKim loại đenBụi, tro, gạchRác sinh hoạt
15-401-42-42-42-66-1215-40
202323820
Nguồn: Solid wastes, Engineering Principles and Management Issues, Tokyo 1997
Trang 17bằng tỷ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của mẫu đó và đơn vị tính là kg/
m3 hoặc lb/yd3 (lb/yd3*0.5933= kg/m3)
Tỷ trọng = M V
Trong đó:
M: trọng lượng của mẫu rác thu được, (kg)
V:thể tích của mẫu rác xác định được, (m 3 )
Tỷ trọng của nhiều loại chất thải theo các nguồn khác nhau và theo thànhphần được thể hiện trong bảng 1.4 và bảng 1.5
Bảng 4: Tỷ trọng thường thấy của rác sinh hoạt theo nguồn
Dao động Trung bình
Khu dân cư (không ép)
Trong bãi chôn lấp (nén thường)
Trong bãi chôn lấp (nén tốt)
Khu dân cư (sau xử lý)
Đóng kiện
Băm,không ép
Băm, ép
Khu thương mại-công nghiệp (không ép)
Chất thải thực phẩm (ướt)
Rác rưởi đốt được
Rác rưởi không đốt được
150-300100-2501.100-1.400
300600-8501.100-1.250
1.000-1.800200-4501.100-1.800
800-1.60080-300300-600
2201751.250
5007501.000
1.2003601.300
900200500
Nguồn: Solid wastes, Engineering Principles and Management Issues, Tokyo 1997
Trang 18Bảng 5: Số liệu thường thấy về tỷ trọng của các thành phần rác sinh hoạt
Thành
phần
Tỷ trọng (lb/yd3)
Thành phần Tỷ trọng (lb/yd
185,13,144810
Rác làm vườnGỗ
Thủy tinhĐồ hộpKim loại màuKim loại đenBụi, tro, gạch
4-148-2010-303-104-158-7020-60
6,51512,15,5102030
Nguồn: Solid wastes, Engineering Principles and Management Issues, Tokyo 1997
2.1.3 Tác động của chất thải sinh hoạt đối với môi trường và con người
2.1.3.1 Tác động của chất thải sinh hoạt lên môi trường không khí
Thành phần của rác thải sinh hoạt tại các bãi chôn lấp và phương pháp xử lýquyết định rất nhiều đến nồng độ ô nhiễm môi trường nói chung và môi trườngkhông khí nói riêng Các số liệu thống kê về thành phần của rác thải sinh hoạt đôthị đem chôn lấp cho thấy: thành phần hữu cơ chiếm tỷ trọng nhiều nhất (khoảng83%) Trong môi trường, độ ẩm của rác thường cao (>50%), nếu không vậnchuyển kịp thời trong ngày, lại ở điều kiện nhiệt độ thích hợp như ở nước ta (30-
37 0C) thì ruồi nhặng và các vi khuẩn dễ dàng sinh ra và hoạt động mạnh Ngoài
ra, sự phân hủy của rác thải còn tạo ra mùi hôi rất khó chịu, khi xảy ra quá trìnhphân hủy kỵ khí, các chất hữu cơ trong các bãi chôn lấp đã tạo ra một lượng lớnkhí sinh vật như cacbonic (CO2), methane (CH4), ammonia (NH3), hydrogensulfide (H2S), chất hữu cơ bay hơi… đây là những sản phẩm mang tính độc hại rấtcao và là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí Nếu các khí trênkhông được thu gom để xử lý và tái sử dụng vào các mục đích khác, chúng sẽ gây
Trang 19ô nhiễm nặng nề cho môi trường không khí, đặc biệt là các khí CO2 và CH4 lànhững “khí nhà kính” gây ra sự nóng lên toàn cầu
2.1.3.2 Tác động của rác lên môi trường nước
Trường hợp chất thải rắn là những hợp chất hữu cơ, trong môi trường nước nósẽ bị phân hủy một cách nhanh chóng Phần nổi lên mặt nước sẽ bị khoáng hóađể tạo ra các sản phẩm trung gian Các sản phẩm cuối cùng như CH4, H2S, CO2,
H2O và các chất trung gian đều gây mùi hôi thối và là độc chất
Nếu rác thải là những chất có chứa kim loại thì nó sẽ gây ra hiện tượng bị ănmòn kim loại trong môi trường nước Sau đó, phân hủy trong môi trường có vàkhông có oxy, gây ô nhiễm cho môi trường sinh thái và nguồn nước Những chấtthải nguy hại như chì, thủy ngân, Cadimi, Asen hoặc những chất thải phóng xạ thìcó tính nguy hiểm rất cao
2.1.3.3 Tác động của rác lên môi trường đất
Quá trình bị giữ lại trong đất và ngấm qua những lớp đất bề mặt của nước rò
rỉ từ các bãi chôn lấp làm cho sự tăng trưởng và hoạt động của vi khuẩn trong đấtkém đi, tức là làm giảm quá trình phân hủy các chất hữu cơ thành dinh dưỡng chocây trồng, trực tiếp làm giảm năng suất canh tác và gián tiếp làm cho đất bị thoáihóa và bạc màu
Ảnh hưởng của nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp đến đất đai là rất nghiêm trọng,mang tính chất lâu dài và rất khó khắc phục nếu nó được thấm theo mạch ngangvà mạch sâu Chính vì vậy, để hạn chế và ngăn ngừa khả năng gây ô nhiễm môitrường đất, chúng ta phải áp dụng các biện pháp an toàn trong công tác chôn lấprác, chủ yếu là lót nền, xây dựng đê chắn bằng bê tông để ngăn chặn khả năng
Trang 20thấm theo chiều ngang của nước rò rỉ; đồng thời phải lắp đặt các hệ thống thugom và xử lý nước rò rỉ
2.1.3.4 Tác hại của tiếng ồn từ các bãi chôn lấp
