Quá trình tích tụ và tập trung trên thị trường đã dẫn tới hình thành các trung tâm thương mại quốc gia và vùng.. Do xu thế đô thị hóa được đẩy nhanh, tại Việt Nam trong những năm gần đây
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP MÔN KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Đề tài: Trình bày thực trạng, giải pháp phát triển thương mại ở nước ta thời mở cửa (cả trong nước và xuất nhập khẩu)
Họ và tên SV: LÊ CÔNG MINH
Lớp tín chỉ: Kinh tế Thương mại 1 (121)_02
Mã SV: 11202538
GVHD: PS.TS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2I THỰC TRẠNG
Sự thay đổi về quan điểm và chính sách kinh tế đã đem lại những tác động tích cực tới ngành thương mại dịch vu Thương mại, dịch vụ nước ta từ sau năm 1986 đã có sự biến đổi về chất và phát triển vượt bậc về lượng Qua 35 năm đổi mới (1986 - 2021) ta có thể khái quát tình hình phát thương mại của Việt Nam như sau:
1 Thương mại trong nước
1.1 Chuyển việc mua bán hàng hóa từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang mua bán theo cơ chế thị trường, giá cả được hình thành trên cơ sở giá trị và quan hệ cung - cầu.
1.2 Thị trường được thống nhất trong toàn quốc và bước đầu hình thành hệ thống thị trường hàng hoá với các cấp độ khác nhau
Thực hiện tự do hoá thương mại, tự do hoá lưu thông đã làm cho hàng hoá giao lưu giữa các vùng, các địa phương không bị ách tắc và ngăn trở Trên nền tảng tự do hoá đã khai thác được các tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, từng doanh nghiệp Quá trình tích tụ và tập trung trên thị trường đã dẫn tới hình thành các trung tâm thương mại quốc gia và vùng Đó là cửa ngõ giao lưu hàng hoá, trung tâm phát luồng hàng hoá và tác dụng như đòn xeo thúc đẩy kinh tế khu vực phát triển
Do xu thế đô thị hóa được đẩy nhanh, tại Việt Nam trong những năm gần đây đã tiến hành phá bỏ các chợ truyền thống cũ kỹ và xây dựng các trung tâm thương mại hoặc siêu thị trên địa điểm cũ để tận dụng lợi thế thương mại của các địa điểm này.
Tính đến hết năm 2019, cả nước Việt Nam có 135 trung tâm thương mại, trong đó tập trung chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh (32), Hà Nội (26), Hải Phòng (8), Bình Dương (6), Nghệ An (5) và Đà Nẵng (9) 1
1.3 Hàng hóa dịch vụ trên thị trường thay đổi một cách cơ bản từ chỗ thiếu hụt, khan hiếm
đã trở nên ngày càng đa dạng, phong phú; nhiều mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trường, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội liên tục tăng qua các năm
(tham khảo Bảng 1)
Ảnh hưởng của siêu lạm những 1986 – 1993 (ở mức 600 – 700%) khiến cho chỉ số tổng mức bán lẻ về hàng hóa và dịch vụ ở Việt Nam năm 1987, 1988 lên tới 500%, song lại không thể hiện được nhiều điều Mãi cho đến sau năm 1995, khi lạm phát được kiềm chế thì tốc độ tăng trưởng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ mới ổn định trong khoảng từ 10 – 20% Điều đó cho thấy 2 xu hướng quan trọng: sức mua của người dân tăng (cầu tăng) và năng lực sản xuất của doanh nghiệp tăng (cung tăng), làm cho hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú, thị trường ngày càng trở nên cạnh tranh một cách lành mạnh
