Khi xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam xuấtkhẩu theo giá FOB, khi nhập khẩu họ lại nhập khẩu theo giá CIF bởi khả năng vậnchuyển hàng hóa, làm Logistics của họ vẫn còn non yếu, hơn nữa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG – CƠ SỞ II
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Tô Bình Minh
Lớp: K59E - ML 225
Đội: 9
Thành phố Hồ Chí Minh – 12/03/2022
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia, ngoại thương đóng vai trò vô cùng quan trọng, đây khôngnhững là cầu nối kinh tế giữa các quốc gia và các doanh nghiệp sản xuất mà còn làmột yếu tố thúc đẩy nền kinh tế quốc gia, giúp đời sống của người dân ngày càngđược cải thiện Việt Nam từ năm 1986 với chính sách đổi mới đã bắt đầu mở cửa rathị trường thế giới, hội nhập toàn cầu Đối với nền kinh tế Việt Nam, vai trò củaxuất nhập khẩu đang trở nên ngày càng quan trọng Hoạt động thương mại nóichung và xuất nhập khẩu nói riêng đã từng bước giải quyết những vấn đề kinh tế,khai thác được nội lực và phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của đất nước Gópphần không nhỏ vào thành tựu chung của đất nước không thể không kể đến sự cốgắng vươn ra biển lớn của các doanh nghiệp ở Việt Nam Các doanh nghiệp ViệtNam thi đua sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế so sánh và được thếgiới ưa chuộng và cũng đồng thời cũng nhập khẩu những trang thiết bị máy móc,nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất và những đồ dùng cần thiết khác nhằm đápứng nhu cầu đang ngày càng gia tăng của xã hội Nhưng các doanh nghiệp dù muốnxuất khẩu hay nhập khẩu mặt hàng nào đó thì cũng cần phải có một khâu trung gian
là khâu vận chuyển hàng hóa giữa các nước Hiện nay các phương thức vận tảithường tuân theo Incoterms 2010, trong đó có 3 điều kiện hay sử dụng nhất là FOB,CFR, CIF Tuy nhiên, có sự khác biệt trong cách áp dụng các phương thức vận tảicủa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp ở Việt Nam Thông thường, cácdoanh nghiệp ở các nước phát triển thường nhập khẩu theo điều kiện giá FOB, xuấtkhẩu theo điều kiện giá CIF nhưng ở nước ta, các doanh nghiệp lại làm điều ngượclại, là nhập khẩu giá CIF, còn xuất khẩu giá FOB Có nhiều nguyên nhân để giảithích cho tập quán ngược này của các doanh nghiệp Việt Nam, và từ bước tìm hiểu
và phân tích nguyên nhân chúng ta cần tìm ra giải pháp để có thể thay đổi thực trạngnày Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề này, chúng em xin chọn đề tài “Thựctrạng và giải pháp của vấn đề nhập CIF - bán FOB tại Việt Nam“ làm đề tài tiểuluận