Tiếng ồn là một trong những yếu tố gây tác động đến sức khỏe con người màtrước hết là công nhân làm việc trực tiếp tại khu vực bãi chôn lấp Tiếng ồn cóthể gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ quan thính giác của con người, làm giảm hiệusuất lao động, làm giảm khả năng phản xạ và hậu quả là làm tăng nguy cơ tai nạnlao động cho người tiếp xúc với tiếng ồn Tác hại của tiếng ồn được thể hiệnthông qua phản xạ của hệ thần kinh hoặc ngăn cản hoạt động của hệ thần kinhthực vật, làm giảm khả năng định hướng và giữ thăng bằng của cơ thể Tiếng ồnvới cường độ quá lớn còn có thể gây tổn thương vĩnh viễn đến cơ quan thính giác
2.2 KHÍ METHANE (CH4)
Hoạt động của con người đã tạo ra nhiều nguồn rác thải khác nhau Đa phầnrác thải có thể tái chế được nhưng một phần được thải trực tiếp vào môi trườngđất, vào môi trường biển hoặc đem thiêu hủy Việc đưa chất thải vào môi trườngđất đang là giải pháp được phổ biến nhất, thải vào môi trường biển hoặc thiêu đốtlà giải pháp kém phổ biến hơn Hiện tại, lượng rác thải của thế giới thải rác vàođất và phát sinh khí methane ước tính là 32 triệu tấn/năm
Trong các bãi chôn lấp, quá trình phân hủy hiếu khí diễn ra (do có lượng khíoxy có sẵn trong rác) sẽ cho ra khí CO2 và nước Khi lượng cung cấp oxy bị thiếu,các vi sinh kỵ khí sẽ tham gia vào sự phân hủy rác và khí methane và CO2 đượctạo thành Khí methane được phóng thích ra không ngừng tăng lên ở các nướcphát triển và ước tính đến năm 2025 tổng lượng khí methane phát sinh là 62 triệutấn/năm Sự phân bố phát sinh khí methane được minh họa ở đồ thị 1.1
Trang 21Bảng 6 Kết quả sự phát sinh khí methane của từng vùng trên thế giới
Nơi Phát sinh khí methane Hàm lượng khí methane phát sinh (%)
Nguồn: Solid wastes, Engineering Principles and Managemen Issuent Issues, Tokyo 1997
Bắc Mỹ33%
Châu Á13%
Tây Aáu
30%
Phần còn lại của thế giới11%
Đông Aáu
13%
Đồ thị 1: phân bố sự phát sinh của khí methane
2.2.1 Quá trình hình thành và phát sinh khí methane từ các bãi chôn lấp
Khí sinh học được phát sinh từ các bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt là sảnphẩm của quá trình phân hủy sinh học của các chất hữu cơ trong thành phần củachất thải Quá trình phân hủy kỵ khí (thiếu oxy) các chất hữu cơ trong bãi chônlấp rác tạo ra một lượng lớn khí như methane (CH4), carbonic (CO2), ammonia
Trang 22(NH3)… trong đó, nồng độ khí methane chiếm khoảng 40-50%, lượng khí này sẽđược tạo thành liên tục trong thời gian đầu và sẽ giảm dần Bãi chôn lấp có thể
được xem như là một “thiết bị phản ứng sinh hóa” và nước là dung môi chính cho
các quá trình diễn ra trong bãi chôn lấp Quá trình hình thành khí methane trongbãi chôn lấp được diễn giải như sau:
Giai đoạn điều chỉnh: trong giai đoạn này, quá trình phân huỷ rác xảy ra
trong điều kiện hiếu khí do có một lượng khí oxy đáng kể còn được lưu giữ lạitrong các bãi chôn lấp Nguồn vi sinh vật tham gia vào phân hủy rác thải tronggiai đoạn này chủ yếu có nguồn gốc từ lớp đất phủ hàng ngày, từ rác thải… vàthậm chí là từ lớp đất phủ khi đóng bãi chôn lấp
Giai đoạn chuyển tiếp: lượng khí oxy trong bãi chôn lấp bị cạn kiệt nhanh
chóng và quá trình phân hủy kỵ khí bắt đầu diễn ra Khi đó, nitrate và sulfateđóng vai trò là những chất nhận điện tử sẽ bị khử để cho ra khí nitro và hydrosulfite Quá trình khử nitrate và sulfate xảy ra ở điện thế oxy hóa khử khoảng từ50-100 mV; sự tạo thành khí methane xảy ra khi thế oxy hóa khử trong khoảng150-300 mV Khi thế oxy hóa khử giảm, các vi sinh vật tham gia vào chuyển hóacác chất hữu cơ thành methane và carbonic bắt đầu chuyển qua giai đoạn 3 với sựchuyển hóa các nguyên liệu hữu cơ phức tạp thành các sản phẩm trung gian vàcác axit hữu cơ Trong giai đoạn này, pH của nước rò rỉ bắt đầu giảm dần do sự cómặt của các axit hữu cơ và do ảnh hưởng của khí CO2 sinh ra trong bãi chôn lấp
Giai đoạn axit hóa: Trong giai đoạn này, hoạt động của các vi sinh vật thúc
đẩy việc sản xuất ra một lượng lớn các axit hữu cơ Bước thứ nhất của quá trìnhnày là sự thuỷ phân các hợp chất cao phân tử như: lipid, polysaccharide, protein,acids nucleic,… thành hợp chất thích hợp cho vi sinh vật Bước thứ hai là quá trìnhchuyển hóa sinh học các hợp chất sinh ra từ bước thứ 1 thành các hợp chất trunggian có phân tử lượng thấp hơn như :acid acetic, một phần nhỏ acid fulvic và một
Trang 23số chất hữu cơ khác Khí CO2 là khí chủ yếu được sinh ra trong giai đoạn này,ngoài ra một phần nhỏ khí H2 cũng được hình thành trong giai đoạn này