1 Wikipedia Tiếng Việt: Trung tâm thương mại (Việt Nam)
Trang 3Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng theo ngành kinh tế
Việt Nam giai đoạn 1986 – 2019 (đơn vị: tỷ đồng)
Năm
Tổng cộng Tuyệt đối Chỉ số
1996 117,547.00 18,950.00 9,377.00 145,874.00 120%
1997 131,770.41 20,523.50 9,605.80 161,899.71 111%
1998 153,780.59 21,587.70 10,229.80 185,598.09 115%
1999 166,989.00 21,672.10 12,262.60 200,923.70 108%
2000 183,864.70 23,506.20 13,039.70 220,410.60 110%
2001 200,011.00 30,535.00 14,769.00 245,315.00 111%
2002 221,569.70 35,783.80 23,530.50 280,884.00 114%
2003 262,832.59 39,382.30 31,594.40 333,809.29 119%
2004 314,618.00 45,654.40 38,252.10 398,524.50 119%
2005 373,879.41 58,429.30 47,984.80 480,293.51 121%
2006 463,144.09 71,314.90 61,748.10 596,207.09 124%
2007 574,814.38 90,101.10 81,243.90 746,159.38 125%
2008 781,957.13 113,983.20 111,273.20 1,007,213.53 135%
2009 1,116,476.60 158,847.90 130,540.10 1,405,864.60 140%
2010 1,254,200.00 212,065.20 211,079.50 1,677,344.70 119%
2011 1,535,600.00 260,325.90 283,597.60 2,079,523.50 124%
2012 1,740,359.70 305,651.00 323,119.90 2,369,130.60 114%
2013 1,964,666.50 315,873.20 334,663.90 2,615,203.60 110%
2014 2,189,448.40 353,306.50 373,479.00 2,916,233.90 112%
2015 2,403,723.20 399,841.80 419,637.60 3,223,202.60 111%
2016 2,648,856.70 439,892.30 457,519.60 3,546,268.60 110%
2017 2,967,484.70 488,615.60 500,498.80 3,956,599.10 112%
2018 3,308,059.00 534,168.50 551,298.00 4,393,525.50 111%
2019 3,743,000.40 586,491.10 601,346.80 4,930,838.30 112%
Thương nghiệp Dịch vụ lưu trú và ăn uống Du lịch và dịch vụ
Nguồn: Hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê Ngành Công thương
Nhiều mặt hàng trước đây phải nhập khẩu thì đến nay sản xuất nội địa đã bảo đảm yêu cầu trong nước và có thể xuất khẩu như gạo, đường, xi măng… Quá trình thương mại hoá các
Trang 4yếu tố kinh tế đem lại sự cởi trói các nhu cầu Nhu cầu đa dạng, phát triển và thu nhập tăng lên
đã làm cho cầu thị trường phong phú và biến đổi khôn lường Những nhà kinh doanh thành đạt đều phải xuất phát từ đòi hỏi của khách hàng, bảo đảm chất lượng hàng hoá, giá cả phù hợp và
có dịch vụ tối ưu
Cuộc cạnh tranh về chất lượng và giá cả từng bước nhường chỗ cho cuộc cạnh tranh bằng dịch vụ Từ chỗ dịch vụ chỉ là hoạt động yểm trợ bán hàng đã phát triển thành địa hạt của các nhà đầu tư kinh doanh Tính đên năm 2019, dịch vụ lưu trú và ăn uống đã phát triển gấp 13 nghìn lần so với năm 1986 (thời điểm đổi mới toàn diện nền kinh tế), gấp 35 lần năm 1995 (gia nhập ASEAN), gấp 6.5 lần năm 2007 (gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO); du lịch và dịch vụ phát triển gấp 64 lần năm 1995, gấp 7.4 lần năm 2007 Ngành kinh doanh dịch vụ ra đời đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của nền sản xuất xã hội
