NHẬN ĐỊNH MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM (CÓ ĐÁP ÁN CHI TIẾT) THEO 4 CỤM 2022 NHẬN ĐỊNH CỤM 1 (NHẬN ĐỊNH + BÀI TẬP) NỘI DUNG AN NINH QUỐC GIA 1 Mục đích chống chính quyền nhân dân ở các tội phạm an ninh quốc gia chỉ nhằm lật đổ chính quyền nhân dân Trả lời Nhận định Sai Vì mục đích chống chính quyền là mục đích chung phải có đối với tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia Tuy vậy mục đích chống chính quyền chỉ có ý nghĩa xác định một hành vi cụ thể phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia M.
Trang 1NHẬN ĐỊNH MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM (CÓ ĐÁP ÁN CHI TIẾT)
THEO 4 CỤM
2022
Trang 2NHẬN ĐỊNH CỤM 1: (NHẬN ĐỊNH + BÀI TẬP) NỘI DUNG AN NINH QUỐC GIA
1 Mục đích chống chính quyền nhân dân ở các tội phạm an ninh quốc gia chỉ nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
Mục đích chống chính quyền nhân dân ở các tội phạm an ninh quốc gia được thể hiện ở 2 mức độ: nhằm lật đổ chính quyền nhân dân Điều 108, Điều 109 BLHS và nhằm làm suy yếu chính quyền nhân dân ở các điều còn lại của chương này
2 Mọi trường hợp hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân đều cấu thành Tội hoạt động nhầm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109 BLHS)
Trả lời:
Nhận định Sai Vì còn có các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân không
chỉ là hành vi khách quan tại Điều 109 Tội hoạt động nhầm lật đổ chính quyền nhân
dân mà còn Điều 108 Tội phản bội Tổ quốc trong trường hợp người đó có hành vi cấu kết với người nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân Cần phân biệt hai trường hợp: Nếu người phạm tội chưa liên hệ hoặc đã liên hệ được với nước ngoài nhưng chưa nhận được sự thỏa thuận giúp đỡ, tài trợ nào đã bị phát hiện, thì truy cứu TNHS về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân Nếu đã liên hệ, bàn bạc với nước ngoài,
Trang 3nhận sự giúp đỡ của nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị truy cứu TNHS về tội phản bội Tổ quốc
3 Hành vi dùng bạo lực có tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân là hành
vi khách quan của Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân(Điều 109 BLHS)
Trả lời:
Nhận định Sai Vì đây là hành vi cấu thành Tội bạo loạn được quy định tại Điều
112 BLHS: “Người nào hoạt động vũ trang hoặc dùng bạolực có tổ chức hoặc cướp phá tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chống chính quyền nhân dân” Còn với các hành vi khách quan của Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân gồm 2 hành
Tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là hành vi của người gia nhập
tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi tổ chức đã được thành lập
4 Liên hệ với nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân không chỉ cấu thành Tội gián điệp (Điều 110 BLHS)
Trả lời:
Nhận định Đúng Vì liên hệ với nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân không chỉ cấu thành Tội gián điệp Điều 110 mà còn có thể cấu thành Tội phản bội Tổ quốc Điều 108 BLHS Tại người phạm tội có hành vi câu kết với nước ngoài Thuật ngữ “nước ngoài” được hiểu là tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội hay cá nhân nước ngoài; câu kết với nước ngoài được hiểu là sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nước ngoài nhằm chống lại Tổ quốc
Trang 45 Công dân Việt Nam có hành vi câu kết với người nước ngoài và hành vi cung cấp thông tin cho nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân thì cấu thành 2 tội: Tội phản bội Tổ Quốc (Điều 108 BLHS) và Tội gián điệp(Điều 110 BLHS)
Trả lời:
Nhận định Sai Vì hành vi cung cấp thông tin cho nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân thì cấu thành Tội gián điệp nhưng công dân Việt Nam hoạt động gián điệp nhưng đã câu kết với nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền thì sẽ phạm Tội phản bội Tổ quốc Điều 108 BLHS.Về mặt khách quan, tội phản bội Tổ quốc đã bao gồm hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, có trường hợp còn hoạt động gián điệp hoặc trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân Vì vậy, người phạm tội phản bội Tổ Quốc không bị xử lý thêm về các tội đó
6 Mọi trường hợp thực hiện hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân đều cấu thành Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
Trả lời:
Sai Trong trường hợp chủ thể thực hiện hành vi phá hoại nhằm chống chính quyền nhân dân thì không chỉ cấu thành Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân mà còn có thể là Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam Điều
114 BLHS Vì Điều 114 BLHS cũng có hình vi phá hoại cơ sở vật chất nhằm chống lại chính quyền nhân dân
CSPL: Khoản 2 Điều 12 Điều 113
7 Mọi trường hợp phá hoại cơ sở vật chất - kĩ thuật của nước CHXHCN Việt Nam nhằm chống chính quyền nhân dân đều phạm Tội phá hoại cơ sở vật chất -
kĩ thuật của nước CHXHCN Việt Nam
Trả lời:
Trang 5Sai Trong trường hợp chủ thể thực hiện hành vi là người dưới 16 tuổi thì không đủ yếu tố cấu thành Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam; hoặc chủ thể thực hiện hành vi là người nước ngoài, người không có quốc tịch hoạt
động phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam, thì bị truy cứu
TNHS về tội gián điệp theo Điều 110 BLHS năm 2015
8 Đối tượng tác động của Tội phá hoại cơ sở vật chất - kĩ thuật của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 114 BLHS) chỉ là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Trả lời:
Đúng Vì đối tượng tác động của tội phạm này không thể là tài sản riêng của cá nhân bởi vì việc phá hoại tài sản riêng của cá nhân mặc dù có thể gây thiệt hại rất lớn về mặt vật chất, nhưng không thể làm suy yếu nền kinh tế của đất nước Vì lẽ đó, nhà làm luật không liệt kê tài sản riêng của cá nhân là đối tượng tác động của tội phạm này
9 “Phá hoại” chỉ là hành vi khách quan của Tội phá hoại cơ sở vật chất, kĩ thuật của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 114 BLHS)
Trả lời:
Sai Vì hành vi “phá hoại” chỉ là hành vi khách quan của Tội phá hoại cơ sở vật chất, kĩ thuật của nước CHXHCN Việt Nam khi đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn nếu phá hoại mà đối tượng tác động là việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế thì sẽ cấu thành Tội phá hoại chính sách đoàn kết điều 116 BLHS
10 Mọi hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người để cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân đều cấu thành Tội phá rối an ninh
Trả lời:
Sai Trong trường hợp chủ thể thực hiện hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người để cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân mà
Trang 6đủ cấu thành Tội bạo loạn tại Điều 112 thì sẽ không cấu thành Tội phá rối an ninh tại Điều 118 BLHS Vì Điều 118 quy định hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người
để cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 112 như: hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có
tổ chức… thì mới xét cấu thành Tội phá rối an ninh
CỤM 2
không gây ra hậu quả chết người thì không cấu thành tội giết người (Điều 123, BLHS)
Trả lời:
Sai Vì Tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS 2015 là tội phạm có cấu thành vật chất Căn cứ vào Điều 123 BLHS 2015 thì hành vi cố ý trực tiếp tước bỏ tính mạng của người khác trái pháp luật sẽ cấu thành Tội giết người cho dù hậu quả không xảy ra, trong cấu thành của tội phạm này, dấu hiệu hậu quả chỉ có ý nghĩa xác định giai đoạn, không phải dấu hiệu mang ý nghĩa xác định tội Trong trường hợp này, hậu quả được xác định chỉ có ý nghĩa xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa hoàn thành Vì vậy, hành vi cố ý trực tiếp tước bỏ tính mạng người khác trái pháp luật không gây ra hậu quả chết người thì vẫn cấu thành Tội giết người
Cố ý gián tiếp thì không phải tội giết người nếu chưa có hậu quả chết người
BLHS)
Trả lời:
Sai Động cơ đê hèn không phải là dấu hiệu định tội của tội giết người Dấu hiệu định tội của Tội giết người ( Điều 123 BLHS ) là hành vi tước đoạt tính mạng trái phép tính mạng của người khác Động cơ đê hèn chỉ là dấu hiệu định khung tăng nặng của Tội giết người vì nó phản ánh mức độ nguy hiểm hơn cho xã hội của tội phạm lên đáng
kể CSPL: điểm q Khoản 1 Điều 123 BLHS 2015
Trang 73 Mọi hành vi cố ý tước bỏ tính mạng của người khác đều cấu thành tội giết người theo Điều 123 BLHS
CSPL: điểm c khoản 1 Điều 123 BLHS 2015
chết trở lên
Trả lời:
Sai Vì không phải trong mọi trường hợp, tình tiết “giết 02 người trở lên” đòi hỏi phải có hậu quả 02 người chết trở lên Tình tiết “giết 02 người trở lên” đòi hỏi phải có hậu quả 02 người chết trở lên đối với hành vi phạm tội cố ý gián tiếp, còn đối với trường hợp cố ý trực tiếp thì không bắt buộc phải có hậu quả 02 người chết trở lên, mà người
Trang 8này có hành vi cố ý giết 02 người trở lên thì vẫn áp dụng tình tiết “giết 02 người trở lên”, không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra trên thực tế
ý làm chết người( Điều 128 BLHS)
Trả lời:
Sai Vì không phải mọi hành vi sử dụng điện trái phép làm chết người đều là hành
vi chỉ cấu thành Tội vô ý làm chết người( Điều 128 BLHS) Trong trường hợp người
sử dụng điện mắc điện ở nơi có nhiều người qua lại ( cho dù có làm biển báo hiệu), biết việc mắc điện trong trường hợp này là nguy hiểm đến tính mạng con người, nhưng vẫn mắc hoặc có thái độ bỏ mặc cho hậu quả xảy ra và thực tế có người bị điện giật chết, thì người phạm tội bị xét xử về Tội giết người( Điều 123 BLHS)
Trong trường hợp người sử dụng điện mắc điện ở nơi họ tin rằng không có người qua lại, có sự canh gác cẩn thận, có biển báo nhưng hậu quả vẫn có người bị điện giật
chết thì người phạm tội bị xét xử về tội vô ý chết người( Điều 128 BLHS)
Tội giết con mới đẻ ( Điều 124 BLHS)
Trả lời:
Sai Theo Khoản 1, Điều 124 BLHS 2015 về tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ:
“1 Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc hoàn cảnh
khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong vòng 7 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm”
Theo quy định trên ta thấy, không phải hành vi giết trẻ sinh ra trong vòng bảy ngày tuổi thì cũng cấu thành Tội giết con mới đẻ ( Điều 124, BLHS) Chủ thể của loại tội phạm này là chủ thể đặc biệt – người mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà có hành vi giết con do mình đẻ ra trong vòng 7 ngày tuổi thì mới là chủ thể của tội giết con mới đẻ quy định tại điều 124, BLHS Do vậy, nếu chủ thể thường mà thực hiện hành vi giết trẻ em sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi
Trang 9thì có thể không cấu thành Tội giết con mới đẻ mà cấu thành Tội giết người (Điều 123 BLHS)
mạnh đều cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS)
Trả lời:
Sai Căn cứ vào Điều 125 BLHS, nạn nhân của Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phải là người đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó Nếu người phạm tội lại không giết người thực hiện hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với mình hoặc đối với người thân thích của mình, mà giết vợ, con hoặc người thân thiết của người này thì họ không phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS năm 2015) mà phạm tội giết người (Điều 123 BLHS năm 2015).
pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ đều cấu thành Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127 BLHS)
Trả lời:
Sai Vì động cơ của hành vi trên phải vì thi hành công vụ thì mới áp dụng được Điều
127 BLHS, còn nếu người phạm tội có thái độ hống hách, coi thường tính mạng, sức khỏe người khác, sử dụng vũ khí một cách bừa ẩu hoặc do tư thù cá nhân, lại coi thường tính mạng của người khác, sử dụng súng vô nguyên tắc bắn chết người dù là người đang thi hành công vụ vẫn phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS năm 2015
nghiệp đều cấu thành Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp (Điều 129 BLHS)
Trả lời:
Trang 10Đúng Vì trong một số lĩnh vực nghề nghiệp liên quan đến y tế như khám bệnh, chữa bệnh, bán thuốc, dịch vụ y tế khác,… thì hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp sẽ cấu thành Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác theo điều 315 (lĩnh vực y tế)
Trả lời:
Sai Căn cứ vào Điều 130 Tội Bức tử, dấu hiệu khách quan của tội này chỉ cần có hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình Hành vi cấu thành tội phạm khi có sự tự sát của nạn nhân bất kể sự tự sát có thành
hay không Nạn nhân tử vong không phải dấu hiệu định tội của tội phạm này
của chính họ thì cấu thành Tội bức tử (Điều 130 BLHS)
Trả lời:
Sai Nếu hành vi xúi giục kèm theo hành vi dồn ép người khác hoặc buộc họ không còn con đường nào khác phải tự sát thì mới phạm tội bức tử (Điều 130) Còn với Hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của
chính họ thì cấu thành Tội xúi giục người khác tự sát (điểm b khoản 1 Điều 131 BLHS)
hại là hành vi cấu thành Tội giúp người khác tự sát (Điều 131 BLHS)
Trả lời:
Sai Tội giúp người khác tự sát thì hành vi người phạm tội chỉ đóng vai trò tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần để nạn nhân tự mình sử dụng những điều kiện đó và tự tước đoạt tính mạng của họ (Điều 131) Nếu hành vi giúp người khác tự sát nhưng hành
vi đó lại có tính chất quyết định đến cái chết của nạn nhân thì người đó không phạm tội giúp người khác tự sát mà phạm tội giết người quy định tại Điều 123.
quả nạn nhân tự sát thì không cấu thành tội phạm
Trả lời:
Trang 11Nhận định sai
Vì hành vi đối xử tàn ác đối với người bị lệ thuộc là hành vi khách quan được quy định trong CTTP cơ bản của Tội hành hạ người khác (Điều 140 BLHS) Tội phạm này
có cấu thành hình thức nên mặt khách quan chỉ có một dấu hiệu là hành vi khách quan, không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra Do đó nếu có hành vi đối xử tàn ác đối với người bị lệ thuộc mà không dẫn đến hậu quả nạn nhân tự sát thì vẫn có thể cấu thành Tội hành hạ người khác
CSPL: Điều 140 BLHS
với tỉ lệ tổng thương cơ thể dưới 11% thì có thể cấu thành tội Cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS)
Trả lời:
Nhận định sai
Vì không phải mọi hành vi tấn công trái phép người khác gây thương tích cho họ với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% đều cấu thành Tội cố ý gây thương tích theo Điều
134 BLHS Chỉ có những trường hợp gây thương tích cho người khác dưới 11% được quy định từ điểm a đến điểm o của khoản 1 Điều 134 thì mới cấu thành tội danh này
CSPL: khoản 1 Điều 134 BLHS
thể dưới 11% thì không cấu thành Tội cố ý gây thương tích (Đ134 BLHS)
Trả lời:
Sai Căn cứ theo Điều 134 BLHS về Tội cố ý gây thương tích, nếu hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 134 BLHS thì vẫn cấu thành Tội cố ý gây thương tích - Điều 134 BLHS
cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS)
Trả lời:
Trang 12Đúng Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác còn có thể cấu thành Tội cố ý gây thương tích cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Điều
135 BLHS, vì trong dấu hiệu định tội của tội phạm này cũng có hành vi tương tự Hai tội này được phân biệt ở trạng thái tinh thần của chủ thể Nếu chủ thể cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì sẽ cấu thành Tội cố ý gây thương tích cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở Điều 135 chứ không phải Tội
cố ý gây thương tích ở Điều 134 BLHS
vô ý gây thương tích được quy định tại Điều 138 BLHS
Trả lời:
Đúng Hành vi vô ý gây thương tích cho người khác còn có thể cấu thành Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính quy định tại Điều 139 BLHS 2015, vì trong dấu hiệu định tội của tội phạm này cũng có hành vi tương tự Điểm khác biệt giữa hai tội này là
ở lý do vô ý gây thương tích cho người khác Nếu chủ thể vô ý gây thương tích cho người khác mà xuất phát từ lý do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính thì phải bị định tội theo Điều 139 BLHS chứ không phải Tội vô ý gây thương tích được quy định tại Điều 138 BLHS
Tội hành hạ người khác được quy định tại Điều 140 BLHS
Trả lời:
Sai Vì Điều 140 BLHS về Tội hành hạ người khác có cấu thành chung - riêng với Điều 185 BLHS về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình đều quy định dấu hiệu cơ bản là như nhau Tuy nhiên, Điều 185 BLHS quy định quan hệ lệ thuộc về hôn nhân gia đình, nuôi dưỡng nhưng Điều 140 BLHS lại không có quy định này Do đó, trường hợp chủ thể của tội
Trang 13phạm (nói cách khác người lệ thuộc vào người phạm tội) có quan hệ HNGĐ, nuôi dưỡng thì hành vi “đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình” có thể cấu thành tội Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình – Điều 185 BLHS
không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ đều cấu thành Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS)
Trả lời:
Nhận định sai
Đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể
tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác cũng có thể cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Điểm khác biệt giữa hai tội này là độ tuổi của nạn nhân Nếu nạn nhân là người dưới 16 tuổi sẽ cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chứ không phải Tội hiếp dâm theo Điều 141 BLHS
CSPL: điểm a khoản 1 Điều 142
phải miễn cưỡng giao cấu đều cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 144 BLHS