Vi sinh vật tham gia vào việc chuyển hóa là những vi sinh vật kỵ khí tùy nghihoặc kỵ khí bắt buộc Giá trị pH của nước rò rỉ sẽ giảm xuống khoảng 5 hay thấphơn nhờ sự hiện diện của các acid hữu cơ và khí CO2, nhu cầu oxy sinh hóa(BOD), nhu cầu oxy hóa học (COD) tăng lên đáng kể trong giai đoạn này do cósự hòa tan của các acid hữu cơ Cũng do pH thấp như vậy, một số thành phần vô
cơ và kim loại nặng trong rác thải được hoà tan vào trong nước rò rỉ
Giai đoạn lên men methane: Giai đoạn này tạo ra khí CH4, CO2 và các acidhữu cơ Các vi sinh vật tham gia vào việc chuyển hóa này là những vi sinh vật kỵkhí bắt buộc, được gọi là Methaneogens hay Methane formers Trong giai đoạnnày sự tạo thành các acid và methane diễn ra đồng thời mặc dù tốc độ tạo thànhacid có chậm hơn so với methane Do các acid và hydro bị chuyển hóa thành CH4và CO2 nên pH trong bãi chôn lấp sẽ tăng lên đến giá trị trung bình, dao động từ6.8-8.0 Do vậy, pH của nước rò rỉ cũng sẽ tăng theo và nồng độ BOD và CODcủa nước rò rỉ sẽ giảm xuống, nồng độ các chất vô cơ và kim loại nặng cũng giảmtheo
Giai đoạn phân hủy hoàn toàn: Giai đoạn này xảy ra khi các chất hữu cơ có
khả năng phân hủy sinh học đã được chuyển hóa hoàn toàn thành CH4 và CO2 ởgiai đoạn trước Khi lượng ẩm của chất thải tăng lên thì các chất hữu cơ chưađược phân hủy trước đó sẽ được chuyển hóa Tốc độ phát sinh các khí giảmxuống đáng kể trong giai đoạn này do các chất dinh dưỡng đã bị tiêu hao hếttrong các giai đoạn trước đó và các chất còn lại đa số là những chất có khả năngphân huỷ chậm
Trang 24Đồ thị 2: Sự hình thành khí methane trong các giai đoạn (phase) khác nhau
Sự phân huỷ kỵ khí chất thải có thể biểu diễn theo phương trình sau:
8CaHbOcDd + 2[(4a-b-2c-3d)/4]H2O [(4a-b-2c-3d)/8]CH4 +
[(4a-b+2c+3d)/8]CO2 + 8dNH3
2.2.2 Tác hại của khí methane
Chất hữu cơ + H2O
(Rác)
chất hữu cơ đã
bị phân hủy sinh học
Trang 25Methane là một trong những khí nhà kính Tiềm năng gây ra sự nóng lên toàn
cầu - GWP (Global Warming Potential) của methane là 24,5 (Mintzer, 1992) Nólà chất khí đứng thứ 2, chỉ sau CO2, đóng góp 27% gây hiệu ứng nhà kính; trongđó, 11% do bãi rác ;16% từ ruộng lúa, 72%từ cống rãnh nhà cầu Trong CH4 tựnhiên đất ướt đóng góp 72%.Ngoài ra, methane cũng còn được gọi là khí từ cácvũng lầy (swamp gas) Vì vậy, nếu không được thu gom để xử lý và tái sử dụngvào mục đích năng lượng thì lượng khí methane sẽ được phóng thích trực tiếp ramôi trường và gây ô nhiễm nặng nề đến môi trường không khí
Không chỉ có thế khí methane phát tán vào không khí trong tình trạng khôngđược khống chế, nó có thể tích tụ lại dưới dạng các công trình xây dựng hay tạicác bãi chôn lấp rác Khi hàm lượng CH4 hiện diện trong không khí từ 5-15%, nórất dễ cháy nổ Trong trường hợp khí methane vào được các nhà dân, tích tụ dầnđến hàm lượng quá cao sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của dân cư trong vùng
Trang 26CHƯƠNG 3: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÀ SỰ PHÁT SINH RÁC THẢI
Theo số liệu thống kê vào năm 2006, TP.HCM có dân số là hơn 6 triệungười(số liệu này được ghi nhận từ thống kê năm 2005), cư trú trên 24 quận,huyện (số quận, huyện này được ghi nhận từ số liệu thống kê năm 2005) với tổngdiện tích là 2.094km2 Cũng theo số liệu thống kê năm 2005 TP.HCM có hơn 800nhà máy riêng rẽ, hơn 35.000 cơ sở sản xuất lớn vừa và nhỏ nằm phân tán khắpthành phố, hơn 500 nhà máy nằm trong 12 khu công nghiệp tập trung, 3 khu chếxuất và 1 khu công nghệ cao; cùng với hơn 60 bệnh viện, hơn 400 trung tâmchuyên khoa, trung tâm y tế, phòng khám đa khoa và trạm y tế và gần 6.000phòng khám tư nhân Với những con số được thống kê như trên, TP.HCM mỗingày đang phải gánh chịu không dưới 7000 tấn chất thải rắn sinh hoạt, khoảng1.400 tấn -1.600 tấn chất thải rắn xây dựng (xà bần, gạch, đá, cát…), khoảng1000-1500 tấn chất thải rắn công nghiệp, khoảng 120-150 tấn chất thải nguy hạivà 7 tấn -9 tấn chất thải rắn y tế
3.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐỊA HÌNH CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TP.HCM định vị ở tọa độ địa lý là 10022’13’’-11022’17’’ vĩ độ Bắc và
106001’25’’-1070 01’10’’ kinh độ Đông
- Phía Tây giáp với tỉnh Long An;
- Phía Đông giáp với tỉnh Đồng Nai và Bình Dương;
- Phía Nam giáp với Biển Đông;
- Phía Bắc giáp với Tây Ninh