1.4 Trên thị trường đã có đủ các thành phần kinh tế, đông đảo thương nhân với các hình thức sở hữu khác nhau.
Hiến pháp năm 1992 (được Quốc hội thông qua ngày 15/4/1992) đã xác nhận chế độ kinh
tế của nước ta bao gồm ba hình thức sở hữu chủ yếu Điều 15, Hiến pháp năm 1992 ghi nhận:
"Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng"
Với xu thế phát triển của một nền kinh tế đa dạng, Hiến pháp năm 1992 đã xác nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân, nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại và phát triển Để tạo điêu kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, Nhà nước chủ trương cho các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân phát triển với nhiều hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng Mức độ và phạm vi của sở hữu tư nhân ngày càng được mở rộng Điều 21, Hiến pháp năm
1992 quy định: "Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh"
Kể từ sau đối mới, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế phát triển, hoạt động trong những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân; các doanh nghiệp ngoài Nhà nước phát triển ngành càng lớn mạnh, chiếm số lượng chủ yếu, đa dạng về loại hình
tổ chức
Trang 52000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017
0
50000
100000
150000
200000
250000
300000
350000
400000
450000
Biểu đồ 2: Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh phân theo loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam (2000 -
2017)
CT CP không có vốn nhà nước Doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Nguồn: Hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê Ngành Công thương
Những cải cách về quyền sở hữu đã đem đến cơ hội lớn cho sự phát triển của đội ngũ thương nhân Đội ngũ thương nhân ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam bởi vai trò bắt đầu và kết thúc quá trình sản xuất hàng hóa, họ là đầu mối trong việc kết nối nhu cầu thị trường đến với doanh nghiệp, đồng thời cũng đảm đương việc phân phối hàng hóa đến với người mua (người tiêu dùng, doanh nghiệp, chính phủ)
Các doanh nghiệp Nhà nước chi phối 70 - 75% khâu bán buôn, tỷ trọng bán lẻ chỉ còn 20
- 21% trong tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ Hệ thống hợp tác xã còn phát huy được vai trò ở nông thôn, miền núi song chỉ còn chiếm trên dưới 1% tổng mức bán lẻ trên thị trường Lực lượng đông đảo nhất trên thị trường là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tư thương, tiểu thương Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã tham gia vào thị trường nội địa, chiếm tỷ trọng khoảng 3% trong tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ (tham khảo biểu
đồ 3)
Trang 6198619871988198919901991199219931994199519 19971998199920 20 2002200320 20 2006200720 20 2010201120
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Biểu đồ 3: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng phân theo thành phần kinh tế ở Việt Nam (giá hiện hành)
Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài Nhà nước Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn: Hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê Ngành Công thương
1.5 Kiềm chế được lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức hợp lý đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.
20002003200420 200620 20 20 20102011201220132014201520 201720 201920
0.00 20.00 40.00 60.00 80.00 100.00 120.00 140.00
0 2 4 6 8 10 12 14 16
Biểu đồ 4: Chỉ số giá tiêu dùng (năm trước = 100), lạm phát
cơ bản bình quân năm tại Việt Nam (2000 - 2019)
Chỉ số giá tiêu dùng Lạm phát cơ bản
Tổng cục Thống kê Việt Nam
Trang 7Sau khủng hoàng kinh tế thế giới 2007 – 2008, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm duy trì ở mức dưới 110%, lạm phát dẫn được điều chỉnh về mức dưới 5%, đó là điều kiện tốt để tạo ra môi trường kinh tế ổn định, giúp các doanh nghiệp an tâm sản xuất, thu hút đầu tư nước ngoài
1.6 Từng bước hình thành các kênh lưu thông một số mặt hàng chủ yếu, kết cấu hạ tầng thương mại ngày càng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại.