Trả lời:
Nhận định sai
Để cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 144 BLHS thì nạn nhân phải từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Vì nếu đối tượng tác động của hành vi trên dưới 13 tuổi thì theo hành vi khách quan thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi tình dục khác với người dưới 13 tuổi thì cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Trang 14CSPL: điểm b Khoản 1 Điều 142
Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS)
Trả lời:
Nhận định sai
Trường hợp thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi dù được sự thuận tình của nạn nhân thì sẽ cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điểm b khoản 1 Điều 124 BLHS) Hai tội này khác nhau ở độ tuổi của đối tượng tác động nếu từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng nếu là người dưới 13 tuổi thì sẽ cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều
145 BLHS)
CSPL: điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự
nạn nhân
Trả lời:
Nhận định sai Vì nếu hành vi này là hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trên cơ sở thuận tình của nạn nhân thì sẽ cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người
từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS) hay thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi dù được sự thuận tình của nạn nhân thì vẫn cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điểm b khoản 1 Điều 124
BLHS)
người khác đều cấu thành Tội lây nhiễm HIV cho người khác (Điều 148 BLHS)
Trang 15Trả lời:
Nhận định sai Vì tồn tại trường hợp loại trừ như sau nếu người đó biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền cho người khác nhưng nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người đó và vẫn tự nguyện quan hệ tình tục thì không cấu thành Tội lây
nhiễm HIV cho người khác (Điều 148 BLHS)
mua bán người từ 16 tuổi trở lên thì cấu thành tội mua bán người (Điều 150 BLHS)
sản thì cấu thành Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS
Trả lời:
Nhận định sai
Hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhắm chiếm đoạt tài sản không cấu thành Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS Theo quy định tại Điều 153 BLHS, Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi cấu thành khi có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi mà trong hành vi kháhcs quan không có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản Còn hành vi bắt có người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản sẽ cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
CSPL: Điều 169 HLHS
Trang 1627 Mọi trường hợp bán con đẻ dưới 16 tuổi đều cấu thành Tội mua bán người dưới 16 tuổi theo Điều 151 BLHS
Trả lời:
Nhận định sai
Hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhắm chiếm đoạt tài sản không cấu thành Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS Theo quy định tại Điều 153 BLHS, Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi cấu thành khi có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi mà trong hành vi kháhcs quan không có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản Còn hành vi bắt có người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản sẽ cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
CSPL: Điều 169 HLHS
thành Tội vu khống (Điều 156 BLHS)
Trả lời:
Nhận định sai Không phải mọi hành vi bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là bịa đặt đều cấu thành Tội vu không (Điều 156 BLHS) Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 156 BLHS thì hành vi bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhâm phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là dấu hiệu khách quan của Tội vu không ( Điều 156 BLHS) Do vậy, nếu trong trường hợp bịa đjawt, lan truyền những điều biết rõ là bịa đjawt những không xúc phạm nghiêm trong nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người khác thì sẽ không là dấu hiệu khách quan của Tội vu khống
CSPL: Điều 156 BLHS
Trả lời:
Trang 17Nhận định sai
Căn cứ vào khoản 1, Điều 141 BLHS về Tội hiếp dâm : “Người nào dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân ” Chủ thể có thể là nam giới và nữ giới bởi xử lý cả các hành vi quan
hệ tình khác , đây là các hành vi không trói buộc bởi quna điểm về hành vi giao cấu thông thường giữa nam giới và nữ giới Nhữ vậy nhười đủ năng lực trách nhiệm hình
sự, dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoăch bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thì đều có thể trở thành chủ thể tội phạm đối với tội hiếp dâm
CSPL: khoản 1 Điều 141 BLHS
(Điều 124 BLHS)
Trả lời:
Nhận định sai
Vì Tội vứt bỏ con mới đẻ ở Điều 124 BLHS là CTTP vật chất, dấu hiệu định tội của phải bao gồm đầy đủ các yếu tố:
- Chủ thể là chủ thể đặc biệt, cụ thể ở đây là người mẹ do ảnh hưởng nặng nề tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt
- Có hành vi vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 7 ngày tuổi
- Hậu quả là đứa trẻ chết
Phải đầy đủ các yếu tố trên thì mới cấu thành dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ
CSPL: khoản 2 Điều 124 BLHS
Trang 1831 Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS
Trả lời:
Nhận định sai
Căn cứ vào quy định khoản 1 Điều 154 BLHS về Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc
bộ phận cơ thể người thì hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người kháv không chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người khác còn cấu thành một tội phạm riêng biệt
đó là Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người
CSPL: khoản 1 Điều 154 BLHS
không cấu thành Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS)
Trả lời:
Nhận định này là sai
Không phải mọi hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật mà làm nạn nhân chết thì không cấu thành Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) Xét trong
2 trường hợp:
Nếu chủ thể thực hiện hành vi cố ý tước đoạt trái phép tính mạng của nạn nhân thì không cấu thành Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) mà có thể là chuyển hoá qua các Tội phạm tương ứng: Tội giết người (Điều 123, BLHS),…
Nếu chủ thể thực hiện hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật nhưng vô ý với làm nạn nhân chết thì vẫn cấu thành Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) với tình tiết định khung tăng nặng là làm người bị bắt, giữ, giam chết theo điểm
a khoản 3 Điều 157 BLHS
CSPL: Điều 157 BLHS, Điều 123 BLHS
Trang 1933 Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật chỉ là hành vi của người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người
Trả lời:
Nhận định này là sai
Không phải mọi hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật chỉ là hành vi của người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi của người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người khi nó là dấu hiệu chủ thể của Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) Còn trong trường hợp phạm vào Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377, BLHS) thì hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi của chủ thể đặc biệt - người có chức
vụ, quyền hạn mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người
CSPL: Điều 157 BLHS, Điều 377 BLHS
định tội của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS)
Trả lời:
Nhận định này là đúng
Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là dấu hiệu định tội của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) khi đối tượng tác động là người từ 16 tuổi trở lên và chủ thể phải là chủ thể thường Trong trường hợp cũng thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng đối tượng tác động là người dưới 16 tuổi thì cấu thành Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153, BLHS) hoặc chủ thể là chủ thể đặc biệt - người có chức vụ, quyền hạn mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người thì cấu thành Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều
377, BLHS)
CSPL: Điều 153 BLHS, Điều 157 BLHS, Điều 377 BLHS
Trang 2035 Hành vi cưỡng bức, buộc người lao động đang làm việc ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp phải thôi việc trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng thì cấu thành Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS)
Trả lời:
Nhận định này là sai
Không phải mọi hành vi cưỡng bức, buộc người lao động đang làm việc ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp phải thôi việc trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng thì cấu thành Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) Theo quy định tại Khoản 1, Điều 162, BLHS hành vi cưỡng bức, buộc người lao động đang làm việc ở các cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội, các doanh nghiệp phải thôi việc trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng nhưng phải vì vụ lợi hoặc mục đích cá nhân khác thì mới cấu thành tội này Do vậy, trong trường hợp có hành vi nêu trên nhưng không vì vụ lợi hoặc mục đích cá nhân khác thì không cấu thành tội này
CSPL: Điều 162 BLHS
sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước
Trả lời:
Nhận định này là sai
Căn cứ vào quy định của Khoản 1, Điều 162 BLHS về Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật thì đối tượng tác động của tội này không chỉ quy định riêng cho công chức, viên chức, người lao động của các cơ quan Nhà nước mà đối tượng tác động của tội phạm này còn là công chức, viên chức, người lao động không làm việc trong cơ quan nhà nước (ví dụ: công chức, viên chức làm việc
Trang 21tại các đơn vị sự nghiệp ; người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân nước ngoài…) CSPL: Điều 162 BLHS
CSPL: Điều 162 BLHS
phải là người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trả lời:
Nhận định này là sai
Chủ thể của Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS) không chỉ là người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Theo quy định tại Khoản
1, Điều 166, BLHS, có 2 loại chủ thể có thể là chủ thể của tội phạm này:
- Đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của
cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo thì chủ thể sẽ là người có chức vụ, quyền hạn
- Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo thì chủ thể trong trường hợp này có thể là chủ thể thường
CSPL: Điều 166 BLHS
xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS)
Trả lời: Sai Vì hành vi khách quan của Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo là
hành vi hành động như dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực cản trở việc khiếu nại tố cáo hoặc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo; không hành động như lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định gây thiệc hại cho người khiếu nại, tố cáo
CSPL: khoản 1 Điều 166 BLHS
được quy định tại Điều 181 BLHS
Trang 22Trả lời: Sai Vì mặt khách quan của Tội cưỡng ép kết hôn có quy định hành vi
cưỡng ép kết hôn phải được thực hiện với một trong các thủ đoạn sau: hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải, những thủ đoạn khác,… thì mới cấu thành tội phạm
CSPL: khoản 1 Điều 181 BLHS
cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS)
Trả lời: Sai Vì mặt khách quan của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có quy
định hành vi đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác chỉ cấu thành tội phạm khi làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
CSPL: khoản 1 Điều 181 BLHS
loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS
Trả lời: Sai Vì ngoài giao cấu với người có cùng dòng máu còn có hành vi thuận
tình giao cấu với người là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha cũng cấu thành Tội loạn luân
CSPL: khoản 1 Điều 184 BLHS
chỉ quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS
Trả lời: Sai Vì hành vi giao cấu thuận tình với người có dòng máu về trực hệ ở độ
tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không cấu thành Tội loạn luận mà là Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