TP.HCM có 15 km bờ biển, trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 1.730 km(đường bộ) về phía Bắc và cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay về phía
Trang 27Đông Cách đây vài thập kỷ, đô thị này đã từng nổi tiếng với mỹ danh là “Hòn Ngọc của Viễn Đông” bởi vẻ đẹp và sự sầm uất của một trung tâm thương mại,
một hải cảng lớn và quan trọng nhất của khu vực
Hình1: Bản đồ về vị trí thành phố Hồ Chí Minh
TP.HCM có độ cao trung bình so với mực nước biển là 6m, địa hình thấp dầntheo hướng Bắc – Đông Bắc và Tây – Tây Nam
Với những thuận lợi về mặt vị trí địa lý, địa hình, các yếu tố cơ sở hạ tầng vàlịch sử như thế, sự tồn tại và phát triển của đô thị thành phố Hồ Chí Minh gặp rấtnhiều thuận lợi; cùng với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội hiện có đã làmcho thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế
Trang 28vô cùng quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Cũng chính từ nhữngthuận lợi trong phát triển đô thị kể trên đã làm cho lượng rác thải của thành phốkhông ngừng gia tăng cả về khối lượng và đa dạng về thành phần
3.2 TÓM LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KHÍ HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo.Cũng như các tỉnh Nam Bộ khác, đặc điểm chung của khí hậu ở thành phố Hồ ChíMinh là nhiệt độ cao đều trong năm, có hai mùa mưa, khô rõ rệt, gây tác độngđến môi trường cảnh quan sâu sắc Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 vàmùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Theo tài liệu quan trắc nhiều năm củatrạm quan trắc Tân Sơn Nhất về các yếu tố khí tượng cho thấy, những đặc trưngvề khí hậu chủ yếu của thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Bức xạ: lượng bức xạ dồi dào (trung bình khoảng 140 kcal/cm2/năm):
- Số giờ nắng trung bình/tháng là 160 giờ -270 giờ;
- Tổng tích ôn/năm là 9870 0 C;
- Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,80C);
- Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1năm sau (25,70C);
- Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 250C -280C
Lượng mưa: lượng mưa trung bình cao (lượng mưa bình quân/năm là 1.949
Trang 29- Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa (từtháng 5 đến tháng 11); trong đó tháng 6 và tháng 9 thường có lượng mưacao nhất;
- Mưa rất ít vào các tháng 1, 2, 3 và 4;
- Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, cókhuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam
Độ ẩm: độ ẩm tương đối của không khí trung bình khá cao (79,5%), bình quân
vào mùa mưa, trị số độ ẩm tương đối của không khí là 80% và trị số cao tuyệt đốicó lúc đạt tới 100%; bình quân vào mùa khô trị số về độ ẩm tương đối của khôngkhí là 74,5% và mức độ ẩm thấp tuyệt đối có lúc xuống dưới 20%
Hoàn lưu khí quyển: Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng
gió thịnh hành là gió mùa Tây - Tây Nam và gió mùa Bắc - Đông Bắc
- Gió mùa Tây - Tây Nam từ Ấn Độ Dương thổi vào trong mùa mưa (khoảngtừ tháng 6 đến tháng 10) với tốc độ gió trung bình là 3,6 m/s và thổi mạnhnhất vào tháng 8 (tốc độ trung bình 4,5 m/s);
- Gió mùa Bắc - Đông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô (khoảng từtháng 11 đến tháng 2 năm sau) với tốc độ trung bình là 2,4 m/s
Ngoài sự ảnh hưởng bởi hai hướng gió thịnh hành trên, thành phố Hồ ChíMinh còn chịu ảnh hưởng bởi gió Mậu Dịch (gió Tín Phong) theo hướng Nam -Đông Nam vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm với tốc độ trung bình 3,7m/s
Về cơ bản thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Mặc dù vậy,vào năm 1997 và năm 2006, do sự xuất hiện của hiện tượng Elnhino đã gây nêncơn bão số 5, tuy nhiên chỉ một phần của huyện Cần Giờ bị ảnh hưởng ở mức độnhẹ mà thôi
Trang 30Điều kiện thổ nhưỡng: Đất đai của thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu được hình
thành trên nền phù sa cổ và phù sa mới
Điều kiện thủy chế: có nhiều sông ngòi và kênh rạch trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh nhưng số lượng sông lớn không nhiều, lớn nhất là sông Sài Gòn dài
106 km, có đoạn chảy qua thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống đường sông từ thànhphố Hồ Chí Mình có thể giao thương được với các tỉnh miền Đông, miền TâyNam Bộ và sang cả Campuchia cũng rất thuận lợi