2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
8000
6735 7322
7407 7382 7374 7375 7429 7452 7453 7458 7343 7359 7443
Biểu đồ 5: Số lượng siêu thị phân theo hạng trên cả nước
Hạng 1 Hạng 2 Hạng 3
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1163
Biểu đồ 6: Số lượng siêu thị và trung tâm thương mại trên cả
nước
Siêu thị Trung tâm thương mại
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Trang 8Ngày 16/01/2012, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TW về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nghị quyết đã đề ra các quan điểm, mục tiêu, định hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển đồng bộ các hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế và xã hội trên phạm vi cả nước và từng ngành, lĩnh vực, từng vùng kinh tế và từng địa phương Trong đó, Nghị quyết đã khẳng định, Trung tâm logistics là hạ tầng thương mại có vị trí, vai trò rất quan trọng và rất cần thiết
Cuối năm 2018, đầu năm 2019, trên toàn quốc có 6 trung tâm logistics lớn được khởi công xây dựng và đưa vào vận hành Trong đó, miền Bắc có 02 trung tâm phân bố tại tỉnh Hưng Yên, miền Trung có 01 trung tâm tại TP Đà Nẵng và miền Nam có 3 trung tâm tại các tỉnh Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và Long An Tổng diện tích các trung tâm khoảng 21,15 ha, trong đó lớn nhất là trên 5 ha và nhỏ nhất là 2 ha Các trung tâm đa số đều là đa chức năng và phục vụ đa dạng mặt hàng, chỉ có trung tâm tại Long An chuyên về logistics phục vụ ngành ô tô
1 TT Logistics
Senko Khu công nghiệp dệt may Phố Nối,
xã Lưu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
3,5 ha Dịch vụ kho bãi, lưu giữ
hàng hóa; Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa; Dịch vụ
hỗ trợ vận tải biển và các dịch vụ kiểm tra vận đơn, môi giới vận tải hàng hóa, giám định hàng hóa
5/2018
2 TT Logistics
Thăng Long Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên 3 ha Tích hợp đa chức năng 10/2018
3 TT phân phối
phức hợp KCN Sóng Thần, Dĩ An, tỉnh Bình
Dương
5 ha Phân phối đa chức năng 03/2019
4 TT Logistics
Phú Mỹ 38
(VJS).
KCN Phú Mỹ 3,
TX Phú Mỹ, Bà Rịa
- Vũng Tàu Đa
2.25 ha chức năng, logistics tích
hợp trọn gói và đồng bộ 06/2019
5 TT
Auto-logistics
VPC
KCN Long Hậu, Cần Giuộc, tỉnh Long An
5.4 Chuyên phục vụ logistics ô
6 TT kho vận
Logitem Việt
Nam
KCN Hòa Khánh
mở rộng, TP Đà Nẵng
Nguồn: Báo cáo Logistics Việt Nam 2019
Trung tâm Logistics Thăng Long (Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên) khánh thành tháng 10/2018 Đây là Trung tâm logistics hiện đại, tích hợp đa chức năng đầu tiên tại tỉnh Hưng Yên với tổng diện tích gần 3
ha gồm hệ thống kho tổng hợp, kho đông lạnh và kho mát; hệ thống khung kệ chứa hàng 8 tầng, hệ thống kiểm soát độ ẩm, hệ thống camera 24/7, hệ thống PCCC đạt tiêu chuẩn, phần mềm quản lý hiện
Trang 9đại Hệ thống kho đạt chuẩn ISO, HACCP, CT-PAT và các tiêu chuẩn khác theo quy định; có thể phân phối, lưu trữ hàng hóa tiêu dùng nhanh (FMCG), hàng thực phẩm tươi sống, hàng hóa nguyên vật liệu Trung tâm phân phối phức hợp (ICD TC Sóng Thần và công ty ITL hợp tác kinh doanh và triển khai đầu tư) khánh thành tháng 03/2019 với tổng diện tích 50.000 m2 Trung tâm được xây dựng với thiết kế đạt tiêu chuẩn hiện đại, khu vực làm hàng thuận lợi, có hệ thống Dock Leveler, hệ thống giá kệ tiêu chuẩn, linh hoạt đáp ứng mọi nhu cầu về diện tích, dịch vụ của khách hàng: Kệ chứa hàng 7 tầng; Hệ thống quản lý kho WMS; Cổng xuất hàng với sàn nâng tự động; Hệ thống chữa cháy tự động; Hệ thống camera giám sát; Hệ thống điện, chiếu sáng công nghiệp.
Trung tâm Logistics Phú Mỹ 3 (KCN Chuyên sâu Phú Mỹ 3, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) khánh thành tháng 6/2019, với diện tích đất 2,25 ha, tổng mức đầu tư 5,4 triệu USD, gồm các hạng mục:
hệ thống kho tổng hợp, kho đông lạnh và kho mát, hệ thống camera giám sát 24/7, hệ thống phòng cháy chữa cháy đạt tiêu chuẩn, bãi chứa container Đặc biệt dự án có 8 điểm tiếp nhận container đáp ứng đa dạng các nhu cầu làm hàng của doanh nghiệp; trong kho lắp đặt hệ thống kệ chất hàng cũng như các khu vực sàn phẳng để chứa hàng, đáp ứng nhu cầu lưu giữ hàng hoá cho chủ hàng.