CSPL: điểm c khoản 1 Điều 145 BLHS
Trang 2343 Mọi hành vi hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình đều cấu thành Tội hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 BLHS)
Trả lời: Sai Vì hành vi hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình chỉ cấu thành Tội hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người
có công nuôi dưỡng mình khi hành vi đó thường xuyên làm cho nạn nhân đau đớn về thể xác, tinh thần; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm CSPL: khoản 1 Điều 185 BLHS
1 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội phạm xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản
Sai
Vì:
+ Chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác vào phạm vi sở hữu của mình Trường hợp tuy không dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản thuộc sự quản lý của người khác vào phạm vi của mình mà là tài sản từ 10 triệu đồng trở lên có được do ngẫu nhiên
có được và từ chối giao trả thì vẫn cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều
176 BLHS) thuộc Chương các tội phạm xâm phạm sở hữu
+ Ngoài ra các có các hành vi khác tuy không chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn quy định trong Chương các tội phạm xâm phạm sở hữu: là hành vi cố ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180); hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178) và hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176)
● CSPL: Đ176, Đ177, Đ178, Đ 180 BLHS
Trang 242 Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
+ Nêú rừng là rừng trông của hộ cá nhân, gia đình, tổ chức thì là đối tượng tác động các tội phạm sở hữu
● Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản theo quy định tại Điều
105 BLDS năm 2015, cụ thể là: tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản; đồng thời
phải thỏa một số điều kiện nhất định như không có tính năng đặc biệt
● Nếu là giấy tờ có giá thì phải là giấy tờ có giá vô danh
● Ví dụ như đối với vật thì vật đó chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm
sở hữu khi nó không có tính năng đặc biệt như ma túy, vũ khí quân dụng, chất
Trang 25phóng xạ,…Khi này, hành vi xâm phạm đến quyền chiếm hữu, định đoạt sử dụng những vật có tính năng đặc biệt thì không cấu thành đối tượng tác động của các tội phạm sở hữu mà cấu thành những tội riêng Chẳng hạn như hành vi cướp ma túy của người khác không cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168) mà cấu thành tội
chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252);
● Cơ sở pháp lý: Điều 168, Điều 252 BLHS năm 2015
4 Từ chối giao trả lại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên do ngẫu nhiên có được là hành vi chiếm đoạt tài sản
Sai
Vì:
● Chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác vào phạm vi sở hữu của mình Tuy nhiên đây là trường hợp tài sản do ngẫu nhiên có được chứ không phải chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác nên không được coi là hành vi chiếm đoạt tài sản
● Hành vi từ chối giao trả lại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên do ngẫu nhiên
có được thì cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176)
● Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành vi khách quan quan trọng; tùy vào trường hợp
mà nó sẽ là hành vi để cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168) hoặc Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) Nếu mục đích của hành vi dùng vũ lực là để uy hiếp tinh thần nạn nhân nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170);
Trang 26còn mục đích của hành vi là ngay tức khắc làm cho nạn nhân không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168);
● Cơ sở pháp lý: Điều 168, Điều 170 BLHS năm 2015
6 Hành vi giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS)
Nhận định này là sai
Hành vi giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ không cấu thành Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều
168 BLHS) Tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản
4 Điều 168 BLHS) được áp dụng khi một người có mục đích cướp tài sản còn tình tiết làm chết người chỉ là do vô ý – Đây là trường hợp hỗn hợp lỗi Còn trong trường hợp giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã cố ý xâm phạm đến 2 đối tượng là tính mạng và tài sản, do vậy sẽ cấu thành 2 tội riêng biệt: Tội giết người (Điều
123) và Tội cướp tài sản (Điều 168)
7 Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ tác động đến người đang quản lý tài sản
Nhận định này là sai
Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) không chỉ tác động đến người đang quản lý tài sản Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản phải nhằm vào con người: có thể là chủ tài sản, người đang quản lý tài sản, người bảo vệ tài sản, hoặc bất kỳ ai mà người phạm tội cho rằng họ đang hoặc sẽ cản trở việc chiếm đoạt của
mình
Trang 278 Đối tượng tác động của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ là tài sản
Nhận định này là sai
Đối tượng tác động của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) không chỉ là tài sản Ngoài đối tượng tác động là tài sản thì đối tượng tác động của Tội cướp tài sản còn là con người
9 Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành
vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều
123 BLHS)
Nhận định này là sai
Xét trong 2 trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân nhưng vô ý với hậu quả chết người thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì chỉ cấu thành Tội cướp tài sản và hậu quả chết người là tình tiết định khung tăng nặng (theo Điểm c, Khoản 4,
- Trường hợp 2: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân khiến cho nạn nhân tử vong để cướp tài sản thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168) và Tội giết người (Điều 123)
Do vậy, chỉ khi rơi vào trường hợp 2 thì hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168) và Tội giết người (Điều 123)
CSPL: Điều 168 và Điều 163 BLHS