Với những điều kiện về khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, thủy chế… như được đềcập trên, nếu xét về khía cạnh phát triển thì nó tạo thuận lợi cho sự tăng trưởngkinh tế, gia tăng các hoạt động giao thương và phát triển đô thị Tuy nhiên, xét vềkhía cạnh môi trường thì nó cũng là một trong những yếu tố làm gia tăng sự phátsinh rác thải với quy mô khó kiểm soát được Ngoài ra, các yếu tố tự nhiên kểtrên cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ phân hủy các chất hữu cơ, mặt khác làmcho tốc độ hình thành các sản phẩm khí ô nhiễm và nước rò rỉ trong các bãi chônlấp tăng theo và tạo ra môi trường thuận lợi cho các loại vi khuẩn lây bệnh pháttriển
3.3 CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI SỰ SINH RÁC
3.3.1 Về giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng
3.3.1.1 Giao thông vận tải
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại và là đầu mối giao thôngquan trọng của Nam bộ và của cả nước Từ thành phố Hồ Chí Minh, mạng lướigiao thông lan tỏa đi khắp nơi, mối quan hệ với các vùng phụ cận được nối bằnghệ thống đường quốc lộ, đường liên tỉnh lộ đến các nơi từ miền Tây ra miền
Trang 31Trung và miền Bắc nước ta Các trục giao thông chính trong nội thành của thànhphố có chiều dài khoảng 1.500 km Mạng lưới giao thông đường bộ nhìn chung đãvà đang xuống cấp trầm trọng một phần là do sự quá tải về lượng xe cộ và mộtphần là do các trục giao thông này không được chỉnh trang và nâng cấp kịp thời.
Trong thời gian sắp tới, thành phố hồ chí minh đặt trọng tâm vào việc pháttriển mạng lưới giao thông, theo đề án điều chỉnh quy hoạch chung đến năm 2020được chính phủ phê duyệt nhằm giải quyết các vấn đề tắc nghẽn giao thông đôthị
Về giao thông đường bộ, phấn đấu từ nay đến năm 2010 mật độ đường đạt
22-24% quỹ đất đô thị Trong đo khu vực nội thành đạt 16-20% quỹ đất Tích cực xâydựng và hoàn thành các tuyến đường vành đai 1, vành đai 2, xây dựng đường caotốc của thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương – Cần Thơ Tiếp tục nâng cấp mởrộng và xây dựng mới một số trục đường chính đô thị như đường song hành HàNội, Đại Lộ Đông Tây, đường Trường Chinh,… xây dựng và hoàn chỉnh một sốcầu, đồng thời xây dựng đường hàm vượt sông Sài Gòn, kết nối trung tâm hiệnhữu và trung tâm mới Thủ Thiêm
Đường sắt, ngoài hệ thống đường sắt quốc gia, quy hoạch hoàn chỉnh hệ thống
đường sắt đô thị bao gồm tầu điện ngầm (Metro) và xe điện trên mặt đất hoặcđường sắt trên cao(Monorail)
Đường sông, đầu tư nâng cấp các cảng sông, phấn đấu đến năm 2010 đạt khối
lượng hàng hoá từ 3,2 triệu tấn đến 3,9 triệu tấn
Đường biển, phấn đấu từ nay đến năm 2010 hệ thống cảng trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh sẽ có tổng công suất từ 49 triệu tấn đến 55 triệu tấn Xây dựngkế hoạch di dời các cảng: Tân Cảng, Sài Gòn, Khánh Hội đồng thời tiến hành cụthể hoá quy hoạch xây dựng cụm cảng biển tại Cát Lái, Hiệp Phước
Trang 32Hàng không, theo định hướng phát triển, thành phố sẽ thực hiện việc nâng
cấp, mở rộng và hoàn thiện sân bay tân sơn nhất để đạt công suất noun tiếp 8triệu hành khách/năm
3.3.1.2 Nguồn điện
Nguồn điện thắp sáng cho thành phố được cấp từ các nhà máy nhiệt điện,thủy điện, theo công suất thiết kế khoảng 1.098,7 MW chưa kể nguồn điện từđường dây 500 KV đưa điện về thành phố hàng năm từ 1,5 tỷ KWh đến 2 tỷKWh
Theo nhu cầu, điện nhận từ lưới ước tính khoảng 12,3 tỷ kwh vào năm 2005và 20,6tỷ kwh vào năm 2010 Từ đây đến năm 2025 nghiên cứu xây dựng và điềuchỉnh các lưới điện sau:
Lưới 500KV: phục vụ phụ tải phía tây bắc thành phố, ngoài việc triển khaixây dựng trạm Nhà Bè và đường dây 500KV Phú Mỹ – Nhà Bè – Phú Lâm,đường dây 500KV Plaiku-tân định –phú lâm cần điều chỉnh bổ sung thay thế cáctrạm Cát Lái và Bình Chiểu
Lưới 220KV: Quy hoạch bổ sung và điều chỉnh một số trạm 220KV như BắcThu Ûđức, Nam Sài Gòn, Nam Sài Gòn 2, Thủ Thiêm, Bình Phước, Cầu Bông; xemxét các Trạm Hoả Xa, Bình Chiểu và Vĩnh Lộc
Lưới 110KV: Xem xét việc thực hiện theo quy hoạch và nghiên cứu điềuchỉnh những trạm khó thực hiện như Tân Hưng, Sài Gòn, Công viên 23/9
Theo tổng sơ đồ phát triển điện lực Miền Nam do nguồn vốn đầu tư phát triểnnguồn năng lượng còn hạn chế, giai đoạn 2001-2005 tăng 11% năm Tuy tốc độtăng cao hơn so với quy hoạch ở các giai đoạn tương ứng là 12,2% và 10,6%
Trang 33nhưng nguồn điện nhận được ở năm 2010 mới đạt 86% so với quy hoạch đề ra.Phấn đấu nâng công suất cực đại của lưới lên 2400MW vào năm 2005 và4200MW vào năm 2010 giảm tổn thất điện lưới xuống còn 10% vào năm 2005và8% vào năm 2010.