Trang 3MỤC ĐÍCH LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Ở các nước phát triển, khi xuất khẩu hàng hóa, người bán tại các nước phát triểnthường tìm mọi cách giao hàng với hợp đồng CIF Khi nhập khẩu hàng hóa, ngườimua thường đàm phán để mua được hàng theo điều kiện giao hàng lên tàu - theo giáFOB Ở Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu lại thựchiện theo phương thức ngược lại Khi xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam xuấtkhẩu theo giá FOB, khi nhập khẩu họ lại nhập khẩu theo giá CIF bởi khả năng vậnchuyển hàng hóa, làm Logistics của họ vẫn còn non yếu, hơn nữa cũng không cónhiều kinh nghiệm về vận tải bảo hiểm Các doanh nghiệp Việt Nam cũng sợ rủi rotrong thuê tàu chuyên chở và mua bảo hiểm Khi nhập CIF, các doanh nghiệp ViệtNam không phải thuê tàu và mua bảo hiểm hàng hóa nên có thể tránh được nhữngrủi ro như: giá cước vận chuyển tăng, phí bảo hiểm tăng, không thuê được tàu, tàukhông phù hợp,…vì vậy, các công ty xuất nhập khẩu Việt Nam nhượng lại việc thuêtàu và bảo hiểm cho đối tác nước ngoài
Việc “nhập CIF - bán FOB” mang lại một số tác hại cho ngành xuất nhập khẩu ViệtNam, cụ thể là bán FOB thu về lượng ngoại tệ thấp hơn cho đất nước so với bánCIF Ngoài ra, thường thì nhà xuất khẩu sẽ thuê tàu và mua bảo hiểm ở các công tythuộc nước họ Vậy nếu mua CIF, bán FOB doanh nghiệp Việt Nam nhường quyềnnày cho phía nước ngoài, vô tình khiến các doanh nghiệp bảo hiểm và hãng tàutrong nước mất đi cơ hội việc làm Các nhà cung cấp dịch vụ logistics Việt Namkhó ký được hợp đồng vận chuyển và bảo hiểm cho các lô hàng đó Chưa dừng lại ở
đó, khi mua CIF và xảy ra tổn thất với hàng hóa, doanh nghiệp Việt sẽ gặp nhiềukhó khăn khi phải đàm phán trực tiếp với hãng tàu và bảo hiểm nước ngoài
Trong khi đó, khi nhập FOB bán CIF, các doanh nghiệp sẽ nhận được các ưu đãi từhãng tàu Có thể chủ động lựa chọn được những hãng tàu rẻ hơn giá đã tính cho nhànhập khẩu bên kia Ngoài ra, nếu thuê các hãng tàu của Việt Nam, doanh nghiệp sẽnhận được các chứng từ cần thiết một cách nhanh chóng Nhờ đó mà có thể giảiquyết vấn đề tranh chấp (nếu có) một cách nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian,
Trang 4nâng cao hiệu quả cho việc giao nhận, thanh toán tiền hàng Khi giao hàng bằngđiều kiện CIF, các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp sẽ thu được trị giá ngoại tệ caohơn so với khi xuất khẩu bằng FOB Nếu doanh nghiệp đang thiếu vốn, còn có thểdùng thư tín dụng (L/C) thế chấp tại ngân hàng, từ đó doanh nghiệp sẽ vay được sốtiền cao hơn dự định Hơn nữa, việc nhập FOB bán CIF giúp doanh nghiệp chủđộng hơn trong việc giao hàng, hoàn toàn không bị lệ thuộc vào việc điều tàu (hoặccontainer) do người nhập khẩu chỉ định Trong một số trường hợp, chỉ vì bị lệ thuộcvào khách nước ngoài, tàu đến chậm làm hư hỏng hàng hóa đã tập kết tại cảng hoặctrong kho (nhất là đối với hàng nông sản) và cả hai bên đều phải tốn nhiều thời gian
để giải quyết tranh chấp và rủi ro xảy ra
Từ các lý do trên, chúng em quyết định chọn đề tài này nhằm phân tích thực trạng
và đưa ra một số giải pháp cho vấn đề “nhập CIF - bán FOB” tại Việt Nam
Trang 5Khái niệm
* Khái niệm chung về Incoterms
Incoterms (hay International Commerce Terms) là tập hợp các quy tắc của thương