Trung tâm Auto - logistics VPC chuyên phục vụ hãng sản xuất xe ô tô hàng đầu trên thị trường do KGL làm chủ đầu tư khởi công tháng 2/2019, đã đón lô hàng đầu tiên từ tháng 07/2019 Trung tâm tọa lạc tại Khu công nghiệp Long Hậu, Cần Giuộc, tỉnh Long An, trải rộng trên diện tích 5,4 ha với sức chứa 2.500 xe ô tô, gồm các hạng mục nhà xưởng, khu vực đỗ xe có mái che, được trang bị các thiết bị chuyên dùng tối tân để cung cấp các dịch vụ lưu kho bãi, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm tra bảo dưỡng trước khi giao hàng v.v nhằm đảm bảo chất lượng xe tốt nhất khi giao cho các nhà phân phối theo yêu cầu xuất kho của khách hàng 2
1.7 Phát triển được một đội ngũ thương nhân đông đảo và đa dạng, trình độ quản lý kinh doanh và chất lượng đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp ngày càng được cải thiện 1.8 Quản lý nhà nước về thị trường và thương mại từng bước được hoàn thiện, tổ chức hệ thống và hoạch định chính sách vĩ mô tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển.
Sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với thị trường và thương mại đã có nhiều đổi mới Đổi mới trước hết là cơ chế quản lý thị trường Từ cơ chế trực tiếp can thiệp, kiểm tra kiểm soát thị trường là chủ yếu chuyển sang cơ chế tác động gián tiếp và tạo lập môi trường chính sách cho kinh doanh trên thị trường Các chính sách quản lý và công cụ quản lý của Nhà nước đối với thị trường được nghiên cứu kỹ và thông thoáng hơn Nhà nước đã tạo lập được môi trường pháp lý cho các hạot động trên thị trường Sự tự do, bình đẳng giữa các chủ thể hoạt động trên thị trường được đảm bảo bằng pháp luật Bộ máy quản lý Nhà nước về thị trường, thương mại đã được sắp xếp lại theo hướng tinh giản, hiệu quả Các thủ tục hành chính cản trở, gây phiền hà cho sản xuất kinh doanh liên tục được sửa đổi và bãi bỏ Dù những đổi mới trên đây còn chậm và chưa đáp ứng được yêu cầu nhưng những tác động tích cực cuả những thay đổi
đó với thị trường đã thấy rõ và đặt ra sự đòi hỏi cấp thiết hơn
2 Báo cáo Logistics Việt Nam 2019
Trang 101.9 Kể từ khi xuất hiện tại Việt Nam vào năm 2006, thương mại điện tử đã phát triển với tốc
độ rất nhanh và đóng vai trò quan trọng trong nèn kinh tế quốc dân.
Tại Việt Nam, ngày 16/5/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử: “Hoạt Động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông
di động hoặc các mạng mở khác”
Theo báo cáo của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số Việt Nam (Bộ Công thương), với 53% dân số mua sắm trực tuyến, thị trường thương mại điện tử Việt Nam tăng trưởng 18% vào năm 2020, đạt 11.8 tỷ USD, chiếm 5.5% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
0
2
4
6
8
10
12
14
0 5 10 15 20 25 30 35
Biểu đồ 7: Thị trường thương mại điện tử bán lẻ tại Việt Nam
Nguồn: Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam năm 2021
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, đến năm 2025 sẽ có 55% dân số tham gia mua sắm trực tuyến với giá trị hàng hóa, dịch vụ trực tuyến bình quân đạt 600 USD/người/năm Doanh thu của mô hình thương mại điện tử B2C dự báo tăng 25%/năm, đạt 35 tỷ USD, chiếm 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