3.3.1.3 Cấp thoát nước
Nước cấp sử dụng cho sinh hoạt của thành phố chủ yếu từ hai nguồn: từ nhàmáy nước Thủ Đức và nước ngầm của nhà máy nước ngầm Hóc Môn Ngoài ra,một số hộ dân và nhà máy còn sử dụng nước giếng khoan
Điều không thể chấp nhận được là đa phần các hộ dân và các nhà máy đều xảnước thải chưa hề qua xử lý (cho dù là xử lý sơ bộ) ra kênh rạch Chính vì vậy,hầu hết các kênh rạch ở thành phố đều đang bị ô nhiễm hữu cơ rất nặng
3.3.1.4 Thông tin liên lạc
Hệ thống đường dây điện thoại, hệ thống truyền và nhận tín hiệu kỹ thuật số,các phương tiện truyền dẫn Internet, thông tin đại chúng… nhằm phục vụ cho nhucầu giao tiếp thông tin trong nước và quốc tế phát triển rất tốt
Từ nay đến năm 2010 xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới bưu chính 3 cấp, pháttriển các dịch vụ bưu chính viễn thông Phấn đấu đến năm 2005 đạt bình quânđầu 28,4 máy /100 dân, năm 2010 đạt 35,9 máy/100 dân Phát triển mạnh dịch vụInternet, ước tính đến năm 2005 có khoảng 160 ngàn số thuê bao và năm 2010 sẽcó 300 ngàn số thuê bao
3.3.2 Kinh tế Vĩ mô
Điểm lại tình hình năm 2005 trên lĩnh vực kinh tế (chưa có số liệu năm 2006),thành phố đã đạt và hoàn thành vượt kế hoạch đề ra Tổng sản phẩm nội địa trên
Trang 34địa bàn thành phố tăng 12,2% Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo
ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3GDP của cả nước
Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vàtrung tâm đối với vùng Nam Bộ Với mức đóng góp GDP là 66,1% trong vùngkinh tế trọng điểm phía Nam va đạt mức 30% trong tổng GDP của vùng Nam Bộ
Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ với mức tăng trưởng của cácthành phần như sau:
- Năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế thành phố đạt 63,63 triệuđồng/ người /năm
- Năng suất lao động công nghiệp xây dựng đạt 67,05 triệu đồng/ người/năm (bằng 105,4% năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế)
- Năng suất lao động dịch vụ đạt 66,12 triệu đồng/người/năm (bằng103,12%)
- Năng suất lao động nông nghiệp đạt 13,66 triệu đồng/người/năm(bằng21,5%)
Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ nhất cả nước, kể cảkhi luật đầu tư được ban hành Số dự án đầu tư của thành phố chiếm 1/3 tổng sốdự án đầu tư nước ngoài trên cả nước Năm 2005, tổng dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài tăng khá cao so với năm 2004 Có 258 dự án đầu tư nước ngoài được cấpphép với tổng số vốn là 577 triệu USD, tăng 4,5% về số dự án và 43,7% về vốnđầu tư Có 145 dự án tăng vốn với số điều chỉnh tăng 330 triệu USD Tính chungtổng số vốn đầu tư kể cả tăng vốn là 970 triệu USD, tăng 7,7% bên cạnh đó, có 5dự án đầu tư ra nước ngoài có tổng số vốn là 29,1 triệu USD
Trang 35Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của nhànước, mặc dù gặp nhiều khó khăn Song tổng thu ngân sách của thành phố vẫnkhông ngừng tăng Năm 2005, tổng ngân sách trên địa bàn 58.850,32 tỷ đồng,tăng 22,21% so với năm 2004 đạt 108,27% dự án cả năm.