mại quốc tế quy định về trách nhiệm của các bên trong hợp đồng ngoại thương, làcác điều khoản thương mại thiết yếu trong lĩnh vực giao dịch hàng hóa Incotermsđược tạo ra để tạo thuận lợi cho thương mại trên toàn thế giới và được công nhậntrên toàn cầu, ngăn chặn sự nhầm lẫn trong các hợp đồng ngoại thương bằng cáchlàm rõ nghĩa vụ của người mua và người bán
Hiện tại phiên bản mới nhất của Incoterms là Incoterms ® 2020, đây là một bộ các
điều khoản /điều kiện thương mại quốc tế được xuất bản lần thứ 8 bởi PhòngThương mại quốc tế (ICC) có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2020 Incoterms 2020quy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên (Bênbán và bên mua) trong một hoạt động thương mại quốc tế
Liên quan đến vấn đề nhập CIF và bán FOB tại Việt Nam, hai nhóm điều kiện trêncủa Incoterms được sử dụng riêng trong các giao dịch liên quan đến vận tải biển và
đường thủy nội địa Trong Incoterms ® 2020 , CIF và FOB quy định cụ thể các nghĩa
vụ, chi phí và rủi ro tương ứng liên quan đến việc chuyển giao hàng hóa từ ngườibán sang người mua theo tiêu chuẩn Incoterms do Phòng Thương mại Quốc tế
(International Chamber of Commerce – ICC) công bố Hai điều CIF và FOB hiện
tại theo Incoterms mới nhất đề cập chỉ áp dụng duy nhất cho phương thức vận tảiđường biển và thủy nội địa khi thực hiện giao dịch thương mại
* CIF (Cost Insurance Freight)
CIF là viết tắt của điều kiện giao hàng, có nghĩa là giao hàng tại cảng dỡ hàng :
Cost, Insurance, Freight (tiền hàng, bảo hiểm, cước phí) và thường được viết liềnvới một tên cảng biển nào đó, chẳng hạn: CIF SaiGon
Về cơ bản, CIF phân chia trách nhiệm và rủi ro giữa người mua và bán hàng trongthương mại quốc tế Theo điều kiện trên, người bán chịu trách nhiệm thông quanhàng hóa tại cảng đi, đưa hàng hóa lên tàu và trả tiền bảo hiểm ở mức bảo hiểm tốithiểu cho đến khi hàng hóa được xuống cảng đến Mặc dù người bán trả tiền bảohiểm trong quá trình vận chuyển chính, rủi ro vẫn được chuyển sang người mua tạithời điểm hàng hóa lên tàu Nói cách khác, với điều kiện cơ sở giao hàng là CIF,
Trang 6người bán trả phí vận chuyển nhưng không chịu rủi ro cho hàng hóa trên chặng vậnchuyển biển.
Sơ đồ mô tả chi tiết điều kiện CIF
* FOB ( Free on Board)
FOB là một thuật ngữ trong Tiếng Anh của cụm từ Free on board, theo đó người
bán hàng hoàn thành trách nhiệm khi hàng đã được xếp lên boong tàu tại cảng xếp
và thường được viết liền với một tên cảng biển nào đó, chẳng hạn: FOB SaiGon.Khi sử dụng điều khoản FOB trong mua bán hàng hóa, người bán phải có tráchnhiệm mang hàng từ kho người bán ra cảng và xếp hàng lên tàu Họ sẽ phải chịumọi chi phí vận chuyển hàng, làm thủ tục xuất khẩu, thuế (nếu có) cũng như các chiphí phát sinh Người mua sẽ book tàu vận chuyển hàng, chịu chi phí cước biển, làmthủ tục thông quan nhập khẩu, thuế (nếu có) cũng như các chi phí phát sinh khác,cho đến khi hàng về đến kho người mua Nếu hàng hóa chưa được xếp lên tàu thìtrách nhiệm vẫn là của người bán, còn nếu hàng hóa đã được xếp lên tàu thì tráchnhiệm sẽ thuộc về người mua
Trang 7Sơ đồ mô tả chi tiết FOB