Trang 2810 Khách thể trực tiếp của Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) chỉ là quan hệ sở hữu
Nhận định này là sai
Khách thể trực tiếp của Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) không chỉ là quan
hệ sở hữu Bên cạnh quan hệ sở hữu, khách thể trực tiếp của Tội cưỡng đoạt tài sản còn
là quyền được bảo vệ sức khoẻ của con người
11 Uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản không chỉ cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS)
Nhận định đúng;
Uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản không chỉ cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) mà còn cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS)
Đối với Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS), thủ đoạn uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản là các hành vi đe dọa gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội
Đối với Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS), người phạm tội
có hành vi bắt cóc người khác làm con tin, nhằm uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản, làm cho họ sợ mà phải giao ra tài sản
Cơ sở pháp lý: Điều 169 và Điều 170 BLHS năm 2015
12 Công khai chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS)
Nhận định sai;
Trang 29Công khai chiếm đoạt tài sản cũng là một trong hai dấu hiệu hành vi của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 BLHS) Để cấu thành Tội cướp giật tài sản, xét về mặt khách quan thì hành vi không chỉ là công khai chiếm đoạt tài sản của người khác
mà còn phải nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và tẩu thoát; nạn nhân trong tình trạng chưa nhận thức cũng như nhận thức được hành vi của người phạm tội
Cơ sở sở pháp lý: Điều 171 và Điều 172 BLHS năm 2015
13 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người
Nhận định sai;
Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác Do đó, chỉ người quản lý, chủ tài sản mới nhận thức rõ, chính xác trạng thái tài sản của mình có là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản hay không Đồng thời, trong thực tế có nhiều trường hợp người phạm tội công khai hành vi dịch chuyển tài sản trước sự chứng kiến của người khác nếu chủ thể phạm tội nhận thấy việc công khai không ảnh hưởng hoặc thậm chí thuận lợi hơn cho hành vi trộm cắp tài sản của mình
Chính vì vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều
173 BLHS) không đòi hỏi người phạm tội lén lút với tất cả mọi người; chỉ yêu cầu lén lút, bí mật đối với chủ tài sản, người quản lý tài sản
Cơ sở pháp lý: Điều 173 BLHS năm 2015
14 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) Nhận định sai;
Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có dấu hiệu gian dối không chỉ là dấu hiệu cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) mà còn cấu
Trang 30thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) nếu thỏa các dấu hiệu định tội Cụ thể, xét về hành vi:
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS), gồm 2 hành vi:
● Hành vi lừa dối, thông qua hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm
để người đó tin đó là sự thật mà giao tài sản;
● Hành vi chiếm đoạt tài sản
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS), gồm 2 hành vi:
● Hành vi nhận tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp từ chủ tài sản;
● Hành vi chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản đã nhận, bằng cách:
▪ Dùng thủ đoạn gian dối để không trả lại tài sản;
▪ Mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả tài sản;
▪ Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến tình trạng không
có khả năng trả lại
Như vậy, trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối; nhưng biểu hiện gian dối này xuất hiện sau khi đã chiếm hữu tài một cách ngay thằng (thông qua hợp đồng) nhằm mục đích chiếm đoạt thì cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).hông cấu thành tội phạm
Trang 31mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)
Nhận định sai;
Hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên là chưa đủ căn cứ để cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)
Để cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS), bên cạnh hành vi nêu trên thì còn đi cùng với hành vi khách quan là dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả; hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Như vậy, nếu quan hệ giữa các bên là quan hệ dân sự thì hành vi không trả lại tài sản nêu trên sẽ không cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Cơ sở pháp lý: Điều 175 BLHS năm 2015
Câu 16: Chiếm đoạt tài sản của người khác có gía trị từ 4 triệu đồng trở lên bằng hợp đồng vay tài sản chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)
Sai Vì nếu việc chiếm đoạt đó có dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội thì sẽ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
CSPL: Điều 174 BLHS
Câu 17: Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản(Điều 176 BLHS)
Trang 32Sai Vì trong trường hợp chủ sở hữu tài sản đó người ta không yêu cầu trả thì sẽ
không cấu thành tội phạm
Câu 18: Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS) được coi là hoàn thành vào thời điểm chủ thể ngẫu nhiên chiếm hữu được tài sản
Sai Vì tội phạm được hoàn thành từ thời điểm người chiếm giữ tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay thẳng không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản theo quy định của pháp luật Còn nếu ngẫu nhiên chiếm hữu tài sản đó thì chưa đủ căn
cứ để cấu thành tội phạm
CSPL: Điều 176 BLHS
Câu 19:Mọi hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có gia trị từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS)
Sai Vì chỉ cấu thành tội phạm khi:
● Phạm tội sử dụng trái phép tài sản do tài sản bị sử dụng trái phép có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
● Phạm tội sử dụng trái phép tài sản do tài sản bị sử dụng trái phép có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
CSPL: Điều 177 BLHS