Có thể nói về kinh tế thành phố đang phát triển đồng đều và khá nhanh nhấtlà hiện tại khi Việt Nam gia nhập WTO Kinh tế thành phố còn phát triển mạnhhơn nữa
3.3.3 Vấn đề y tế, giáo dục
Thành Phố Hồ Chí Minh ngày càng khảng định vai trò trung tâm giáo đào tạo chất lượng cao của mình Về công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lựcđã phát triển theo chiều hướng ngày càng gia tăng, số lượng đã đào tạo thườngnăm sau cao hơn năm trước; loại hình đã tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất đượcquan tâm đầu tư Số lượng trường đại học cao đăûng tăng nhanh theo đà phát triểnkinh tế
dục-Từ năm 1995, thành phố đã đạt tiêu chuẩn xoá mù chữ và phổ cập tiểu học;100% số xã có trường tiểu học và 80% số xã có trường trung học cơ sở Trình độdân trí ngày càng được nâng cao Năm 2002, Sở Giáo Dục và Đạo Tạo ThànhPhố Hồ Chí Minh đã đón nhận cờ lưu niệm và quyết định công nhận hoàn thànhphổ cập giáo dục trung học cơ sở do bộ giáo dục đào tạo trao tặng và trở thànhđịa phương đầu tiên trong cả nước đạt được chuẩn này Trong năm 2005, ngànhgiáo dục và đào tạo tiếp tục củng cố thành quả phổ cập tiểu học và trung học( quận 1, quận 3, quận Bình Thạnh), nâng số các quận đạt phổ cập trung học là 5quận Kỳ thi tốt nghiệp các cấp được tổ chức an toàn và đạt kết quả tốt( trong đó,tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,3%; trung học phổ thông 90,3%)
Trang 36Ngành giáo dục tăng cường đầu tư xây dựng trường lớp tổng số vốn đầu tư là1.021 tỷ cho năm học mới Có 928 phòng học mới được đưa vào sử dụng Chươngtrình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ đã tuyển chọn được 264 ứng viên; đã đưa đi học được
194 ứng viên, các ứng viên còn lại đang hoàn tất thủ tục và bồi dưỡng ngoại ngữ.Đã có 20 thạc sĩ, tiến sĩ tốt nghiệp về công tác ở thành phố
Theo thống kê, số giáo viên và học sinh phổ thông của thành phố chỉ chiếmmột tỷ lệ vừa phải của cả nước thì số giáo viên và sinh viên đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật của thành phố ngày càng chiếmmột tỷ lệ rất cao, điều này chứng tỏ thành phố là một trung tâm giáo dục – đàotạo chất lượng cao của cả nước và đã thu hút được một số lượng lớn sinh viên từmọi miền đất nước về mỗi năm
Thành phố Hồ Chí Minh có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật vừa đông về sốlượng (hàng chục ngàn người), vừa được đào tạo rất đa dạng từ các nguồn khácnhau, có đủ trình độ để tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới
Thành Phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm y tế lớn nhất nước ta với số lượngcở sở y tế được trang bị ngày càng hiện đại cũng như đội ngũ cán bộ y tế có trìnhđộ cao nhiều nhất nước
Năm 2005, ngành y tế tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiệnđại để tăng năng lực khám chữa bệnh (Khu xạ trị gia tốc bệnh viện Ung Biếu,khu kỹ thuật cao của bệnh viện bình dân, v.v…) đã tăng 770 giường bệnh nội trúcho các cơ sở khám chữa bệnh (trong đó: 515giường do nhà nước đầu tư, 265giường do các cơ sở ngoài công lập đầu tư) Nhiều thiết bị y tế kỹ thuật cao đượcđưa vào điều trị để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Đã thực hiện được kỹthuật ghép tạng (ghép gan) Phát triển chương trình chuẩn đoán điều trị từ xa với
Trang 37các tỉnh bạn Cùng với sự gia tăng của số bệnh viện cũng như số giường bệnh, độingũ cán bộ y tế cung tăng lên nhanh chóng cả về chất lẫn về lượng.
Các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được tiếp tục thực hiện; côngtác khám chữa bệnh được triển khai mạnh mẽ, bệnh sốt xuất huyết giảm 50%;bệnh thương hàn giảm 59%; bệnh Rubella có 1.191 người mắc tập trung tại huyệnCủ Chi, đã được khống chế
Như vậy qua hơn 31 năm xây dựng và phát triển thành phố đã không ngừngnỗ lực phấn đấu hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đào tạo và nângcao trình độ của đội ngũ cán bộ y tế và đã gặt hái được những thành quả trongcông tac khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khoẻ nhân dân, nổi bậtnhất là điều trị vô sinh và ghép máu cuống rốn điều trị ung thư Các thành quảtrên đã khảng định vai trò ngày càng quan trọng của trung tâm y tế lớn bậc nhấtnước của thành phố
Ngoài ra, việc cải tạo, nâng cấp và hoàn chỉnh các bệnh viện và các trungtâm y tế hiện có theo hướng đổi mới, hiện đại hóa các cơ sở vật chất và trangthiết bị, di dời hoặc chuyển đổi các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường đô thị cũngđang được chính quyền thành phố quan tâm Hiện tại, thành phố đang có chủtrương xây dựng mới một số bệnh viện với các trang thiết bị hiện đại, bệnh việnquốc tế, bệnh viện cho một số bệnh lây lan tại các quận mới và các huyện ngoạithành với quy mô trên 500 giường bệnh để phục vụ cho nhân dân thành phố, cáctỉnh lân cận và cả nước
Trang 38Bảng 7: kết quả điều tra về giáo dục , y tế
Số dược sĩ cao cấp (người) 775 781 785 803 808
Nguồn: Cục thống kê thành phố Hồ Chi Minh 2005
3.3.4.Vấn đề môi trường đô thị
Với tốc độ phát triển kinh tế liên tục tăng trưởng từ 8-11% trong những nămgần đây, kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu và xứng dáng là “đầu
Trang 39taău” khu vöïc kinh teâ tróng ñieơm phía nam Nhöng Thaønh Phoâ Hoă Chí Minh cuõngñang phại gaùnh vaùc naịng neă moôt löôïng chaât thại cođng nghieôp, chaât thại sinh hoátsinh ra töø söï taíng tröôûng kinh teâ ñoù.