CIF và FOB ra đời theo phiên bản Incoterms đầu tiên vào năm 1936, nhưng trênthực tế, Incoterms 1936 không được các nhà kinh doanh thừa nhận và sử dụng rộngrãi vì không giải thích hết được những tập quán thương mại quan trọng Sau 84 năm
bổ sung thêm những điều khoản phức tạp hơn nhưng thuận lợi cho cả đôi bên muabán, Incoterms 2020 đã giúp CIF và FOB được áp dụng rộng rãi toàn cầu, giải quyếtcác vấn đề về xuất nhập khẩu hay rủi ro về bảo hiểm, giá cả và các chi phí phátsinh
Việc các doanh nghiệp tại Việt Nam thường nhập CIF xuất FOB trong quá trình
xuất nhập khẩu hàng hóa sẽ tránh được những rủi ro về giá bảo hiểm và thuê tàutrong giao dịch, tránh được sức ép từ một số doanh nghiệp nước ngoài vì họ có thểdùng thủ thuật để chào bán giá FOB và CIF cao hơn
Cụ thể với các doanh nghiệp về gỗ tại Việt Nam, nhập CIF xuất FOB chiếm tới80% Trong năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ đạt con số trên 12,01 tỷUSD thì giá trị xuất khẩu mang lại theo phương thức FOB đã chiếm tới 81,4% tổnggiá trị xuất, đạt 9,78 tỷ USD, trong khi xuất theo CFR, CIF và phương thức khácgiảm xuống và chiếm tỷ lệ nhỏ lần lượt ở mức 10,5%; 3,8% và 4,2% Chứng tỏ rằnglựa chọn phương thức xuất khẩu theo FOB sẽ khiến doanh nghiệp giảm thiểu rủi rotrong hoạt động xuất nhập khẩu nhưng cũng phản ánh những hạn chế về năng lựccủa doanh nghiệp Việt
Trang 8Tỷ trọng xuất khẩu Gỗ và sản phẩm gỗ (G&SPG) theo giá FOB so với các
phương thức khác
2 Thực trạng của thói quen nhập CIF – bán FOB của các doanh nghiệp tại Việt Nam
2.1 Các doanh nghiệp Việt Nam chú trọng vào “xuất FOB - nhập CIF”
Khi xuất khẩu hàng hóa từ các nước công nghiệp phát triển, người bán thường tìm
ra mọi cách giao hàng với điều kiện giá hàng hóa cộng với bảo hiểm và cước phí,bán theo giá CIF Khi mua sản phẩm, chẳng hạn như khi nhập khẩu, người mua có
xu hướng mua theo điều kiện giao hàng trên tàu, hoặc giá FOB
Đa số các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở nước ta đang làm theo hướng hoàn toànngược lại, việc mua giá CIF - bán giá FOB ở VN hiện nay chiếm đến 90 - 95% Khimuốn xuất khẩu, các công ty Việt Nam gửi hàng theo giá FOB (free on board), tức
là họ giao hàng cho người mua tại lan can tàu ở Việt Nam Hầu hết các doanhnghiệp Việt Nam mua hàng trên tàu của người bán tại cảng Việt Nam Trong khihàng tỷ USD đang được đầu tư vào các cảng Việt Nam thì hàng tỷ USD lợi nhuận
từ việc vận chuyển lại được đội tàu nước nước ngoài chiếm được dễ dàng Hàngnăm, khoảng 80% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyểnbằng đường biển nhưng đội tàu Việt Nam mới chỉ chiếm được khoảng 20% lợinhuận, 80% còn lại của ngành hàng dễ kiếm lợi nhuận này do các đội tàu biển nướcngoài sở hữu Khi nhập giá CIF, chúng ta đã mua các mặt hàng nước ngoài với giá
bị thổi phồng đáng kể, dẫn đến không chỉ mất tiền cho hàng hóa ban đầu mà cònmất ngoại tệ, do phải bổ sung chi phí vận chuyển và bảo hiểm Trong khi đó, việc
Trang 9xuất giá FOB lại không thu được một nguồn ngoại tệ đủ nhiều để bù lại, vì thế dẫnđến thâm hụt thương mại trong thời gian dài.