Câu 20: Các trường hợp huỷ hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội huỷ hoại tài sản (Điều 178 BLHS)
Trang 33Sai
Vì trường hợp huỷ hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên nhưng tài sản bị huỷ hoại là cột phát sóng vô tuyến hay đường dây điện thoại thì sẽ không cấu thành Tội huỷ hoại tài sản mà cấu thành Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303 BLHS 2015)
CSPL: Điều 178, Điều 303 BLHS
21 Mọi trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS)
Nhận định này là sai
Cách 1: Trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị từ 2 triệu đông nhưng ví dụ tài sản trong trường hợp này là bộ đèn tim đường băng sân bay Tân Sơn Nhất thì phạm Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303 BLHS 2015)
Cách 2: Nếu sau khi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu thêm trách nhiệm hình sự về tội khác (Ví dụ: Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) chứ không chỉ cấu thành Tội cố ý làm
hư hỏng tài sản
22 Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên do vô ý là hành
vi chỉ cấu thành Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS)
Nhận định này là sai
Nếu hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên mà còn làm chết người, làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, quy tắc hành chính; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tỷ lệ
Trang 34thương tật từ 31% trở lên; gây thương tích hoặc gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng nêu trên (Ví dụ: Điều 129 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính)
23 Chủ thể phạm Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước,
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS) chỉ là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước
Nhận định này là sai
Vì chủ thể phạm tội tại Điều 179 BLHS không chỉ là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước còn là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
24 Dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hóa là hành vi cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)
Nhận định này là sai
Vì dùng tiền giả để trao đổi hàng hóa có dấu hiệu của hành vi “lưu hành tiền giả”
Vì vậy hành vi này sẽ cấu thành Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả quy định tại điều 207 BLHS 2015 Bên cạnh đó, tội phạm tại Điều 207 là tội phạm thu hút,
đã bao gồm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Vì vậy, với hành vi dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hóa sẽ không cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
25 Mang trái phép và có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới chỉ là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS)
Nhận định trên sai
Vì mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới không chỉ là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS) Tuỳ từng
Trang 35trường hợp mà hành vi mang trái phép vật có giá trị lịch sử , văn hóa qua biên giới cấu thành các tội khác nhau:
+ Trong trường hợp mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới nhưng không có mục đích buôn bán thì cấu thành thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS)
+ Trong trường hợp mang trái phép vật có giá trị lịch sử , văn hóa qua biên giới nhưng có mục đích buôn bán thì cấu thành thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS)
26 Mọi hành vi buôn bán trái phép hàng hóa có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên qua biên giới đều cấu thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS)
● Sai Vì mọi hành vi buôn bán trái phép hàng hóa có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên vẫn có thể cấu thành tội sản xuất buôn bán hàng cấm; (Điều 207 BLHS)
● CSPL: Đ188, 207 BLHS
27 Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa là hàng giả
- Sai Vì theo NĐ 185/2013/NĐ-CP thì hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố
áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa thì mới là hàng giả
28 Không phải mọi loại hàng cấm đều là đối tượng tác động của các Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)
- Đúng Vì loại hàng cấm mà là đối tượng tác động của các Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được quy định tại Điều 190 phải khác các loại hàng cấm được quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS
Đối tượng tác động của những tội nêu ra là gì? Phân tích 1 tội danh khác, không sử dụng liệt kê này
Trang 3629 Hàng giả chỉ là đối tượng tác động của các tội được quy định tại Điều 192,
193, 194, 195 BLHS
- Sai Vì nếu hàng giả là tiền thì không phải là đối tượng tác động của các tội phạm được quy định tại Điều 192, 193, 194, 195 mà là đối tượng tác động của Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả được quy định tại Điều 207 BLHS
30 Không phải mọi trường hợp trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội trốn thuế được quy định tại Điều 200 BLHS
- Đúng Vì theo các điểm e, g, h khoản 1 Điều 200 BLHS thì nếu trường hợp trốn thuế mà thuộc trường hợp quy định tại các Điều 188 và 189 BLHS thì sẽ không cấu thành Tội trốn thuế theo Điều 200 mà sẽ có thể cấu thành Tội buôn lậu theo Điều 188 hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới theo Điều 189 BLHS
31 Mọi hành vi dùng thủ đoạn gian dối trong việc mua bán hàng hóa thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 198 BLHS
- Sai Ví dụ như sau: A có quyền sử dụng đất trên một đất tạm gọi là thửa đất số N,
A nhậ tiền cọc của B (dùng để mua đất) đồng thời cũng nhận số tiền cọc từ C (dùng để mua thửa đất trên), sau đó A bỏ trốn Qua đó ta cũng thấy A có hành vi gian dối với C trong hoạt động mua bán cụ thể là mua bán đất Tuy nhiên hành vi gian dối trên của A lại cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS chứ không phải Tội lừa đảo khách hàng theo Điều 198 BLHS
32 Mọi trường hợp cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự đều cấu thành Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ( Điều 201 BLHS )
=> Sai