Vôùi hôn 800 nhaø maùy naỉm trong 15 khu cođng nghieôp, khu cheâ xuaât ñang hoátñoông (theo thoâng keđ thaùng 6/2005 cụa phoøng quạn lyù chaât thại raĩn); gaăn 35000 côsôû sạn xuaât lôùn, vöøa vaø nhoû naỉm phađn taùn khaĩp thaønh phoâ (cúc thoâng keđ thaønhphoâ naím 2004), moêi ngaøy thaønh phoâ tieâp nhaôn khoạng 1.000-1.500 taân chaât thạiraĩn cođng nghieôp, trong ñoù coù khoạng töø 120-150 taân chaât thại nguy hái Thaønhphoâ coøn phại tieâp nhaôn vaø xöû lyù moêi ngaøy töø 7-9taân chaât thại y teâ Ñoù laø chöa keơchaât thại töø caùc tưnh lađn caôn nhö Ñoăng Nai, Bình Döông, Baø Ròa-Vuõng Taău … ñöaveă thaønh phoâ ñeơ xöû lyù do caùc ñòa phöông naøy chöa ñụ naíng löïc ñeơ giại quyeât;chöa keơ tôùi löôïng chaẫt thại nguy hái phaùt sinh töø caùc hoát ñoông thöông mái dòchvú cho tôùi nay vaên chöa xaùc ñònh ñöôïc
Neâu khođng quạn lyù chaịt cheõ, löôïng chaât thại nguy hái tređn seõ laø nguy cô tieămtaøn gađy ođ nhieêm mođi tröôøng nghieđm tróng Nhöng cho ñeân thôøi ñieơm naøy thaønhphoâ vaên chöa coù moôt heô nhaø maùy ñaùp öùng ñöôïc yeđu caău xöû lyù chaât thại cođngnghieôp, chaât thại nguy hái ñang ñoơ xuoâng töøng ngaøy, töøng giôø Trong soâ khoạng
20 doanh nghieôp tö nhađn hoát ñoông trong lónh vöïc naøy, chư coù 5 doanh nghieôp coùnhaø maùy xöû lyù chaât thại laø Cođng Ty cp Mođi tröôøng Vieôt – UÙc, Cođng Ty TTHHMođi Tröôøng Xanh, cođng ty TNHH Thaønh Laôp, Cođng Ty TNHH Thạo Thuaôn,Cođng Ty TNHH Tađn Ñöùc Thạo) vôùi cođng ngheô chụ yeâu laø “ñaât thieđu huyû” vaø xöûlyù nöôùc thại Moôt soâ doanh nghieôp coù nhaø maùy chöng caât dung mođi, taùi sinh daăunhôùt Coøn lái laø caùc doanh nghieôp thu gom chaât thại töø nôi sạn xuaât chuyeơn tôùinhaø maùy xöû lyù hoaịc cô sôû taùi cheâ
Yù thöùc roõ moâi nguy cô naøy, ñaău naím 2004, Thaønh Phoâ Hoă Chí Minh ñaõ giaocho Sôû Taøi Nguyeđn vaø Mođi Tröôøng laôp “quy hoách toơng theơ heô thoâng quạn lyù
Trang 40chất thải công nghiệp – chất thải nguy hại toàn thành phố đến năm 2020”, nhưngcho đến nay mọi việc vẫn chưa được triển khai, do năng lực còn hạn chế, thủ tụcvề vốn đầu tư và nguồn vốn vẫn chưa được duyệt Giải quyết bài toán khó khănnày, được sự chỉ đạo của sở, phòng Tài Nguyên và Môi Trường đã chủ động kêugọi các chuyên gia về lĩnh vực môi trường từ các sở, ban, ngành, các trường đạihọc các trung tâm, Viện nghiên cứu toàn thành phố góp công, góp sức Mới đâyhơn 20 chuyên gia đã có mặt trong cuộc hội thảo (7/10/2005) do phòng quản lýchất thải rắn chủ trì để bàn về việc xây dựng dự án quy hoạch tổng thể Mục tiêucủa dự án là thu gom 90% chất thải công nghiệp vào năm 2010; tăng cương ápdụng công nghệ kỹ thuật trong sản xuất để giảm thiểu chất thải; ưu tiên cho côngtác tái sinh, tái chế, tái sử dụng; xử lý 60% chất thải nguy hại bằng công nghệ antoàn vệ sinh; xây dựng và vận hành khu xử lý chất thải công nghiệp – chất thảinguy hại Đến năm 2020 thu gom được 100% chất thải nguy hại và hình thànhngành công nghiệp tái sinh tái chế 30%; cơ bản xử lý được 100% chất thải nguyhại và hình thành ngành công nghiệp tái sinh, tái chế Riêng đối với hệ thống xửlý, được thực hiện theo tiến trình cụ thể từ hệ thống tồn trữ, hệ thống thu gom -vận chuyển, hệ thống tái sinh tái chế và tuần hoàn chất thải, hệ thống chôn lấpvà hệ thống khu liên hiệp xử lý chất thải.
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều ý kiến về những khó khăn hiện tại làmhạn chế tính khả thi của quy hoạch tổng thể; nhấn mạnh việc xác định chính xácsố liệu về nguồn thải, khối lượng chất thải phát sinh là điều hết sức quan trọng vàcó ý nghĩa cốt lõi của quy hoạch Nên công tác điều tra, khảo sát đánh giá lạitoàn bộ hệ thống quản lý chất thải hiện nay, xác định số lượng nguồn thải, thànhphần và khối lượng chất thải cần phải đặc biệt quan tâm Giáo sư –tiến sĩ HoàngAnh Tuấn Chủ tịch Hiệp Hội Liên Hiệp Khoa Học Kỹ Thuật thành phố Hồ ChíMinh cho rằng quy hoạch tổng thể cần phải có “tầm nhìn sâu rộng cả về thời gianvà không gian” mới có thể đưa ra chương trình hành động hiện thực cho từng giai