Do từ lâu, khi cơ sở hạ tầng Việt Nam còn chưa phát triển, các doanh nghiệp luôn
có truyền thống “Xuất FOB - Nhập CIF” và đến tận bây giờ vẫn còn tồn tại, các
doanh nghiệp vẫn tiếp tục đi theo lối mòn này Không hẳn phương thức này hoàntoàn bất lợi, song vẫn còn một số lợi ích nhất định ở các khía cạnh khác nhau
2.2 Lợi ích của việc “Xuất FOB - Nhập CIF”
2.2.1 Lợi ích của xuất FOB
Khi xuất khẩu theo giá FOB, bên bán tại Việt Nam sẽ không phải chịu trách nhiệmthuê tàu và không phải mua bảo hiểm, những vấn đề này đều do người mua thựchiện Về mặt thanh toán, nếu chọn bán FOB thì sẽ ít gặp rủi hơn
Ví dụ như lô hàng có giá trị cao mà bên phía người mua gặp những rắc rối nênkhông thể thanh toán lô hàng đó thì người bán Việt Nam sẽ gặp ít tổn thất hơn (dochi phí bảo hiểm và chi phí thuê tàu là do người mua trả) Bán FOB giải quyết đượctình trạng vốn thấp của các doanh nghiệp Việt Nam do không đủ vốn để trả trướccho cước phí vận tải và bảo hiểm
2.2.2 Lợi ích của nhập CIF
Trong điều kiện của CIF, nghĩa vụ của người mua ít hơn so với người bán, theo đónếu nhập khẩu giá CIF người mua Việt Nam sẽ không phải chịu trách nhiệm trongviệc thuê tàu, mua bảo hiểm Điều này rất có lợi cho người mua Việt Nam vì tronglĩnh vực vận tải và bảo hiểm bên phía Việt Nam vẫn còn yếu kém, nếu chọn nhậpkhẩu theo giá này sẽ tránh được rủi ro trong quá trình vận tải (thuê tàu và vậnchuyển), mua bảo hiểm khi có tranh chấp xảy ra
2.3 Bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi “ Xuất FOB – Nhập CIF”
Thứ nhất, khi nhập khẩu theo giá CIF và xuất khẩu theo giá FOB thì người nhập
khẩu Việt Nam (trong điều kiện CIF) và người xuất khẩu Việt Nam (trong điều kiệnFOB) sẽ phải chi trả một mức giá cao hơn khi nhập khẩu theo giá CIF, bán giá thấphơn khi xuất khẩu theo giá FOB Vì bên đối tác đã chịu chi phí vận chuyển quốc tế,
Trang 10thuế và bảo hiểm, họ hoàn toàn có thể tăng giá sản phẩm, dịch vụ liên quan và gâythiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, nếu Việt Nam chọn xuất khẩu theo điều kiện FOB, bên nước ngoài sẽ đảm
nhận việc chọn phương thức vận tải, có thể dẫn đến việc tàu sẽ không phù hợp vớiđặc điểm của Cảng Việt Nam, mà khi hàng hóa được chất lên tàu thì trách nhiệmcủa bên Việt Nam mới chấm dứt Nếu tàu không phù hợp với bến cảng, có thể gâybất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam khi đó việc gia tăng các thủ tục phức tạp, cồngkềnh dẫn đến việc bốc vác hàng hóa lên tàu bị khó khăn, gián đoạn, làm cho các chiphí, thuế quan không đáng có phát sinh, dẫn đến lợi nhuận bị giảm đáng kể
Thứ ba, nếu Việt Nam không chủ động trong việc quyết định phương thức vận tải,
họ có thể bỏ qua các ưu đãi của hãng tàu trong quá trình vận chuyển, bỏ qua triểnvọng tìm kiếm nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn, chuyênnghiệp hơn
Thứ tư, nếu xuất khẩu theo giá CIF chứ không phải giá FOB như hiện tại, chúng ta
sẽ thu được nhiều ngoại tệ hơn, vì giá xuất khẩu của CIF cao hơn giá xuất khẩuFOB, nên lượng ngoại tệ mà ta nhận được sẽ cao hơn rất nhiều Từ đó giá trị việcxuất nhập khẩu trở nên tăng cao, thu được lợi nhuận đáng kể, giúp tăng trưởng nềnkinh tế, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đất nước xã hội tiên tiến, thịnhvượng
Thứ năm, bằng cách lựa chọn nhập khẩu CIF và xuất khẩu FOB thì ta đã loại bỏ
một số lượng lớn cơ hội việc làm cho lao động trong nước Do không được lựa chọnphương thức vận tải và không chịu trách nhiệm mua bảo hiểm khi xuất nhập khẩuvới hai điều kiện này nên ngành vận tải và bảo hiểm sẽ bị mất nhân lực Cuối cùng,các ngành vận tải và bảo hiểm trong nước sẽ có ít cơ hội hơn để kết nối mạng lưới,nâng cao chuyên môn và nâng cao chất lượng
Vậy nên, với thói quen lối mòn từ xưa, lựa chọn phương thức xuất khẩu theo FOB,nhập khẩu theo CIF sẽ khiến doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động xuấtnhập khẩu, tránh được những thủ tục, công đoạn phức tạp nhưng đồng thời bỏ quanhững quá trình, việc làm có thể gia tăng nhiều hơn về lợi nhuận, bỏ qua cơ hội đầu